Clock-Time

Kinh Mân Côi trong đời linh mục

Kinh Mân Côi không chỉ giúp người linh mục gặp gỡ Đức Kitô, nhưng còn giúp linh mục khám phá ra căn tính của mình.

Ơn gọi linh mục
Kinh Mân Côi trong đời linh mục

Tháng 10, Tháng Giáo Hội dành riêng để kính Đức Mẹ Mân Côi, đây là dịp Giáo Hội nhắc nhở con cái tôn kính Đức Mẹ cách đặc biệt qua việc đọc kinh Mân Côi. Bởi như lời Đức Thánh cha Lêô XIII đã nói: “Muốn được Thiên Chúa cứu chữa cho khỏi những cơn khó khăn của thời đại ngày nay, Ta nghĩ không có gì hiệu nghiệm hơn là việc tôn sùng Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa. Vậy Ta khuyên các giáo hữu, hãy tập thói quen đạo đức lần hạt Mân Côi hoặc công khai hoặc trong gia đình”. Đức Giáo Hoàng Piô XI cũng khẳng định rằng tràng chuỗi Mân Côi sẽ giúp người Kitô hữu giữ vững đức tin và lòng trung thành với Chúa, với Giáo Hội. Theo Đức thánh cha Bênêđictô XVI: “Kinh Mân Côi là một kinh chiêm niệm và tập trung vào Chúa Kitô, không phân cách với sự suy gẫm Kinh Thánh. Đó là kinh của người Kitô hữu tiến bước trong sự hành hương đức tin, trong sự theo Chúa Giêsu, có Đức Maria đi trước”. Như vậy, kinh Mân Côi dù chứa đựng những lời kinh đơn sơ, nhưng chứa đựng cả một sức mạnh lớn lao giúp người Kitô hữu vượt qua muôn vàn trở ngại trong cuộc sống để gặp được Chúa Giêsu, nguồn mạch sự sống. Cách riêng đối với người linh mục, Kinh Mân Côi không chỉ giúp người linh mục gặp gỡ Đức Kitô, nhưng còn giúp linh mục khám phá ra căn tính của mình.

1- “Kính Chào Bà đầy ơn phúc”. Theo các nhà chú giải Kinh Thánh, đây không đơn giản là một lời chào bình thường mà Thiên sứ Gabriel thốt ra theo cách giao tế, những lời chào của Thiên sứ như là việc ám chỉ đến các lời tiên tri Xôphônia (3, 14 – 17), tiên tri Yôel (2, 21 -27) và tiên tri Zacarya (9, 9 tt), kêu gọi thiếu nữ Sion (tức dân cư thành Giêrusalem, và hiểu rộng hơn tức toàn Dân thiên Chúa) và loan báo tin mừng về thời Cánh chung: Thiên Chúa đến ngự tại Sion như là Vua và Cứu Chúa. Cụm từ “đầy ơn phúc” được chuyển dịch một từ ngữ Hy Lạp Kêkaritômênê, nói lên thực thể thường xuyên của Mẹ Maria trước nhan Thiên Chúa và loài người: Mẹ là Ðấng tràn đầy ơn phước luôn luôn và được hiểu như là tên riêng của “thiếu nữ Sion”, do chính Thiên Chúa đặt, đánh dấu nhiệm cục cứu rỗi được khai mạc do bởi tình yêu của Thiên Chúa. Thánh Công Đồng Vat. II đã minh định: Đức Maria như người nữ được phác họa trước trong lời hứa chiến thắng con rắn, Mẹ trổi vượt trên các người khiêm nhường và khó nghèo của Chúa, là những người tin tưởng hy vọng và lãnh nhận ơn cứu độ nơi Chúa, và khi tới thời gian viên mãn Mẹ là Thiếu Nữ Sion cao sang, đại diện cho nhân loại đón nhận Ngôi Lời Nhập Thể khai mào kỷ nguyên mới của việc Thiên Chúa thực hiện lời hứa cứu độ (x. LG số 55)

Như vậy, khi Thiên sứ chào Mẹ với cụm từ “đầy ơn phúc”, Thiên Chúa muốn Đức Maria tiếp đón cách đặc biệt niềm vui mà các ngôn sứ đã loan báo. Đón nhận lời mời gọi hãy vui mừng khôn xiết, niềm vui tột đỉnh, Mẹ chính là "Thiếu nữ Sion" mới. Vì được gọi là ‘Thiếu nữ Sion”, Mẹ mang trong mình một sứ vụ mới, đại diện cho nhân loại, để qua Mẹ, Thiên Chúa thiết lập với toàn thể nhân loại một giao ước mới. Trong mọi phần tử của Dân được tuyển chọn, Mẹ xứng đáng hơn ai hết để ký kết giao ước hôn nhân với Thiên Chúa. Mẹ đã dâng hiến cho Thiên Chúa con tim hiền thê của mình với sự trung tín và thủy chung. Trong căn cước này, Mẹ được Thiên Chúa thánh hóa để trở thành hiền thê tinh tuyền không lây nhiễm tội lỗi. Chính Chúa Thánh Thần đã biến đổi Mẹ thành một tạo vật mới (LG 54), một thụ tạo được Giám mục Theoteknos Livias ca ngợi là “trong trắng không tì ố”, “thánh thiện và tuyệt đẹp”, Mẹ được “sinh ra giống như các Kêrubim, bằng đất sét tinh ròng vô nhiễm”. Mẹ quả thật là Đấng đầy tràn ơn phúc.

Lời chào của Thiên sứ dành cho mẹ cũng được áp dụng nơi người linh mục. Thật vậy, linh mục cũng được gọi là “người đầy ơn phúc”. Trong nghi thức tuyển chọn ứng viên làm linh mục, sau khi thẩm vấn, Đức giám mục đã hoan hỉ loan báo: ‘Nhờ ơn Thiên Chúa, Chúa chúng ta, và nhờ ơn Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu chuộc chúng ta, chúng tôi tuyển chọn (các) anh em của chúng ta đây lên chức linh mục”. Lời tuyển chọn này của Đức Giám Mục tương tự lời công bố của Thiên sứ đối với Đức Maria: “Bà đầy ơn Phúc”. 

Hành vi tuyển chọn của Đức Giám Mục không phát xuất từ ý muốn của ngài, nhưng từ Thánh ý của Thiên Chúa. Qua đây, Thiên Chúa trao ban cho người được tuyển chọn một căn cước mới: linh mục đời đời của Chúa Kitô, trở thành “hiện thân của Chúa Kitô theo cách thức riêng của mình” (PO số 12), để nhân danh Người thi hành nhiệm vụ tư tế trong Giáo Hội thay cho nhân loại. Với căn cước này, người linh mục sẽ “thay mặt Chúa Kitô là Đầu mà hành động” (PO số 2). Cũng như Mẹ Maria, Mẹ được gọi “đầy dư ân phúc”, đó không là một ân ban dành riêng cho cá nhân Mẹ mà thôi, nhưng còn là ân ban cho tất cả mọi người, một ân ban cho toàn thể Dân Chúa, bởi chính nhờ Mẹ mà nhân loại nhận được Ơn Cứu độ. Tương tự như Mẹ, Người linh mục được trao ban hồng ân linh mục không là ân huệ dành riêng cho cá nhân linh mục, nhưng cho toàn thể Thân Thể Mầu Nhiệm Chúa Kitô. Vì được liên kết với chức Giám Mục, nên linh mục cũng được “tham dự vào quyền bính mà chính Chúa Kitô đã dùng để kiến tạo, thánh hóa và cai quản Thân Thể Người” (PO số 2). 

Với căn cước này người linh mục cũng được đòi hỏi phải có một sự tinh tuyền như Mẹ, dĩ nhiên không vô nhiễm nguyên tội như Mẹ, nhưng đời sống linh mục phải nên giống Chúa Kitô Tư Tế, bởi “khi lãnh nhận Chức Thánh, các ngài được thánh hiến cho Thiên Chúa theo một cách thức mới: các ngài trở nên khí cụ sống động của Chúa Kitô Tư Tế vĩnh cửu…. Sau khi được Chúa Thánh Thần thánh hiến bởi việc xức dầu và được Chúa Kitô sai đi, các ngài tiêu diệt nơi mình những công trình của xác thịt và hoàn toàn hiến thân để phục vụ nhân loại: đó chính là sự thánh thiện mà Chúa Giêsu đã ban cho các ngài để nhờ đó mà tiến gần đến con người hoàn thiện” (PO số 12). Như thế người mang lấy chức linh mục quả thật là người “đầy ơn phúc”.

2 - “Thiên Chúa ở cùng Bà”. Đây là một lời vừa khích lệ, cho biết rằng chính Thiên Chúa là nguồn trợ lực cho Mẹ trong vai trò Nữ Tử Sion, vừa là lời hứa: Thiên Chúa luôn hiện diện hộ phù cho kẻ Ngài chọn để thi hành công việc của Ngài. Do đó kẻ được chọn phải tín thác vẹn cho Chúa, và luôn ý thức rằng, mình được chọn không vì công lao của riêng mình, nhưng do bời sự chọn lựa nhưng không của Thiên Chúa. 

Thiên Chúa ở cùng Bà, một lời vừa động viên, vừa nói cho biết Mẹ đừng sợ, đừng lo lắng, bởi giây phút khai mở kỷ nguyên của việc thực hiện lời hứa cứu độ đã bắt đầu. Lời hứa sẽ được Thiên Chúa hiện thực cách tròn đầy, và Mẹ được mời gọi bước vào hành trình của công việc thực hiện lời hứa này trong việc đảm nhận một trọng trách quan trọng: cưu mang Đấng Cứu Thế. Đây là một ân huệ lớn lao, vượt quá sự hiểu biết của trí khôn con người, vượt ra ngoài suy luận của lý trí. Trong lịch sử cứu độ Thiên Chúa cần sự cộng tác của con người, nhưng Thiên Chúa không cần đến sự chỉ dạy của lý luận con người. Cho nên lời động viên “Thiên Chúa ở cùng bà” cũng là lời nhắc nhở cho Mẹ biết, Thiên Chúa là chủ thể của hành vi cứu chuộc, chứ không phải là con người, và Ngài hành động theo cách thế của Ngài. Mà cách thế của Thiên Chúa thì quả thật con người không thể dò thấu được như tiên tri Isaia đã nói: “Tư tưởng của Ta không là tư tưởng của các người, và đường lối của các ngươi không phải là đường lối của Ta” (Is 55, 8).

Dĩ nhiên Thiên Chúa không bao giờ biến chúng ta trở thành một dụng cụ thụ động trong công việc cộng tác với Ngài để thực hiện lời hứa cứu độ. Có thể nói như các nhà thần học Kinh viện khi trình bày về Bí tích: con người cộng tác với Thiên Chúa như là “nguyên nhân dụng cụ”. Có nghĩa con người hành động với một ý chí tự do hoàn toàn, nhưng ý chí này được biểu lộ trong sự vâng phục Thánh ý hoàn toàn, bởi vì chỉ có Thánh Ý mới là kim chỉ nam dẫn tới hạnh phúc đích thật. 

Và như vậy lời ủy lạo của Thiên sứ nói với Đức Maria: “Thiên Chúa ở cùng Bà”, cũng là lời ủy lạo của dành cho Linh mục qua lời nguyện nài xin của Đức Giám Mục: “Chúng con nài xin Chúa nhậm lời chúng con đổ tràn ơn phúc Chúa Thánh Thần, và ơn chức linh mục trên các tôi tớ Chúa đây, hầu những người chúng con dâng lên cho Chúa nhân từ để được thánh hiến, sẽ luôn luôn được Chúa rộng tay ban ơn che chở”. Như vậy, chức linh mục là ân huệ của Thiên Chúa dành ban tặng cho những con người được Chúa tuyển chọn, để phục vụ cho chương trình cứu chuộc cách đặc biệt. 

Việc trao ban này không dựa vào công nghiệp riêng của các ứng viên linh mục, nhưng do tình thương của Thiên Chúa. Bởi đó, như Đức Maria, người linh mục luôn khiêm cung, nhìn nhận sự mỏng dòn của thân phận làm người, để cất tiếng: “linh hồn tôi ngợi khen Chúa, Thần trí tôi hoan hỷ trong Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi ….vì Chúa đã đoái thương nhìn đến phận hèn tớ nữ” (Lc 1, 46 -48). Đó là lời tín thác hoàn toàn cho Thiên Chúa và ý thức rằng: không có ơn Chúa, người linh mục không thể làm được gì. Và vì vậy, việc kêu cầu xin đổ tràn ân phúc Chúa Thánh Thần, ơn che chở của Chúa nhằm nói lên rằng, chủ thể chính yếu của hành vi phục vụ ơn cứu độ nơi người linh mục chính là Thiên Chúa. 

Do đó, khi thi hành chức vụ linh mục trong việc phục vụ phần rỗi anh em đồng loại, người linh mục phải luôn “sẵn sàng tìm ý muốn Đấng đã sai mình chứ không phải tìm ý riêng” (PO 15). Người linh mục phải ý thức sự yếu đuối mỏng dòn của mình để “trong mọi sự đều tuân theo ý của Đấng muốn cho mọi người được cứu rỗi” (PO số 15). Người linh mục “có thể khám phá và tuân theo ý muốn nhầy trong những sự kiện hằng ngày bằng cách khiêm tốn phục vụ mọi người được Thiên Chúa uỷ thác cho mình qua nhiệm vụ riêng của mình cũng như qua những biến cố của đời sống” (PO số 15). 

Khi thi hành sứ vụ, người linh mục phải noi theo gương mẫu của Đức Maria, có nghĩa là đặt ý chí của mình trong Thánh ý của Thiên Chúa. Vì vậy người linh mục không bao giờ thi hành nhiệm vụ linh mục trong việc phục vụ phần rỗi anh em theo cách riêng của mình, nhưng “trong sự thông công phẩm trật của toàn thân thể” (PO 15). Có nghĩa là khi thi hành nhiệm vụ người linh mục biết hy sinh ý riêng mình, đặt mình vâng phục Đức Thánh cha cũng như Đức Giám Mục của mình. 

Sự vâng phục này không đánh mất khả năng sáng tạo, tư duy khi phục vụ, nhưng “sự vâng phục này đưa con cái Thiên Chúa tới sự tự do trưởng thành hơn : trong khi vì bác ái thúc đẩy và để chu toàn chức vụ, các Linh Mục khôn ngoan tìm tòi những con đường mới mẻ mưu ích hơn cho Giáo Hội, thì chính sự vâng phục đó tự bản tính cũng đòi buộc các ngài phải tin tưởng đưa ra những sáng kiến, phải tha thiết trình bày những nhu cầu của đoàn chiên được trao phó và luôn luôn sẵn sàng tùng phục phán đoán của những vị thi hành các phận vụ chính yếu trong việc điều khiển Giáo Hội Chúa. Nhờ tự ý khiêm nhường và vâng phục trong tinh thần trách nhiệm mà các Linh Mục nên giống Chúa Kitô và có những cảm thức như Chúa Giêsu Kitô, Đấng “tự hủy mình khi nhận lấy thân phận tôi tớ... đã vâng lời cho đến chết” (Ph 2, 7-)” (PO 15).

3 - “Và Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ”. Đây là đỉnh cao của cuộc đời Đức Maria, Đấng được gọi là tràn đầy ân phúc, và được Thiên Chúa ở cùng. Quả thật, Chúa Giêsu là điểm quy chiếu mọi ân huệ mà Mẹ nhận được. Qua lời xin vâng, Mẹ đã sẵn sàng dấn bước theo Thánh ý để cộng tác với Thiên Chúa trong việc thực hiện lời hứa cứu độ. Và như thế, Mẹ đã thêm vào căn cước “thiếu nữ Sion” một nét đặc thù mới: “một trinh nữ thụ thai”, có nghĩa Mẹ vẫn luôn đồng trinh trước, trong và sau khi sinh. Hai phạm trù sinh nở và trinh khiết hoàn toàn mâu thuẫn nhau, thể mà hai phạm trù đó lại hiện hữu nơi một chủ thể duy nhất: Đức Maria. Việc này vượt khỏi lý luận của trí khôn con người, nhưng không vượt khỏi quyền năng của Thiên Chúa, vì “không có gì mà Thiên Chúa không làm được” (Lc 1, 37). 

Giáo Hội cũng đã khám phá một ý nghĩa lớn lao khi tuyên xưng Đức Maria vẫn đồng trinh trong khi sinh. Lời tuyên xưng này không có chủ đích trình bày về hiện tượng sinh học, nhưng đúng hơn nhằm cụ thể hóa vai trò đối xứng mang tính điển hình học của nhân loại cũ được biểu tượng qua Eva, một nhân loại đang bị quyền lực của tội lỗi thống trị và của nhân loại mới xuất hiện trong Đức Maria, một nhân loại hoàn toàn xuất hiện nhờ bởi Thần Khí Thiên Chúa. Trong hình ảnh diễn tả sự sinh nở không đau đớn của Đức Maria những người tín hữu nhận biết niềm hy vọng của họ về sự giải cứu họ khỏi những hậu quả của tội gây ra như được thực hiện, vì Eva đã phạm tội, bà phải sinh con trong đau đớn.

Đối với người mẹ, sự sinh nở không chỉ đóng khung trong lĩnh vực thể lý, nhưng nó còn nói đến mối tương quan nhân vị giữa người mẹ và đứa con. Sự đặc biệt của mối quan hệ nhân vị của Chúa Giêsu đối với Đức Maria được xác định: Chúa Giêsu là Đấng Cứu độ và mối tương quan giữa Mẹ và Chúa được hiểu trong chân trời thần học bao la. Qua lời thưa “xin vâng”của Đức Maria Thiên Chúa đã xuống thế làm người, và việc làm người của Thiên Chúa là bởi nhờ Mẹ, mối tương giao của Đức Maria đối với Chúa Giêsu qua hành vi sinh nở phải nhìn trong phạm trù về ơn cứu độ của thời cánh chung, được thể hiện nơi chính con người Chúa Giêsu. Cho nên, nội dung của lời tuyên xưng không quy chiếu về những chi tiết thuộc thể lý phàm trần, nhưng đúng hơn lời tuyên xưng đó làm sáng tỏ ơn cứu độ cách chung của thời đại sau hết được khai mở bởi Chúa Giêsu Kitô qua việc sinh nở Chúa Giêsu (x. Is 66, 7 – 10; Ed 44, 1 tt). Do đó biến cố sinh hạ Đấng cứu chuộc không gây đau đớn cho Đức Maria cũng được Giáo huấn Thánh kinh liên kết đến biến cố đứng dưới chân Thập giá của Mẹ Maria (Lc 2, 354; Ga 19, 25). Qua đó Mẹ cũng phải chịu cơn vật vã khổ đau như là Mẹ vừa sinh ra ơn cứu độ qua cái chết của Đức Giêsu trên Thập giá. 

Đó chính là ý nghĩa của lời kinh Mân Côi: “Và Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ”. Quả thật, qua việc sinh hạ Chúa Giêsu, Mẹ đã mặc cho mình thiên chức làm Mẹ mang tính phổ quát. Cho dẫu Mẹ chỉ sinh ra một mình Chúa Giêsu theo phương diện thể lý, nhưng trong chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa, Mẹ như một Evà mới, Mẹ đã sinh ra một Dân tộc mới. Công đồng Vat. II đã nhìn nhận : “Đức Maria đã sinh hạ một Người Con, mà Thiên Chúa đã đặt làm trưởng tử của vô vàn anh em (x. Rm 8, 29), nghĩa là của những tín hữu mà Đức Maria đã cộng tác vào việc sinh đẻ và huấn luyện với tình mẫu tử” (LG 63).

Lời kinh này cũng hướng tới thiên chức linh mục. Thật vậy, người linh mục được tuyển chọn để “trở nên những khí cụ sống động của Chúa Kitô, Linh Mục đời đời, để qua các thời đại, các ngài có thể tiếp tục công việc kỳ diệu qua Đấng đã lấy quyền năng cao cả mà tái lập toàn thể xã hội con người” (PO 12). Vì vậy, người linh mục được tuyển chọn không chỉ nhằm thánh hóa cá nhân ứng viên chịu chức, nhưng trước tiên là vì công việc phục vụ trong Giáo Hội. Do đó, việc Truyền chức kiến tạo nhiệm vụ thuộc thánh chức. Bí tích truyền chức đã xác định nhiệm vụ của người linh mục vào trong căn cước của linh mục: nhiệm vụ phục vụ Nước Chúa theo cách thế đặc biệt. Để chu toàn nhiệm vụ phục vụ này, người linh mục được thánh hóa trở thành con người như Mẹ Maria: một “trinh nữ thụ thai”.

Như là hiện thân của Chúa Kitô, người linh mục được mời gọi hiện hữu và sống trong sự sống mới, kết hợp và trở nên giống Người trong một hình thức hoàn hảo nhất có thể. Có nghĩa là người linh mục được mời gọi sống đời độc thân, đó như sự đồng hình đồng dạng trọn vẹn hơn với Chúa Giêsu và như lời loan báo trước về cuộc tạo dựng mới. 

“Nhờ đức trinh khiết hay là bậc độc thân vì Nước Trời, các Linh Mục được thánh hiến cho Chúa Kitô với lý do mới mẻ và tuyệt hảo được kết hợp cách dễ dàng hơn với Người bằng một trái tim không chia xẻ, tận hiến cách tự do hơn trong Người và nhờ Người để phục vụ Thiên Chúa và loài người, sẵn sàng hơn trong việc phục vụ Nước Chúa và việc tái sinh siêu nhiên; như thế các ngài có khả năng hơn để sinh nhiều con cái trong Chúa Kitô” (PO 16). Trong ý nghĩa ngày, Linh mục quả là một người cha tinh tuyền nhưng sinh hạ nhiều con cái.

Kết

Lời Kinh Mân Côi mang lại hiệu năng đặc biệt trong việc giúp người tín hữu hoàn thiện hóa bản thân trên con đường tiến về Nước Chúa. Thánh Giáo Hoàng Phaolô VI quả quyết: Chuỗi Kinh Mân Côi là chuỗi cứu rỗi, rơi từ đôi tay chí thánh của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ con người và của Đức Maria, Hiền Mẫu Ngài. Chuỗi Mân Côi tuôn đổ trên chúng ta muôn vàn ơn lành. Và cũng từ chuỗi Mân Côi, chúng ta dâng lên các Ngài mọi ước muốn cùng trọn niềm hy vọng của chúng ta. Đặc biệt đối với Linh mục, Kinh Mân Côi là lời kinh của chính mình. Quả thật, thánh chức linh mục làm cho người linh mục được trở nên đồng hình đồng dạng với Thầy của mình (x. Rm 8,29). Việc trở nên giống Chúa Kitô hình thành một linh đạo đặc biệt của người linh mục, đặt nền tảng trên sự chiêm ngưỡng liên lỉ dung nhan Đức Kitô. Việc thực hành linh đạo luôn được nối kết chặt chẽ với Đức Maria. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nhắc nhở: “Đức Maria là mẫu gương khôn sánh về việc chiêm niệm Đức Kitô. […] Không ai dâng hiến trọn cuộc đời của mình để trung thành chiêm ngưỡng dung nhan Đức Kitô cho bằng Đức Maria”. Do đó, người linh mục phải học nơi Đức Maria cách thế trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô. Kinh Mân Côi là con đường dẫn tới mái trường của Đức Maria, vì “kinh Mân côi phát xuất từ kinh nghiệm riêng của Đức Maria, nên là một lời kinh chiêm niệm tuyệt vời”

Lm Antôn Hà văn Minh