Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật I Mùa Chay C

Tin mừng Lc 4: 1-13: Bài Tin-Mừng hôm nay thuật lại chuyện Chúa bị ma quỷ cám dỗ để nêu lên lòng trung tín của Chúa Giê-su đối với Thiên-Chúa Cha.

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT I - MÙA CHAY - NĂM C

NGÀY 10/03/2019



Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

CÁM DỖ TRONG SA MẠC (Lc 4,1-13)

Phần dẫn nhập của trình thuật này (cc.1-2) có vẻ chi tiết hơn Mt. Lc thêm hai chỉ dẫn quan trọng: Chúa Giêsu "tràn đầy Thánh Thần" (x.Cv 6,5; 7,55; 11,24 - với động từ "tràn đầy":Lc 1,15.41.67; Cv 2,4; 4,8; 31,9; 17,13,9.52) và Chúa Giêsu "bỏ bờ sông Giodan". Hai chi tiết này chứng tỏ ý hướng muốn nối kết chặt chẽ cám dỗ với cuộc thần hiện sau phép rửa. Lc muốn cho ta hiểu rằng gia phả Chúa Giêsu chỉ là một "cái ngoặc đơn" mà thôi. Bắt đầu kế tiếp (4,14), Lc lần nữa nhắc lại việc Chúa Giêsu vừa lãnh nhận Chúa Thánh Thần: việc Ngài giảng dạy cũng được nối kết với cuộc thần hiện ở sông Giodan. Chính trong địa vị làm Con TC tràn đầy Thánh Thần mà Chúa Giêsu bắt đầu sứ mạng rao giảng của Ngài.

Lc không nói như Mc và Mt là Chúa Giêsu được Thánh Thần dẫn "vào sa mạc": Chúa Giêsu băng qua sa mạc dưới sự thúc đảy mạnh mẽ của Chúa Thánh Thần là Đấng hình như không cho phép Ngài dừng bước. Lời xác định "trong suốt 40 ngày" ăn khớp với động từ êgeto (được dẫn đưa): dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, Chúa Giêsu đã đi suốt 40 ngày trong sa mạc. Người ta có thể thấy ở đây ảnh hưởng của câu Đệ Nhị Luật 8,2 mà Lc đã theo sát trong bản dịch 70 (câu này nằm ngay trước Đnl 8,3 mà Chúa Giêsu mượn làm câu trả lời đầu tiên): "Hãy nhớ con đường mà TC ngươi đã dẫn ngươi đi (êgagen se)(bản Talmud: suốt 40 năm) trong sa mạc để hạ ngươi xuống và để thử thách ngươi khi đọc Mt, người ta có cảm tưởng cơn cám dỗ xảy đến cho Chúa Giêsu sau 40 ngày, còn Lc lại theo Mc, trình bày cơn cám dỗ kéo dài suốt cả thời gian trong sa mạc. Ba chước cám dỗ do ma quỉ do Lc kể lại hình như chỉ là những hình thức tiêu biểu nhất, đặc biệt nhất của các chước cám dỗ đủ loại Chúa Giêsu phải chịu đựng suốt 40 ngày: chúng đánh dấu cao điểm tấn công của ma quỉ.

Về cám dỗ thứ nhất, có một hiệu đính quan trọng, được xem là của Lc, là việc thay đổi "những viên đá này... những chiếc bánh từ số nhiều sang số ít. Do mối ưu tư tả thực, Lc đã chọn kiểu nói số ít, có vẻ tự nhiên hơn. Làm như vậy, ông khiến ta bớt nghĩ đến Manna là ý tưởng tiềm ẩn nơi trình thuật của Mt: ông này, để gợi lại hình ảnh Manna che phủ mặt đất trong sa mạc, đã tự nhiên nói đến nhiều viên đá biến được thành bánh; còn hình như Lc không muốn nhấn mạnh đến ảnh Giêsu - Israel. Viết cho những người không phải là Do thái, ông dẹp bớt những gì làm họ ngỡ ngàng.

Sau lời đề nghị "hãy truyền cho những hòn đá này biến thành bánh có thể dẽ dàng xác định thêm "để ông có thể ăn". Một xác tín kiểu đó, nếu lôi kéo chú ý đến sự thỏa mãn riêng tư của Chúa Giêsu, thì cũng để cho người ta liên tưởng tới cám dỗ Evà (St 3,6) và tới những cám dỗ Kitô hữu năng gặp. Nhung Lc, mặc dầu vừa nhắc đến Adam vài câu trước đó (3,38) và là người thường ưa quảng diễn dài dòng, đã không muốn gợi những liên tưởng đó. Vì thật ra, việc thỏa mãn cơn đói chỉ là chuyện thứ yếu; điều tác giả muốn nhắm ở đây là chính quyền lực lạ lùng của Đấng vừa mới được tuyên bố là Con Thiên Chúa khi Ngài chịu phép rửa. Chính trong ý nghĩa này mà ta phải hiểu lời ngoắt ngoéo thâm hiểm của ma quỉ: "Nếu ông là Con TC". Cũng như trong trình thuật Mt, ở đây chắc chắn ma quỉ không chút nghi ngờ gì. Sau khi đã chứng kiến tất cả những dấu chỉ lạ lùng xung quanh ngày Giáng sinh và ngày thơ ấu của Chúa Giêsu, sau khi đã thấy rõ Ngài không thể phạm tội cho đến lúc bấy giờ, và có lẽ cũng đã thấy được biến cố thần hiện ở sông Giodan (nếu biến cố này được biểu lộ ra bên ngoài) thì chắc chắn ma quỉ phải biết rõ ràng con người đang đứng trước mặt nó là Đấng Thiên sai của Israel, là Con TC. Vì thế chữ "nếu" của câu "nếu ông là Con TC" không phải là một từ ngữ nói đến điều kiện (như trong câu: "Nếu ngày mai trời tốt, tôi sẽ đi chơi) nhung là chữ "nếu" diễn tả lý do. Lời cám dỗ của ma quỉ có thể viết ra như thế này: vì ông là Đấng Thiên sai, hãy dùng quyền lực Thiên sai của ông để làm những điều lạ lùng có lợi cho ông.

Thứ tự các cám dỗ thứ hai và thứ ba nơi Mt bị Lc đảo ngược. Để biết thứ tự nguyên thủy, phải nghiên cứu các câu trả lời của Chúa Giêsu. những câu trả lời ấy được rút ra từ sách Đệ Nhị luật, nhưng Mt đã đảo ngược thứ tự trình bày, nghĩa là Đnl 8,3 rồi đến 6,16; 6,13. Song cũng chính Đnl đã đảo lộn thứ tự lịch sử của các biến cố thời Xuất hành: Đnl 8,3 lấy lại Xac 16 (phép lạ Manna); Đnl 6,16 thì nhắc lại Xac 17,1-7 (phép lạ nước uống); cuối cùng Đnl 6,13 tương ứng với Xac 23,32-34 (nhất là giai thoại con bò vàng). Khi đảo lộn thứ tự của Đnl, Mt lập lại thứ tự lịch sử những cám dỗ của Israel thời Xuất hành. Sự song đối giữa những cám dỗ của Chúa Giêsu và của Israel thời xuất hành. Sự song đối giữa những cám dỗ của Chúa Giêsu và của Israel phải được coi là hình thức nguyên thủy của trình thuật. Vậy là Lc đã thay đổi cách phối trí, lý do trước hết là để trình thuật được kết thúc ở Girusalem, như tất cả phúc âm của ông.

Cám dỗ thứ hai (cc.5-8) là đoạn mà Lc đã thay đổi nhiều nhất. Ông không muốn nhắc đến "một ngọn núi cao" (Mt) vì đối với Lc, ngọn núi là nơi tuyệt đối dành riêng cho việc thông giao với TC nhờ cầu nguyện và thần hiện, chứ không phải là nơi để cám dỗ hoặc ngay cả giảng dạy (bài giảng trên núi được ông trình bày như là đã xảy ra trên một khoảng đất bằng phẳng so sánh Lc 6,17 và Mt 5,1). Vậy, thay vì nói đến một đoạn núi cao từ đó người ta có thể thấy toàn trái đất "trong nháy mắt". Lc biết rõ rằng không có một ngọn núi nào mà từ đó có thể thấy được cả toàn cầu, song vì muốn có vẻ thực, ông đã thay thế một chỉ dẫn địa dư mơ hồ bằng một ý niệm thời gian, để cho thấy đây là một thị kiến hoàn toàn ảo ảnh, một thị kiến rất nhanh (không đầy nháy mắt), có tính cách siêu nhiên.

Điểm thêm vào quan trọng nhất phải kể là nơi lời giải thích của câu 6. Nơi Mt, đó chỉ là một vấn đề sở hữu: "Hết mọi cái đó, tôi hiến cho ông" (Mt 4,9). Còn Lc trước tiên chú ý đến quyền lực, quyền bính, esousia (là ý tưởng ông quen dùng: 12,11; 20,20; 22,53; 23,7; Cv 20,18): ma quỉ hứa ban một quyền lực chính trị trên mọi dân nước. Do thái giáo thời gần đó (Is 24,21-23; 27,1) và nhất là trong văn chương khải huyền (Đnl 7,2) đã xác tín rằng các quyền lực ma quỉ, thù nghịch với TC, đang điều khiển các vương quốc trần gian, để ngược đãi dân Tc chọn. Các vương quốc này thờ ngẫu tượng và áp bức Israel, vì dân tin Tc thật. Người ta thấy ma quỉ ẩn núp dưới các bụt thần. Các nước thế gian bày tỏ lòng trung thành với ma quỉ qua việc thờ ngẫu tượng. Tư tưởng này cũng được các tác giả TC chia sẻ (Kh 13,2). Thánh Gioan gọi ma quỉ bằng một tên đầy ý nghĩa: "Đầu mục thế gian" (Ga 12, 31; 14,30; 16,11). Phaolô còn gán cho nó tước hiệu lạ lùng: "thần đời này" (2Co 4,4). Cũng như Lc và Ga, Phaolô nhìn thấy trong hành động của những người đóng đinh Chúa Giêsu (1Co 2,8) sự xúi giục của "đầu mục của đời tạm này".

Thế gian, nghĩa là thời đại này, âiôn houtos, là lãnh địa của ma quỉ, nên dĩ nhiên quyền lực thế gian tùy thuộc nó. Nhưng phải nhận rằng quyền ấy "đã được trao cho" nó: thể thụ động diễn tả hành động hay sự cho phép của TC, chủ thể tối cao (so sánh Ga 19,10); đến thời sau hết, Ngài sẽ tiêu diệt các quyền lực, dân nước đã nổi lên chống lại ngài. Tạm thời, ma quỉ xử dụng quyền lực chính trị đó, và cám dỗ nói ở đây là một cám dỗ về quyền lực, dân nuóc đã nổi lên chống lại Ngài. Tạm thời, ma quỉ xử dụng quyền lực chính trị đó, và cám dỗ nói ở đây là một cám dỗ về quyền lực chính trị. Nhưng khác với Mt 4,9, lời hứa của câu 7 không nhằm sự chiếm hữu các vương quốc, nhưng là sự thừa hưởng một uy quyền (exousia) tuyệt đối trên tất cả các vương quốc ấy.

Về cám dỗ thứ ba (cc. 9-12), Lc thêm hai xác định trong lời của ma quỉ để đi sát với câu trích dẫn Tv 91 hơn. Cũng như trong cám dỗ trước, Lc rõ ràng chú trọng đến ma quỉ và những lời của nó hơn. Trái lại ông làm yếu câu trả lời của Chúa Giêsu bằng cách mở đề: "Đã có nói rằng" thay vì như Mt: "Lại có viết là", kiểu đối đáp ăn miếng trả miếng với lập luận của ma quỉ.

Phần kết luận (c.13) chứa đựng nhiều âm điệu đặc biệt của Lc, làm cho đoạn văn này mang một chiều hướng thần học thật độc đáo.

Phần đầu của câu kết luận ("sau khi dùng hết mọi hình thức cám dỗ") nói đến cám dỗ, peirasmos (ở số ít).

Trong Lc, peirasmos luôn ám chỉ cám dỗ theo nghĩa luân lý: 8,13; 11,4; 22,40; 22,46. Cũng tiếng ấy ở số nhiều, peirasmoi lại ám chỉ những thử thách với nghĩa tổng quát hơn nghĩa thuần luân lý: 22,28; Cv 20,19. Lc sẽ còn nói đến những "thử thách" (peirasmoi nơi 22,28) của Chúa Giêsu, nhưng không nhắc đến chữ "cám dỗ" (peirasmos) khi bàn về các môn đệ nữa; đặc biêt ông không ghi lại sự can thiệp bậy bạ của Phêrô tại Késaree của Philip (Mc 8,32-33; Mt 16,22-23) nơi Pharô bị gọi là quỉ cám dỗ Chúa Giêsu. Vậy dưới cái nhìn của Lc, việc Chúa Giêsu chiến thắng ma quỉ trong sa mạc có tính cách quyết định. Thực sự ma quỉ đã "dùng hết mọi phương chước cám dỗ", và khi nó tái xuất giang hồ, thì không còn là để "cám dỗ" Chúa Giêsu nữa, song là tìm cách giết Ngài. Những nhận xét này cho thấy ý nghĩa của câu 13; trong tư tưởng của Lc, các chước cám dỗ Chúa Giêsu chịu thực sự đã xong rồi, sẽ không còn cám dỗ nào khác. Những thử thách Ngài gặp sau đó không còn đặt lại vấn đề lòng trung tín của Ngài đối với TC và với sứ mạng Ngài đã được Chúa Cha trao phó.

Phần thứ hai của câu kết luận xác quyết cách giải thích này. Lc đã viết: "Ma quỉ bỏ Ngài một thời gian" (Achri cairou) (Bj: au temps marqué, Nguyễn thế Thuấn: đợi dịp). Thành ngữ này chỉ gặp lại một lần trong nơi khác của TƯ, Cv 13,11: Elymas, vì muốn gây trở ngại cho Phaolô, đã bị mù không thấy ánh sáng mặt trời "một thời gian". Như thế, khi loan báo ngày trở lại bất ngờ của ma quỉ, Lc đã minh nhiên trình bày nó như một vai trong cuộc khổ nạn. Thật thế, câu chuyện khổ nạn bắt đầu bằng sự phản bội của Giuda, nhưng ngay từ đầu đoạn văn này, ở 22,3, Lc ghi chú một câu đầy ý nghĩa: "Satan đã nhập vào Giuda". Đó là việc tái xuất hiện của tên cám dỗ, mở màn cho một thử thách cam go nhất. Và ta cũng thấy, khi đứng trước những địch thủ tới bắt mình, Chúa Giêsu đã nói: "Này là giờ các ông, là thời của quyền lực (exousia) tối tăm (22,53).

Việc thay đổi thứ tự cám dỗ 2 và 3 có ý nghĩa nào ?

Câu trả lời thứ nhất hệ tại chỗ nhấn mạnh sự quan tâm về địa lý của Lc. Lc muốn kết thúc trình thuật những cám dỗ tại Giêrusalem, vì trước tiên đối với ông, Giêrusalem là một địa điểm có tính cách thần học (Conzelmann). Lời giải thích này đúng nhưng chưa đủ.

Đối với Lc, Giêrusalem tự bản chất là nơi mà các lời loan báo về cuộc khổ nạn và vinh quang của Đấng Cứu thế phải được hoàn tất. Thực vậy sau cuộc cám dỗ, đoạn văn đầu tiên nói đến Giêrusalem trong tương quan với Chúa Giêsu nằm trong giai thoại biến hình; suốt cuộc biến hình này Môisen và Elia đã đàm đạo với Chúa Giêsu về việc "ra đi (oxodos) Ngài sắp hoàn tất tại Giêrusalem" (9,31). "Việc ra đi" đó ám chỉ toàn thể mầu nhiệm vượt qua: tử nạn và phục sinh. Từ giai thoại biến hình này trở đi, Lc tăng thêm những lần nhắc đến Giêrusalem như là nơi mà Chúa Giêsu sẽ lên, nơi mà Ngài sắp hoàn thành sứ mệnh. Người ta thấy cũng một ý tưởng ấy trong hai giai thoại của Phúc âm thời thơ ấu Chúa Giêsu: giai thoại "dâng con trẻ trong đền thờ" với lời tiên tri đầu tiên của Simeon loan báo cuộc tử nạn (2,34-35) và giai thoại "lạc mất, tìm lại con trẻ sau ba ngày" với một lời nói bí nhiệm chỉ hiểu được về sau (2, 41-50); đây là giai thoại tiên trưng cuộc vượt qua cuối cùng của Chúa Giêsu khi Ngài "trở về nhà Cha" và chỉ được các tông đồ tìm gặp lại sau ba ngày.

Văn mạch này cho phép ta phỏng đoán lý do tại sao Lc đã muốn trình thuật các cám dỗ đạt tới cao điểm ở Giêrusalem. Thưa vì không có gì thích hợp cho bằng việc chọn thành ấy làm nơi chấm dứt cám dỗ, nơi ma quỉ từ biệt Chúa Giêsu, nơi y sẽ tái xuất không phải để "cám dỗ" Ngài nữa mà là để gây ra cuộc thử thách cuối cùng. Đó cũng là điều giải thích tại sao Lc đã lưu tâm đến ma quỉ trong tất cả trình thuật này: ông lợi dụng trình thuật để trình bày tên đối thủ, đã một lần thất trận trong sa mạc, tưởng mình sẽ chiến thắng tại Giêrusalem trong ngày thứ sáu tuần thánh.

KẾT LUẬN 

Trong trình thuật những cám dỗ, Lc nhấn mạnh đến hai điểm: khuôn mặt của ma quỉ và tương quan của biến cố này với biến cố tử nạn. Trong lúc các câu trả lời của Chúa Giêsu ngắn hơn hoặc ít quan trọng hơn so với nơi Mt, thì ở Lc, những lời cám dỗ của tên ma quỉ có vẻ thực hơn (cám dỗ 1) dài dòng hơn (cám dỗ 2) và ăn khớp với lời trích dẫn Thánh kinh hơn (cám dỗ 3). Cuối cùng đoạn kết luận của trình thuật còn nói đến ma quỉ chứ không phải Chúa Giêsu (khác với Mt). Lc nối kết các cám dỗ với cuộc khổ nạn và với Giêrusalem, nơi hoàn thành những lời tiên tri loan báo về đau khổ và vinh quang của Đấng Cứu thế. Cuộc khổ nạn và thành Giêrusalem đã được nhắc đến trong Tin mừng thời thơ ấu (2,34-35. 41-45). Rồi tiếp đến, phần đặc biệt nhất của phúc âm thứ ba lại trình bày việc Chúa Giêsu lên Giêrusalem (9,51-18,9). Khi lặp đi lặp lại Chúa Giêsu lên

Gierusalem (9,51; 9,53; 13,22-33; 17,11; 18,31; 19,11-28), Lc nhấn mạnh Giêrusalem sẽ là nơi xảy ra "cuộc ra đi" ()9,31 và cuộc "siêu thăng" của Ngài (9,51). Vì vậy người ta có thể nói rằng: trong lúc các trình thuật của Mt chỉ nhìn về quá khứ của dân Israel để minh chứng sự thể hiện chương trình của TC, thì các trình thuật của Lc hình như lại qui hướng hơn về những biến cố chính yếu làm thành nền tảng thực sự của nhiệm cục mới: tử nạn, phục sinh, hiện xuống.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG 

1. Chính nhờ Thánh Thần hướng dẫn mà Chúa Giêsu vào sa mạc để chịu cám dỗ. Qua việc đó ta thấy rằng bị cám dỗ không phải là một điều xấu. Chính Chúa Giêsu cũng đã biết qua cơn cám dỗ. Điều xấu là ngã gục trước cám dỗ ấy. Chống lại cám dỗ một cách anh dũng như Chúa Giêsu trong sa mạc chính là cho mình có dịp biểu lộ tình con thảo hiếu với Chúa Cha. Dĩ nhiên chúng ta không được liều mình đứng trước cám dỗ (điều ấy chỉ mình Chúa Giêsu mới có thể làm được vì Ngài là Con TC và sự đối đầu với ma quỉ ngay từ đầu sứ mệnh Cứu thế là một phần trong chương trình của TC). Liều mình đứng trước cám dỗ khi không cần thiết là điều làm Chúa Giêsu - đã không muốn làm khi ma quỉ xúi Ngài gieo mình từ nóc đền thờ xuống. Vì như vậy là thách thức TC. Nhưng khi hoàn toàn ngoài ý muốn mà chúng ta bị đặt trong những hoàn cảnh phải chịu cám dỗ thì không có gì phải hoảng hốt. Hãy nhớ rằng với tư cách là môn đệ của Đấng đã bị cám dỗ trong sa mạc, chúng ta đương nhiên phải trải qua cám dỗ, lúc ấy hãy làm như Chúa Giêsu: lợi dụng những phương thế siêu nhiên có sẵn: tăng sức mạnh lời Chúa, năng cầu nguyện (như Chúa Giêsu trong vườn cây dầu) nuôi dưỡng mình bằng thịt và máu của Đấng đã từng chiến thắng Satan.

2. Sứ vụ của Chúa Giêsu khai mào bằng việc chiến thắng ma quỉ: Ngài vượt lên trên nó. Thời cứu độ Chúa Giêsu khai mở là thời đánh dấu khởi đầu ngày tàn của ma quỉ: "Ta đã thấy satan từ trời rơi xuống như một tia chớp" (Lc 10,18). Ở đâu mà Chúa Giêsu ra tay hành động, ở đó ma quỉ bị bó buộc phải nhường bước, rút lui. Bây giờ cũng vậy, khi cơn cám dỗ đến độ mạnh chúng ta có cảm tưởng rằng ma quỉ thật toàn năng; tốt nhất hãy nhớ lại rằng nó chỉ là một kẻ chiến bại, một tù binh được tự do tạm thời chờ ngày tận thế, một viên tướng đã thất trận ngay từ đầu.

3. Xưa cũng như nay, các cám dỗ của ma quỉ đều giống nhau: chúng luôn luôn nhắm tách rời chúng ta khỏi TC bằng ý chí quyền lực, bằng thái độ từ chối tin tưởng vào sự quan phòng của Cha trên trời, bằng khuynh hướng lợi dụng sự che chở và lòng tha thứ của Ngài. Những phương thế chiến thắng các cám dỗ này cũng luôn giống nhau, đó là những phương thế chính Chúa Giêsu đã dùng: khiêm nhượng tuân phục thánh ý Chúa Cha, chấp nhận với tình yêu số phận của Chúa Cha dọn sẵn cho ta (số phận không phải là không có thánh giá, nhưng chắc chắn sẽ đưa chúng ta đến vinh quang sau cùng) từ chối khiêu khích TC can thiệp cách đặc biệt có lợi cho ta.

4. Ma quỉ luôn hứa ban quyền thống trị thế giới cho Kitô hữu hôm nay cũng như mọi thời, nhưng với điều kiện là tôn thờ và phục tùng nó. Một cách cụ thể, nó ban cho những phương tiện làm giàu mau chóng bằng cách lấy của người lân cận, những phương thế chiếm đoạt các chức vị lợi lộc bằng âm mưu loại trừ người xứng đáng hơn, những dịp hưởng lạc thú bằng cách bất trung trong đời sống lứa đôi... Ma quỉ không bao giờ cho đi mà không đòi lại gấp trăm, trái lại với TC là Đấng ân thưởng gấp trăm cho ai bố thí một ly nước lã vì danh Ngài. Xét cho cùng, đời sống Kitô hữu là một chọn lựa giữa TC và ma quỉ, giữa việc thờ phượng ma quỉ với Chúa Cha. Không ai có thể làm tôi hai chủ (Mt 6,24). Thờ phượng ma quỉ thì có thể được lợi trong chốc lát, nhưng sớm muộn gì cũng đưa tới thất vọng, cay đắng, cái chết đời đời. Thờ phượng TC thì phải từ bỏ chính mình, nhưng rồi cũng sẽ được bình an, thỏa mãn nội tâm và được sống vĩnh cửu. 


Noel Quession - Chú Giải

 

CHÚA NHẬT I MÙA CHAY

Lc 4:1-13

Sau khi chịu phép rửa, Đức Giêsu được đầy Thánh Thần. Từ sông Giođan trở về và được Thánh Thần dẫn đi trong hoang địa...

Đức Giêsu vừa thay đổi cuộc sống. Đối với Người đó là một khúc quanh quyết định. Cách đây chỉ có vài ngày, Người vẫn còn là anh thợ mộc thôn làng, ở Nadarét. Người vừa nhận phép rửa ở sông Giođan "nhận chức" tác vụ làm ngôn sứ . . Người được tràn đầy Thánh Thần ? Trước khi bắt đầu tác vụ, Người cảm thấy cần phải một mình lui vào hoang địa. Người muốn cầu nguyện, suy nghĩ chọn những phương thế sẽ sử dụng để hoàn thành công trình của mình.

Không có một công trình lớn lao nào của con người, hay cuộc sống thiêng liêng thực sự nào, mà không cần thời gian suy nghĩ, cô tịch và im lăng nội tâm. Trong Mùa Chay đang bắt đầu, tôi có dành mỗi ngày vài phút, hay mỗi tuần vài khắc đồng hồ cho việc này ? Để cầu nguyện suy nghĩ, và thấy rõ hơn không ?

Tôi dùng tưởng tượng, ngắm nhìn Đức Giêsu đang rời làng mạc đông dân cư, đi sâu vào những vùng đất sỏi đá không người , không cây cỏ , không nước . Người bước đi bước tới. Lạy Chúa, còn con có dám đi theo Chúa không, để có một thời gian trong "hoang địa" ?

Tại đây Chúa bị cám dỗ trong 40 ngày.

Theo Luca, cơn "cám dỗ" mà Đức Giêsu đương đầu, kéo dài trong suốt thời gian 40 ngày. Người ở nơi hoang điạ. Thời gian cầu nguyện, cũng là thời gian "thử thách". Chữ này nhấn mạnh đến khía cạnh tích cực của cơn cám dỗ. Tự thử thách chính mình đó là xem mình có thể làm 'được những gì và "đưa ra bằng chứng về chính mình". Trắc nghiệm một cỗ máy, đó là thử xem giá trị thực sự của nó. Sự "thử thách", theo nghĩa này, là một điều rất tốt. Một mối tình được thử thách, đó là mối tình luôn bền vững và hiện giờ ta vẫn có thể chắc chắn về sự bền vững đó. Khi bảo chúng ta xin Thiên Chúa "đừng để chúng con xa trước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ" Đức Giêsu không muốn nói là chúng ta sẽ không bị cám dỗ, nhưng ta phải chiến thắng cám dỗ, không bị nó đè bẹp, bị bại trận, trị sự dữ ngự trị. Nhờ khắc khổ, Đức Giêsu đã có kinh nghiệm về lợi ích của thử thách. Vì thử thách có thể làm tình yêu lớn lên : Những cám dỗ Người chịu, sẽ làm nổi bật giá trị lòng "trung tín" của Người đối với Chúa Cha.

Trong những ngày ấy, Người không ăn gì và khi hết thời gian đó thì Người thấy đói.

Tôi ngưng một lát để chiêm ngắm cảnh này : Đức Giêsu đang đau khổ vì. . . đói ! Bao tử co thắt - chóng mặt, nhức đầu.

Đa số các tôn giáo lớn, đều có việc thực hành "chay tịnh" tự nguyện như thế ! Nền văn minh hiện đại của chúng ta, có lẽ là nền văn minh duy nhất trong lịch sử, khước từ kinh nghiệm tôn giáo phổ quát này. Ta thướng nói, cần phải hưởng thụ. Tại sao phải nín nhịn ? Khi một người ít buông thả trong phạm vi tình dục hay ăn uống, họ có nguy cơ mất đi một điều cốt yếu : "Sự tự chủ". Lúc đó, con người trở thành một sinh vật rất mềm yếu, không ý chí, nô lệ cho những bản năng sơ đẳng nhất. Ở đây, Đức Giêsu đưa ra cho chúng ta hình ảnh một con người mạnh, có thể quên mình, "ăn chay" tự nguyện. Tôi có biết từ bỏ, hy sinh trong Mùa Chay này không ?

1. Cơn cám dỗ thứ nhất.

Bấy giờ quỷ nói với Người : "Nếu ông là con Thiên Chúa thì truyền cho hòn đá này hóa bánh đi".

Cơn cám dỗ vì cái đói, đã là sự thử thách của ít-ra-en trong hoang địa. Nhưng cơn cám dỗ để thỏa mãn cái đói của chúng ta, là sự thử thách của mọi người. Chúng ta biết rõ những khao khát thể xác của mình. Thiên Chúa đã đặt chúng trong ta, nhưng chúng ta có thể dễ "lệch lạc", trở thành độc tài yêu sách. Xã hội tiêu thụ quanh ta lại càng tăng thêm quyền lực cho chúng : "Hãy mua món ragu... mì sợi Ý. . . Thế giới Phương Tây , nói không, quá dư thừa thực phẩm. Những y sĩ thường cảnh giác điều đó.

Đức Giêsu đáp lại : "Đã có lời chép rằng : Người ta sống không chỉ nhờ cơn bánh".

"Con người" . Lạy Chúa Giêsu, con thích nghe lời này từ miệng Chúa. Con người, đó là nỗi đam mê của Chúa. Chúa đã đến trong nhân loại để phát huy giá trị của con người trong mọi chiều kích. Chúa lặp lại cho chúng con hôm nay : Hỡi con người, đừng sống chỉ nhờ cơm bánh ! Đừng hạ thấp mình xuống mức độ sơ đẳng nhất. Người không có nhu cầu nào khác hơn là ăn, uống hút xách. . .sao ?

Trong Mùa Chay này, chúng ta có biết phát triển những giá trị tâm linh của mình không ? Chúng ta có biết cầu nguyện đón thận những thiếu sót khắc khổ, giúp mình thêm sinh khí không ?

2. Cám dỗ thứ hai. 

Quỷ đem Đức Giêsu lên cao và trong giây lát chỉ cho Người thấy tất cả các nước thiên hạ. Rồi nó nói với Người : "Tôi sẽ cho ông toàn quyền cai trị cùng với vinh hoa lợi lộc của các nước này, vì quyền hành ấy đã được giao cho tôi, và tôi muốn cho ai tùy ý. Vậy nếu ông bái lạy tôi, thì tất cả sẽ thuộc về ông".

Rõ ràng, trình thuật này không phải là một "phóng sự" của một nhà báo mô tả hay quay phim một biến cố. Đây là một trang thần học tóm kết và tổng hợp cách tượng trưng "tất cả những hình thức cám dỗ" (Lu ca sẽ nói rõ điều đó khi kết thúc trình thuật của ông) mà Đức Giêsu đã gặp "thực sự" suốt cuộc đời của Ngài. Chẳng hạn, rõ ràng là cơn cám dỗ thứ hai này, cám dỗ để được "quyền hành thế gian", đã không ngớt tấn công Đức Giêsu. Hằng ngày, Ngài đã phải đẩy lui cớn cám dỗ "cứu thế nhất thời" mà người đương thời đã muốn lôi kéo Người bước vào : Một Đấng cứu thế có tính chính trị, một ông "vua của thế gian" này theo kiểu vua Đavít cầm đầu, cùng với Nhóm quá khích để chống lại quyền hành và vinh quang, chống lại quân Rôma xâm lược (Ga 6,15). Ngay từ ngày đầu tiên này, tại hoang địa, cho tới hơi thở cuối cùng, Đức Giêsu đã khước từ vương quyền để làm người "nghèo hèn" "người tôi tớ" (Ga 13,1-20). Đức Giêsu đã có thể trở nên giàu có và quyền thế nhưng Người đã chấp nhận "yếu đuối" (1 Cr 1,27), khi chọn thập giá là "điều ô nhục đối với người Do Thái, là sự điên rồ đối với dân ngoại". Cơn cám dỗ về "quyền hành" cũng là cơn cám dỗ của chúng ta : Muốn thống trị áp đặt, và lợi dụng.

Đức Giêsu đáp lại : "Đã có lời chép rằng : Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một nình Người mà thôi". (Đnl 6,13)

Chống lại những cuộc tấn công của xatan, Đức Giêsu trả lời 3 lần bằng Kinh Thánh (Đnl 8,3-6,13-6,16), vì đó cũng chính là những cơn cám dỗ mà dân Chúa đã gặp nơi hoang địa trong "40 năm", và giờ đây Đức Giêsu cũng đang sống lại trong bản thân Người : Đó là cơn cám dỗ về mana (Xh 16), cám dỗ thờ ngẫu thần và con bò vàng (Xh 32-42), cám dỗ làm những dấu lạ (Xh 17). Cơn cám dỗ của ít-ra-en cũng là cơn cám dỗ của Đức Giêsu, của toàn thể nhân loại, của chúng ta. Nghi ngờ Thiên Chúa, vì người không tỏ hiện, để tin những gì khác".

Câu trả lời của Đức Giêsu là "không có gì hơn Thiên Chúa". Lạy Chúa Giêsu, theo chân Chúa, con không muốn thờ lạy và tin tưởng ở tiền bạc, lạc thú, quyền hành, "những ý thức hệ chính trị", những tiến bộ hay thời trang. Con chỉ phục bái "trước mặt Chúa". Cái tạm thời không phải là xấu. Nhưng biến nó trở nên "tuyệt đối", là một ảo tưởng bi thảm. Đức Giêsu là Đấng giải thoát chúng ta khỏi những "thần giả hiệu" đang gạt gẫm chúng ta.

3. Cơn cám dỗ thứ ba.

Quỷ đem Đức Giêsu đến Giêrusalem và đặt Người lên nóc đền thờ rồi nói với Người : "Nếu ông là con Thiên Chúa thì đứng dậy, mà gieo mình xuống đi ! Vì có lởi phép rằng : Thiên Chúa sẽ tay đỡ, tay nâng cho bạn khỏi vấp chân vào đá". (Tv 91,11-12)

Đó là cơn cám dỗ lớn và liên tục mà người ta đã đặt ra trước Đức Giêsu suốt đời sống công khai của Người : hãy làm phép lạ đi - Hãy cho chúng tôi một đấu chỉ trên trời... Hãy chứng minh rằng ông là Thiên Chúa... Hãy biểu lộ quyền hành của ông bằng phép lạ, chứng minh rằng ông là Đấng Cứu 'Thế chúng tôi đang mong đợi . . . Hãy bước xuống khỏi thập giá đi ? (Lc 11,29-11,16-21,7 ; Ga 91,28-6,30-12,37 ; Mt 27,42-43). Còn chúng ta, chúng ta cũng luôn đòi hỏi những điều đó với Chúa sao ?

Luca đã đặt cơn cám dỗ này, cám dỗ nơi đền thờ Giêrusalem xuống hàng thứ ba (còn đối với Mát-thêu, đó là cám dỗ thứ hai 4,5). Làm như thế, Luca mới nhấn mạnh đến sự tiệm tiến. Thực vậy, chính tại Giêrusalem, Đức Giêsu đã trải qua cơn thử thách lớn nhất của Người . Đó là cơn cám dỗ bi thiết, muốn cho Người khỏi phải chết : "Nếu có thể được, xin tha cho con khỏi uống chén này" (Lc 22,42). Đức Giêsu đã không được thiên thần "bảo vệ". Đó là cơn cám dỗ bi thảm nhất : trong đau khổ; mất niềm tin nơi Chúa Cha. Đức Giêsu đã không được bảo vệ, chân của Người đã vấp phải đá đường. Người đã không bao giờ dùng quyền năng thần linh của mình để tránh sức mạnh ghê gớm của "thân phận con người phải chết". Người đã khước từ những phương tiện "ngoạn mục" để thi hành xứ vụ của mình, mà chỉ chọn những "phương tiện hạn hẹp" . Chính nhờ thái độ Dâng lời tuyệt đối Chúa Cha, đến nỗi có cảm tưởng bị "Chúa Cha bỏ rơi" (Mt 27,48), mà người chứng tỏ mình là Con Một của Cha. Người sẽ được ' "'cứu khỏi chết" nhờ sự phục sinh của mình, nhưng chỉ sau khi đã sống trọn tình thương "cho đến tận cùng". Do đó, chúng ta chớ ngạc nhiên khi đến lượt mình cũng cảm thấy cơn cám dỗ bi thảm này : Đó là cơn cám dỗ nặng nhất, khi nghĩ rằng "Chúa bỏ rơi ta", cám dỗ của khuynh hướng vô thần "nếu có một Thiên Chúa tốt lành, thì tôi đâu có gặp thử thách như vậy ! "

Chúa Giêsu đáp lại : Đã có lời rằng : ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi.

Chúng ta cũng thường "thử thách Thiên Chúa" . Đôi khi chúng ta buộc Chúa phải theo ý muốn của ta : "Nếu Chúa hiện hữu, nếu con thật là con của Chúa, Chúa phải cho con lành bệnh, hay thoát khỏi một cơn thử thách nào đó hay thành công ở một kỳ thi nào đó... nếu Chúa không làm như thế, thì Chúa đâu có còn quan tâm tới con nữa, và Chúa đâu còn hiện hữu gì với con". Chúng ta biết rằng, vấn đề sự dữ trong thế gian là nguyên nhân của phần lớn những cuộc khủng hoảng tâm linh và dẫn đến nhiều trường hợp bỏ Đức tin .

Nhưng chúng ta cũng tin rằng, Đức Giêsu đang "ở cùng chúng ta" . Đức Giêsu là người đầu tiền đã thắng cơn cám dỗ này, và dù có bị "đóng đinh trên cây gỗ", vẫn một lòng trung thành với Chúa Cha.

Sau khi đã xoay hết cách để cám dỗ Người, quỷ bỏ đi, chờ đợi thời cơ. 

Như vậy những cơn cám dỗ này, chỉ là khởi đầu. Đức Giêsu sẽ còn bị cám dỗ nữa. Và có thể nói, xatan đã hẹn tại Giêrusalem . Nơi đó sẽ diễn ra trận đụng độ thực sự khi Đức Giêsu bước vào cuộc thương khó (Lc 22,3).


Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

 

CHÚA NHẬT I MÙA CHAY

"Thánh Thần thúc đẩy Chúa vào trong hoang địa và chịu cám dỗ".

BÀI TIN-MỪNG : (Lc 4,1-13).


I. Ý CHÍNH :

Bài Tin-Mừng hôm nay thuật lại chuyện Chúa bị ma quỷ cám dỗ để nêu lên lòng trung tín của Chúa Giê-su đối với Thiên-Chúa Cha.

II. SUY NIỆM :

1. "Chúa Giê-su được đầy Thánh Thần …" :

Chuyện này xẩy ra sau khi Chúa chịu phép rửa ở sông Giođan. Vì thế Luca muốn nhấn mạnh đến vai trò hoạt động của Chúa Thánh Thần nơi Chúa Giê-su. Đồng thời Luca cũng muốn nối kết việc cám dỗ với cuộc thần hiện sau phép rửa : chính trong địa vị là con Thiên-Chúa nhận lãnh Chúa Thánh Thần mà Chúa Giê-su chiến đấu và chiến thắng ma quỷ.

- "Và được Chúa Thánh Thần đưa vào hoang địa …" :

Ở đây diễn tả việc Chúa Giê-su vào hoang địa là do Thánh Thần khởi xướng và hướng dẫn, cho nên Satan không có quyền chủ động trên Chúa Giê-su mà nó chỉ có thể ảnh hưởng trên Người từ bên ngoài, tức là trên nhân tính của Người mà thôi. Điều này chứng tỏ Chúa Giê-su bị cám dỗ là để trở nên đồng số phận với con người và Người đã thắng cơn cám dỗ là để nêu gương cho con người.

+ Hoang địa : Đối với Do Thái có hai ý nghĩa :

a. Nơi dân Do Thái được huấn luyện để đạt tới lý tưởng tôn giáo, nơi tĩnh tâm thanh tẩy.

b. Nơi dân Do Thái bị thử thách. Bị xử phạt vì đã than trách và bất phục tùng, nơi gặp nhiều cám dỗ và là nơi đền tội. Chúa Giê-su bị thử thách để làm chứng sự trung tín của Người đối với Thiên-Chúa Cha.

+ Suốt 40 ngày : Luca không nói đến "đêm" như Mt 4,2. Nhưng cả hai đều muốn nói đến Chúa Giê-su ăn chay và chịu cám dỗ trong suốt thời gian 40 ngày liên tiếp.

+ Khi nói đến con số 40, dường như các thánh sử muốn gợi lại lịch sử Israel trong sa mạc :

Thời gian Môisen cầu nguyện trên núi (Xh 34,28).

Bốn mươi năm dân Israel qua sa mạc (Ds14,34).

Bốn mươi ngày Elia đi tới núi Horeb (1V 19,8).

Nhưng Chúa Giê-su như một Môisen mới, một Israel mới, Người đã chiến thắng cơn cám dỗ nơi sa mạc.

+ Và chịu ma quỷ cám dỗ : Với nhân tính, Chúa Giê-su cũng chịu đồng số phận như con người là chịu ma quỷ cám dỗ, nhưng Người đã chiến đấu và chiến thắng ma quỷ để nêu gương cho con người.

2. "Trong những ngày ấy, Người không ăn gì …" :

Luca muốn nhấn mạnh đến nhân tính của Chúa Giê-su : Người có những yếu đuối của con người để nên giống con người và nhờ đó Người có thể nêu gương cho con người.

3. "Ma quỷ đến thưa Người : Nếu ông là con Thiên-Chúa …" :

- Mt 4,2 gọi là "tên cám dỗ", còn Luca gọi là ma quỷ. Điều này muốn nói lên sở trường của ma quỷ là cám dỗ. Trong đời sống trần thế, Chúa Giê-su đã gặp nhiều tên cám dỗ (Mt 16,1; 29,3; 22,18.35).

- Nếu Ông là con Thiên-Chúa : chữ "nếu" ở đây không chỉ điều kiện, cho bằng chỉ lý do : Vì lý do Ông là Con Thiên-Chúa, nên Ông có thể dùng quyền Thiên Sai mà mưu lợi cho bản thân mình, nghĩa là để cứu mình khỏi một hoàn cảnh khó khăn : Khỏi đói ! Điều thâm độc của ma quỷ là cám dỗ Chúa Giê-su thất trung với ý định của Thiên-Chúa Cha, vì nếu Chúa Giê-su lợi dụng quyền Thiên Sai để trục lợi cho bản thân mình thì Người không còn tuân theo thánh ý của Chúa Cha là dùng quyền Thiên Sai để cứu chuộc nhân loại nữa. Và như vậy là ma quỷ đã phá đỗ công trình cứu độ nhân loại của Thiên-Chúa.

- "Hãy truyền cho đá này biến thành bánh đi" : Ngày xưa trong sa mạc (Đnl 8,3), Thiên-Chúa đã cho dân Israel chịu đói khát để thử lòng họ, nhưng họ đã không tin tưởng nơi Thiên-Chúa và đã kêu trách. Nay Chúa Giê-su ở trong một hoàn cảnh tương tự như dân Israel : khi thấy đói Người cũng có thể tưởng là Chúa Cha đã bỏ rơi Người. Ma quỷ gợi ý đừng tin vào Thiên-Chúa nữa, nhưng hãy tin vào quyền làm phép lạ của mình để cứu mình khỏi đói. Đây là cám dỗ thứ nhất có tính cách thử thách lòng trung tín của Chúa Giê-su đối với chương trình Cứu Chuộc của Thiên-Chúa Cha.

4. "Người ta không chỉ sống bằng cơm bánh" :

Do cơn đói khát trong sa mạc (Đnl 8,3), dân Thiên-Chúa đã học cách tin tưởng và vâng lời Thiên-Chúa. Bây giờ Chúa Cha để cho Chúa Giê-su chịu đói là để Người thể hiện tinh thần tin tưởng và vâng phục Thiên-Chúa Cha. Vì thế con đường dẫn Chúa Giê-su đi tới vinh quang không đi theo lối biểu dương quyền lực như ma quỷ cám dỗ, nhưng qua nẻo vâng lời phục vụ và lắng nghe tất cả những lời do miệng Thiên-Chúa phán ra.

5. "Rồi ma quỷ đem Người lên cao hơn …" :

"Lên cao hơn" hoặc "lên núi rất cao" ở Mt 4,10 mang ý nghĩa biểu tượng hơn là thực tế, và thực ra chẳng có nơi cao nào có thể từ đó nhìn thấy bao quát "tất cả các nước thiên hạ" được ! Ở đây ma quỷ muốn đưa ra một hình ảnh trước mắt có thể hấp dẫn để kích thích sự ham muốn về quyền lực hầu có thể cám dỗ Chúa Giê-su.

6. "Vậy nếu Ông sắp mình thờ lạy tôi …" :

Cám dỗ thứ hai này muốn gợi lên cho Chúa Giê-su một sự lựa chọn : Hoặc nhận quyền thống trị thế giới hiện tại ở đây và lúc này từ tay Satan, hoặc sau này nhận từ tay Thiên-Chúa, nhưng chỉ khi đã qua đau khổ và tử nạn.

7. "Ngươi phải thờ lạy Thiên-Chúa là Thiên-Chúa ngươi" :

Chúa Giê-su đã chọn con đường thiết lập nước Thiên-Chúa : Chính Thiên-Chúa là Đấng phải tôn thờ chứ không phải Satan. Vì thế Người đã chinh phục thế giới không bằng sức mạnh trần thế nhưng bằng con đường Thập Giá. Chính vì sự lựa chọn chỉ "phụng thờ một mình Thiên-Chúa" mà sau này, khi tử nạn và phục sinh Người đã được vinh dự : mọi quyền lực trên trời dưới đất đều quy phục Người (Pl 2,8-11).

8. "Rồi ma quỷ lại đưa Người lên Giêrusalem …" :

Đây là cám dỗ thứ ba. Thứ tự cám dỗ thứ hai và thứ ba của Mt 4,1-11 bị Luca đảo ngược (4,1-13). Lý do là Luca muốn kết thúc câu chuyện cám dỗ tại Giêrusalem. Đối với Luca, Giêrusalem tự bản chất là nơi mà các lời loan báo cuộc khổ nạn và vinh quang của Đấng Cứu Thế phải được hoàn tất (Lc 9,31). Vì thế việc Chúa Giê-su chiến thắng các chước cám dỗ của ma quỷ ở đây, báo trước cuộc chiến thắng sự chết trong ngày phục sinh vinh quang của Người cũng tại đây.

9. "Nếu Ông là con Thiên-Chúa thì hãy gieo mình xuống" :

Ma quỷ xuối giục Chúa Giê-su theo mình từ nóc đền thờ xuống để thử thách Thiên-Chúa : Vì lạm dụng sự che chở của Thiên-Chúa là tính cách khiêu khích Người, vì ép buộc Người phải ra tay bảo vệ mình. Nhưng Chúa Giê-su muốn phục vụ Thiên-Chúa, chứ không bắt Thiên-Chúa chiều theo ý mình. Chính vâng phục này sẽ đưa Chúa Giê-su đến cái chết tại chính thành Giêrusalem, nơi đã xảy ra cám dỗ thứ ba này. Chính tại đó Người đã tự hạ làm thân phận tôi tớ Thiên-Chúa. Nhưng cũng chính tại nơi đây Người cũng sẽ kinh nghiệm một cách hoàn toàn sự che chở của Thiên-Chúa, vì khi đến giờ của Người, Thiên-Chúa sẽ phục sinh và tôn vinh Người. Chính Chúa Giê-su không muốn khiêu khích để Thiên-Chúa ra tay che chở, nhưng Người trông chờ với lòng tin tưởng.

- Thử thách Thiên-Chúa là một đề tài thông thường trong Cựu Ước với hai ý nghĩa bổ túc cho nhau : không vâng lời Thiên-Chúa để xem Người nhẫn nại đến đâu, hoặc như ở đây, lạm dụng lòng tốt của Thiên-Chúa để mưu cầu lợi ích riêng.

10. "Ma quỷ rút lui để chờ dịp khác !" :

Ma quỷ rút lui cho thấy sự thất bại của chúng, đồng thời cũng cho thấy cuộc chiến thắng đầu tiên của Chúa Giê-su, đánh dấu và tuyên bố cuộc vinh thắng dứt khoác vào biến cố tử nạn và phục sinh của Người. Đọc Tin-Mừng Luca, ta sẽ thấy Luca còn kể nhiều lần Chúa Giê-su chiến thắng ma quỷ trong việc chữa lành bệnh tật và trừ tà (54,11; 6,18; 7,21; 8,2; 10,18; 11,14-22 …)

III. ÁP DỤNG :

A. Ap dụng theo Tin-Mừng :


Giáo Hội muốn dùng bài Tin-Mừng hôm nay để nêu gương và khích lệ chúng ta phải biết tin tưởng vâng phục và tin cậy vào Thiên-Chúa để chiến đấu và chiến thắng những gian nan thử thách trong đời sống hàng ngày, nhất là đời sống đức tin.

B. Ap dụng thực hành :

1. Nhìn vào Chúa Giê-su :

a) Xem việc Người làm :


- Chúa Giê-su được đầy Thánh Thần khi chịu các phép Bí Tích, nhất là Bí Tích rửa tội và Thêm Sức, chúng ta cũng được nhận lãnh Chúa Thánh Thần. Vì thế chúng ta phải tin tưởng và sống theo Chúa Thánh Thần hoạt động trong đời sống chúng ta.

- Được chúa thánh thần đưa vào hoang địa :Hoang địa là nơi tượng trưng cho những thử thách ,Chúa thường gởi cho ta những thử thách vì có lợi cho ta : 'vì ông đẹp lòng Chúa nên cần thiết cơn cám dỗ đến thử thách ông".(G12,13).

- Suốt bốn mươi ngày :Chúa nêu gương cho ta sự chịu đựng trong kiên trì bền đỗ, vì ai bền đỗ đến cùng sẽ được rỗi.

- Chúa chịu ma qủy cám dỗ: vì có chiến đấu mới có chiến thắng, có chiến thắng mới có vinh quang.

b) Nghe lời Chúa nói :

- "Người ta sống không chỉ cơm bánh , mà còn bằng Lời Chúa nữa": Chúa dạy ta phải biết gặp ý Chúa trong những đòi hỏi của đời sống tự nhiên .Đời siêu nhiên quan trọng hơn đời sống tự nhiên.

- "Ngươi phải thờ lạy Chúa là Chúa ngươi.Chúa đòi hỏi ta phải trung thành trong việc tin mến Chúa để phụng sự Chúa dù có phải mất mạng sống ở đời.

- "Ngươi đừng thử thách Chúa Thiên Chúa ngươi ":Đừng thử thách Chúa bằng cách đò Chúa phép lạ hay đòi dấu chỉ , nhưng chấp nhận những gì Thiên chúa gởi đến .Tìm thực hiện ý chúa chứ đừng đòi Chúa thực hiện ý ta.

2. Nhìn vào ma quỷ : 


a. Ma qủy thường dùng những lợi lộc gian ,danh lợi và quyền thế để cám dỗ ta bất trung với Chúa phạm các giới răn của chúa .Khi đó ta cần phải có tinh thần nghèo khó ,khiêm tốn và phó thác vào bàn tay quan phòng cuả Chúa.

b. Ma qủy lợi dụng lời chúa để cám dỗ .Vì thế, có những người nhẹ dạ ,tự mãn nên hiểu sai Lời Chúa sinh ra "rối đạo". Vì thế cần phải hiểu đúng Lời Chúa. Đừng nắn lời Chúa để phục vụ ý riêng mình. noi gương Chúa Giê-su. Hãy dùng lời Chúa để chống lại các cơn cám dỗ.



HTMV Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn