Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật I Mùa Vọng C

Bài Tin-Mừng được trích ra từ bài diễn từ của Chúa Giê-su về ngày cánh chung (Lc 21,5-38). Trong bài này Chúa Giê-su nói đến việc Con Người sẽ ngự đến và nhắn nhủ mọi người phải chuẩn bị ngày đó.

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT 1 MÙA VỌNG - NĂM C

Lc 21:25-28.34-46


Học Viện Giáo Hoàng Piô X
 

NHỮNG TAI BIẾN VŨ TRỤ KHI CON NGƯỜI ĐẾN

TỈNH THỨC ĐỂ KHỎI BỊ BẮT CHỢT (Lc 21,25-28.34-36)


1. Bài diễn từ của Chúa Giêsu về ngày thế mạt (diễn từ cánh chung theo ngữ vựng chuyên môn) thuộc về thể văn khải huyền Do thái. Loại văn thể này, được sách Đaniel khai sinh trong Kinh thánh 200 năm trước Chúa Giêsu, được dùng trong một số tác phẩm Do thái giáo trước thời Chúa Giêsu: sách Hênốc, sách Môisen thăng thiên, bí mật của tổ phụ Hênôc, khải huyền của Êlia, của Sôphônia, của Abraham (sau khi Giêrusalem bị tàn phá năm 70, người ta còn soạn các sách Khải huyền của Esdras và Baruc).

Được phác họa trong các sách tiên tri sau cùng của Cựu ước (Ez 40-48; Is 34-35; 24-27; Gioel; Zac 9-14), thể văn của những tác phẩm trên khắc văn thể của tác phẩm tiên tri bằng những đặc điểm:

Thuần túy văn chương và chuyên môn: nhà tiên tri chỉ rao giảng và sách của ông là tuyển tập những diễn văn của ông; còn Khải huyền là một tác phẩm được sáng tác ra theo những qui luật văn chương có sẵn.

Vô danh: nhà tiên tri rao giảng cách công khai cho dân chúng mà ông có trách nhiệm; còn Khải huyền chỉ là vô danh, và được gán cho một nhà thấu thị nào đó có thế giá trong quá khứ (Hênôc, Đanien; Môisen, Êlia, Esdras).

Có mục đích loan báo về thế mạt. Các tiên tri quả có loan báo ngày Thiên chúa phán xét, nhưng họ không mô tả ngày đó, trọng tâm của họ là thời hiện tại, lúc họ tìm cách làm cho thính giả tin và hối cải. Các sách Khải huyền, luôn luôn được viết ra trong thời kỳ khủng hoảng, quy hướng về tương lai, trông đợi ngày phán xét kẻ lành người dữ và ơn cứu rỗi; chúng mô tả chi tiết những biến cố cánh chung nâng đỡ niềm hy vọng của tuyển dân.

Vậy khi các môn đệ Chúa Giêsu hỏi thầy mình về ngày thế mạt, đương nhiên Chúa Giêsu dùng ngôn ngữ, lối nói của Khải huyền để trả lời cho họ. Tuy nhiên có khác ở hai điểm quan trọng: trước hết Ngài nói nhân danh quyền riêng mình, chứ không khoác một cái tên thế giá trong quá khứ; thứ đến Ngài ít tìm cách mô tả tương lai cho bằng xác định thái độ tín hữu phải có. Về hai điểm đó, Chúa Giêsu gần với các tiên tri hơn với các sách Khải huyền. Rõ ràng sự tương đồng văn chương đó là do sự tương tự giữa sứ mệnh Ngài với các tiên tri vĩ đại của Cựu ước.

Chúng ta có ba trước tác về diễn từ cánh chung của Chúa Giêsu: Mc 13; Mt 24-25; Lc 21. Cả ba đều đồng ý đặt diễn từ đó ở ngay cuộc trước cuộc tử nạn và coi đó như là cao điểm giáo huấn của vị tôn sư. Vị trí của diễn từ đó hẳn là do một nguồn chung; ta có thể gán cho truyền thống Phúc âm kỳ cựu nhất.

Cả ba phúc âm nhất lãm cũng giống nhau về cơ hội của diễn từ: một lời loan báo cũa Chúa Giêsu về ngày tàn của đền thờ, khiến các môn đệ đặt câu hỏi về thời gian và dấu hiệu của thời thế mạt (Mc 13,1-4 và các đoạn song song).

Cho tới đây diễn từ của Luca chỉ kể ra một loạt giai thoại gần mà tác giả phúc âm là nhân chứng (cc. 8-9. 12-19. 20-24). Thình lình cái nhìn của ông rời bỏ các viễn tượng lịch sử để hướng dẫn ngày thế mạt. Thời tận thế này, tách biệt rõ ràng với các giai đoạn trước, được loan báo bằng các dấu hiệu trong vũ trụ (c. 25a) mà Luca đã phân biệt với các dấu hiệu trước.

Những điềm lạ trong trời đất, nơi các sách khải huyền, là khung cảnh cổ điển của cuộc phán xét sau cùng. Chúng phát xuất từ những mô tả của các tiên tri về cuộc chiến thắng của Giâvê trên "đạo binh các tầng trời", những vị thần của Assur và Babilon (trong các đoạn song song với Luca, Mc và Mt trích Is 13,10 và 34,4 và chắc hẳn Chúa Giêsu đã trích như vậy). Nhưng ở đây, các tác giả phúc âm cũng như Chúa Giêsu không thể nghĩ đến cuộc giao chiến giữa Thiên Chúa chân thật với các thần ngoại giáo. Những hình ảnh cổ xưa của truyền thống, đối với các Ngài, chỉ có ý nói lên sự can thiệp dứt khoát của Thiên Chúa trên vũ trụ mà Ngài sắp giải phóng khỏi sự dữ (xem Rm 8,19-22; Kh 21,1-8).

Trong lúc Mc và Mt mô tả chi tiết các tai biến trong vũ trụ theo kiểu khải huyền. Luca chú tâm hơn đến các phản ứng của loài người lúc ngày tận thế đến (cc. 25b-26). Nhờ vậy mà ông trung thành hơn với tư tưởng thánh kinh và tư tưởng Chúa Giêsu: "Thảm kịch cánh chung" trước hết là thảm kịch của con người.

Đối với các sách khải huyền Do thái, thời tận thế bao gồm một loạt biến cố phức tạp: sống lại, phán xét, ân thưởng kẻ lành, trừng phạt kẻ dữ, thiết lập thế giới mới (thành Giêrusalem trên trời)...

Chúa Giêsu đã loan báo các vấn đề khác nhau đó trong những đoạn phúc âm khác (ví dụ: việc sống lại ở Mc 12,25-27; phán xét ở Mt 25,31-46, cứu rỗi và trừng phạt ở Mt 8,11-12...). Nhưng ở đây, theo chứng từ phúc âm nhất lãm, Ngài đúc kết mọi biến cố của thời cuối cùng vào ngày quang lâm trong tư thế con người (c.27; Mt và Mc xác định: Ngài đến để thâu họp những kẻ được chọn; có lẽ đó là lời nguyên thủy của Chúa Giêsu; Mt còn thêm nhiều nét khải huyền khác lấy từ nhiều nét lấy từ nhiều nguồn gốc). Đối với Chúa Giêsu, cuộc quang lâm của Con Người là lời loan báo chính yếu: bằng chứng là Ngài đã ám chỉ điều ấy nhiều lần trong phúc âm (Mc 8,38; 14,62; Mt 10,23; 13,41; 19,28; 25,31; Lc 12,8; 17,30; 18,8) Điều loan báo ấy làm ta liên tưởng tới cảnh phán xét trong Đn 7,13-14 nơi đó con người đại diện cho "đoàn lũ các thánh của Đấng Tối Cao" với đầy đủ uy quyền tối thượng sau khi đã trải bao thử thách (x. Đn 7,18. 22. 27). Chúa Giêsu lấy tước hiệu "Con Người" làm tước hiệu riêng của mình, biểu hiện vai trò Cứu thế, gánh lấy định mệnh nhân loại.

Cũng ở đây, Luca giản dị hơn các phúc âm nhất lãm khác. Ông loại trừ những hình ảnh khải huyền phụ tùy, để hoàn toàn chú ý vào quyền năng và vinh quang của Chúa Giêsu, đấng chiến thắng sự ác và chúa tể nước trời. Dĩ nhiên ông đợi chờ nơi Ngài sự cứu rỗi các tín hữu (x. câu 28), nhưng ông không nhắc tới điều ấy trong cảnh thế mạt, bởi vì ông không muốn biệt phân sự cứu rỗi đó với nguồn gốc của nó là sự vinh hiển của Chúa phục sinh.

Khi đã trình bày sự quang lâm sau cùng của Chúa, bản văn phụng vụ kết thúc bằng một lời khuyên dụ ta phải chờ đợi Ngài thế nào. Đây là hai tiểu đoạn riêng của Luca: một đi tiếp liền với bản văn (c.28) một là phần kết luận cho toàn bài diễn từ (cc. 34-36). Chúng hơi khác nhau và đưa ra hai giáo huấn bổ túc cho nhau.

Câu 28 là lời kêu gọi hãy hy vọng. Những dấu hiệu và những biến cố Chúa Giêsu vừa loan báo thật đáng sợ: thử thách, bắt bớ, Giêrusalem điêu tàn, vũ trũ đảo lộn... Luca đã ghi nhận sự thống khổ mà những biến cố ghê rợn đó gây ra cho dân Israel và nhân loại. Nhưng tín hữu của Chúa Giêsu thì không gì phải lo sợ vì những biến cố đó chỉ biểu lộ sự chiến thắng và quyền lực của thầy mình. Qua những biến loạn của thế giới cho tới nay vẫn bị tội lỗi thống trị, họ phải biết nhận ra rằng Nước Thiên Chúa đã gần, đã đến ngày "cứu chuộc" họ (apolutrôsia).

Tiếng này không có trong các Phúc âm: chắc Luca đã mượn ở thánh Phaolô là người thường dùng chữ đó để nói đến công trình cứu rỗi của Chúa Giêsu (Rm 3,24) và hậu quả công trình đó cho chúng ta: đó là một hồng ân hiện tại đi liền với sự công chính, khôn ngoan, thánh thiện (1Cr 1,30) hay với sự tha tội (Cl 1,14; Ep 1,7); đấy cũng là một hồng ân tương lai mà Phaolô gắn liền với việc sống lại thân xác (Rm 8,23), và việc hoàn thành viên mãn chính chúng ta trong ngày sau hết (Ep 4,30). Ở đây Luca nghĩ đến ân huệ tương lai, nhưng ông biết rằng ân sủng cao cả này người tín hữu đã được ngay từ bây giờ nhờ hồng ân Thánh Thần, đấng làm khai ân (Rm 8,23) và bảo chứng (2Cr 1,22;5,5; Ep 1,14) của ơn cứu rỗi sắp đến. Như thế, niềm hy vọng của Kitô hữu có cơ sở vững vàng. Người kitô hữu có thể vui vẻ đón nhận những dấu hiệu của ngày Chúa đến vì chúng loan báo sự giải phóng dứt khoát sau cùng.

Kết luận của bài diễn từ (cc. 34-36) nằm trong một viễn tượng khác. Nó không nhìn việc Chúa đến qua những dấu hiệu loan báo như ở các câu 11.25.28, nhưng diễn tả như là thình lình ,bất ngờ, như trong dụ ngôn "tỉnh thức" (12,3546) hay như trong bức tranh "ngày của Con Người"

(17,22.36). Cả hai cảnh này đều cổ điển và Chúa Giêsu đã dùng cả hai bởi lẽ Ngài không nhằm mô tả tương lai cho bằng kêu gọi tín hữu hãy trung thành chuẩn bị sẵn sàng.

Trong đoạn cuối này, thái độ người tín hữu phải có là tỉnh thức thường xuyên. Họ hãy giữ mình khỏi những cám dỗ ô trọc là dâm đãng và say sưa (x.12,45; 1Th 5,6; Rm 13,13) cũng như mối bận tâm trần tục làm họ quên mất thứ của cải duy nhất đáng kể (8,14; 12,22-31; 17,27-28). Họ hãy sẵn sàng, vì "ngày ấy" sẽ bắt chợt mọi người (x. 1Th 5,3) như chiếc lưới bất ngờ bủa xuông con mồi (có lẽ ở đây Luca nghĩ đến Is 24,17 là đoạn áp dụng hình ảnh cổ truyền chiếc bẫy vào ngày chung thẩm). Thực tế, đối với Luca, sẵn sàng tức là chuyên tâm vào công việc mà chủ đã giao cho tôi tớ (12,35-48),tức là "cầu nguyện luôn đừng nhàm chán" như ta thấy ông kêu mời ở cuối bức tranh về Ngày của Con Người (18,1). Bởi vì tín hữu luôn quay về với Chúa để tôn thờ Ngài, để xin Ngài giúp đỡ và mong chờ Ngài đến, thì làm sao có thể bị bắt chợt bởi việc Ngài đến, điều mà họ luôn hy vọng. Như vậy, được chuẩn bị bằng lòng trung tín và việc cầu nguyện, họ không còn sợ những thử thách của ngày sau hết: họ có thể đứng vững trước sự phán xét của Con Người.

KẾT LUẬN 

Bài phúc âm về ngày quang lâm của Con Người thích hợp cách đặc biệt với Chúa nhật I mùa vọng này. Phụng vụ mời gọi ta đi vào cuộc hành trình của dân Chúa tiến về cuộc giá lâm đầu tiên của Chúa Cứu thế: một hành trình chậm chạp, tối tăm và đau đớn, trong đó chúng ta phải luôn luôn tìm biết thế nào là niềm hy vọng của chúng ta, những thái độ cụ thể, những khó khăn, và sức mạnh vô địch của niềm hy vọng đó.

Nhưng Giáng sinh đã hoàn thành trong khó nghèo và mừng vui của Belem rồi. Chúa đã mang đến cho chúng ta tin mừng của Ngài và đã đưa chúng ta vào trong Giáo hội của Ngài. Nếu chúng ta nhắc lại cuộc giáng lâm khiêm tốn đầu tiên, đó là để hướng về cuộc quang lâm chung cục của Con Người trong quyền năng và vinh quang.

Cuộc giá lâm đầu tiên đã khiến mỗi người trong Israel tỏ thái độ theo hay chống Chúa Giêsu (Lc 2,34-35). Thì nay ở mỗi thế hệ cho đến tận cùng lịch sử, mỗi người đều được kêu mời chọn lựa như thế. Nhờ đức tin, chúng ta đã làm một cuộc quyết tuyển căn bản, tuy nhiên chúng ta vẫn biết rằng trong chúng ta còn ít nhiều khu vực bất tín. Phúc âm kêu mời ta tiêu trừ chúng: hãy quay về Chúa đang đến, hãy tỉnh thức, bấy giờ anh em sẽ sẵn sàng tiếp đón Ngài và đi vào trong nước Ngài.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG 

Hôm nay bắt đầu năm phụng vụ mới. Lời Chúa thúc đẩy chúng ta đi ngay tới trước. Thường khi chấm dứt một giai đoạn, người ta bị cám dỗ kiểm điểm thành quả trước khi bắt đầu giai đoạn kế tiếp; người ta ngó lại đằng sau, tổng kết hoạt động quá khứ và mừng vui nếu mọi sự êm đẹp.

Đối với Chúa, không bao giờ như vậy. Ngài không cho chúng ta thấy thành quả tốt đẹp nào, Ngài không vỗ về ta bằng bất cứ tiến bộ nào. Trái lại, Ngài đẩy ta tới trước, hướng về ngày Ngài đến với những tai ương bi thảm tiên báo. Cho dù những trình bày thảm khốc đó không muốn mô tả cách khoa học những sự kiên thực tế. Tuy nhiên, qua ngôn ngữ của tưởng tượng và thi phú, chúng cũng gợi lên được một cách mạnh mẽ việc quang lâm gần kề của Chúa Kitô. Và việc quang lâm đó sẽ tạo ra một sự đảo lộn sâu xa trong toàn thể lịch sử con người. Chính đó là điều mùa vọng này muốn nhắc nhở ta: khi khơi lại kỷ niệm của việc giáng lâm đầu tiên, nó tích cực chuẩn bị ta cho cuộc quang lâm ngày sau hết.

Mỗi người đều khao khát hạnh phúc và công lý; ai cũng hy vọng có kẻ mang chúng đến cho mình; thức dậy, người đời đã chẳng chạy đến những tiên tri giả hay những phương tiện khác nhau để tìm kiếm hạnh phúc đó sao ? Họ đã chẳng xây dựng biết bao hệ thống, luôn canh tân chúng để mong thiết lập công bình đó sao ? Nếu Chúa đến, đó là vì con người khẩn thiết mong ước những gì Ngài mang lại, ước mong có kẻ đưa đường, chỉ lối, sáng soi. Nếu Chúa đến, đó là vì tận thâm tâm, con người làm chỗi dậy Đấng Cứu Rỗi.

Nhưng một trật, Đấng phải đến lại mang danh hiệu "Con Người". Như danh hiệu bí ẩn này, mượn ở tiên tri Đanien, gợi lên Đấng phải đến là một nhân vật mầu nhiệm, từ một thế giới khác. Vì thế, việc Chúa đến được coi như sự hòa hợp, sự gặp gỡ giữa khát vọng con người và công cuộc của Thiên Chúa.

Chúa Giêsu đã ẩn mình trong các dấu hiệu tiên báo. Những tai ương, thử thách có thể làm chúng ta thất vọng về Ngài cũng là những lời Ngài kín đáo kêu gọi tâm hồn ta. Những thử thách đó khiến ta đừng bám víu mãi mãi vào đời này. Chúng nhắc nhở rằng ta được tiền định cho một thành đô khác, Giêrusalem thiên quốc. Chúng giúp ta chuẩn bị đón chờ cuộc tái lâm vinh quang của Chúa Giêsu, nếu chúng ta biết đón nhận chúng bằng tinh thần đức tin.

Đối với thế hệ chúng ta, nước Thiên Chúa cũng đã gần và đang ở giữa chúng ta. Chúng ta tìm thấy nó trong Giáo hội. Vì nơi đó chúng ta gặp Chúa kitô trong phụng vụ, trong Thánh Thể, trong anh em và trong tâm hồn ta. Chúng ta hãy biết đón nhận Chúa Kitô đang đến, đang đứng ở cửa lòng chúng ta và đang gõ (Kh 3,20). Thầy đứng đó và đang gọi ta (Ga 11,28).


Noel Quession - Chú Giải

 

Lc 21:25-28.34-46


Hôm nay, bắt đầu năm Phụng vụ mới. Sau thánh Máccô, giờ đây thánh Luca trình bày cho ta Mầu nhiệm của Đức Giêsu.

Ngay từ Chúa nhật đầu tiên này, chúng ta được đặt vào một biến cố "sớm hơn". Thời gian Mùa Vọng là thời gian gợi lại việc Đức Kitô "đến" : Ngài đã đến tại Bêlem ngày Giáng sinh...Ngài đang đến trong mỗi biến cố, trong mỗi bí tích. . . Ngài sẽ đến vào Ngày cánh chung.

Đức Giêsu nói với các môn đệ biến cố Người quang lâm : "Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét....". 

Ở đây chúng ta tiếp cận với lối văn "khải huyền". Loại văn chương này xuất hiện tại ít-ra-en, hai thế kỷ trước Đức Giêsu, và kéo dài sau đó một thế kỷ nữa. Lối văn Kinh thánh này tiếp theo thời kỳ ngôn sứ. Mọi hy vọng của các ngôn sứ đều đã đổ vỡ : dân Ít-ra-en, thay vì được độc lập lại bị tháp nhập và chịu lệ thuộc các đế quốc ngoại giáo liên tiếp, khiến ta có cảnh tưởng là lịch sử đã thoát khỏi bàn tay điều khiển của Thiên Chúa, Đó là một gai chướng, một thử thách cho đức tin. Do đó, trước hết, trào lưu khải huyền muốn phục hồi niềm hi vọng, bằng cách dù gặp thất bại, vẫn lớn tiếng hô lên sứ điệp của các ngôn sứ : Thiên Chúa là chủ tể lịch sử. Ngài sẽ chiến thắng : Chiến thắng trên sự dữ. Vì không ai biết chiến thắng sẽ được thực hiện như thế nào, nên người ta diễn tả bằng một thứt ngôn ngữ ước lệ, với những hình ảnh vũ trụ vĩ đại và lộng lẫy.

Theo kiểu nói truyền thống đó, ba khoảng không gian lớn đều bị rung chuyển : bầu trời, trái đất, biển Cả. Sự lộn xộn ập xuống trên vũ trụ, để "tạo dựng" một thế giới mới. Ta có thể so sánh với Isaia (13,9-10.34, 3-4 ), trong sách đó tác giả cũng dùng những hình ảnh thảm lại để diễn tả sự sụp đổ của Babylon : đó là một bằng chứng nói lên, ta không được hiểu những hình ảnh đó theo mặt chữ. Các vì sao sẽ "từ trời rơi xuống" , "mặt trời sẽ không còn chiếu sáng nữa", là cách nói nhằm diễn tả Thiên Chúa là chủ tể. Cũng đừng quên rằng, phần lớn các dân tôc phương Đông cổ đều thờ các tinh tú như những thần linh ngự trên cao, điều khiển thế giới và quyết định số phận con người . Và ta nghĩ đến khoa tử vi cùng chiêm tinh học hiện nay vẫn còn ăn khách. Nếu "chủ dân", các "goim", tôn thờ các tinh tú như các thần linh mới, thì Ít-ra-en trong truyền thống khải huyền của mình đã tuyên bố rằng, sẽ có ngày những thần linh này bị tiêu tan một cách thê thảm : các vì sao, mặt trời sẽ rớt xuống. . . không có thần nào khác, ngoài Thiên Chúa !

Chính Lu ca cũng không ngần ngại sử dụng thứ ngôn ngữ khải huyền này, để ghi lại ruột cuộc nhật thực vào lúc Đức Giêsu tắt thở trên thập giá (Lc 23,44) : đó là cách nhấn mạnh rằng, nhớ biến cố lịch sử tại đồi Gôn-gô-tha, Thiên Chúa đã dứt khoát can thiệp vào lịch sử loài người : Đức Giêsu sẽ đến trên mây trời ! Thế giới cổ xưa qua đi, một thế giới mới đã khai sinh ! Thập giá, đó là cuộc chiến thắng, là vinh quang của Ngài, mà buổi sáng Phục sinh sẽ làm bừng dậy cách công khai trước một thái dương mới.

Muôn dân sẽ lo lắng hoang mang... Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp xuống địa cầu, vì các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển..

Hơn thánh Mác-cô trong đoạn văn tương tự, mà cách đây mười lăm hôm ta đã được nghe, thánh Luca nhấn mạnh đến phản ứng của con người trước những biến cố như dấu chỉ : nghĩa là nhắm đến thảm kịch của con người hơn là một xáo trộn có tính vật chất. Con người thuộc mọi thời đại con người thời nay cũng như con người thời đó, thường có khuynh hướng xóa bỏ "thời gian", coi thời gian như cái gì không an toàn. Chúng ta không thích "biến cố", nghĩa là sự kiện bất ngờ, điều không dự kiến được. "Điều gì sẽ xảy ra ?". Những gì ta không biết trước luôn luôn đáng sợ.

Do đó, mới có những khuynh hướng bảo thủ, duy truyền thống, cố làm mọi cách để không gì "xảy đến" , không gì "thay đổi" cả.

Vì thế, toàn bộ Kinh thánh thường lặp lại cho chúng ta rằng, "biến cố" là cuộc "thần hiện" của Thiên Chúa : Người hiện đến, Người can thiệp qua các biến cố. Chẳng hạn, vì Đức Giêsu đã báo trước, nên việc phá hủy thành Giêrusalem và Đền Thánh, là một biến cố đáng sợ, dễ gây hoảng hốt... tuy nhiên, cũng là "dấu chỉ" báo hiệu Đức Giêsu sẽ "đến trên mây trời" ' Như thể ngày nay ta loan báo một cuộc cách mạng sẽ phá hủy Vatican và các vương cung thánh đường trong một cuộc thánh chiến ! Hơn nữa,

cũng không thiếu những ngôn sứ luôn tuyên sấm giáng họa, đưa tin về những tai ương tương tự hay còn tệ hại hơn : nào là hiểm họa nguyên tử, nào là nạn nhân mãn, ô nhiễm lan tràn... nhiều ý thức hệ hiện nay chỉ nhằm khai thác sự sợ hãi tự nhiên này của nhân loại. Phải chăng Đức Giêsu chỉ là một trong những "ngôn sứ tuyên sấm giáng họa" trên, khi lợi dụng sự sợ hãi để tranh thủ những kẻ ủng hộ mình ?

Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy con người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến.

Đức Giêsu không khai thác, nhưng giải gỡ cho ta sự sợ hãi đó. Những "biến cố" gây xáo trộn, không kết thúc mọi sự, không chỉ là khởi đầu cho một thế giới khác. . . chỉ báo trước một cuộc gặp gỡ. Ngược lại với sự sợ hãi của con người, ở đây xuất hiện hình ảnh rực rỡ của Con Người trong chính vinh quang của Thiên Chúa . Ta biết rằng , Đức Giêsu sử dụng "thị kiến của Đa-ni-en" (Đn 7,18-14).. . nhưng thay đổi hoàn toàn. Triều đại của Thiên Chúa nhu Đa-ni-en mong đợi, phải chiến thắng các địch thù của ít-ra-en bằng một thứ can thiệp mãnh liệt và kỳ diệu của Thiên Chúa trong lịch sử. "Con người" tượng trưng cho "dân thánh của Đấng Tối Cao", sẽ đến "từ trên đám mây trời". Thế nên, Đức Giêsu tự đồng hóa với Con Người đó. Nhưng thoạt đầu, Ngài không xuất hiện như một hữu thể từ trời : Ngài là con của Đức Maria. Ta biết rõ xuất xứ của Ngài. Ngài không hiện diện "trong đám mây" Ngài hoàn toàn chia sẻ thân phận con người như mọi người trên trần gian. Và đúng ra, chỉ khi chết trên thập giá, Ngài mới thực sự bước vào trong Thế Giới Mới của Đấng Phục sinh đầy vinh quang và uy quyền…như Ngài đã tiên báo khi bị xét xử trước Thượng Hội Đồng Do Thái (Lc 22,69). Không xóa bỏ lịch sử, cái chết thảm hại của Đức Giêsu thực sự đã trở nên "điểm xuất phát" của một lịch sử mới. Mùa Vọng là thời gian của một cuộc khởi hành mới. Bản văn trên nhắc nhở chúng ta điều đó.

Khi những biến cố đó bắt đầu xảy ra anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên...

Vậy Khải Huyền (trong tiếng Hy Lạp, từ này có nghĩa là "mạc khải"), đúng là một sứ điệp hy vọng. Chúng ta ghi nhận hai thái độ tương phản. Trước những tai họa bên ngoài, là cuộc Quang lâm của Đức Giêsu. Trước sự hốt hoảng của dân ngoại, là thái độ "đứng thẳng" của các tín hữu. "Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc... thì anh em hãy ngẩng đầu lên". Sư tương phản này còn rõ nét hơn trong toàn bản văn, khi ta đọc tới dụ ngôn khá đặc sắc : "cây vả báo hiệu mùa tươi đẹp" (Lc 21,29-30).

Vì anh em sắp được cứu chuộc...

Đối với nhiều người, điều xuất hiện như một thứ hủy hoại sự kết thúc cuộc đời của Đức Giêsu trên thập giá, kết thúc thành Giêrusalem, kết thúc đời mỗi người qua cái chết, chấm dứt các nền văn minh, chấm dứt thế giới, nghĩa là mọi "biến cố" đều mang tính chết chóc, thì đối với Đức Giêsu và đối với các tín hữu là những kẻ tín thác vào lời Ngài, lại chính là khởi đầu cho công cuộc cứu độ. Đó là khẳng định trọng tâm của Đức tin : Mầu nhiệm Phục sinh...mầu nhiệm chết đi để được sống !

Từ "Cứu chuộc" rất thông dụng trong thư của Thánh

Phaolô (1 Cr 1,30 - Rm 3,24-8,23 - Cl 1,14) nhưng trong các Tin Mừng, chỉ thấy dùng ở đây. Ta cũng biết, Luca là đệ tử của Phaolô mà ! Từ "Cứu chuộc" được dịch từ "Redemptio" của Latinh. Nhưng nếu để ý đến từ gốc của tiếng Hy Lạp "apolutrosi", người ta thường dịch là "giải thoát". Như thế, Mùa Vọng là thời giải thoát đã đến gần. "Anh em sắp được giải thoát ! Anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên !".

Vậy anh em phải đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề vì chèn chén say sưa, lo lắng sự đời kẻo ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em.

Sau những lời khuyên khơi dậy hy vọng và tin tưởng, bây giờ đến một lời khuyên giúp đề cao cảnh giác. Đừng để Đức Giêsu bất thần hiện đến, nhất là khi Ngài đến lần cuối cùng. Lòng chúng ta có nguy cơ trở nên nặng nề, vì những lo âu và vì đời sống quay cuồng, vì quá bận tâm đến thế trần và vật chất, Đức Giêsu nói như thế.

"Oi dân của Ta, người đã ra nặng nề. Quá nhiều đồ ăn thức uống làm bụng ngươi trương lên. Quá nhiều đồ vật chi phối ngươi. Quá nhiều an toàn đang trói buộc ngươi. Quá nhiều hư ảo đang xâm chiếm ngươi. Quá nhiều ngu xuẩn đang chất đầy trên ngươi. Quá nhiều ảo ảnh đang làm ngươi bối rối. Ôi dân Ta, ngươi đã quá nặng nề. Hãy trở lên nhẹ nhàng hơn. Hãy sẵn lòng ra đi" (Ch. Singer).

Nên đề ra một chương trình tốt đẹp cho Mùa Vọng : đó là thời gian làm cho mình ra nhẹ ! Đó là thời gian "cõi lòng nhẹ nhõm hơn" . Bạn hãy giải thoát mình khỏi lo lắng thái quá về ăn uống ! Những lời trên đây có thể được viết cho thời đại chúng ta, cho nền văn minh hưởng thụ chiếm hữu của ta.

Ngày ấy như một chiếc lưới, sẽ ập xuống trên mọi dân cư khắp mặt đất Vậy anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người.

Tôi đừng để mình bị "chộp bắt" bất thần, như con thú sa lưới . Hãy "tỉnh thức" , luôn sẵn sàng, luôn cảnh giác. Việc không biết ngày nào sẽ "xảy đến", không thể đặt ta nằm trong trạng thái thụ động biếng trễ, nhưng làm cho ta trở thành những con người "đứng thẳng" trong mọi lúc ! Qua những lời trên , Đức Giêsu muốn nhắc nhở chúng ta rằng, mỗi ngày đều có thể là ngày Chúa đến ! Và cầu nguyện, trong viễn tượng đó, là một thứ "canh phòng", chứ không phải là một chạy trốn, một biếng trễ : Hỡi người canh gác, bạn nhìn thấy bình minh đến chưa ? Bạn có nhận thấy Đức Kitô đến không ? Bạn có rình chờ những "dấu chỉ" loan báo Ngài đến ? Bạn đừng ngủ mê' ! Mỗi khi cử hành Thánh Thể là một chuẩn bị trước cho ngày đó, "cho tới khi Chúa lại đến" . Marana tha ? Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến. Mùa Vọng là thời gian mong đợi.


Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

 

"Giờ cứu rỗi chúng con đã gần đến"


I. Ý CHÍNH :

Bài Tin-Mừng được trích ra từ bài diễn từ của Chúa Giê-su về ngày cánh chung (Lc 21,5-38). Trong bài này Chúa Giê-su nói đến việc Con Người sẽ ngự đến và nhắn nhủ mọi người phải chuẩn bị ngày đó.

II. SUY NIỆM :

1. "Chúa Giê-su phán cùng các môn đệ" :


Nhân tiện báo trước về ngày tàn phá của đền thờ Giê-ru-sa-lem, Chúa giải thích cho các môn đệ về các dấu chỉ và biến cố xảy ra trong ngày cách chung (Lc 21,5-7).

2. "Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng" :

Theo quan niệm Do Thái thời đó thì không gian có ba tầng : trời, đất và biển. Chúa muốn dùng những hình ảnh có tính cách khải huyền này để diễn tả sự can thiệp dứt khoác của Thiên-Chúa trên vũ trụ mà Người sắp giải phóng khỏi sự dữ (Rm 8,19; Kh21,1-8). Vì thế, sự rung chuyển của ba tầng trời này là nghĩa bóng của dấu chỉ báo hiệu giờ cánh chung. Vũ trụ hữu hình sẽ nhường chỗ cho trời mới đất mới của Vương Quyền Chúa Giê-su Ki-tô.

3. "Người ta sợ hãi kinh hồn chờ đợi …" :

Vũ trụ, quan niệm ngày xưa cho rằng những quyền lực thiêng liêng nằm trong không gian luôn điều khiển và chi phối mãnh lực vũ trụ. Các quyền năng đó hay bị lay chuyển rung động nên hỗn loạn giáng xuống toàn thể vũ trụ, khiến cho người ta sợ hãi kinh hồn.

4. "Lúc đó người ta sẽ thấy trên đám mây …" :

"Trên đám mây" đây là hình ảnh quen thuộc mượn trong Cựu Ước (Đn 7,13). "Mây" thường được truyền thống coi là xa giá của Thiên-Chúa. Hình ảnh này diễn tả uy nghiêm thần linh của Chúa Kitô. Người không còn đến trong sự "thấp hèn" của cuộc sống tại thế nữa, nhưng trong sự cao cả, huy hoàng và hiển linh.

"Con Người hiện đến" Chúa Giê-su lấy tước hiệu Con Người làm tước hiệu riêng của mình, biểu hiện vai trò Cứu Thế của Người.

5. "Các con hãy đứng dậy và ngẩng đầu lên …" :

Đây là lời kêu gọi hãy hy vọng. Những dấu hiệu và những biến cố Chúa vừa loan báo về ngày cánh chung thật đáng sợ. Nhưng những người tin, tức là những tín hữu của Chúa không việc gì phải lo sợ vì những biến cố đó chỉ biểu lộ sự chiến thắng và quyền lực của Thiên-Chúa. Vì thế ở đây Chúa dùng những hình ảnh ghê sợ để diễn tả ngày cánh chung. Người không nhằm mục đích mô tả tương lai cho bằng muốn các tín hữu hãy trung thành với Chúa (đứng dậy) và chuẩn bị sẵn sàng (ngẩng đầu lên) cho ngày Chúa đến trong giờ chết của mình.

6. "Các con hãy giữ mình …" :

Chúa nhắn nhủ các tín hữu phải giữ mình đừng để bị lôi cuốn hoặc dính bén những gì dưới đất. Những điều dễ lôi cuốn và làm cản trở các tín hữu đó là "chè chén say sưa" và "lo lắng việc đời" quá lẽ. Lý do phải giữ mình là vì tính cách bất ngờ của giờ chết (ngày cánh chung) (Xem Tx 5,2; Lc 12,40) như chiếc lưỡi thình lình bủa xuống con mồi, khiến không ai thoát khỏi.

7. "Vậy các con hãy tỉnh thức và cầu nguyện …" :

Chúa chỉ vẽ cách thức chờ đợc Chúa đến là thức tỉnh và cầu nguyện.

Tỉnh thức là luôn chăm chú vào công việc mà chủ đã giao cho tôi tớ (Lc 12,35-48) tức làluôn trung tín với Chúa.

Cầu nguyện luôn là cầu nguyện không nhàm chán (Lc 18,1.24-35)luôn quay về với Chúa để tôn thờ Người, để xin Người giúp đỡ và mong chờ người đến. Một khi đã được chuẩn bị bằng sự trung tín và cầu nguyện liên lỉ. Người tín hữu không còn sợ nhưng sẽ chịu đựng được những thử thách ghê gớm và họ có thể đứng vững trước sự thử thách của Con Người.

III. ÁP DỤNG VÀ THỰC HÀNH: 

A/ Ap dụng theo Tin-Mừng :


Mở đầu Mùa Vọng , Giáo Hội muốn dùng bài Tin-Mừng hôm nay để diễn tả về biến cố ngày cánh chung, để nhắc nhủ chúng ta cần phải biết dựa vào tâm tình và cách thức của Do Thái xưa chờ đợi Đấng Cứu Thế đến, để thúc đẩy ta biết chuẩn bị sẵng sàng cho ngày Chúa đến với mỗi người trong ngày chết của mình.

B/ Ap dụng và thực hành :

1. Chúa dùng các biến cố trên trời, dưới đất và biển cả để giải thích cho các môn đệ về ngày cánh chung. Ngày nay Chúa dùnh các sự việc xảy ra tên trời. Mưa, gió, bão, sấm chớp…xảy ra trên biển : sóng thần, lụt lội…xảy ra trên đất :Chiến tranh, loạn lạc, động đất chết chóc, tai nạn …để nhắc nhủ cho ta về sự hữu hạn của vũ trụ vạn vật và của chính bản thân mình.

2. Chúa đã đến với ta qua mầu nhiệm Nhập Thể để cứu chuộc ta ; Chúa đang đến với ta cách nhẹ nhàng trong ơn thánh để nuôi dưỡng, săn sóc để hướng dẫn ta : Chúa sẽ đến với ta trong gnày uy quyền cao cả để phán xét ta. Hiện tại ta đang đón nhận ơn Chúa thế nào và chuẩn bị cho giờ phán xét của ta ra sao? Hãy tự vấn rồi trả lời để quyết định cho mình một thái độ với tâm tình mùa vọng này.

3. "các con hãy đứng dậy và ngửng đầu lên" : Chúa mời gọi ta chuẩn bị cho giờ chết : chúng ta chỉ có thể đứng dậy và ngẩng đầu lên khi chúng ta ở tư thế sẵng sàng cho giờ chết đến bất cứ lúc nào. Hãy noi gương các thánh tử đạo hiên ngang và sung sướng bước ra pháp trường vì các ngài luôn luôn sẵn sàng trong niềm trông cậy và yêu mến Chúa.

4. "Các con hãy giữ mình": Chúa nhắc nhủ ta phải biết canh chừng vàđề phòng những lôi cuốn của thế gian trần tục : đừng để cho sự ham mê ăn uống và lo lắng sự đời chi phối và cản trở ta trên đường hoàn thiện đời sống …

5. "Vậy các con hãy tỉnh thức và cầu nguyện": Chúa nhắn nhủ ta phải tỉnh thức và trung thành trong việc bổn phận đối với Chúa là luôn luôn tin cậy, mến; bổn phận đối với bản thân là hoàn thiện đời sống mỗi ngày một hơn ; bổn phận đối với tha nhân bằng việc Tông Đồ truyền giáo để "nước Chúa trị đến".

6. Bước vào đầu Mùa Vọng, chúng ta cần ôn nhớ lại ý nghĩa của Mùa Vọng.

a. kính nhớ Chúa lần I (Giáng Sinh), nghĩa là Chúa đã nhập làm người cách đây 2000 năm. Lúc này đây chúng ta đang sống trong mầu nhiệm làm người của Chúa Giê-su. tất nhiên chúng ta không thể sống theo một tâm tình như thể Chúa chưa giáng trần. Nhưng chúng ta sống lại những tâm tình của dân Do Thái mong đợi Chúa đến, để lúc này đây công cuộc Nhập Thể của Chúa ăn sâu vào đời sống của ta, việc này đòi nhiều thời gian và ta sẽ phải làm suốt đời.

b. trông đợi Chúa đến lần thứ hai trong ngày cánh chung. Việc này mọi người đang chờ đợi, không có khác biệt giữa dân Do Thái và chúng ta. Nhưng nếu chỉ có một số người sẽ sống đúng tới ngày cánh chung đó thì trái lại, đa số loài người sẽ chết trước ngày đó.

Vậy sự chết của mỗi người cũng là một cuộc gặp gỡ Chúa lần thứ II. Vì thế cần chuẩn bị chu đáo cho việc gặp gỡ này được tốt đẹp.

Chính tâm tình của Mùa Vọng qua phần phụng vụ Lời Chúa, nhất là bài đọc của 4 Chúa nhật sẽ giúp nhắc nhủ, hướng dẫn và khích lệ chúng ta làm công việc chuẩn bị gặp gỡ Chúa trong hiện tại bằng ơn thánh và trong tương lai bằng giờ chết của bản thân mình./.


HTMV Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn