Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam

Hôm nay toàn thể giới Công Giáo Việt Nam có độ 130.000 tín hữu được diễm phúc đổ máu làm chứng cho Chúa trong số đó có 117 vị được phong chân phước...
CHÚ GIẢI TIN MỪNG 

LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM




Giáo phận Nha Trang - Chú Giải


I. lịch sử của thánh lễ này:

Hôm nay toàn thể giới Công Giáo Việt Nam có độ 130.000 tín hữu được diễm phúc đổ máu làm chứng cho Chúa trong số đó có 117 vị được phong chân phước trong bốn giai đoạn:

Đức lê-ô XIII phong ngày 27-5-1900:64 vị

Đức Pi-ô X phong ngày 20-5-1906: 8 vị

Đức Pi-ô X phong ngày 22-5-1909: 20 vị

Đức Pi-ô XII phong ngày 29-4-1951: 25 vị

Những vị chân phước này gồm có Giám Mục, Linh Mục, Thầy Giảng, Chủng Sinh Và Giáo Dân

Thuôc mọi tầng lớp xã hội (công chức, quân nhân, y sĩ, thương gia, công nhân, nông dân,ngư dân, trùm họ, lý trưởng…)

Tất cả 117 vị chân phước này được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô phong lên hàng hiển thánh ngày 19-6-1988.

II. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA:

Chọn trong số lễ chung kính các thánh tử đạo.

III. Tinh thần và tâm tình mừng kính lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam

1.Cảm nghiệm về Các Thánh Tử Đạo Việt Nam:

* Các Ngài đã tỏ lòng mến Chúa thực tình khi thực hiện đúng những lời Chúa truyền dạy:

+" Ai yêu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai ghét mạng sống mình ở đời này sẽ giữ được nó trong cuộc sống đời sau"(Ga 12,25).

+" Ai muốn theo Ta, hãy bỏ mình vác thập gía hằng ngày và theo Ta"(Lc 9,23).

+" vậy nếu con lời lãi cả thế gian mà phải thua thiệt và mất mạng sống mình thì được gì?"(Lc 9,25)

* các thánh tử đạo việt nam đã hân hoan và vui mừng dùng cái chết để tỏ lòng trung nghĩa với Chúa và đồng thời loan báo cho hậu thế rằng chỉ có một Thiên Chúa duy nhất đáng tôn thờ vá chỉ có Thiên Chúa là cha yêu thương và quan phòng để con cái là những ai tin vào Người được hạnh phúc đời đời.

Máu Các Thánh Tử Đạo Việt Nam là nguồn ân sủng cho chúng ta và nhờ đó chúng ta được thăng tiến trong đức tin.

2.Tâm tình hướng về Các Thánh Tử Đạo Việt Nam.

* Chúng ta cảm phục vì các ngài đã vượt thắng được mọi khó khăn chấp nhận mọi gian khổ và từ bỏ mọi sự để tỏ lòmg trung kiên trong ơn nghĩa Chúa và một lòng thờ phượng và kính mến Chúa trên hết mọi sự

* Chúng ta cảm tạ tri ân vì các ngài đã nêu gương sáng cho chúng ta về đức tin, về tinh thần sống đạo và nhất là để lại cho chúng ta nguồn ân sủng làm phát sinh đức tin trong việc mở rộng nước Chúa và làm tăng triển đức tin trong tinh thần sống đạo và truyền đạo của giáo dân Việt Nam.

* Chúng ta cảm mến và ngưỡng mộ các ngài để nhờ đó chúng ta kiên trì trong đức tin, vững bền trong đức cậy và bền đỗ trong đức mến ở mọi thời đại, mọi nơi và trong mọi việc./.

 
Lm Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc - Bài Giảng Lễ

Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam

Các Vị Tử Đạo Mới Của Thời Đại

Bài đọc: Kn 3,1-9; 1Cr 1,17-21; Mt 10, 17-22


Mỗi lần nói đến các thánh tử đạo, là chúng ta nghĩ ngay đến cảnh đầu rơi, máu đổ, gông cùm, gươm giáo… Thế nhưng, ở thời đại đang tiến dấn tới thế kỷ 21, những cảnh hành trình tàn bạo, cổ điển ngày xưa và sự bắt đạo của các chính quyền hầu như không thể tái diễn. Vì Hiến pháp của bất cứ quốc gia nào cũng tôn trọng tự do tính ngưỡng và các quyền cơ bản của con người. Đàng khác, các án tử hình cũng dần dần được loại bỏ trong các bộ luật hình sự trên thế giới.

Ngày nay, khái niệm về tử đạo được hiểu rộng rãi hơn. Vì tử đạo là người dám chết cho công lý, cho hòa bình, chết cho con người, nhất là những người nghèo khổ hay bị áp bức, nói chung là chết vì Chính Đạo, chết vì muốn sống theo con đường Tin Mừng của Chúa Giêsu, sống cho chân lý phúc âm. Trường hợp của Cha Maximilianô Kolbê, ngài đã tự nguyện chết thay cho một người tù khác có gia đình, trong trại tập trung của Đức Quốc xã. Vào năm 1971, Đức Phaolô VI không coi Cha là vị tử đạo, chỉ coi Cha là một người chịu đau khổ vì đức tin thôi (Confessor). Nhưng khi phong thánh cho Cha vào năm 1982, Đức Phaolô II đã coi Cha là một vị tử đạo. Trong bài giảng phong thánh cho Cha Kolbê, Đức Thánh Cha nói: "Cái chết được Cha hồn nhiên đón nhận vì yêu người đồng loại, cái chết ấy lại không làm cho Cha Kolbe đặc biệt giống Đức Kitô sao, Đức Kitô là mẫu mực của mọi vị tử đạo, là Đấng hiến mạng sống mình cho anh em?".

Trong Tông Thư "Tiến đến thiên niên kỷ thứ ba" (TMA), Đức Thánh Cha kêu gọi các Giáo Hội địa phương lập danh mục các vị tử đạo mới của thế kỷ này. Vì "trong thế kỷ này lại có những người tử đạo, thường là âm thầm, họ như thể là "những chiến sĩ vô danh" vì đại cuộc của Thiên Chúa. Giáo Hội không chỉ có những người đổ máu vì Đức Kitô mà còn có những bậc thày về đức tin, những nhà truyền giáo, những người tuyên xưng đức tin, những Giám mục, Linh mục, các trinh nữ, những người kết hôn, góa bụa và trẻ em". (T 37).

Anh chị em thân mến,

Các Thánh Tử đạo là những người sống, làm chứng, loan truyền mầu nhiệm Thập giá. Mỗi kitô hữu, dẫu không phải trải qua cái chết tử đạo, sống vì Chúa, cho Chúa, cũng vẫn có thể loan truyền mầu nhiệm Thập giá cho thế giới. Sống như một chứng nhân là điều kiện thiết yếu để có thể chết như một chứng nhân.

Không hiểu vì lý do gì mà các vua quan Việt Nam ngày xưa đã dùng Thập giá làm phương tiện để thách đố niềm tin của các vị tử đạo. Họ gọi đó là "Quá Khóa" để dùng Thập giá vạch ranh giới giữa cái sống và cái chết: bước qua hay không bước qua Thập giá. Bước qua là được tiếp tục sống ở đời này, được trả lại tất cả những gì đã mất, được tặng thêm bao phú quý vinh hoa. không bước qua là chấp nhận tù đáy, mất tất cả và mất chính mạng sống. Chỉ cấn một quyết định là mọi chuyện sẽ thay đổi. Chỉ cần một bước chân…

Đã có người bước qua và đã có nhiều người không bước qua, không quá khóa. Đã có nhười được khiêng qua Thập giá, nhưng đã co chân lên, như Thánh Antôn Nguyễn Đích. Đã có người bước qua Thập giá, nhưng sau lại hối hận, đó là trường hợp của ba vĩ thánh Augustinô Phan Viết Huy, Nicôla Bùi Đức Thể và Đaminh Đinh Đạt. Vua Quan đã bày ra trước mặt các ông 10 cây vàng, một tượng Chúa Chịu Nạn và một thanh gươm, rồi nói: "Cho bay tự ý chọn, bước qua tượng thì được vàng, bằng không thì gươm sẽ chặt đôi người bay ra, xác sẽ bị bỏ trôi ngoài biển". Đúng đây là một chọn lựa nghiêm chỉnh, chọn lựa này đụng đến tương lai và sinh mạng của tôi.

 
Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam

"Người chứng thứ nhất"

Đnl 30,15-20; Cl 1,23-29; Ga 12,24-26

Một thanh niên 19 tuổi bị tuyên án tử hình mà không được nói một lời để bào chữa mình. Người tuyên án là quan trấn tỉnh Phú Yên. Vào tháng 7 năm 1644 vị quan này từ triều đình nhà vua về, đem theo sắc lệnh cấm đạo và bắt đầu giam một ông già tên rửa tội là Anrê, rồi sai một toán lính đến nhà vị thừa sai Đắc Lộ để bắt thầy giảng số một là Inhaxu. Khi toán lính xông vào nhà tìm thầy Inhaxu thì chỉ gặp người thanh niên Phú Yên là người mà Cha Đắc Lộ đã rửa tội được ba năm và đã từng cho đi theo để giúp dạy giáo lý. Người thanh niên này đã can đảm nhận hết các tội chúng gán cho thầy Inhaxu và các thầy giảng, nên bị chúng trói lại và điệu đi. Anrê Phú Yên vui vẻ theo toán lính và trong suốt quảng đường không ngừng giảng cho những kẻ dẫn mình vào ngục biết đường tránh hỏa ngục hầu hưởng phúc thiên đàng.

Nhờ sự can thiệp của cha Đắc Lộ và một số thương gia người Bồ Đào Nha, ông già Anrê được tha bổng, còn Anrê Phú Yên thì không. Người thanh niên cường tráng này dám cương quyết thà chết chẳng thà bỏ đạo nên sẽ phải chết để nêu gương cho mọi người biết vâng lệnh nhà vua. Vậy lính dẫn Anrê Phú Yên tới thửa ruộng cách thành phố chừng nửa dặm. Mặc dầu đeo gông nặng, Anrê đi rất nhanh đến nỗi cha Đắc Lộ theo không kịp. Tới nơi hành quyết, thầy giảng trẻ tuổi Anrê quỳ xuống để chiến đấu cho can đảm hơn. Lính gác chung quanh không cho ai vào phía trong cả, nhưng viên đội trưởng cho phép cha Đắc Lộ được đứng cạnh thầy. Cha thấy rõ mắt thầy Anrê nhìn trời cao, miệng luôn hé mở và kêu danh thánh Giêsu.

Một người lính lấy giáo đâm thầy từ phía lưng, thâu qua ngực chừng hai bàn tay. Khi ấy thầy nhìn cha Đắc Lộ như để vĩnh biệt và cha khuyên thầy nhìn lên trời là nơi thầy sắp được Chúa Giêsu đón vào cõi phúc. Từ giây phút đó thầy chăm chú nhìn lên và không còn nhìn xuống nữa. Người lính rút lưỡi giáo ra đâm phát thứ hai, rồi đến phát thứ ba, hắn cố ý đâm trúng tim anh nhưng anh vẫn chưa chết. Thấy thế, một người lính khác lấy mã tấu chặt vào cổ anh, nhưng vẫn chưa xong, phải thêm một nhát thứ hai đầu anh mới lìa khỏi cổ, máu chảy tràn lai láng. Hành quyết xong, toán lính kéo nhau ra bờ sông để rửa các vết máu. Cha Đắc Lộ nhặt đầu anh gói lại kỹ càng như một báu vật, còn xác anh ngài tẩm liệm gởi xuống tàu buôn đưa về Macao chôn cất. Ngài biết đây là một thánh nhân, cần tôn trọng thi thể này để ngàn đời lưu danh. (theo "Người chứng thứ nhất" của Phạm Đình Khiêm).

Anh chị em thân mến,

Mỗi lần nói đến các Thánh Tử đạo là chúng ta nghĩ ngay đến cảnh ngục tù, gông cùm, gươm giáo, đầu rơi, máu đổ. Thế nhưng, ở thời đại đang tiến dần vào thế kỷ 21, những cảnh hành hình tàn bạo, dã man, cổ điển ngày xưa và việc bắt đạo của các chính quyền hầu như không thể tái diễn. Vì hiến pháp của bất cứ quốc gia nào cũng tôn trọng tự do tín ngưỡng và các quyền cơ bản của con người. Đàng khác, các án tử hình cũng dần dần được loại bỏ trong các bộ luật hình sự của các nước trên thế giới.

Ngày nay, khái niệm về tử đạo được hiểu rộng rãi hơn. Người tử đạo là người dám chết cho công lý, cho hòa bình, chết cho quyền sống của con người, nhất là những người nghèo khổ, bị áp bức. Nói chung là chết vì Chính Đạo, chết vì muốn sống theo con đường Tin Mừng của Chúa Giêsu.

Trong Tông Thư "Tiến đến thiên niên kỷ thứ ba", Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II kêu gọi Giáo Hội địa phương lập danh mục các vị tử đạo mới của thế kỷ này. Vì "trong thế kỷ này lại có những người tử đạo, - thường là âm thầm, họ như thể là "những chiến sĩ vô danh" - vì đại cuộc của Thiên Chúa. Giáo Hội không chỉ có những người đổ máu vì Đức Kitô mà còn có những bậc thầy về đức tin, những nhà truyền giáo, những người tuyên xưng đức tin, những giám mục, linh mục, các trinh nữ, những người kết hôn, góa bụa và trẻ em" (số 37).

Tại đất nước chúng ta, giai đoạn lịch sử của 117 Thánh Tử đạo Việt Nam được ghi nhận kéo dài đúng 117 năm, với hai vị tử đạo tiên khởi là Thánh Phanxicô Frédéric Tế và Matthêu Liciana Dậu, hai linh mục dòng Đa Minh, cùng chịu tử đạo tại Thăng Long, miền Bắc năm 1745. Nhưng trước đó hơn một thế kỷ, đã có máu đào đổ ra để làm chứng cho Chúa Kitô, như thấy nơi cái chết của Thầy giảng Anrê Phú Yên năm 1644 tại miền Trung. Vị Tử đạo cuối cùng trong số 117 là Thánh Phêrô Đa, giáo dân thợ mộc, vừa bị thiêu đốt vừa bị chém đầu ngày 17 tháng 6 năm 1862 tại Qua Linh, miền Bắc. Cuối năm 1861 đầu năm 1862, cuộc cấm đạo trước khi chấm dứt còn bùng lên dữ dội ở miền Nam. Chỉ ở hai nơi là Biên Hòa và Bà Rịa, 846 kitô hữu đã bị thiêu sống. Vậy trong ngày lễ kính các Thánh Tử đạo Việt Nam hôm nay, chúng ta không những kính 117 vị đã được tôn phong hiển thánh nhưng còn tỏ lòng biết ơn hàng trăm người đã hy sinh tính mạng vì Chúa Kitô và đã có công truyền lại đức tin cho chúng ta là con cháu.

Nhưng trước hết và trên hết, chúng ta cần tỏ lòng biết ơn Đấng là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa đến với loài người chúng ta. Thiên Chúa đã yêu loài người đến nỗi đã ban Con Một Người và Người Con Một ấy trước khi chết vì chúng ta đã quỳ xuống rửa chân cho từng môn đệ. Kế đến Ngài đã dành những lời tâm huyết để nhắn nhủ các môn đệ. Ngài ví bản thân Ngài như hạt lúa mì gieo vào lòng đất, phải chết đi để sinh được nhiều bông hạt lúa mới (x.Ga 12,24). Rồi Ngài dặn dò các môn đệ về cái thế giới chẳng mấy thân thiện đối với cả thầy lẫn trò: Họ ghét anh em vì họ đã ghét Thầy trước.

Chính tình yêu đến hy sinh mạng sống như Chúa Giêsu là cái giá phải trả để trở nên môn đệ đích thực của Chúa Giêsu. Cái giá ấy các môn đệ xưa đã trả bằng cách hy sinh mạng sống mình. Cái giá ấy các Thánh Tử đạo cũng đã trả để mang lại nhiều hoa trái là nhiều người nhận biết Chúa Kitô để được ơn cứu độ. Đúng như lời vị Giáo phụ Tertulianô đã nói: "Máu các vị Tử đạo chính là hạt giống phát sinh các kitô hữu".

Thưa anh chị em,

Hội Thánh thời nào cũng cần những người dám sống đức tin, dám làm chứng cho Chúa trước mặt người đời. Sống đức tin là một loại tử đạo không đổ máu, không đòi hy sinh mạng sống. Mỗi ngày chúng ta thường bị đặt trước những chọn lựa, trước thập giá của Chúa Giêsu y hệt như các vị Tử đạo ngày xưa. Càng có tự do, chúng ta càng dễ sa sút đức tin. Tiền bạc, tiện nghi, khoái lạc vẫn là những tạo vật gây ra những bách hại êm ả và khủng khiếp mà cuối cùng chúng ta cũng phải đối diện. Ước gì chúng ta không để mất đức tin đã được mua bằng giá máu của bao vị Tử đạo, và ước gì chúng ta không ngừng chuyển giao đức tin ấy cho anh em đồng bào trên quê hương Việt Nam chúng ta.

 
Bài giảng 2: Các Vị Tử Đạo Mới Của Thời Đại

Bài đọc: Kn 3,1-9; 1Cr 1,17-21; Mt 10, 17-22

Mỗi lần nói đến các thánh tử đạo, là chúng ta nghĩ ngay đến cảnh đầu rơi, máu đổ, gông cùm, gươm giáo… Thế nhưng, ở thời đại đang tiến dấn tới thế kỷ 21, những cảnh hành trình tàn bạo, cổ điển ngày xưa và sự bắt đạo của các chính quyền hầu như không thể tái diễn. Vì Hiến pháp của bất cứ quốc gia nào cũng tôn trọng tự do tính ngưỡng và các quyền cơ bản của con người. Đàng khác, các án tử hình cũng dần dần được loại bỏ trong các bộ luật hình sự trên thế giới.

Ngày nay, khái niệm về tử đạo được hiểu rộng rãi hơn. Vì tử đạo là người dám chết cho công lý, cho hòa bình, chết cho con người, nhất là những người nghèo khổ hay bị áp bức, nói chung là chết vì Chính Đạo, chết vì muốn sống theo con đường Tin Mừng của Chúa Giêsu, sống cho chân lý phúc âm. Trường hợp của Cha Maximilianô Kolbê, ngài đã tự nguyện chết thay cho một người tù khác có gia đình, trong trại tập trung của Đức Quốc xã. Vào năm 1971, Đức Phaolô VI không coi Cha là vị tử đạo, chỉ coi Cha là một người chịu đau khổ vì đức tin thôi (Confessor). Nhưng khi phong thánh cho Cha vào năm 1982, Đức Phaolô II đã coi Cha là một vị tử đạo. Trong bài giảng phong thánh cho Cha Kolbê, Đức Thánh Cha nói: "Cái chết được Cha hồn nhiên đón nhận vì yêu người đồng loại, cái chết ấy lại không làm cho Cha Kolbe đặc biệt giống Đức Kitô sao, Đức Kitô là mẫu mực của mọi vị tử đạo, là Đấng hiến mạng sống mình cho anh em?".

Trong Tông Thư "Tiến đến thiên niên kỷ thứ ba" (TMA), Đức Thánh Cha kêu gọi các Giáo Hội địa phương lập danh mục các vị tử đạo mới của thế kỷ này. Vì "trong thế kỷ này lại có những người tử đạo, thường là âm thầm, họ như thể là "những chiến sĩ vô danh" vì đại cuộc của Thiên Chúa. Giáo Hội không chỉ có những người đổ máu vì Đức Kitô mà còn có những bậc thày về đức tin, những nhà truyền giáo, những người tuyên xưng đức tin, những Giám mục, Linh mục, các trinh nữ, những người kết hôn, góa bụa và trẻ em". (T 37).
Anh chị em thân mến,

Các Thánh Tử đạo là những người sống, làm chứng, loan truyền mầu nhiệm Thập giá. Mỗi kitô hữu, dẫu không phải trải qua cái chết tử đạo, sống vì Chúa, cho Chúa, cũng vẫn có thể loan truyền mầu nhiệm Thập giá cho thế giới. Sống như một chứng nhân là điều kiện thiết yếu để có thể chết như một chứng nhân.

Không hiểu vì lý do gì mà các vua quan Việt Nam ngày xưa đã dùng Thập giá làm phương tiện để thách đố niềm tin của các vị tử đạo. Họ gọi đó là "Quá Khóa" để dùng Thập giá vạch ranh giới giữa cái sống và cái chết: bước qua hay không bước qua Thập giá. Bước qua là được tiếp tục sống ở đời này, được trả lại tất cả những gì đã mất, được tặng thêm bao phú quý vinh hoa. không bước qua là chấp nhận tù đáy, mất tất cả và mất chính mạng sống. Chỉ cấn một quyết định là mọi chuyện sẽ thay đổi. Chỉ cần một bước chân…

Đã có người bước qua và đã có nhiều người không bước qua, không quá khóa. Đã có nhười được khiêng qua Thập giá, nhưng đã co chân lên, như Thánh Antôn Nguyễn Đích. Đã có người bước qua Thập giá, nhưng sau lại hối hận, đó là trường hợp của ba vĩ thánh Augustinô Phan Viết Huy, Nicôla Bùi Đức Thể và Đaminh Đinh Đạt. Vua Quan đã bày ra trước mặt các ông 10 cây vàng, một tượng Chúa Chịu Nạn và một thanh gươm, rồi nói: "Cho bay tự ý chọn, bước qua tượng thì được vàng, bằng không thì gươm sẽ chặt đôi người bay ra, xác sẽ bị bỏ trôi ngoài biển". Đúng đây là một chọn lựa nghiêm chỉnh, chọn lựa này đụng đến tương lai và sinh mạng của tôi.
 

Hành Trang Mục Vụ - Khoá 10 ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn