Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật II Mùa Chay A

Tin mừng Mt 17: 1-9: Là người Kitô hữu, chúng ta được Thiên Chúa mời gọi trở nên con yêu dấu của Ngài. Đó là toàn bộ đời sống đức tin của Kitô hữu, sống để nên con cái Chúa.

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT II MÙA CHAY A

Mt 17: 1- 9

Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

BIẾN HÌNH

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Đâu là mối liên lạc giữa cuộc Biến hình và những điều xảy ra trước ?

2. Hãy tìm các chủ đề Kinh thánh Cựu ước tiềm ẩn trong đoạn văn này.

3. Vị trí của Chúa Giêsu thế nào so với Môisen, Elia và Gio-an Tẩy giả ? So sánh với cảnh Phép rửa (3, 13-17) để tìm ra những gì giống nhau cũng như những điểm mới trong đoạn văn này.

4. Đâu là ý nghĩa của cảnh này? Nó có ý nghĩa Kitô học không ?

5. Đoạn văn lưu tâm đến ai, đến Chúa Giêsu hay Thiên Chúa?

6. Hãy ghi nhận việc hiện tại hóa cảnh này nhằm chủ đích hộ giáo trong 2Pr 1, 16- 17

1. Chết và sống lại, nhục nhã và quang vinh, hai diện ấy của mầu nhiệm cứu rỗi, Chúa Giêsu chẳng hề tách biệt; các lời tiên báo của Người không phân rời hai biến cố sẽ xảy ra. Tuy nhiên, bao lâu chưa có Phục sinh và Hiện xuống, nghĩa là bao lâu Chúa Giêsu chưa sống cảnh ô nhục này và Thánh Thần chưa được trao ban, thì giáo huấn đó vẫn vô hiệu, và Chúa Giêsu lại không thể dẹp bỏ sự ô nhục được.

Nhưng Chúa Cha có thể hé mở câu trả lời và, trước khi biến cố Vượt qua xảy đến, Ngài đã cho ba môn đồ ưu ái được chiêm ngưỡng, trong một khoảnh khắc thoáng qua, chính vinh quang của Con Ngài. Kinh nghiệm đó đã không được loan báo cách bí nhiệm trong câu chuyển mạch giữa giáo huấn về việc phải đồng chịu khổ nạn với Chúa Giêsu và giai thoại Biến hình đó sao? "Quả thật, Ta bảo các ngươi: trong những kẻ có mặt đây, có người sẽ không nếm biết cái chết trước khi thấy Con Người đến trong nước của Người. Và sáu ngày sau ..." (Mt 16, 28- 17, 1a). Đó là lời Chúa Giêsu hứa cho nếm trước phần thưởng được dành vào ngày sau hết, tiền nếm bằng việc chiêm bái trước vinh quang của Con Người. Và các tác giả Tin Mừng Nhất Lãm đều thấy trong câu nói bí nhiệm ấy lời tiên báo trực tiếp về cuộc Biến hình; đa số các giáo phụ cũng nghĩ như vậy. Cho dù xét về nguồn góc, câu văn có thể nhắm đến cuộc Quang lâm nó cũng liên hệ với giai thoại này bằng một vài điểm móc nối có tính cách văn chương. Đặc biệt, chữ "một số người" có thể ám chỉ ba môn đồ được biệt đãi; việc Quang lâm của Con Người mà thiên hạ sẽ thấy đến trong Vương quốc, cũng đã được thực hiện cách tượng trưng trong "thị kiến" (17,9) trên núi; câu chuyển mạch thời gian "sáu ngày sau", rất hiếm trong trình thuật về cuộc đời công khai, xem ra được chủ ý thêm vào để làm nổi bật mối liên hệ giữa lời loan báo và việc thực hiện.

Xét theo mạch văn, thì cuộc Biến hình có mục đích cho các môn đồ ưu ái thấy trước Vinh quang của ngày sau hết, vinh quang nay đang tập trung trong con người Giêsu đang sống thường ngày với họ. Thiên Chúa phán với các môn đồ đầy sợ hãi rằng họ có thể và phải nghe cùng vâng lời, tín thác cùng đi theo Chúa Giêsu trên đường đẫn tới Giêrusalem, tiến đến vinh quang bằng thập giá. 

2. Các chủ đề Kinh thánh xuất hiện trong đoạn văn này có một ý nghĩa rộng lớn đến nỗi phải gắn liền chúng với cao điểm của trình thuật, nghĩa là, theo ý kiến chung của các nhà chú giải, với lời phán từ trời. Lời thần tính này, từ trời phán ra, nhắc lại lời Chúa Cha phán lúc Chúa Giêsu chịu phép rửa (3,17). Nhưng tiếng nói từ trời còn thêm vào lời công bố tử hệ thần linh của Chúa Giêsu một mệnh lệnh cho các môn đồ: "Hãy nghe Người". Lời đó mặc khải ba khía cạnh của Chúa Giêsu: Con Thiên Chúa, Tôi tớ được Thiên Chúa sủng ái, Ngôn sứ tuyệt hảo.

Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Thành ngữ "Con yêu dấu" có nghĩa là "Con duy nhất". Đối với các nhà biên soạn Tin Mừng, thành ngữ đó không những chỉ Đấng Messia, Đấng được tuyển chọn, mà còn chỉ Chúa Con tiền hữu; dầu không có nội dung chính xác theo như định nghĩa của các công đồng, tước hiệu Con Thiên Chúa, phát xuất từ Tv 2,7, vẫn có một ý nghĩa mới như việc cộng đoàn sứ đồ giải thích lại Tv này. Dù các môn đồ, trong cuộc Biến hình, hiểu lời đó thế nào chăng nữa, thì đối với các tác giả Tin Mừng, hình như chắc chắn Lời này công bố sự tiền hữu của Chúa Giêsu. Chính Thiên Chúa đáp lại lời Chúa Giêsu vừa loan báo về cuộc khổ nạn của mình. Trong phép rửa, khi Chúa Giêsu đến với Gioan Tẩy giả dưới dáng vẻ một tội nhân như một người Israel đương thời, thì Thiên Chúa đã công bố rằng Người đích thực là Con yêu dấu. Trong cuộc Biến hình, Thiên Chúa đã xác quyết với các môn đồ vừa nghe Chúa Giêsu tự gán cho mình số phận người Tôi tớ đau khổ, rằng Người quả thực là con riêng của Ngài.

Chúa Giêsu là Tôi tớ Thiên Chúa; Thiên Chúa hài lòng về người Con yêu dấu đó. Qua tiểu chú thứ hai này, Mt gợi lại cuộc thần hiển xảy ra lúc Chúa Giêsu chịu phép rửa, và cho thấy Thiên Chúa muốn giới thiệu Chúa Giêsu như là người Tôi tớ mà Isaia đã loan báo: "Này đây Tôi tđ của Ta mà Ta nâng đỡ; Tuyển nhân của Ta mà Ta sủng mộ" (Is 42,1 ). Khi gọi Chúa Giêsu như là "người được tuyển chọn", người được sủng ái tiếng nói từ trời đã áp triện thần linh trên thái độ của Đấng Messia "hiền lành và khiêm nhượng trong lòng" này (11, 29), là Đấng không nỡ bẻ cây sậy bị dập" (Is 42,2 – được Mt áp dụng cho Chúa Giêsu trong 12, 18- 21), là Đấng 'người ta có thể đến học đòi bắt chước mà chẳng chút sợ hãi lo âu.

Chúa Giêsu là Ngôn sứ: Mệnh lệnh "Hãy nghe Người" đã làm nổi bật giai thoại so với trình thuật Phép rửa. Nó áp dụng vào Chúa Giêsu lời loan báo có tính cách sấm ngôn của Đnl được trích dẫn trong Cv 3, 22: "Từ giữa các anh em ngươi Chúa của ngươi sẽ cho chỗi dậy một ngôn sứ như ta; các ngươi sẽ nghe Người trong tất cả mọi điều Người phán" (Đnl 18,15). Trong diễn từ cho dân chúng tại Giêrusalem, Phêrô cho thấy khi phục sinh Chúa Giêsu, Thiên Chúa đã bày tỏ Chúa Giêsu như một Môisen mới, như Vị Ngôn sứ thiên hạ đợi trông trong thời cánh chung (x.Cv 7, 37 ; Ga 6, 14 ; 7, 40). Sự đảm bảo thần linh này, Thiên Chúa đã ban cho Chúa Giêsu lúc Người biến hình để tỏ cho các môn đồ thấy rằng hôm nay quả thực Người là Vị ngôn sứ tuyệt hảo và phải nghe Người, "nếu không sẽ bị loại ra khỏi lòng dân tộc ? (x.Cv 3,23; Lv 23,29), rằng ơn cứu độ cũng như sự sống vĩnh cửu đều tùy thuộc về Người, sự sống vĩnh cửu mà Người vừa hứa ban cho ai vác thập giá đi theo.

3. Mỗi một dấu hiệu biểu trưng trong cuộc thần hiển - núi, vinh quang, các nhân vật Môisen và Elia, lều trại, đám mây - đều được sáng tỏ dưới ánh sáng văn mạch và lời nói từ trời. Mệnh lệnh phán từ trời đã chỉ Chúa Giêsu như là vị Môisen mới. Thế mà trong Cựu ước, ngọn núi Thiên Chúa thường dùng để mặc khải, ngọn núi mà Môisen đến nhận lãnh các bảng Lề luật (Xh 31, 18) và Elia có lần trèo lên (1V 19,8), là núi Sinai. Do đó ngọn núi nơi Thiên Chúa đến nói chuyện với Con của Ngài đang biến hình, là núi Sinai mới. Các yếu tố khác trong trình thuật thần hiển đều qui chiếu về lối giải thích đó đặc biệt là ánh vinh quang, các nhân vật Môisen và Elia, đám mây sáng rực; và cũng có lẽ cả chi tiết "sáu ngày" trước khi xảy ra cuộc Biến hình của Chúa Giêsu và lời công bố của tiếng nói từ trời ? Môisen đã chẳng phải chờ đợi, trong 6 ngày, lời của Giavê đó sao (Xh 24, 15-16) ?

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

"Chúa Giêsu đem theo mình Phêrô, Giacôbê và Gioan" : Khi lên núi Sinai, Môisen cũng đi với nhiều bạn hữu trong số đó có ba người được ghi đích danh ở một trong các bài trình thuật (Xh 24,9). Phêrô, Giacôbê và Gioan sẽ ở với Chúa Giêsu trong vườn Ghetsêmani (26.37); họ cũng sẽ bỡ ngỡ vì biến cố như ở đây. Đoạn cuối trình thuật (17, 9) và 2Pr 1, 16 giải thích cho biết sự hiện diện của các sứ đồ đó là cần vì sau Phục sinh, cần phải rao giảng, làm chướng cho Vinh quang của Chúa Giêsu trước mặt dân chúng. Thế mà "có miệng hai hay ba nhân chứng thì việc mới vững" (Đnl 19,15).

"Trên một núi cao": Thành ngữ này không gặp ở chỗ nào khác trong Mt ngoài trình thuật Cám dỗ (4,8.). Nó nói lên tương quan Giữa cuộc biến hình và Cám dỗ. Quả thực, Chúa Giêsu vừa mới đẩy lui cuộc cám dỗ quỷ quái của Phêrô (16, 23). Để đáp lại lòng tùng phục của Người, Chúa Cha đã biến đổi Người cách vinh quang và như vậy tiên hứa cho Người quyền năng trên toàn thế giới ("Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Ta" 28, 18)", quyền năng này Người đà từ chối nhận lãnh cách quá sớm từ tay Satan (4.8) và chỉ sẽ nhận lãnh sau ngày Phục sinh.

"Và người đã biến hình trước mặt họ" : Biến hình (hy ngữ: metamorphôthê : nghĩa tự nguyên: "thay đổi" hình dạng, vẻ mặt, có nghĩa là có một dung mạo khác với dung mạo thường ngày; cũng thế, Chúa Giêsu đã hiện ra với các môn đồ Emmau dưới một hình dạng khác", hình dạng người lữ hành (Mc 16, 12). Việc Chúa Giêsu biến hình đã đáp ứng niềm hy vọng thấy trong văn chương Khải huyền Do thái. Vào thời sau hết, khuôn mặt của các người công chính sẽ biến đổi và trở nên sáng láng, rạng rỡ kiều diễm như mặt các thiên sứ, tràn ngập vinh quang (Khải huyền của Baruch 51, 3-10). Dựa trên một sự kiện của quá khứ - da mặt Môisen chiếu rọi vinh quang vì đã được trò chuyện với Giavê (Xh 24,39), niềm trông đợi cánh chung đó diễn tả sự vinh hiển tương lai của những kẻ được chọn như sau: các hiền nhân sẽ sáng chói như ánh quang vòm trời, và những kẻ đã giảng dạy sự công chính cho nhiều ngươi sẽ rạng rỡ như tinh sao muôn đời muôn kiếp" (Đn 12, 3). Hôm nay, trên núi này, qua con người Chúa Giêsu, dưới mắt các môn đồ được biệt đãi, niềm hy vọng đã trở thành thực tại. Nếu lời thiên quốc giới thiệt Con Thiên Chúa tiền hữu, thì sự kiện biến hình mặc khải con người Chúa Giêsu trong ánh vinh quang sau cùng và dứt khoát của Người.

"Mặt Người sáng láng như mặt trời, áo Người trắng phau như ánh sáng " : ánh sáng rực rỡ này biểu trong các thực tại thiên quốc (Đn 7,9; Mt 28,3; Cv 9,3) và cánh chung (Kh 1, 13- 14 ; 4, 4 ; 14, 4 ; 19, 11, 20, 11). Vinh quang mà Chúa Giêsu loan báo cho thời sau hết, khi con Người sẽ đến trong vinh quang của Cha Người với các thiên sứ " (16, 27), vinh quang mà Giacôbê và Gioan mơ ước (20, 20-23), giờ đây xuất hiện trước mắt ba nhân chứng. Nó không phải là một phản ảnh đơn thuần của vinh quang Giavê (Môisen), nhưng là một ánh sáng chói lọi mặc khải hữu thể sâu xa của Chúa Giêsu: Người là chính Thiên Chúa. Sau này các sứ đồ sẽ minh xác điều đó: "Chúa Giêsu là sự tỏa chiếu vinh quang Thiên Chúa, là ấn tượng của bản tính Ngài" (Dt 1, 3) ; trên mặt Người là vinh quang Thiên Chúa (2 Cr 4, 6) ; Người là Chúa vinh quang" (1 Cr 2, 8). Anh vinh quang thiên quốc này đã sáng rực lên trong đêm Sinh nhật, bao trùm các mục đồng (Lc 2, 9-10), hôm nay vinh quang đó phủ lấy con người này, và mặc khải trước thời gian trạng thái tương lai người đó sẽ đạt đến, khi được đưa vào vinh quang" (1Tm 3, 16), khi được Thiên Chúa phục sinh và ban cho vinh quang (1Pr 1, 21), khi Thiên Chúa tôn vinh Tôi tớ của Ngài (Cv 3, 13). Têphanô sẽ thấy Người trong vinh quang của Người như thế (Cv 7, 55) và Saolê, trên đường đi Đamas, sẽ bị đui mù vì ánh sáng của Người (Cv 9,3). Vinh quang này của Chúa Kitô sau cùng sẽ bừng sáng trên chính tín hữu (2Cr 3, 18). Và trong khi chờ đợi ngày được tôn vinh, người Kitô hữu, vốn đang sống trong đêm tối mà không thuộc về đêm tối (1Tx 5,5-6), đã thấy trong cuộc Biến hình một nguồn sáng rực rỡ.

"Và này có Môisen và Elia hiện ra cho họ" : Không có giả thuyết nào về ý nghĩa hai nhân vật thiên quốc này làm ta xác tín thỏa mãn. Người ta thường xem Môisen như là biểu tượng của Lề luật, cùng Elia như là người đại diện các ngôn sứ ; nhưng thông phán từ trời (Hãy nghe người) cho thấy tiền ảnh của Vị Ngôn sứ tương lai là Môisen chứ không phải Elia: Vả lại dưới mắt Israel, Môisen chẳng những là nhà lập luật, mà còn là vị ngôn sứ nữa (Hs 12, 14) là là vị ngôn sứ mà sau này trong Israel sẽ chẳng có vị nào tương đương " (Đnl 34, 10). Thỉnh thoảng người ta cũng xem Môisen và Elia như là tiền ảnh của hai nhân chứng sách Khải huyền giối thiệu mà không nêu danh: Elia là kẻ có quyền đóng cửa trời và Môisen là người có quyền gõ vào mặt đất (Kh 11, 3. 6) ; một vài bản văn của các giáo sĩ Do thái: còn xem Elia như là hình ảnh của Đấng Messia đau khổ: trong cuộc chuyện trò ngay sau giai thoại biến hình, Elia được xem là hình ảnh của Gioan mà người ta đã ngược đãi (Mt 17, 12-13). Quả vậy, xét theo truyền thống (Mt 3, 23-24) mà Chúa Giêsu ám chỉ cho các môn đồ trong một 17, 10- 11 , có thể Elia là tiền hô của Đấng Messia, và điều này đã được thực hiện trong con người Gio-an Tẩy giả. Vậy sở dĩ Elia có mặt trên núi, đó là với tư cách tiền hô của Đấng Messia; có lẽ vì thế mà Mc đã ghi tên ông trước Môisen, dù sau đó ông ta ghi lại theo thứ tự ưu tiên của truyền thống (Mc 9, 5). Có một bản văn của các giáo sĩ Do thái ghi chép thế này: "Johannan ben Zacchai đã nói. Thiên Chúa phán cùng Môisen : khi Ta sẽ sai ngôn sứ Elia, cả hai ông phải cùng nhau đến " (Dt rabba 3). Có lẽ toàn thể biểu tượng cựu truyền về hai nhân vật này đã liêm nhiễm quan niệm về Đấng Messia của các tác giả Tin Mừng: ngôn sứ Môisen đến chào Vị ngôn sứ đích thực; cùng đi với ông, còn có Elia, vị tiền hô của Messia. Dù sao, hai nhân vật này của Cựu ước, ngày xưa đã từng trèo lên núi Sinai, tiên báo qua việc họ lên núi Sinai mới này rằng: với Chúa Giêsu, thời gian đã hoàn tất.

"Tôi sẽ dựng ba lều" : Đối với truyền thống Do thái, nơi ở thiên quốc được biểu trưng bằng các nhà tạm đời đời" (Lc 16,9). Quả vậy, người ta biết rằng trong thời sau hết, Thiên Chúa sẽ ở giữa dân Ngài (Ed 37, 27 ; Hs 12, 10) trong lều của Vinh quang Ngài, rằng dân chúng sẽ cắm lều quanh Đấng Messia của họ ( ít nhất theo Hênoc 71, 16 ; Ga 1, 14 : Người đã dựng lều Người giữa chúng tôi, và chúng tôi đã thấy vinh quang của Người") và các dấu lạ của thời Xuất hành sẽ tái diễn. Phêrô tưởng thời sau hết đã tới và cho rằng đã đến lúc thiết lập thiên đàng ở trên trái đất, để cuộc hiện ra trong một ngày sẽ kéo dài mãi mãi. Khi đề nghị làm ba lều, ông muốn khai mào sự "nghỉ ngơi" cánh chung vậy.

"Thì này một đám mây sáng ngời rợp bóng trên họ" : Đó là câu Thiên Chúa trả lời đề nghị của Phêrô. Lều có vai trò che chở, còn mây thì đến phủ bóng : lều được bàn tay loài người dệt nên, còn mây thì do trời; lều tìm ta trong bóng tối, còn mây lại chiếu sáng rạng ngời. Điểm tương phản mà văn mạch trực tiếp gợi lên ấy, đã được xác định và xác quyết qua hình ảnh đám mây của Kinh Thánh.

Trong truyền thống Thánh Kinh, mây dấu chỉ thần hiện đi theo các cuộc xuất hiện khác nhau của người thiên giới. Ở đây không phải là đám mây chỉ theo một nhân vật như Con Người của thời cánh chung (Đn 7, 13 ; Mt 24.30), song là đánh mây rợp bóng và bảo vệ đám mây một cách nào đó dựng lều cho chính Thiên Chúa: Thiên Chúa đã lấy mây để làm lều trại cho mình (Tv 18, 12). Tuy nhiên hình như biến cố này thực hiện một sấm ngôn trong truyền thống Do thái, liên hệ đến thời sau hết : Và bấy giờ Chúa sẽ tỏ bày các điều ấy ra, và vinh quang Chúa cũng như đám mây sẽ xuất hiện, như đã hiển hiện dưới thời Môisen và khi Salomon cầu xin cho đền thờ được huy hoàng tác thánh" (2Mcb 2,8). Cũng như ngày xưa Lều Hội họp (Trướng Tao phùng) đã được đám mây bao phủ và nhà tạm được tràn ngập vinh quang Giavê (Xh 40,34-35), như đền thờ của Salomon được Đám mây và Vinh quang bao phủ (1V 8,10-12), thì trong thời cánh chung cũng như vậy: Vinh quang dã rời bỏ Đền thờ (Ed 10, 3-4) sẽ trở lại cùng với Đám mây. Trên núi Biến hình, được chiếu sáng bới vinh quang đang tỏ hiện nơi dung mạo Chúa Giêsu và nơi y phục Người, Mây đã ngự xuống
làm dấu chỉ có Thiên Chúa hiện diện. Mây rợp bóng bao trùm các nhân vật cũng tương tự quyền năng của Đấng Tối cao" đã "phủ bóng" trên trinh nữ Maria trong ngày Truyền tin (Lc 1, 35): động từ episkiazô chỉ xuất hiện ở Tân ước trong hai trường hợp này để nói lên sự can thiệp đặc biệt của Thiên Chúa.

Ý nghĩa biểu trưng của Mây còn có thể được xác định thêm. Nó không chỉ phủ bóng trên ba nhân vật, mà còn trên ba môn đồ nữa; chỉ Luca ghi nhận điểm ấy, nhưng văn mạch cũng nói lên điều đó trong Mt và Mc. Tiểu tiết này thật quan trọng : nó cho thấy rằng các môn đồ không chỉ làm khán giả, song còn nhập cuộc vào một biến cố dĩ nhiên là vượt tầm sức họ, nhưng cũng liên quan đến họ. Lời ngôn sứ vừa nhắc trên đây cho thấy Vinh quang và Mây xuất hiện trong hoàn cảnh nào: nơi cất dấu các đồ phụng tự "sẽ không được ai biết đến cho tôi khi"nào Thiên Chúa thâu họp dân lại và dủ lòng thương đoái " (2Mcb 2, 7). Nếu nhớ lại văn mạch tổng quát của giai thoại biến hình chúng ta đang nghiên cứu, tức là việc thành lập cộng đoàn môn đồ để tiên báo và thể hiện Giáo Hội, ta sẽ dễ dàng chấp nhận rằng Thiên Chúa đã bắt đầu thâu họp dân Ngài. Khi nối kết hai nhóm - trời và đất - cho đến lúc đó hãy còn tách biệt, đám mây đã công nhận việc thâu họp các môn đồ quanh lời Chúa Giêsu, việc thâu họp mà Người đã bắt đầu thực hiện. Không phải Chúa Giêsu biến hình cho riêng Người, nhưng còn cho các môn đồ: họ sẽ nhờ đó khám phá ra nguồn gốc thần linh của lời giáo huấn mà họ phải vâng nghe; một khi đã được vào trong đám mây thiên quốc, họ sẽ biết rằng từ đây họ đang lập thành một cộng đoàn với Chúa Giêsu và cả với thiên quốc, bao lâu họ còn lắng nghe lời Người.

"Các môn đồ ngã sấp mặt xuống đất ... Chúa Giêsu đụng đến họ ". Đối diện với Thiên Chúa đến viếng thăm, con người cảm thấy xâm nhập bởi một nỗi sợ hãi linh thánh. Không ai có thể nhìn thấy Thiên Chúa mà không chết (Xh 19, 21 ; 33, 20 ; Lc 16, 2 ; Ds 4, 20). Trong thị kiến đầu tiên, Isaia cảm thấy như muốn chết (Is 6, 5) vì đã tiếp xúc với Thiên Chúa. Ở đây, các môn đồ cũng cảm nghiệm cùng một nỗi sợ hãi như chết đó khi đứng trước vinh quang Chúa Giêsu. Vì thế Chúa Giê-su đã thực hiện một cuộc phục sinh tượng trưng. Người đụng đến họ, và cử chỉ chữa bệnh đã từng phục sinh con gái ông Giairô (9, 25) giờ đây cũng "phục sinh" các môn đồ.

"Các con không được nói cho ai hay thị kiến ấy cho đến khi Con Người sống lại từ cõi chết": Chắc hẳn Chúa Giêsu ban mệnh lệnh này để tránh mọi xáo động có tính cách chính trị thiên sai trong dân chúng; sau Phục sinh, mối quản ngại này không còn nữa, vì giữa cuộc Biến hình và Phục sinh, thập giá đã dẹp bỏ một lần thay cho tất cả các ước mơ về quyền lực thiên sai rồi.

KẾT LUẬN 

Tất cả các yếu tố của đoạn miêu tả này đều cho thấy ràng niềm trông đợi của Israel đã được thực hiện, một cách bất ngờ nhưng chắc chắn. Môisen và Elia đến chuẩn bị dân chúng và biến họ thành một cộng đoàn thánh thiện. Nhờ đám mây, cụộc tập họp vĩ đại được thực hiện (2 Mcb 2, 7) ; khuôn mặt sáng láng của Con Người mà Đaniel tiên báo (Đn 7 và 10) giờ đây đang đứng trước mặt các môn đồ; còn họ thì tượng trưng cho cộng đoàn cánh chung. Tất cả những gì Israel hy vọng nay đang thành thực tại. Điểm mới mẻ, chính là nhân vật biến hình. Người không đến từ trời, nhưng trời xuống trên trái đất. Người không nói, nhưng là tiếng nói từ trời vang lên. Sau cùng và đặc biệt, Đấng mà giờ đây ta phải vâng nghe, không còn chỉ là Giavê ("Hãy nghe hỡi Israel": Đnl 6,4 - khởi đầu của kinh nguyện được gọi là Shema), nhưng là Chúa Giêsu đang đứng đó. Người là Đấng mặc khải, là chính Chúa của dân.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG 

1. Chúa Nhật I Mùa Chay đã dẫn chúng ta lên núi cám dỗ, là nơi mà Chúa Giêsu đã từ chối không chịu quỳ lạy dưới chân tên Cám dỗ để được nó ban cho một quyền lực mà chỉ mình Thiên Chúa mới có thể ban (Mt 4, 8- 10). Để đáp lại lòng trung thành sơ khởi này đối với Thiên Chúa, hôm nay có tiếng nói từ trời được phán ra trên núi Biến hình, trong Chúa nhật II Mùa Chay này. Khi công bố Chúa Giêsu là Con Tiền hữu, tiếng nói từ trời làm cho ta tin vào giáo huấn mới về số phận mà Thiên Chúa đã đặt định cho Tôi tớ Ngài: không phải là đường uy quyền trần thế, mà là đường vinh quang thiên quốc đi qua nhục nhã khiêm hạ. Rồi quyền tối thượng trên trời duỗi đất mà Chúa Giêsu đã lãnh nhận từ Thiên Chúa, Người đã ủy thác lại cho các môn đồ quậy tụ trên núi Thăng thiên (28, 18- 20). Cũng vậy, Giáo Hội sẽ có thể thực thi quyền đó nhân danh Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã hứa ở cùng Giáo Hội cho đến khi Người trở lại vinh quang, nếu Giáo Hội, theo gương Thầy chí thánh, không nghe lời Satan, mà bỏ con đường đưa đến vinh quang ngang qua thấp giá.

2. Việc biến hình của chúng ta hệ tại ở việc chúng ta trở nên giống Chúa Kitô bằng sự tiến bộ không những trong đường thiêng liêng (2 Cr 3, 18) và, sau cuộc vượt qua cái chết với Chúa Giêsu (Pl 3,10- 11) bàng việc tôn vinh toàn hữu thể chúng ta, kể cả thân xác (Pl 3, 21). Việc Phục sinh của Chúa Kitô kéo theo việc phục sinh và biến hình toàn diện chúng ta như vậy đó.

3. Cũng như các sứ đồ trong cuộc sống âm thầm thường nhật, chúng ta phải biết gặp "một mình Chúa Giêsu" (c.8), Chúa Giêsu của mọi ngày, Chúa Giêsu nền tảng của cuộc sống nội tâm và tông đồ của chúng ta (Pl 1, 21), nhất là khi chúng ta mất hết mọi tình bằng hữu hoặc mọi nương tựa nơi người đời.

4. Đừng sợ hãi khi phải cùng với người và trong đám mây (c.5). Vì đây là một "đám mây sáng ngời" sẽ rợp bóng trên chúng ta. Đây là một sự hiện diện kín đáo trong đời sống cầu nguyện hay trong dời sống đức tin tinh ròng.

5. Chúng ta sẽ được chiêm ngưỡng Chúa Kitô trong vinh quang của Người trên trời, sẽ thấy Người trong vẻ đẹp kiều diễm sáng láng (Kh 1 ,13- 18), và sẽ được ở cùng với Người muôn đời (1Tx 4, 17). Trong khi chờ đợi ngày khải hoàn vinh phúc đó, ta hãy sống trong đức tin là tuân phục : ta hãy vâng nghe Người.

6. Việc Chúa biến hình trong phép Thánh Thể không nhằm tỏ hiển vinh quang người ra bên ngoài, nhưng nhằm che dấu vinh quang đó dưới các hình sắc bí tích. Tuy nhiên, nếu trung thành lắng nghe tiếng của Con yêu dấu, Đấng đã giáo huấn chúng ta về mầu nhiệm đó chúng ta sẽ nhận ra sự hiện diện của Người tiềm ẩn trong hình bánh hình rượu, và chúng ta sẽ kêu lên : Lạy Chúa, được ở đây thì tốt lắm". Và rồi chúng ta sẽ có can đảm phục vụ người trong cuộc sống bình thường mọi ngày đời ta.


Noel Quession - Chú Giải

 

Mt 17,1-9


Mỗi năm, ngay sau chuyện kể về cơn cám dỗ của Đức Giêsu, Chúa nhật thứ hai MC cho chúng ta suy niệm về câu truyện Người biến hình.

Chúa nhật trước, chúng ta đã ngắm xem Ngài khước từ, không lợi dụng thiên tính của mình, Người khiêm tốn và dè dặt, và khi Người đói. Người bị cám dỗ như một người thường.

Hôm nay, chúng ta nhìn ngắm sự vinh quang ẩn dấu của Người, thiên tính của Người.

Ba sách Tin Mừng nhất lãm phù hợp nhau khi đặt đoạn này vào khúc quanh tác vụ của Đức Giêsu. Ban đầu nhiều đám đông đã theo Đức Giêsu nhưng lại hoàn toàn lầm lẫn về Người. Việc nhân bánh hóa nhiều. Với nỗ lực của họ muốn biến người làm vua, đã đưa sự hiểu lầm ra ánh sáng : Thực sự Đức Giêsu đã thất bại! Người đã không thành công khi muốn đưa được đám đông đến đức tin chân thật, đồng thời tất cả "tầng lớp trí thức" tôn giáo thời Người lại khước từ Người nhân danh chính giáo lý tốt đẹp truyền thống : các kinh sư và tư tế không ngừng gương cao bẫy chơi Người và cáo giác Người là phá hủy tôn giáo (Mt 12,2 - 12,14 - 12,24 – 12,38 - 15,2 -16,1- 16,6). Nhận thấy sự thất bại về chương trình giảng dạy giáo lý của mình. Đức Giêsu từ nay tập trung vào việc đào tạo các môn đệ của Người với nhóm Mười Hai nhỏ bé, như Người loan báo thử thách lớn lao sẽ xảy đến. Người đã xa lánh miền Palettin

Ơ đó tình hình từ nay đã trở nên nguy hiểm, người chạy sang tị nạn ở bên Li-băng, về phía miền Xê-da-rê Philip. Ở đó cách biệt khỏi đám đông và các kinh sư, người đã thúc đẩy Phêrô tuyên xứng đức tin... rồi lập tức Người nói : Tôi phải sang Giêrusalem... chịu nhiều đau khổ từ phía các trưởng lão, các thượng tê và các kinh sư, bị xử tử, và ngày thứ ba sống lại" (Mt 16,21). Phêrô, cũng lại ông, muốn cám dỗ Đức Giêsu khước từ cái viễn ảnh chết chóc kia. Khi đó Đức Giêsu la mắng ông và hứa rằng kinh quang sẽ đến, thực sự, nhưng sau khi chịu khổ hình thập giá : "Bởi vì Con Người sẽ đến với thiên thần của Người trong vinh quang của Con Người ..." (Mt 16,27-28). Chính trong bối cảnh thê thảm này mà cảnh tượng chúng ta sắp đọc, xảy đến.

Sáu ngày sau. Đức Giêsu đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông Giacôbê đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao.

Tôi thích tưởng tượng ra cái cảnh tượng này một cách cụ thể : một lối quanh co trên một con đường núi. Cả bốn núi, họ đều đi chậm rãi. Không gian cứ lớn dần. Không khí trở nên tươi tắn và mát mẻ Đồng bằng xa xa dưới thấp kia, các đám dông còn xa. ôi, chốn cô liêu hạnh phúc biết bao trên các đỉnh cao ! Người ta chỉ gặp được Thiên Chúa trong chốn thing lặng. Phải chăng tôi đã dành ra những thời gian để sống cô liêu, trong MC này ?

Nhưng chúng ta cũng biết rằng núi là một chủ đề Mát-thêu ưu thích. Núi cám dỗ (Mt 4,8), Núi hạnh phúc và Luật mới (Mt 5.1), Núi bánh được chia sẻ (Mt 15,29), Núi Biệt ly của Đấng Phục sinh (Mt 18,16). Ở đây việc Thiên Chúa hiển linh ở núi Siani được tái hiện trên Núi biến hình ; nhưng đó không phải là núi Siani ở Giêrusalem, nơi đón nhận vinh quang của Thiên Chúa mà các ngôn sứ đã loan báo (Is 2,2 ; Tv 2,6) ; chính một ngọn núi nhỏ bé ớ Ga-li-lê của nhiều dân nước sẽ là chứng nhân của vinh quang của anh thợ mộc hèn mọn ở Na-da-rét, xa những vẻ tráng lệ của Đền Thờ.
Thiên Chúa chỉ tự cho thấy mình ẩn giấu. Thiên Chúa khước từ các danh vọng, các nghi thức, các trình diễn sân khấu : Đền Thờ do bàn tay con người làm sẽ bị phá hủy (Mt 24,1-3 ; 26,61). Còn tôi, tôi sẽ đi gặp Thiên Chúa ở đâu ?

Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng.

Mát-thêu, hơn hai tác giả Tin Mừng kia, nói về ánh sáng. Cũng như thế, Mô sê, tại Sinai, đã tiếp nhận tia sáng phản chiếu của vinh quang Thiên Chúa, và da mặt người tỏa sáng (Xh 34,29-35). Cũng như thế, Con Người (Đn 7,9) được mô tả bằng những hình ảnh có tính khải huyền : tia sáng, màu trắng. ánh sáng, lửa…Động từ Hy Lạp được Mát-thêu sử dụng ở đây, "metamorphoun". có nghĩa chữ là "biến dạng" : đó là một sự biến hình sâu xa hơn là chỉ biến hình cái mặt mà thôi. Đức Giêsu hiện ra với một hình thái khác. Và người ta nhớ đến đoạn văn nổi tiếng mà Phaolô tả cho chúng ta một tác động trái ngược : "Ngài khi ấy ở trong hình dạng Thiên Chúa,... đã lấy hình dạng con người đầy tớ... (Pl 2,6-7). Nhưng làm thế nào nói được những thực tại không thể nói được này ? Thế thì càng phải dùng thật nhiều hình ảnh về ánh sáng. Tôi dành thời gian để chiêm ngắm.

Và bỗng các ông thấy ông Môsê vâ ông Elia hiện ra đàm đạo với Người.

Từ muôn thuở, người đã lưu ý rằng ba môn đệ đã được đặc ân về mạc khải siêu nhiên này lại chính là ba người sẽ phải đụng chạm gần gũi nhất với "hủy dạng" của Đức Giêsu khi Người hấp hối tại Ghết-sê-ma-ni (Mt 26,37). Đức Giêsu như thế đã cho họ trước một kinh nghiệm về sự vinh quang sẽ đến của Người, để cố ngừa cho họ khỏi bị cái gương mù về sự hạ mình của Người.

Bấy giờ ông Phêrô thưa với Đức Giêsu rằng : lạy Ngài chúng con ở đây thật là hay ! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Môsê một cho ông Elia.

Phêrô, là người mà quyền ưu tiên của ông vừa được nhìn nhận, sáu ngày trước, sau khi tuyên xưng đức tin của mình , lên tiếng và nói "tôi". Đầy quả quyết, hăng hái, quảng đại ông đã nhìn nhận Đấng Mê-si-a được chờ đợt qua hai nhân vật chủ chốt của Kinh Thánh đi theo Người : Môsê và Elia: luậu pháp và các Ngôn sứ… Môsê là người đã khởi dẫn dân Chúa trong sa mạc trên núi Sinai, và Elia, người phải trở về để mở đầu giữa đoạn chấm dứt các Thời đại như người tiên báo Đấng Mê-si-a (Mt 17,10-13).

Hoàn toàn vui mừng về sự khám phá của mình, Phêrô có lẽ muốn ngưng lại cái khoảnh khắc hạnh phúc này và có thể nói là cố định lại nó trong cái phút hạnh Phúc và vinh quang này : "Tôi sẽ dựng nhiều liều...". Chúng ta cũng thế, nếu chúng ta có thể bắt được bạnh phúc và cố định nó lại !

Ong còn đang nói, chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông.

Đám mây này, biểu tượng của sự hiện diện Thiên Chúa (Tv 18,12 ; Xh 40,34-35 ; 1 V 8,10-12), cắt ngang lời nói của Phêrô. Không phải Phêrô sẽ xây một ngôi nhà cho Thiên Chúa. Mà là chính Thiên Chúa đến xây nhà của Người, đám mây. Có lẽ chúng ta ngạc nhiên về sự liên kết kỳ lạ này một đám mây sáng ngời lại tạo ra bỗng che. Chúng ta ở đó thêm một lần nữa, động trước một ngôn từ biểu tượng qua đó luận chứng minh rằng chúng ta không thể nào hiểu những từ này như thể chúng chỉ mô tả một thật cảnh tượng. Động từ "lấy bóng mình bao phủ bằng tiếng Hy Lạp "Episkiazô", chỉ xuất hiện hai lần trong toàn bộ Tân ước ; ở đây và vào ngày lễ Truyền Tin, khi Thánh Thần lấy bóng mình bao phủ Maria (Lc 1,35). Theo các nhà chú giải từ này ám chỉ đến một trong các từ Do Thái nổi tiếng nhất "shékinah", nghĩa là nhà ở", Hiện Diện của Thiên Chúa.

Và có tiếng từ đám mây phán rằng : "Đây là con yêu dấu Ta. Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người !".

Cái từ nhà, bề ngoài có vẻ không quan trọng. "Này đây chính nó cũng mang đầy ý nghĩa. Trong chuyện kể nó được lặp lại ba lần : "này đây một sự hiện ra... này đây một đám mây... này đây một tiếng nói... ". Trong Kinh Thánh, đó là dấu chỉ có một sự can thiệp siêu hình được áp đặt. Này đây? Chính ở đó ! Chính là thế đấy ! Chúng ta ở đó chẳng để làm gì cả.

Tiếng của Thiên Chúa này lặp lại sự mạc khải về phép Rửa của Đức Giêeu : Đức Giêsu còn "hơn" cả một người, Người là Con Độc Nhất và Yêu Dấu. Nhưng điều đã được nói, trong sự thân tín, đối với một mình Đức Giêsu, Người khởi đầu tác vụ của Người ... bây giờ được nói lại cho các môn đệ với một hậu quả đi theo.

Lạy Chúa, trong thời gian đặc ân của MC nà, xin giúp chúng con sẵn sàng nghe tiếng Chúa, với cái nghiêm túc mà chúng con đôi khi biết sống nó là nghe một số những sứ điệp quan trọng cho chúng con.

Nghe vậy các môn đệ kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống. Bấy giờ Đức Giêsu lại gần chạm vào các ông và bảo : Trỗi dậy đi, đừng sợ.

Trong khi gục mặt xuống đất bãi lạy (từ ưa thích của Mát-thêu). các môn đệ nhận ra rằng họ đang ở trước một sự hiển hiện của Thiên Chúa : phản xạ tôn giáo của con người ở trước mặt thực thể linh thánh ! Thờ phượng ! Tôi có biết thờ phượng không ? Đó là hành vi tối thượng của con người. Sống, Yêu, Thờ Phượng. Con người không được tạo dựng để thu mình lại với chính mình trong một thứ tự huỷ. Con người được tạo dựng để mở ra cho người khác bằng tình yêu. Và sự hoàn thành của nó được thực hiện khi nó mở ra cho Đấng Tha Thể bằng thờ phượng. Và điều đó luôn luôn mang hình thực một thứ hư vô hóa chính mình : phải chết trước khi được sống... Phải chết cho chính mình đã, để yêu mến Tha Thứ Nhưng nếu con người tự hư vô hóa, mặt cúi xuống đất để tới gần Thiên Chúa, thì chúng ta thấy Đức Giêsu tới gần, đụng chạm, vực các bạn hữu của Người dậy. Những cử chỉ yêu thương. Những cử chỉ cùng quyền năng Thiên Chúa mà chúng ta lát nữa sẽ thấy ý nghĩa biểu tượng.

Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa chỉ còn một mình Đức Giêsu mà thôi. Đang khi thầy trò từ trên núi xuống, Đức Giêsu truyền cho các ông rằng : đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy".

sách kinh lễ không dám dùng từ chính xác. Bởi vì, một cách có chủ ý, Mát-thêu đã sử dụng cùng một từ Hy Lạp "Egeirein", "vực dậy", để nói rằng Đức Giêsu đỡ các bạn hữu mình dậy và làm cho sống lại. Nếu Thiên Chúa nói và đám mây, thì đó không phải để đè bẹp con người, như chết, dưới đất... mà để làm cho con người sống lại. Nhưng trong khi chờ đợi, Phêrô và các bạn hữu của ông phải xuống núi lại. Và họ sẽ phải, nếu họ muốn, biến hình kiểu thường ngày. Phêrô sẽ sống những ngày đều đều, những ngày cực khổ, những thất bại và những bách hại. "Nhưng, suốt đời, ông sẽ nhớ lại cái khoảnh khắc thoáng qua này, ở đó ông nghe thấy tiếng gọi này đến từ trời, từ trên núi thánh (2 Pr 1,16-18). Mỗi một lần thể hiện nhiệm tích Thánh Thể là một trạm dừng lại để được tưới mát trên núi với Đức Giêsu. Nhưng phải đi lại, vươn tới những nhiệm vụ của chúng ta, với kỷ niệm...


Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

 

" Mặt Người chiếu sáng như mặt trời"

Mt 17, 1 - 9


Câu chuyện Chúa Giêsu biến hình đã được Tin Mừng nhất lãm tường thuật theo một tài liệu duy nhất . Vì thế xin xem lại bài chú giải Tin Mừng chúa nhật II Mùa chay năm B ( Mc 9, 1 - 9 ) và Năm A ( Lc9, 28 - 36 ) . Ơ đây xin để thêm một vài chi tiết theo Tin Mừng của Mátthêô .

1 ) Theo cách trình bầy ở đây, Mátthêo muốn nói lên rằng Đức Giêsu biến hình là Maisen mới ( Mt4, 1 ), gặp Thiên Chúa trên núi Sinai mới giữa đám mây ( Xh 24, 15 - 18 ) diện mạo sáng ngời ( Xh 34, 29 - 35 ; 2Cor 3, 7 . 4, 6 ) bên cạnh có hai nhân vật Cựu ước là Maisen và Êlia . Hai nhân vật này đã được ơn mạc khải trên núi Sinai ( Xh 19, 33 - 34 ; 1V 19, 9 - 13 ) hai nhân vật hiện thân của lề luật và các Tiên tri mà Đức Giêsu đến để làm cho hoàn tất . ( Mt15, 17 ) .

Maisen lên núi Sinai để lãnh sứ mệnh dẫn dắt dân Israel về hứa địa thế nào, thì Đức Giêsu, là Maisen mới, trong cuộc biến hình này, là Sinai mới, đã tỏ mình ra cho các môn đệ tin vào Ngài là đấng dẫn dắt bằng công trình cứu chuộc, dân mới là Giáo Hội về đất hứa mới là nước trời như vậy .

2 ) " Người biến hình trước mặt các ông" :

+ Mạtthêô cùng chung một kiểu nói này, nhưng Luca lại nói : " Diện mạo Người biến đổi khác thường" . Tuy cách diễn tả khác nhau nhưng cùng chung một ý nghĩa là Chúa Giêsu tỏ bầy thiên tính vinh quang của Ngài .

+ Ngày xưa, sau khi đàm đạo với Giêsu, khuôn mặt Maisen vẫn phản chiếu ánh sáng, đến nỗi dân chúng sợ không dám tiến lại với ông ( Xh 34, 29 ) .
+ Sau này, những kẻ được tuyển chọn cũng sẽ được sáng chói, kẻ sĩ sẽ được sáng chói như ánh quang vòm trời và những kẻ đã giảng dạy sự công chính cho nhiều người sẽ như tinh sao muôn đời muôn kiếp ( Đn 12, 3 ) .

+ Hình ảnh sáng chói của Đức Giêsu cho thấy một đàng Đức Giêsu từ bỏ vinh quang thiên tính của Ngài, đàng khác cũng nói lên những kẻ được tuyển chọn cũng sẽ được thông phần vào vinh quang này .

3 ) " Mặt Người sáng chói như mặt trời" :

Đây là kiểu nói riêng của Mátthêô :

+ Kiểu nói của Thánh Kinh : ánh sáng chói lọi tượng trưng những thực tại thiên quốc ( Đn 7, 9 ; Mt28, 3 ; Cv 9, 3 ) và những thực tại cách chung ( Khác 1, 13 - 14 . 4, 4 ) .

+ Mặt trời : theo Tv 72, 5 được ví với vua cả ngự đến .

+ Ơ đây diễn tả việc Chúa Giêsu tỏ bày vinh quang thiên tính của Ngài .

4 ) " Nếu Chúa muốn chúng con xin làm ba lều" :

+ Mátthêo muốn nói lên việc mà cả ba môn đệ đang được hiển kiến vinh quang Chúa biến hình đây là do Chúa ban, vậy việc kéo dài sự hưởng kiến này cũng bởi Chúa . Vì thế Phêrô mới thốt lên tâm tình này là : " Nếu Chúa muốn chúng con xin làm bà lều" .

+ " Lều" theo truyền thống Do thái thiên đàng được tượng trưng bằng " Lều vĩnh cửu" hay " Nhà tạm đời đời " ( Lc16, 9 ) truyền thống Do thái cũng tin rằng vào thời cuối cùng, Thiên Chúa sẽ ngự giữa dân người trong lều vinh quang ( Ed 37, 27 ; Ds 12, 10 ) . Có lẽ Phêrô nghĩ rằng lúc Chúa Giêsu biến hình chính là thời cuối cùng, nghĩa là lúc khai mạc thiên đàng ngay trên mặt đất . Ông muốn làm lều để hưởng hạnh phúc cánh chung .
Qua ý nghĩa chúng ta mới thấy thấm thía nghe được thánh Augustinô nói " Tôi thao thức cho đến khgi được nghỉ yên trong Chúa " . Chính niềm tin tưởng và hy vọng được hưởng kiến vinh quang Thiên Chúa, sẽ đánh động, khơi dậy và thúc đẩy ta nỗ lực kiên trình trong việc hoàn thiện đời sống để nên thánh mỗi ngày .

5 ) " Đám mây sáng bao phủ" :

Trong khi Phêrô xin được làm lều thì Chúa trả lời bằng cách cho một đám mây sáng bao phủ .

Cũng như trên núi Sinai ( Xh 19, 16 . 24, 25 - 16 ) trong lều hội họp ( Xh 40, 34 - 35 ) và trong đền thờ ( 1V8, 10 - 12 ) đám mây là dấu chỉ sự hiển linh ( 2V2, 7 - 8 ) . Vì vậy trong Cựu ước, khi tiếp xúc với dân chúng, Thiên Chúa đã dùng đám mây .

6 ) " Đây là Con Ta yêu dấu rất đẹp lòng Ta ..." :

Lời thần linh này từ trời phán ra nhắc lại lời Chúa Cha phán khi Đức Giêsu chịu phép rửa ( Mt3, 17 ) nhưng ở đây còn thêm một mệnh lệnh cho các môn đệ " hãy nghe lời Người" . Lời này mạc khải ba khía cạnh của Đức Giêsu : Con Thiên Chúa, tôi tớ được Thiên Chúa sủng ái, Ngôn sứ tuyệt hảo .

a/ Con Thiên Chúa có nghĩa là " Con duy nhất" thành ngữ này không những chỉ Đấng thiên sai, Đấng được tuyển chọn, nhưng còn chỉ Chúa Con tiền hữu ( Tv 2, 7 ) . Tước hiệu này được Thiên Chúa Cha tuyên bố trong biến cố phép rửa và trong cuộc biến hình này .

b/ Tôi tớ Thiên Chúa : Mátthêô gợi lại cuộc thần hiện xảy ra lúc Chúa Giêsu chịu phép rửa và cho thấy Thiên Chúa muốn giới thiệu Đức Giêsu như là người tôi tớ mà Isaia đã loan báo : " Này đây Tôi tớ của Ta, kẻ Ta nâng dỡ, tuyển nhân của Ta và Ta luôn sủng mộ" ( Is42, 1 ) .

c/ Ngôn sứ tuyệt hảo : " Hãy nghe lời Người đã làm nổi bật khía cạnh này" ( Đnl 18, 15 ; Cv 3, 22 ) .

Trong diễn từ cho dân chúng tại Giêrusalem, Phêrô cho thấy khi phục sinh Chúa Giêsu, Thiên Chúa đã bày tỏ Đức Giêsu như một Maisen mới, như vị Ngôn sứ thiên hạ đợi trông trong thời cánh chung ( Cv 7, 37 ; Ga 6, 14 . 7, 40 ) .

Trong biến cố biến hình này, Thiên Chúa Cha đã bày tỏ Đức Giêsu cho các môn đệ rằng hôm nay quả thực Người là vị Ngôn sứ tuyệt hảo và phải nghe lời Người " Nếu không sẽ bị loại ra khỏi lòng dân tộc" ( Cv 3, 23 ; Lv 23, 29 ) vì ơn cứu độ cũng như sự sống vĩnh cửu đều tuỳ thuộc vào Người .

7 ) " Nghe thấy vậy các môn đệ ngã xấp xuống và hết sức sợ hãi" :

Theo truyền thống Thánh Kinh mà không ai nhìn thất Thiên Chúa mà khỏi chết ( Xh 19, 21 ) . Xưa, khi Isaia đã tiếp xúc với Thiên Chúa đã sợ phải chết ( Is6, 5 ) thì nay cũng vậy các môn đệ sợ phải chết vì được thấy vinh quang của Chúa Giêsu .

8 ) " Bấy giờ Chúa Giêsu đến gần động đến các ông" :

Đức Giêsu đã thực hiện một cuộc phục sinh tượng trưng : Người đến gần động đến các ông và bảo : " Các con hãy đứng dậy đừng sợ" và cử chỉ chữa bệnh đã từng " Phục sinh " con gái ông Giairô ( Mt9, 25 ) thế nào thì giờ đây các môn đệ cũng được phục sinh như vậy .

9 ) " Các con không được nói với ai ..." :

- Lời dặn dò giữ kín điều mạc khải là một đề tài cổ điển trong văn chương khải huyền ( Đnl 12, 4 - 9 ) rồi Tin Mừng nhất là Máccô, nhắc lại viễn cảnh " Điều bí mật về Đấng thiên sai " ( Mt8, 4 . 30 . 12, 16 . 16, 20 ; Mc 13 - 32 . 34, 1, 44 . 8, 30 ) .

- Chắc hẳn Đức Giêsu ban lệnh này cho các môn đệ là để tránh mọi xáo động có tính cách chính trị trong dân chúng, vì họ đang ngưỡng vọng một Đấng thiên sai sẽ giải phóng họ về mặt chính trị, chỉ sau khi Chúa sống lại thì quan niệm sai lầm của dân chúng mới được sửa sai .

10 ) " Mấy áp dụng thực hành" :

a/ Qua kinh nghiệm của các tông đồ được chứng kiến việc Chúa biến hình, chúng ta thỉnh thoảng cũng được cảm nghiệm sự hiện diện của Chúa cách sâu xa trong cuộc đời của mình, để nâng đỡ chúng ta khi gặp hy sinh hay thử thách .

b/ Chúa Giêsu đưa ba môn đệ lên núi trong biến cố biến hình để chuẩn bị cho các ông trong biến cố tử nạn của Ngài . Tin tưởng vào niền vui phục sinh và vào phần thưởng vinh quang Nước trời là động lực mạnh mẽ giúp chúng ta chịu đựng và kiên nhẫn trong mọi sự .

c/ Chúa Giêsu đưa các môn đệ tới chỗ riêng biệt trên núi cao để các ông được chứng kiến vinh quang của ngài . Chúng ta chỉ có thể cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa khi chúng ta biết đến những chỗ riêng biệt trong thinh lặng nội tâm để cầu nguyện và suy niệm ...

d/ " Hãy nghe lời Người " : mỗi ngày bạn có nghe bằng cách thiện chí tiếp xúc Lời Chúa để rồi thực hành trong đời sống không ? Hãy nghiêm khắc kiểm điểm bản thân mỗi ngày .

e/ Nguyện gẫm mỗi ngày mà bạn chưa cảm nghiệm được sự hạnh phúc của việc nguyện gẫm thì quả thực bạn chưa nghiệm gẫm .

Bạn hãy tập luyện và cầu nguyện cho mình được tinh thần sống và làm những công việc đạo đức hàng ngày như một vinh dự và hạnh phúc của đời sống vì qua đó chúng ta được tiếp xúc với Thiên Chúa là Cha của chúng ta .


Lm Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc - Bài Giảng Lễ

 

Dõi theo bước Chúa

St 12,1-4 ; 2Tm1,8b-10, Mt 17,1-9


Người ta kể rằng năm ấy dù mới lên mười tuổi, cậu Chai-san đã được bố cho đi theo trong một đoàn lữ hành phải vượt cao nguyên trùng điệp với những đỉnh đồi, những ngọn núi vừa hùng vĩ vừa thơ mộng. Đêm đến đoàn lữ hành trú ngụ trong những chiếc lều vải thô sơ. Một đêm nọ cậu bé Chai-san cảm thấy có một sức mạnh từ bên trong thúc đẩy cậu trốn ra khỏi lều. Và kìa, giữa miền núi cao, bầu trời đầy trăng sao lấp lánh như bao trùm lấy cậu. Một cảm giác hạnh phúc nhẹ nhàng xâm chiếm tâm hồn Chai-san. Cậu có cảm tưởng như cả vũ trụ xinh đẹp này đã được tạo dựng để ban tặng cho cậu, và nó đang nâng tâm hồn cậu lên với Đấng Tạo Hóa. 

Bỗng chốc bầu khí yên tĩnh và an bình bị xáo trộn vì tiếng gọi của người cha : "Chai-san, mày trốn đi đâu rồi ? trở vào lều đi ! ". Chai- san miễn cưỡng trở vào lều và tiếc nuối nói với cha : "Bố ơi, bầu trời trăng sao đẹp quá chừng !".

Thưa anh chị em,

Trong truyền thống Thánh Kinh cũng như trong hầu hết các tôn giáo, núi cao thường được xem như là nơi gặp gỡ giữa trời và đất, giữa Thần linh và con người. Những mạc khải quan trọng trong Kinh Thánh đều diễn ra trên núi cao. Môsê đã được kêu mời lên núi Sinai để gặp gỡ Yavê Thiên Chúa và đón nhận lề luật cho Dân Chúa. Êlia đã ròng rã 40 đêm ngày lên núi Horeb để gặp Chúa. Êlisê cũng lên núi Carmel để gặp Chúa. Và Chúa Giêsu cũng khởi sự đời công khai bằng 40 đêm ngày chay tịnh trên núi cao, rồi trong 3 năm sứ vụ, Ngài vẫn thường lặng lẽ một mình lên núi để cầu nguyện cùng Cha Ngài.

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã đưa ba môn đệ thân tín nhất lên núi Thabor để tỏ vinh quang của Ngài cho các ông. Từ trên núi cao, Phêrô, Giacôbê, Gioan đã nhận ra được con người và sứ mệnh của Chúa Giêsu. Từ trên đỉnh cao, các ông thấy vinh quang của Ngài như một lời hứa được thực hiện, như thành tựu của một sứ mệnh, như đích điểm của một con đường, con đường thập giá dẫn đến vinh quang.

Thế nhưng, thưa anh chị em, người ta không lên núi cao để ở lại đó, mà là để nhìn rõ hơn con đường phải đi. Đối với Chúa Giêsu, con đường phải đi đó chính là con đường lên Giêrusalem với cuộc tử nạn đang chờ đợi Ngài. Và Ngài đã xuống núi để giáp mặt với cuộc đời, để tiếp tục hành trình xuyên qua khổ nạn và cái chết thập giá. Từ trên núi cao, Chúa Giêsu cũng muốn đưa ba môn đệ thân tín của Ngài trở lại cuộc đời, trở lại với những thử thách, chống đối đang chờ đợi trước mắt các ông.

Thật vậy, cuộc tỏ vinh quang của Chúa Giêsu trên núi đã xảy ra sau khi Phêrô tuyên xưng : "Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống". Lời tuyên xưng này lại gắn liền với lời Chúa Giêsu loan báo cuộc Thương khó của Ngài và kèm theo lời mời gọi : "Anh em hãy bỏ mình, vác thập giá đi theo Thầy" (Mt 16,24). Vậy là đúng vào lúc các môn đệ đã nhận ra Chúa Giêsu là Đức Kitô, là Đấng Cứu Thế, thì trước mắt các ông hình ảnh một Đấng Cứu Thế oai hùng lẫm liệt theo các ông quan niệm, bắt đầu tan biến, để hiện ra một Đấng Cứu Thế đau khổ, bị đày đọa, bị khai trừ, bị giết chết. Hình ảnh đó thật là khó hiểu đối với các môn đệ, vì lòng tin của các ông còn mộc mạc, phàm tục. Cho nên, chẳng lạ gì, Phêrô đã lên tiếng khuyên can Chúa Giêsu đừng đi theo con đường đau khổ đó làm gì. Nhưng thật không may cho ông, vì Chúa Giêsu cứ khăng khăng một mực, lại còn quay sang mắng ông : "Satan, cút đi !" Vì ông đã tự đồng hóa với tên Satan cám dỗ Chúa trong sa mạc.

Rồi bây giờ thì lại cũng chính Phêrô đã dám đề nghị cắm lều ở lại trên núi Thabor, vì ở đây sướng quá, khỏi phải đi qua con đường đau khổ mà ông đã khuyên can Thầy. Nhưng rồi, mở mắt ra, ông thấy chỉ còn một mình Chúa Giêsu trên đỉnh núi. Ánh sáng rực rỡ đã tan biến. Và Chúa Giêsu còn đánh thức các ông dậy, giục các ông xuống núi, đi lên Giêrusalem với Ngài để chịu tử nạn như Thầy đã báo trước.

Chính trong giờ phút biến hình rực rỡ vừa rồi, ông Môsê và ngôn sứ Êlia đã đàm đạo với Chúa Giêsu về "cuộc ra đi" Ngài sắp hoàn thành tại Giêrusalem, và tiếng Chúa Cha phán : "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hết lòng qúi mến. Các ngươi hãy vâng nghe lời Ngài". Lời đó chính là để công nhận, để tán thành bước đường Vượt Qua đau thương của Chúa Giêsu, và mời gọi các môn đệ hãy đi theo Thầy. Vì thế, mấy Thầy trò lại xuống núi. Và Phêrô cũng như các môn đệ khác phải đi theo sau Thầy qua con đường khổ nạn Thập giá mới đến ánh sáng vinh quang Phục sinh.

Anh chị em thân mến,

Không phải không có lý do mà phụng vụ năm nào cũng đặt bài Tin Mừng Chúa Hiển Dung sáng láng hôm nay vào giữa Mùa Chay. Giáo Hội muốn đưa chúng ta lên núi, hé mở cho chúng ta chiêm ngưỡng một chút vinh quang Phục sinh của Chúa Giêsu, để chúng ta thêm tin tưởng vào Ngài, để chúng ta có những giây phút nghỉ ngơi lấy sức trước khi xuống núi, trở về với cuộc sống bình thản trên các nẻo đường phẳng lặng hay đầy sóng gió đưa đến núi Can-vê. Chúng ta cần được Chúa đến gần, đưa tay đập vào người như "đã đến gần, vỗ vào người các môn đệ", để thức tỉnh chúng ta, để chúng ta biết chuẩn bị sẵn sàng đón nhận mọi gian nan đau khổ trên đường đời.

Con đường Thương Khó của Chúa khởi đầu từ khi Ngài xuống núi. Rồi đây, Ngài cũng sẽ biến hình "không còn hình tượng người ta nữa", để dạy chúng ta biết phải đi qua con đường thập giá mới đến vinh quang khải hoàn sống lại. Trong ngôn ngữ La-tinh, người ta chơi chữ : "Per crucem ad lucem", nghĩa là "qua Thập giá đến ánh sáng". Qua thứ sáu Tử nạn mới đến Chúa nhật Phục Sinh. Đường Thánh Giá không dừng lại ở nấm mồ, nhưng mở ra trong niềm vui tưng bừng của Ngày sống lại. Đó là qui luật của muôn đời.

Thưa anh chị em,

Trong cuộc hành trình đức tin của chúng ta, cũng có những giây phút chúng ta được đưa lên núi cao để gặp Chúa, núi cao của Thánh lễ, núi cao của những giờ phút dành cho việc cầu nguyện. Nhưng chúng ta không lên núi để ở đó mãi, mà là để trở lại với cuộc đời với muôn thử thách, đắng cay, với những gặp gỡ từng ngày. Chấp nhận cuộc sống với tinh thần lạc quan, chấp nhận chiến đấu mà không buông xuôi bỏ cuộc, sống như thể là tiếp tục con đường Chúa Giêsu đã đi qua. Chấp nhận những người anh em chúng ta gặp gỡ trên đường đi, chấp nhận những khác biệt, những bất toàn của người anh em cùng đồng hành, sống như thể là dõi bước theo đường Chúa đã đi qua.

Xin Ánh sáng Phục sinh của Đức Kitô luôn dẫn bước chúng ta trên đường, để chúng ta biết đón nhận và sống trọn từng phút giây cuộc sống. Xin Ánh sáng Phục sinh của Đức Kitô chiếu dọi và hướng dẫn cuộc hành trình đức tin của chúng ta được tiếp tục trên dấu chân của Ngài.



Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng - Bài Giảng Lễ

 

LỜI KÊU GỌI CỦA THIÊN CHÚA


Là người Kitô hữu, chúng ta được Thiên Chúa mời gọi trở nên con yêu dấu của Ngài. Đó là toàn bộ đời sống đức tin của Kitô hữu, sống để nên con cái Chúa. Mỗi người qua Bí tích Rửa tội đã thực sự được biến đổi thành con cái Chúa. Do đó, đòi hỏi mỗi người phải biết sống theo những đòi hỏi của Tin mừng. Phải biết nghe lời Chúa Giêsu để cùng Người sống vâng theo lời mời gọi của Chúa Cha.

I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

1. Bài đọc I : St 12,1-4a 


Ơn gọi của Abraham

Bản văn trình bày về ơn gọi của Abraham, tổ phụ của dân Do Thái. Ông hoàn toàn tin tưởng, phó thác và hoàn toàn vâng lời Thiên Chúa. Thật hữu lý khi gọi ông là Cha những người tin.

a. Nhờ Abraham, nhờ hậu duệ của ông mà niềm tin độc thần, tin Một Thiên Chúa duy nhất được giữ vững nơi dân Do Thái. Chính từ nơi dòng dõi của ông sinh ra Đấng Messia Cứu Thế.

b. Để thực hiện trọn vẹn theo ý Chúa, Abraham đã phải đối đầu với rất nhiều khó khăn thử thách và đón nhận nhiều sự hy sinh, đặc biệt là từ bỏ gia đình, quê hương xứ sở, từ bỏ những giá trị bảo đảm cho cuộc sống.

c. Trong mùa Chay khi tuyên đọc đoạn sách thánh này, Hội thánh muốn mời gọi mọi Kitô hữu hãy biết can đảm từ bỏ mọi sự để hoàn toàn tin tưởng, phó thác và đáp trả lời mời gọi của Chúa. Niềm tin có đủ mạnh, đức cậy có đủ vững để đón nhận những hy sinh theo Chúa hay không ?

2. Bài đọc II : 2Tm 1,8-10

Ơn gọi của Kitô hữu

Vào cuối cuộc đời của mình, Thánh Phaolô đã dành thời gian để giáo huấn Timôthê, môn đệ của ngài. Phải can đảm đáp trả ơn gọi mà Thiên Chúa đã mời gọi mình để lên đường loan báo Tin mừng.

a. Thánh Phaolô bị giam tại Rôma, phải từ bỏ mọi công việc, Ngài đã viết thư cho người môn đệ yêu dấu là Timôthê để kêu gọi ông trở thành chứng nhân đích thực của Đức Kitô. Ơn gọi này không phải do công lao của con người nhưng đó là do dự định và ân sủng Thiên Chúa ban từ trước muôn đời trong Đức Kitô.

b. Cần phải biết cộng tác với nhau, đồng lao cọng khổ với nhau để thi hành sứ mạng vì Tin mừng. Chính Chúa Giêsu Kitô đã dùng Tin mừng tiêu diệt sự chết và chiếu soi sự sống .

c. Mỗi người đều được Thiên Chúa mời gọi tham gia vào công trình cứu độ của Ngài. Ngài đã dự định từ trước về ơn gọi của mỗi người.

3. Tin mừng : Mt 17,1-9

Cuộc Biến hình mạc khải ơn gọi của Chúa Giêsu Kitô

Theo phần lớn ý kiến của các nhà chú giải Kinh thánh thì điều quan trọng nhất của bản văn trình thuật sự kiện Chúa Giêsu biến hình chính là tiếng Chúa Cha từ trời phán. Tiếng từ trời mạc khải cho biết về con người, ơn gọi của chính Chúa Giêsu.

a. Chúa Giêsu là Con yêu dấu của Thiên Chúa : Thành ngữ con yêu dấu có nghĩa là con duy nhất. Với các nhà biên soạn Tin mừng thì thành ngữ này không những chỉ về Đấng Messia, Đấng được tuyển chọn mà con nói lên sự tiền hữu của Chúa Giêsu.

b. Chúa Giêsu là Tôi Tớ của Thiên Chúa : Thiên Chúa hài lòng về người Con yêu dấu của mình : rất đẹp lòng Người. Lời từ Trời gọi Chúa Giêsu là người được tuyển chọn, được sủng ái, nhắc nhớ chúng ta đến sấm ngôn của Isaia 42,1-4, ca khúc về người tôi trung của Thiên Chúa : "Đây là người tôi trung Ta nâng đỡ. Là người Ta tuyển chọn và quí mến hết lòng..."

c. Chúa Giêsu là một Tiên Tri : "Hãy nghe lời Người" mệnh lệnh này làm nổi bật vai trò sứ mạng của Chúa Giêsu hơn so với tiếng từ Trời phán trong giai thoại Chúa Giêsu chịu phép rửa. Mệnh lệnh này ám chỉ đến Đnl 18,15 : từ giữa các ngươi, Chúa sẽ cho chỗi dậy một vị Tiên tri, các ngươi sẽ nghe Người trong tất cả mọi điều Người phán".

II. GỢI Ý BÀI GIẢNG

1. Chúa Giêsu biến hình, lời giới thiệu về Người : 

Trước khi nhận thấy vinh quang phục sinh của Chúa Giêsu, các môn đệ vẫn còn mơ hồ về Người, chưa biết rõ về Người. Các ông có lẽ cũng như bao nhiêu người Do Thái khác đang mơ ước một Đấng Thiên Sai theo nghĩa chính trị. Do đó, khi đi theo Chúa và nhất là khi nghe loan báo về cuộc tử nạn của Người ở Giêrusalem thì các ông khủng hoảng, chao đảo. Các ông, mà đại diện là Phêrô đã lên tiếng can ngăn Người. Trong biến cố Chúa Giêsu biến hình, Êlia, Môisen đã hiện ra đàm đạo với Chúa và đặc biệt lời Chúa Cha xác nhận đây là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta, hãy nghe lời Người cho các môn đệ hiểu biết về con người và công việc của Chúa Giêsu. Người là Con Thiên Chúa, được sai đến để thực thi những gì mà Cựu ước đã loan báo về Người. Qua đó, đã củng cố niềm tin cho các môn đe, giúp các ông hiểu và đón nhận cuộc tử nạn của Chúa.

Cùng với các môn đệ, Kitô hữu chúng ta cũng nhận biết hơn về con người và công việc của Chúa Giêsu. Sự hiểu biết này giúp chúng ta can đảm bước đi theo Người với thập giá trên vai. Niềm tin chúng ta sẽ được củng cố : qua thập giá sẽ đến vinh quang. Dù hiện tại là thập giá, là thương khó nhưng tương lai là vinh quang, là hạnh phúc.

2. Chúa Giêsu biến hình giữa đời thường : 

Trong cuộc sống hiện tại hằng ngày nhất là khi phải bưn chải với biết bao cực nhọc khó khăn ; trong đời sống đức tin khi phải đối diện với biết bao cám dỗ, con người dễ rơi vào tình trạng bi quan, thất vọng, chán nản lo âu. Chính khi ấy, chúng ta phải biết gặp gỡ, khám phá ra sự hiện diện, sự biến hình của Chúa Giêsu trong cuộc đời. Phải thấy được Chúa Giêsu của ngày hôm nay. Người vẫn hiện diện nơi Lời của Người, nơi Bí tích Thánh thể và nơi anh chị em chung quanh. Lời Chúa trở nên sức mạnh cho người ta vươn lên, là sự biến hình của Chúa Giêsu trong hiện tại này ; từ bánh và rượu đã thành Mình Máu Thánh Chúa, là thần lương cho đời sống đức tin, là sự biến hình của Chúa trong lòng Giáo hội hôm nay ; những anh chị em bất hạnh đã vượt lên số phận để thành nhân, thành công ở đời chính là sự biến hình của Chúa Giêsu giữa đời thường.

Biết khám phá ra dung mạo của Chúa Giêsu giữa đời thường như thế sẽ giúp chúng ta củng cố niềm tin, tìm lại được niềm hy vọng và vui vẻ lên đường vác thập giá theo Chúa.

3. Từ cuộc biến hình của Chúa Giêsu đến hành trình nên thánh của Kitô hữu :

Nơi cuộc biến hình của Chúa Giêsu, Chúa Cha đã mạc khải cho mọi người biết Người là Con yêu dấu của Chúa Cha, là Người Tôi Trung của Giavê, là một vị Tiên tri. Qua cuộc biến hình đó, các môn đệ và mọi người sau này sẽ nhận ra từ nơi Giêsu Nagiarét có vẻ tầm thường lại là một vị Thiên Chúa. Tất nhiên không phải từ một con nguời Chúa Giêsu đã biến thành Thiên Chúa qua việc biến hình. Ở đây chỉ là sự tỏ lộ về chân tính đích thực của Người cho một số môn đệ được biết trước. Từ trong đau khổ, từ thập giá Người sẽ bước vào vinh quang của Thiên Chúa Cha nhờ cuộc phục sinh vinh hiển mà Chúa Cha ban cho Người. Từ cuộc biến hình của Chúa giúp cho chúng ta suy nghĩ về hành trình nên thánh của mỗi Kitô hữu. Với Bí tích Thánh tẩy, Kitô hữu cũng được trở nên con yêu dấu của Chúa Cha, được đồng thừa tự với Chúa Giêsu vinh quang, tình yêu và sự sống của Chúa Cha. Trong cuộc sống làm con cái Chúa, Kitô hữu phải biết nỗ lực để ngày càng trở nên giống Chúa Giêsu bằng sự tiến bộ trên hành trình nên thánh. Sự tiến bộ ấy chỉ có thể thành sự nếu biết vâng nghe theo Lời Chúa Giêsu. Qua hành trình nên thánh này, Kitô hữu cũng thực sự đi vào cuộc biến hình, biến đổi bản thân và thế giới mỗi ngày một tốt đẹp hơn ; mỗi ngày một phản ánh ngời sáng hơn vinh quang của Thiên Chúa là Cha.

Nhờ Bí tích Thánh tẩy, Kitô hữu đã được Chúa biến hình thành con cái Chúa. Thế nhưng, cuộc sống hằng ngày của mỗi người có thực sự là Con Chúa hay không lại tùy thuộc vào đời sống đức tin của mỗi người. Phải biết nghe Lời Chúa Giêsu người Con yêu dấu, để bản thân cũng được trở nên người con yêu dấu.

III. LỜI NGUYỆN TÍN HỮU

Mở đầu : Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu đưa các môn đệ lên núi biến hình trước mặt các ông để củng cố niềm tin cho các ông, để các ông biết Người là Con Thiên Chúa. Trong niềm tin tưởng, chúng ta cùng dâng lời cầu nguyện.

1. Giáo hội chính là Nhiệm thể của Chúa Giêsu. Chúng ta cùng cầu nguyện cho công cuộc canh tân của Giáo hội ngày càng phát triển để Giáo hội cũng như mọi thành phần của Giáo hội luôn phản ánh được tình yêu, sự hy sinh và vinh quang của Chúa Giêsu.

2. Ngày nay, biết bao nhiêu người đang sống trong nghèo đói, bất hạnh, tật nguyền. Chúng ta cùng cầu xin cho những anh chị em ấy có được ơn Chúa để biết nỗ lực vươn lên vượt qua số phận tìm kiếm được hạnh phúc trong cuộc sống.

3. Kitô hữu được mời gọi nên thánh là biết vác thập giá để theo Chúa Giêsu. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta trong mùa Chay thánh này biết nỗ lực hy sinh, thực thi bác ái, chia sẻ để bản thân ngày nên giống Chúa hơn và làm cho xã hội và con người hôm nay đón nhận được tình yêu của Chúa.

Lời kết : Lạy Thiên Chúa là Đấng Nhân Lành, chúng con đã được diễm phúc làm con cái Chúa nhờ Bí tích Thánh tẩy trong Chúa Giêsu, Con Một yêu dấu của Chúa. Xin ban ơn Thánh Thần biến đổi chúng con ngày càng trở nên những người con yêu dấu thực sự của Chúa như Chúa Giêsu Kitô, Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.

HTMV Khóa X - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn