Truyền giáo » Sống đạo giữa đời
Trong niềm vui hiệp nhất
(Ngày cập nhật: 01/01/2010)

TRONG NIỀM VUI HIỆP NHẤT

                                            Kính tặng qúi cha hạt Lạc An, để xin một nụ cười.

 
Yêu thương là đỉnh đồi mơ ước của mọi người. Những nẻo đường đến đó, thì thật nhiều. Có đường to, đường nhỏ. Có những xa lọ thênh thang, nhưng cũng có những đường mòn nhỏ bé.

Hạt Lạc An, hôm nay, 11/10/2007, dùng một con đường nhỏ, thật nhỏ, để tìm đến đỉnh cao đó. Nó chỉ đơn giản là một cuộc du ngọan ngắn ngủi, vỏn vẹn từ sáng tới tối, giữa 9 người ngư phủ lưới người và một tài công phụ.
Phương tiện di chuyển là hai chiếc xe: Chiếc Innova, 7 chỗ, do cha Thuận cung cấp và bao trọn gói, cả xăng cả tài xế và chiếc Fiat của cha Nhất, di vật thừa tự của cha cố Đaminh Hà chí Luyến.

Cha Nhất, từ Tân Lập, Tân Uyên, theo con đường cũng “Tân lập”, lái qua Hiếu Liêm đón cha Thuấn, vòng về Thượng Phúc “lượm” thêm cha Đức, rồi ghé bến Cảnh Lâm “hót” nốt cha Thân.

Còn cha Thuận, không “lái” được, nên phải mướn anh Đức lái dùm. Ngài theo con đường cũng “cũ” như ngài, để đến Hòang Châu rước cha Long, rồi tới Lực Điền công kênh tôi và cha Thiệp. Cha Thiệp mượn Lực Điền làm bãi đáp, vì đường vào Mỹ Vân, dân buôn bán hiên ngang chiếm hết lòng đường, nên xe ngài không lọt qua được.

Cha Tân, hiện tại là niên trưởng của hạt. Tuổi ngài đã “cổ lai hy,” nhưng vẫn sẵn sàng tham gia với giới trẻ. Nhưng một sự cố, không rõ là gì, bất ngờ xẩy tới, vào ngày 10/10/2007, dịp giỗ 100 ngày của cha cố Luyến?
 
Chắc không phải trúng thực, mà là trúng cái gì đó, vì sau Lễ, không thấy ngài ở lại chung mâm với anh em. Do sự cố đó, nên tối 10/10, ngài đã gọi điện cho tôi cáo lỗi, không thể tham dự chuyến đi được. Sáng ngày 11/10, cha Thuận tới Lực Điền và nhất trí với tôi, đến tận Võng Phan buộc cụ Tân phải đi, nếu không đi được, anh em sẽ lấy võng khiêng đi. Thế là cụ đành nhượng bộ.
 

6g30, đòan xe hai chiếc nối đuôi nhau khởi hành. Thông thường, nếu đã khởi hành ở Lạc An, là phải xử dụng đò Lạc An cho nhanh chóng. Nhưng cha Thuận, mới ở Giêrusalem về, được ông Giuda chia cho 50% tiền bán Chúa, nên rât sợ chết. Bởi đó, ngài ngán đò Lạc An và yêu cầu xử dụng phà Bà Mưu.

Cư dân Lạc An, vị nào cũng có huy chương bơi lội, nên dư sức vượt qua “Biển Đỏ” Đồng Nai, chẳng mấy khó khăn. Cư dân Tân Uyên, ngược lại, chỉ biết lái ô tô, còn lái tàu thì mù tịt, nên rất sợ nước. Yêu cầu của các vị Tân Uyên, vì thế, được tòan bộ ngư phủ Lạc An thông cảm và nhất trí: Đò Bà Mưu.

Vừa qua đò sang vùng Xuân Lộc, đã thấy một vị nhớ nhà qúa, không đặng đừng được, đành phải đứng đầu xe, thả lỏng bầu tâm sự, tự nhiên cứ y như ở nhà.

Một vài vị, vì sốt sắng ra quân qúa, nên quên lót lòng. Vì thế, nhu cầu “phá chay” (break-fast) cần phải thực hiện, để chiếc máy đủ điện nước khởi động.

Qua bến đò Bà Mưu, cha Thuận đề nghị: “Phá chay đã.” Nhưng cha Nhất phản chứng: “Tới Long Thành, vào nhà hàng Bò Sữa, phá mới đủ “Mồi.”

Phá chay ở Long Thành hay ở xa hơn nữa, với tôi và một số vị, cũng chẳng có vấn đề, vì chúng tôi đã “phá” từ sớm rồi. Chỉ có một vài vị, trong đó có cha Thuận, cha Long, cha Đức…thì phá ở nhà đã quen, nên muốn phá chỗ khác để tìm hứng.. Vì thế, lòng vẫn chưa có gì lót.

Khỏang hơn 8giờ, chúng tôi tới Long Thành. Xe vừa vào parking của cửa hàng Bò Sữa, đã được nhân viên tiếp thị mời chào rối rít. Người được săn đón nhất, là cha Thuận, vì các cô chiêu đãi ngửi thấy mùi đôla từ ngài phát ra. Hơn nữa, ngài lại rất ngọt ngào khi truyện trò, nên rất ăn ý với mấy cô tiếp thị…

Vào trong quán, chúng tôi chiếm cứ đủ 2 bàn. Ba vị gọi bánh mì, bò kho. Hai vị kêu phở bò. Bốn vị còn lại với thầy Danh và anh Đức, tài xế, thì chỉ sữa bò và kem vun. Các ngài mê sữa, vì ngày xưa, có lẽ, bà cố cai sữa sớm qúa, nên bây giờ, thấy sữa là thèm. Còn kem vun, gọi thế, vì nó không có que, mà chỉ vun kem vào một chiếc bánh, hình con ốc, to đùng, gần bằng chiếc nón bài thơ, nên đủ kích cỡ với bao tử các ngài.

Nghi lễ phá chay kết thúc, chúng tôi thẳng tiến tới Bình Châu. Khỏang 10giờ, chúng tôi đã có mặt ở phòng bán vé. Mỗi người dzô cửa, phải trả lệ phí 20.000$. Tài xế được miễn, vì dã có công dẫn mối cho họ.

Bình Châu là một nồi nước sôi thật lạ. Nước ở những mạch ngầm trào ra, chẳng hiểu thế nào, mà nóng tới 37độ C, có chỗ tới 82 độ. Nước khóang và bùn nóng trầm tích, theo sự đánh giá của một số nhà khoa học, là những liệu pháp rất tốt cho sức khỏe. Nó có thể chữa được một số bệnh như: thần kinh, ngòai da, nhiễm độc mãn tính, sơ trướng động mạch, phong thấp, mồ hôi tay chân và lưu thông cơ bắp…

Bình Châu chỉ cách Sàigòn khỏang 100 Km. Nó được mệnh danh là Địa Danh Nam Bộ, với 11.000 ha rừng nguyên sinh và một bãi biển trải dài thơ mộng. Có tới 70 điểm phun nước nóng lộ thiên.

Theo truyền thuyết, ngày xưa, Bình Châu là một vùng rừng núi hoang vu. Một đôi vợ chồng tiều phu, chẳng biết từ đâu phiêu bạt tới. Họ sống bằng nghề săn bắn. Hằng ngày, anh chồng vào rừng săn thú. Chị vợ ở nhà lo việc nội trợ. Một hôm, anh chồng mải mê theo đuổi con mồi, lạc sâu vào rừng. Trời tối, không kiếm ra đường về, nên phải nghỉ lại ở bờ suối Bang. Chị vợ ở nhà, đã đun sẵn một nồi nước sôi, chờ chồng đem thú săn được về, nhúng nước, làm lông và chế biến thức ăn. Chờ mãi không thấy chồng về, chị hờn dỗi, bê cả nồi nước sôi đổ hết ra đất. Và thật kỳ lạ! Vệt nước loang tới đâu, là ngùn ngụt bốc khói ở đó, dần dà biến thành một nồi nước sôi khổng lồ. Chị sợ qúa, bỏ chậy ra một hòn đảo nhỏ, cạnh vùng biển Lagi, hiện giờ thuộc huyện Hàm Tân và chết ở đó. Người đời sau cảm kích sự tình, tặng chị danh hiệu “Bà chúa nước sôi.” Hòn đảo Lagi, bây giờ, có tên là Hòn Bà. Còn Hồ Nước Sôi, chính là suối nước nóng Bình Châu hiện tại.

Nộp visa nhập cửa xong, các vị túa đi các nơi. Vị thì vãng cảnh. Vị thì vào cửa hàng mua đồ lưu niệm… “Dế” của cha Thân gáy mãi mới tập họp các vị lại được. Cha Thuận có lẽ kết tắm, nên cứ hò đi tắm.. Chắc da dẻ ngài có vấn đề, nên cần phép lạ nước nóng để chữa trị. Chiều ngài, chúng tôi dẫn ngài tới một hồ nước tập thể, trong veo và khá rộng, để ngài thỏa thê với mối tình Nhân Thủy. Nhưng thấy nước “Trắng trong” qúa, ngài liền giẫy nẩy lên: “Tắm thế này mắc cỡ bỏ mẹ!” Thế là đành phải ken sồ (cancel).

Bỏ hồ tắm, chúng tôi tới một hồ nhỏ để ngâm chân. Việc ngâm chân rất đơn giản. Chỉ việc kéo quần tới đầu gối, ngồi xuống bờ nước, thả hai chân vào, là thưởng thức ngay được sự ấm áp, nồng nàn, do thiên nhiên ban tặng. Đặc biệt không phải trả tiền.

Khi ngồi ngâm chân, tôi mới có dịp chấm điểm các cặp giò của từng vị. Có vị đúng là “Quân tử,” vì quân tử thì lông chân mà. Những vị này, có lẽ là con cháu ông Esau. Vị khác, ngược lại, rất “Tiểu nhân,” bởi lẽ, tiểu nhân lông bụng, chứ chân thì nhẵn thín như da dẻ ông Giacop vậy. Có vị, trời lại cho cặp giò giống y trái “Xòai tượng.” Vị khác lại loang lổ đầy vết thâm xì, y chang “Khảm xà cù”. Nhà văn Thương Sinh, trong Đầm Giao Chỉ, đã gọi hai lọai đùi trên, cách rất ấn tượng, là “Đùi Xòai Tượng và đùi Khảm Xà Cừ.”

Giã từ khu vực ngâm chân, chúng tôi tới “Giếng trời luộc trứng.” Nước ở đây, nóng tới 82 độ. Hơi nóng bốc lên nghi ngút và sủi bọt liên tục. Chúng tôi mua hai chục trái trứng, bỏ vào hai chiếc giỏ bằng nan tre, thả xuống giếng. 15 phút sau, trứng đã chín. Chúng tôi cùng nhau vào một căn lều gần đó, để thưởng thức món trứng luộc, mà không cần mất công đun nước. Cha Thiệp còn rộng rãi mở hào bao, mua thêm gói bánh và cha Thân tiếp sức bằng bịch hạt Dẻ và hạt Đìu, để tăng cường cho chất lượng bồi dưỡng.

11giờ, chúng tôi bỏ Bình Châu, tới khu nghỉ mát Biển Hồ Cốc, ăn trưa. Khu này cách Bình Châu khỏang 15 Km, tọa lạc bên cạnh khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu-Phước Bửu.

Truyền thuyết về Hồ Cốc, cũng là một huyền thọai lý thú: Vào thuở trời đất còn hoang sơ, một trận hạn hán lạ thường xẩy ra. Nước sông, nước suối cạn hết. Động vật thiếu nước, cây cối héo khô. Thấy vậy, họ hàng nhà Cóc rủ nhau lên kiện ông trời, xin ông mưa xuống giải cứu muôn lòai. Muốn lên trời, buộc phải qua biển cả mênh mông. Họ nhà Cóc liền bảo nhau ra sức tập bơi. Tập mãi, nhưng vẫn không tài nào bơi qua được biển. Cóc Chúa, lúc đó, chỉ còn biết nhìn biển, mà lòng buồn vời vợi. Ngọc Hòang Thượng Đế thấy thế, thương tình, sai thần vũ đổ mưa xuống. Được mưa, muôn vật liền kéo nhau đến hai ngọn đồi trước biển, ca hát, nhẩy múa, ăn mừng… Và, lúc nhìn ra biển, tất cả đều lạ lùng, thấy Cóc Chúa đã hóa thành đá, mặt vẫn quay về hướng Đông, đôi mắt không rời biển cả. Hòn đá đó, bây giờ, được gọi là Hòn Cóc. Hai ngọn đồi đối diện với biển, hiện tại, mệnh danh là Tầm Bồ và Hồ Linh. Vùng biển lúc đó, bây giờ, mang tên Biển Hồ Cốc.

Đường dẫn tới Hồ Cốc, là một đọan đường ven biển. Ngồi trong xe, mà vẫn nghe sóng vỗ miên man gọi mời, tiếng gió vi vu huyền diệu, làm lòng du khách như quên đi những mệt mỏi, để ru mình vào giấc mộng thần tiên.
Cha Đức, có lẽ, khá quen khu vực này, nên tình nguyện đóng vai hướng đạo. Trước tiên, ngài dẫn vào khu du lịch Viễn Đông. Vào rồi lại ra, vì không phải vùng đất resort của ngài, nên sợ bị chém không xót thương. Ra khỏi Viễn Đông, ngài lại đưa sang khu kế bên, nhưng vẫn chưa ưng ý. Thấy vậy, ngài lại mang chúng tôi lên khu trên, nhưng cũng chẳng hơn gì. Thế là, lại phải xuống khu thứ tư.

Đậu xe, vào quán, kê bàn xong xuôi, nhân viên tiếp thị liền tới trình thực đơn. Cha Thiệp nghiên cứu một lát, rồi chê: “Món ăn bình thường qúa, thua cả Lạc An, đi Long Hải, ăn mới thỏai mái!”

Long Hải là một bãi biển, ngày xưa, thuộc tỉnh Phước Tuy. Phía Đông, có núi Thùy Vân chậy ra tận biển. Thủy triều ở đây, lên xuống tương đối ổn định, nên du khách, lúc nào, cũng có thể tắm được.

Từ Hồ Cốc tới Long Hải, chúng tôi phải mất một giờ. Đường đi, ngòai một đọan đang tu sửa, rất khó qua lại, còn tất cả đều tốt. Nhiều điểm du lịch được dựng lên, dọc theo bờ biển. Cha Nhất là người “Non” nhất hạt, chỉ thua có cha Thuấn, nhưng “Lái” thì rất “Già.” Vì thế, tốc độ cứ như rùa. Tài xế cha Thuận, nín mãi, chịu không nổi, liền “Lái” qua luôn, y như ông trạng Quỳnh “Lái” một phát, vũ qua tận bắc Hải, để trả đũa ông Sứ Tàu, đã lếu láo “Đấm” một phát, làm động cả Nam bang. Lái qua như thế, nhưng hễ tới ngã ba, là phải chờ ngài. Không chờ là thành “Bò lạc” tức thì.

14giờ, chúng tôi tới Long Hải, vào khu du lịch do bộ Quốc Phòng kinh doanh, ăn trưa.

Vừa thấy chúng tôi quẹo xe vào, nhân viên tiếp tân liền ra tận xe chỉ chỗ đậu và lịch sự mở cửa xe mời chúng tôi vào quán.

Chúng tôi 11 người, ngồi một bàn thì qúa chặt, nên phải điều hai bàn kết hợp với nhau. Sau đó, order 11 chai ken và hai đĩa đậu phộng, để khai vị. Nhân viên nhà hàng ngó chúng tôi, ghi nhận: ai cũng “Đại phúc” cả. Ngay tôi, dù chỉ còn 1/3 bao tử, nhưng cạp quần vẫn phải nới ra dài dài. Thấy ngọai hình chúng tôi, ai cũng tốt phúc , nên họ phỏng đóan là “Bia bụng”. Và ngay lập tức, họ bê thêm ra một két nữa và bắt đầu khui. Thấy kinh khủng qúa, chúng tôi phải cấp thời can: “Cứ để chúng tôi tự lo tự diễn!” 

Sau phần khai vị, thực đơn được trình duyệt. Cha Thiệp, rất nhiều năng khiếu về đầu bếp, nên tình nguyện đảm nhận vai trò chọn món. Sau khi đã duyệt y: Sò, Cua, Mực Ốc, Tôm Sú, cha Thiệp thân hành xuống tận khu chế biến, để kiểm tra qui trình, nhất là khâu còn tươi hay đã chết. Chết là nhất định ngài không chịu. Cha Nhất và cha Thân cũng hùng dũng đi tíếp sức với ngài.

11 thực khách, thì có tới 9 vị xông pha với đồ biển thỏai mái. Riêng cha cố Tân thì sợ, nên phải điều cơm phần cho ngài. Nước, ngài cũng không dám đụng, vì sợ thủy triều dâng lên bất chợt, không kịp làm thủy lợi, thì có lẽ lụt luôn cả xe. Cha Thuận, xưa nay, vẫn nổi tiếng kiêng khem, nhưng bữa nay cũng thấy ngài anh dũng chiến đấu với hải sản. Tuy cũng tiêu thụ như chúng tôi, nhưng cơm, thì không thể thiếu với ngài, nên vẫn phải order một phần cơm như cha Tân cho ngài. Chỉ bia bọt là ngài sợ, nên lon của ngài lại về tay những vị thuộc diện thượng đế.

Giai đọan nhậu gần tàn, chúng tôi order thêm một con cá hấp và một nồi cơm, cỡ Boeing 777, để đè bia. Trong khi chờ nhà hàng nấu nướng, nhiều đấng rủ nhau đi tắm. Ra biển mà không tắm thì thật lãng nhách. Tôi cũng trang bị đò tắm, đủ lệ bộ, nhưng phần vì mới bị tai nạn ở đầu gối, lại thấy trời lành lạnh, nên vẫn cứ ngồi sương sương với cha Thiệp, cha Thuấn và thầy Danh.

Cha Thân, cha Đức, cha Long, cha Nhất và chú tài xế, thì nhanh chóng ra quần, nhưng vẫn giữ lại áo, nhẩy tùm xuống biển, bơi lội thỏa thích. Cách tắm của các ngài y chang của các bà phước, nghĩa là cứ để áo xống lội xuống biển, vừa tiết kiệm thời gian cởi, vừa tránh cho thiên hạ lâm bệnh đau mắt, rồi không chừng mất cả lòng khiết tịnh.

Khi các đấng đã rửa ráy sạch sẽ bụi bậm trần đời, tất cả chúng tôi lại tụ tập nhau để bồi dưỡng bao tử. Một con cá lớn, hấp thập cẩm và hai thố cơm to. To phe như thế, mà chỉ trong một thời gian kỷ lục, cá chỉ còn lại cốt, cơm chỉ còn lại thố. Tắm biển, qủa thực, là một liều thuốc thần hiệu kích thích chiếc bao tử làm việc.

Cha Thuận, ở Bình Châu, thì cứ đòi tắm. Bây giờ ra Long Hải, tài xế giữ mất chìa khóa tủ, nên không có quần để ra. Thế là ngài chỉ thong thả ngao du sơn thủy, để chiêm ngưỡng bàn dân thiên hạ tắm. Cứ kiểu này, lúc về Bến Sắn, mấy Pharmacie lại vui mừng vì bán được thuốc nhỏ mắt cho ngài.

Bữa ăn thật ngon miệng, nhưng tiền chi chưa tới một “vé.” Sánh với Mỹ, thì qúa rẻ.

Khi tới Long Hải, xem chừng cha Nhất mê rồng biển, nên đề nghị: “tắm ở đây rồi về luôn.” Cuối bữa ăn, cha Tân homesick qúa, nên cũng đòi về. Chương trình ghé Vũng Tầu, đã tưởng phải ken sồ. Nhưng lúc ra xe, cha Thuận lại thông báo: “Các cha đề nghị đi vòng vòng chơi.” Thế là chương trình Vũng Tầu lại được tái lập.

Trên đường ra Bãi Sau, trời mưa tầm tã. Hai chiếc gạt nước trên xe làm việc liên tục, nhưng vẫn không kịp trả lại độ trong cho mặt kiếng, để thấy rõ đường đi.

Theo dự định, chúng tôi sẽ lên núi Tao Phùng viếng Chúa ít phút, rồi về Bãi Dâu xin Đức Mẹ một vài ơn riêng, đặc biệt trúng số, cho những vị đang làm nhà thờ.

Tới núi Tao Phùng, trời vẫn mua như trút nước. Chiếc xe cha Nhất lại mất hút ở đâu không rõ, nên xe chúng tôi phải ngừng lại chờ. Cha Thuận bóp “dế” của mình, nhưng không liên lạc được. Thấy vậy, cha Long cũng thử bóp “dế” của mình xem sao, thì may mắn bắt được liên lạc. Khi hai xe gặp nhau, chúng tôi bỏ Tao Phùng đi Bãi Dâu. Vì mưa dữ dội qúa, leo núi chắc trôi luôn mất. Đi được ít phút, có lẽ chưa tới Bãi Dứa, nước, từ trên núi chẩy xuống như thác. Mặt đường thóat không kịp, nên ngập gần hết bánh xe. Hòan cảnh này mà nghẹt bô, chết máy, thì hết cách giải quyết. Bởi đó chúng tôi quyết định quay về.

Xe vừa ra tới con lộ mới, dẫn vào Vũng Tầu, mưa ngừng hạt. Cha Thuấn, đi xe cha Nhất lái, bất ngờ bóp “dế” kêu cha Thuận, đề nghị: “Quay lại tham quan Bãi Dâu, vì đã hết mưa.” Cha Thuận chắc tiếc xăng dầu nên can: “Đi xa rồi, trở lại ngại lắm!” Cha niên trưởng cũng nhăn nhó phụ họa: “Hết đi nổi rồi.” Thế là đành tung cánh chim tìm về tổ ấm vậy.

Trên đường về, cha Thiệp bỗng nhiên tịnh khẩu, chẳng hiểu ngài nhớ ai? Nhưng sau, thấy ngài hỏi tôi: “Cha có Tylenon không cho con viên?” tôi mới hay ngài cảm bia.

Về tới chợ Bà Rịa, mới có thể tạt vào mua thuốc cho ngài được. Xe vừa ngừng, không cần nhờ vả ai, ngài nhẩy ra, lao đi mua thuốc. Ngay lúc đó, một chị bán vé số cũng chậy tới, ngó vào trong xe, thấy cha Thuận, là reo lên sung sướng: “Thấy cha là con biết liền hà!” Không biết thế nào và do đâu, chị bán vé số, đạo Cao Đài này, lại biết rõ cha Thuận đến thế?

Chợ Bà Rịa chỉ bán đặc sản của vùng biển và đủ lọai mắm ruốc, chứ không có cửa hàng kinh doanh thuốc sao đó, nên cha Thiệp đi qúa lâu, mà vẫn chưa thấy về. Chẳng rõ có vào thăm lăng nào để khấn khứa thứ gì không?
Lúc lâu sau, mới thấy xe cha Nhất rẽ vào. Cả hai tập trung chờ cha Thiệp. Một lúc nữa, mới thấy ngài ra, mặt mũi tỉnh táo hẳn lại. Thuốc Bà Rịa hay thiệt.

Tập trung đủ người xong, tôi đề nghi các cha: “Tới chỗ nào ăn tối cái đã, về nhà khỏi ăn.” Nghe vậy, cha Thuận đề nghị về Tam Hiệp ăn phở, tại một quán ruột của ngài. Theo ngài đánh giá: phở ở đó rất ngon.
 
Qua Long Thành, trời đã tối. Cha niên trưởng nhớ nhà, nên cứ sợ về muộn. Tôi thì cứ dự phòng trước: 12giờ đêm về nhà là được. Lát sau, xe đang ngon trớn, cha Thuận ra lệnh ngừng. Chưa kịp giải trình lý do, thì tôi thấy các ngài ùa xuống khỏi xe tập lái, từ cha niên trưởng, cha Thuận, cha Thiệp, cha Long, thầy Danh và tài xế, đều tập lái hết. Nơi các ngài đăng ký tập lái, chẳng thấy trường lớp nào cả, chỉ thấy cột đèn và bờ cỏ. Cứ giữa trời lồng lộng, các ngài trả bài rất vô tư. Riêng tôi không thích học kiểu này, nên cứ an vị trên xe. Bởi lẽ, làm thế, nhỡ điện cao thế nổi hứng, theo nước truyền vào nội căn, thì nguy to. Thứ nữa, là sợ gặp mấy ông công an khu vực, thuộc lòng lý lịch của mình, thì thật là “thẹn như thôn nữ mới lên kinh!”

Nói tới đây, tôi chợt nhớ: Ngày còn là học trò ở Đại Chủng Viện Sàigòn, được trao việc thực hiện cuốn kỷ yếu Tiếng Gọi 7, một cha cựu sinh viên đã gửi cho tôi một bài viết giống y tâm trạng tôi lúc này. Nguyên văn cái bài đó như sau:

“ Anh ạ, mình dậy thật sớm để kín đáo trút bầu tâm sự. Nơi ấy ở thật xa. Mình dọi đèn pin, bước từng bước ngắn. Mỗi bước chân, bấm lấy lớp sình nhầy nhụa, lảo đảo súyt té. Mình không đủ can đảm đi tới nơi, đành bán đồ nhi phế. Mình định bụng ôm hận chờ hòang hôn. Nhưng thiên nhiên không lùi bước. Những gì sự vận chuyển của cơ thể không chấp nhận cho ở lại, nó phải ra đi. Mình đành thúc thủ.

8 giờ sáng, mặt trời đã lên thật cao. Sinh hoạt nơi ấy thật nhộn nhịp. Đứng sau cánh cửa, mình dõi theo sinh hoạt của quần chúng, lòng băn khoăn vô hạn. Khi không còn một bóng người thấp thóang, mình lủi thủi ra đi, đầu cúi xuống, như tên tử tội ra pháp trường.

Mình tha thiết van xin Chúa, để không ai còn đến đây như mình. Nhưng lời nguyện không thấu trời cao. Kìa bóng ai đang tha thướt tiến về phía mình. Mình cúi mặt trên gối, để chỉ còn nhận thức sự hiện diện của người bên cạnh bằng thính giác. Tiến thóai lưỡng nan, mình đành tắt máy, ngồi chết điếng như cái xác chết. Mình xin núi non đổ xuống trên mình, nhưng trời vẫn lồng lộng, đồng trống, gió phe phẩy. Mình xin đất mở ra nuốt lấy mình vào vực tối, nhưng dưới kia, mặt nước phẳng lặng, biến thành bức tranh sống…

Mình trở về nhà, mồ hôi ướt dầm dề. Và từ hôm ấy, khi lòai người cùng lòai vãt còn đang nghỉ yên, mình đã dấn bước trên quãng đường thương khó, bất chấp cả trời giông bão…”

Tôi cũng cứ sợ gặp hòan cảnh như trên, nên rất ớn “lái” theo kiểu ông trạng Quỳnh.

Gần 8giờ, xe tới quán phở. 11 người chúng tôi ngồi chặt cả quán. Bà chủ quán thấy chúng tôi như thấy hàng hiệu, nên cứ lăng xăng mời chào. Chúng tôi order mỗi người một tô, gần bằng tầu bay. Tôi hỏi nhỏ một vài vị có hơi hướng bia bọt: “Lade nha!” Nhưng các ngài lắc đầu. Lý do, tối uống không được. Thế là thực đơn cho bữa tối chỉ một tô phở. Bao tử tôi thì qúa dư, các vị khác thì không rõ.

Lúc bỏ quán ra về, tôi bảo nhỏ cha Thuận: “Quán phở ruột của ông, cái khâu nước dùng chỉ khác nước “Lèo” tí chút! Thế mà ông gắn huy chương cho họ được, lạ thiệt.”

Cha Thuận, dù dùng cơm chay, nhưng vẫn dư sức chơi hai ba đĩa. Bánh mì, chẳng cần thịt thà rắc rối, chỉ cần chấm vào nước trà, ngài vẫn có thể xông pha hai ba ổ. Dễ nuôi như ngài, thì quán phở Tam Hiệp dĩ nhiên là ngon. Còn những ai đã từng bôn ba nhiều quán xá, thì không thể hoan hô quán đó được.
 
Đọan đường từ Tam Hiệp về Lạc An, chẳng bao xa. Thời gian cũng chỉ khỏang nửa tiếng, thế mà cha Thuận đã dành ra tới 20 phút để tâm sự từ xa. Ngài ngồi ngay sau tôi, muốn hỏi ngài đôi ba câu, nhưng thấy ngài  cứ áp “dế” sát tai và gáy liên hồi. Lúc thì: “Hở, hả, ở nhà thế nào? Vui không?” Lúc lại: “Sắp về tới nhà rồi. Ăn cơm chưa? Đừng buồn nghe cưng, phải vui lên, hy sinh nữa…” Chờ cho tới khi ngài tâm sự từ xa đã đời xong, tôi mới ghé sang tài xế của ngài hỏi: “Anh Đức nè! Từ sang tới giờ cha Thuận Di Động khoảng mấy chục lần nhỉ?” anh ta liền phì cười, cười đến đỏ mặt. Cha Thuận cũng đỏ mặt lên tìm cách chống chế. Ngài thâm thấp như ông Giakêu, mà khéo thật. Đúng là nhất lé nhì ngài.

8giờ 30, xe về tới Lạc An. Tôi được chở tới tận cửa nhà xứ. Cuộc du ngọan thật thú vị. Đêm nay chắc có một giấc ngủ thần tiên. Xin cám ơn hai cha vùng Tân Uyên đã cho mượn xế, để thực hiện chuyến đi đầy tình hiệp nhất này. Hy vọng trong tương lai, sẽ có thể tổ chức được nhiều chuyến đi tương tự nữa, để tình anh em trong hạt, mỗi ngày một đậm đà thắm thiết hơn.

Cuối cùng, xin qúi cha thương bỏ qua những gì vô phép trong tập bút ký này. Mong muốn của người viết, chỉ là góp một nụ cười nho nhỏ cho chúng mình, để phần nào quên đi những nhức nhối của thân phận “con chiên,” giữa cuộc đời phúc tạp bây giờ.

Amen

                                                                                    Lm. Hồng Nguyên

Số lần xem: 302 | Gửi bài này qua Email