Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật II Mùa Chay B

Tin mừng Mc 9: 2-10: Chúa Giêsu biến hình để củng cố niềm tin cho các Tông đồ và đồng thời để chuẩn bị cho các ông có thể đón nhận việc Chúa Giêsu chiụ đau khổ và chịu chết .

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT II MÙA CHAY B

St 22,1-2.9a.10-13.15-18 ; Rm 8,31b-34 ; Mc 9,2-10


Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải
 

ÁNH SÁNG VINH QUANG TRÊN

CON ĐƯỜNG ĐAU KHỔ (Mc 9,1-9)


CÂU HỎI GỢI Ý

1. Giai thoại Biến hình được liên kết với văn mạch gần bằng những câu nào?

2. Hãy thử phác họa cơ cấu của trình thuật theo một lược đồ không gian.

3. Trình thuật thuộc văn thể nào ? Đâu là các yếu tố riêng biệt của văn thể ấy?

4. Hãy nêu lên các ý tưởng chính của trình thuật. Các ý tưởng

này xoay quanh chỉ đề nào ?

5. Đâu là những lý do khiến ta tin rằng biến cố đã có thực ?

6. Có thể diễn tả biến cố biến hình với ngôn ngữ hiện đại được không ? Và như thế nào?

7. Trình thuật nào nói gì với con người thời đại hôm nay? Nó trả lời những khát vọng nào của con người?

Đây là một quang cảnh hùng vĩ nhưng cũng lạ lùng và bí nhiệm.

Lạ lùng bởi nhiều hình ảnh chồng chất lên nhau mà độc giả hiện thời không quen thuộc mấy, vì chúng chứa đựng nhiều điển tích Cựu ước như "núi", "lều", "mây" v.v. . .

Bí nhiệm, vì có xảy ra một điều đáng kinh ngạc liên quan đến con người Chúa Giêsu. Xem ra Người đột nhiên từ bỏ ý định rút lui vào bóng tối, không muốn ai nhắc tới nữa, để tỏ mình ra chói lọi vinh quang? Bí nhiệm vì các kẻ chứng kiến quang cảnh bảo mình vừa sung sướng vừa sợ hãi, và vì họ được lệnh không được hở môi cho ai biết. Sau cùng, bí mật được chuyển đạt mà đến phiên họ phải giữ kín là bí mật gì? Bản văn Mc ngăn hơn hai bản Nhất lãm còn lại. Không nói đến việc ra đi (xuất hành) như nơi Lc (9,31-32) cũng chẳng có vấn đề các sứ đồ chỗi dậy như nơi Mt (17,6-7). Vậy phải chăng thánh sử thứ hai chỉ có riêng chi tiết lạ tai "áo trắng tinh không thợ giặt trần gian nào giặt trắng được thư thế" (c.3) ?

Ta cũng có thể phê bình cách tổng quát hơn: trình thuật đã được lưu truyền sau phục sinh và xem ra chịu ảnh hưởng của kinh nghiệm về biến cố này. Xét cho cùng phải chăng nó đã được sáng tác hoàn toàn về sau, như một lời rao giảng có mục đích cho thấy Chúa Giêsu con người là hữu thế vinh quang mà Kitô hữu đều tin kính. Nếu không, trong trường hợp biến cố đã xảy ra thực, thì phải hình dung nó như thế nào ? Để trả lời những câu hỏi như vậy, cần tóm lại ý hướng của tác giả và sự sâu xa của bản văn ông.

1. VĂN MẠCH, CƠ CẤU VÀ VĂN THỂ CỦA TRÌNH THUẬT.

a- Giai thoại biến hình được liên kết với văn mạch gần bằng hai câu chuyển tiếp ( 1 và 9) tương ứng nhau, nói đến vấn đề biểu lộ vinh quang của Con Người.

Các trình thuật bao quanh chính giai thoại làm nổi bật ý nghĩa phải mặc cho nó. Thật vậy, nó được chèn vào giữa nhiều "lời loan báo tử nạn" (8,31-33; 9,30-32; 10,32-34), rồi lại còn nằm trong một phần (7,24-10,52) nơi Chúa Giêsu gia tăng dạy dỗ riêng cho các môn đồ, đôi lúc vơi dân chúng. Từ đầu sứ vụ, Người đã chẳng được thân thuộc đón nhận phải cách, vì thế đành phải chuyên tâm huấn luyện đặc biệt hơn cho nhóm nhỏ này. Mục đích của người là mở mắt cho họ thấy lai lịch của mình: "Ta là ai?" (8,27). Phêrô đã trả lời một cách đúng đắn: "là Chúa Kitô" (nghĩa là "Đấng Messia"). Nhưng ông liền bị quở trách vì chẳng cho tước hiệu này một nội dung thích hợp, tức là một Đấng Messia tỏ bày vinh quang qua cái chết. Chính "sáu ngày sau" (c.9) lời loan báo đầu tiên về Khổ nạn đó (8,30-33), xảy ra giai thoại Biến hình. Thành thử biến cố hẳn có mục đích xác định cho Phêrô và bạn bè ông rõ giáo huấn về lai lịch của Đấng Messia vinh quang qua đau khổ.

Giáo huấn này còn được làm nổi bật nhờ những huấn lệnh đi trước nói đến việc môn đồ phải bắt chước tôn sư, phải vác thập giá đi theo Con Người để đạt đến ơn rỗi (8,34-38). Còn trình thuật chữa lành đứa bé kinh phong tiếp theo sau thì nhấn nạnh đến việc Chúa Giêsu đương đầu với sự ác (9,14- 29). Sự tương cận này gợi nhớ sự tương cận giữa cảnh phép rửa vinh quang với cảnh cám dỗ tiếp liền sau đó. Rõ ràng là thánh sử muốn nói lên tương quan giữa vinh quang và cuộc chiến đấu với sự dữ vậy.

Cả một loạt chi tiết cho thấy mối liên hệ giữa đoạn này với toàn thể phần còn lại của Tin mừng Mc. Ba người đối thoại được tách riêng ra": Phêrô, Giacôbê và Gioan, cũng là chứng nhân đặc tuyển của hai cảnh khác: phục sinh con gái ông Giairô và cơn hấp hối của Chúa Giêsu tại vườn Cây dầu. Khi họ xuất hiện như vậy, luôn luôn là vì có một mặc khải quan trọng và bí mật liên quan đến con người Chúa Giêsu. Và trong ba cảnh này, đều có vấn đề tử nạn phục sinh.

Thành ngữ "ông không biết mình nói gì" gặp lại trong câu chuyện hai con ông Dêbêđê với vấn đề phải đi qua cái chết để được vinh hiển (10,38) là trong trình thuật Ghétsêmani lúc các sứ đồ chứng kiến những việc xảy ra cho Chúa Giêsu (14,40).

Lộ liễu hơn nghĩa là nhtĩng mối liên hệ giữa trình thuật biến hình với trình thuật phép rửa. Cả hai đều vén lên bức màn che khuất lai lịch Đức Messia. Con Người, Đấng mà bí mật không thể chọc thủng nếu chẳng dược một mặc khải nào đó. Tuy nhiên có sự tiến triển từ trình thuật trước sang trình thuật sau. Khi chịu phép rửa, Chúa Giêsu được giới thiệu như một hữu thể thuộc thiên giới: trời mở ra cho người. Thế nhưng Người là kẻ duy nhất (theo Mc) ý thực sự việc: chính người "thấy" là được "tiếng nói" ngỏ lời cho. Đây như thể là thực hiện trước sự mặc khải toàn vẹn sẽ bùng ra trong cuộc Khổ nạn hiển vinh. Trong cuộc biến hình, các yếu tố vưà nói cũng xuất hiện, nhưng việc "tiên thực hiện" này lại được nhấn mạnh hơn nữa: người ta (đề cập đến núi, áo trắng, nhân vật từ trời như trong biến cố phục sinh; sau cùng, Chúa Giêsu không còn là kẻ duy nhất biết được bí mật liên quan tới Người : nhiều chứng nhân được mời chia sẻ nó dù họ còn chưa hiểu.

Sau cùng, việc đặt lại giai thoại Biến hình trong văn mạch của nó đòi hỏi phải tìm xem nó nằm ở đâu trong toàn bộ Tin mừng Mc. Các nhà chú giải nhất trí cho rằng là ở khúc quanh quyết định nhất (chung cho cả ba Tin mừng Nhất lãm), đánh dấu bằng việc tuyên tín của Phêrô tại Xêdarê. Trong phần đầu, Mc đã trình bày Chúa Giêsu hành động với cách thức làm cho người ta phải đặt câu hỏi về mình. Cuộc tuyên tín của Phêrô, vốn sắp sửa gây nên giai thoại Biến hình một cách nào đó, khai mở cho phần t.hứ hai dẫn tới cuộc Tử nạn. Tước hiệu "Con Người" mà Mc rất ưa thích, sắp xuất hiện thường xuyên trong phần cuối này. Thế nhưng "Con Người" chẳng phải chỉ là một tước hiệu, đó còn là cái tên nói lên một Sứ mệnh.

Thành thử từ cuộc tuyên tín ở Xêdarê, Chúa Giêsu đã quyết định mặc khải hơn nữa sứ mệnh của Người: Người là Con Người sắp đem tới nước vinh quang thiên hạ chờ đợi, nhưng bằng cách chịu chết . . . Phép rửa và Biến hình vì thế xuất hiện như hai cảnh có cùng một chức năng. Lúc Chúa Giêsu khai mạc sứ vụ Người và đương đầu cách công khai với sự ác thì giai thoại phép rửa kéo lên một góc màn: bắt đầu sứ mệnh Chúa Giêsu, sứ mệnh được tôn vinh qua cái chết. Rồi Chúa Giêsu lăn mình vào sứ vụ, với quyền năng mà chẳng ai là không biết nguồn gốc nhưng chỉ bộc lộ cách ngẫu nhiên. Bây giờ ở Xêdarê, lúc Người sắp đương đầu với cuộc Khổ nạn và như thế hé mở bí mật bao trùm mình, thì Phêrô gán cho Người một tước hiệu nằm trong chiều hướng mặc khải đó. Chúa Giêsu liền lập tức nhấn mạnh câu nói được thốt ra và như thế càng tỏ mình hơn nữa. Thành thử độc giả Tin mừng hẳn biết cách rõ ràng: Chúa Giêsu mặc khải bản chất Người qua cuộc Khổ nạn hiển vinh (x. 14,39). Vì thế, cuộc Khổ nạn này càng gần đến, thì tự nhiên càng xác định Người là ai.

b. Các đường nét của cơ cấu bản văn hiện ra rõ rệt. Ta có thể biểu diễn chúng theo một lược đồ không gian: thấp, cao, thấp.

Đám mây một tiếng nói: c.7

Câu trả lời

PHẢN ỨNG CỦA CÁC CHỨNG NHÂN :

"CÁI GÌ ĐÓ" TỐT LẮM NHƯNG CHƯA ĐỦ

 

được bao quanh bởi Môisen và Elia,

2 nhân vật thân cận

tổng lược Cựu ước

soi sáng cho biết Người là ai (c.4)

cho Đức Giêsu

XẢY RA MỘT CÁC GÌ ĐÓ


Nhập đề Kết luận

"một ngọn núi cao" (c.2ab) "Trở lại bình thường"(c.8)

Chuyển tiếp: c.1 Chuyển tiếp với việc

xuống núi: cc.9-10

Một hình ảnh nổi bật lên trên cấu trúc của trình thuật: hình ảnh núi, mà lúc đầu người ta trèo lên rồi sau đấy đi xuống. Nhưng sự kiện giữa hai việc này đã "xảy ra một cái gì đó" cho thấy như thể có việc đi vào một thế giới xa lạ mà, hiện giờ, làm cho người ta sống một cách khác với trong thế giới mọi ngày.

Trong đoạn dành riêng cho thị kiến, dĩ nhiên là đoạn quan trọng nhất, rõ rệt hiện ra hai phần mà phần hai (III) ngắn hơn bởi chỉ có lời mặc khản về Chúa Giêsu. Trong phần một (II), chính Cựu ước soi sáng con người Chúa Giêsu; trong phần hai thì chính Thiên Chúa, bằng chứng cho thấy các kẻ can thiệp trước như Môisen và Elia đã không mặc khải đủ Người. Việc tiến từ phần một lên phần hai được thực hiện nhờ phản ứng của các chứng nhân. Trong trường hợp đầu, những kẻ này tìm được một điều gì để nói, nhưng sai lệch với thực tại, và trong trường hợp hai, họ nín câm, chẳng nói gì, dấu chứng tỏ họ hoàn toàn ngạc nhiên. Họ đã được một kinh nghiệm mà lúc trở lại cuộc sống thường ngày, họ ghi nhớ mãi nhưng chỉ hiểu về sau.

Để quán triệt tính cách che dấu rất được nhấn mạnh trong trình thuật này, phải đọc tiếp liền các nhận xét (cc 10.12b) vắng bóng nơi các thánh sử khác : hình như các nhận xét này là lời giải thích Mc đưa ta ctlo các độc giả của ông.

c. Cơ cấu của bản văn cũng cho thấy nó thuộc văn thể "thần hiện", có dấu vết vay mượn từ văn thể "khải huyền". Như trong các cuộc khải huyền, ở đây có một yếu tố nổi bật: lời mặc khải đến từ trời và dành riêng cho vài kẻ được biệt đãi, vì các cuộc khải huyền có tính cách là những thị kiến giúp người thụ hưởng đi sâu vào những bí mật thần linh. Như trong các cuộc Khải huyền, ở đây cũng xuất hiện nhiều biểu tượng: núi, lều, mây, sự trắng ngần của y phục, sự hiện diện của hai nhân vật để bảo đảm chân lý của bí mật được tỏ bày. Sở dĩ văn thể Khải huyền sử dụng các hình ả nh như thế, chính vì muốn đưa ta đến chỗ hiểu được thực tại, là là thực tại rất quan trọng của chung cục" lịch sử, một chung cục không hiểu theo nghĩa thời gian, nhưng là theo nghĩa "ý nghĩa sau cùng", bên kia các bề ngoài khả giác. Đây là một căn thể có thể gây ngạc nhiên hay lúng túng cho độc giả hiện thời, ít nhất khi Lc dùng trong văn chương, vì dầu sao nó cũng có những cái tương đương, đặc biệt trong nghệ thuật thứ bảy. Nhưng cần phải biết rằng việc sử dụng họ rất quan trọng đối với đức tin của những kẻ đương thời Chúa Kitô. Người ta thấy được những nguồn gốc đầu tiên của văn thể này trong sách Edêkien (9,2-11 ), Isaia (24-26; 34-35; 64-66), Dacaria (8-14) và nhất là Đanien. Xin độc giả hãy nhớ lại thị kiến về con người vận y phục trắng trong Đn 10. Chẳng hạn: trong bản văn này, ngoài màu trắng tra (c.5), độc giả còn thấy có ánh sáng (c.6), sự kinh hãi (c.7), nhiều lời nói (c 9t). một chính nhân đặc tuyển (c.7) . . . Vấn đề chính liên hệ đến đức tin mà các cuộc Khải huyền muốn soi sáng là vấn đề vương quốc, vương quốc tương lai, vương quốc biến hình của các thánh hiển linh, của một nhân loại được giải phóng khỏi những khổ đau của thế giới này, một nhân loại mà người ta nhân cách hóa như một "Con Người đến trên đám mây" (Đn 7,1-3).

Tất cả mọi yếu tố vừa kể cho thấy rõ chiều hướng phải đọc trình thuật biến hình. Ngoài điểm ta thấy qua việc nghiên cứu văn mạch, việc nghiên cứu về cơ cấu và văn thể cho phép thêm một vài xác định. Nếu Chúa giàu có sứ mệnh biểu lộ thần tính của người qua cuộc rrử nạn vinh quang, thì Người là kẻ mà nhờ đó lịch sử nhân loại tìm được ý nghĩa, tìm được tiếng nói sau cùng của định mệnh nó. Tuy nhiên, khi Mc viết trình thuật, các độc giả của ông không chỉ có một cuộc khải huyền: họ đã được chính biến cố phục sinh, biến cố nhờ đấy Chúa Giêsu đã biểu lộ trong tất cả huy hoàng bản tính thâm sâu của con người mình ra. Bởi thế, các biểu tượng của trình thuật Mc không muốn làm người ta nghĩ tới Cựu ước cho bằng nghĩ tới nhtĩng biểu tượng đã được liên kết với việc Phục sinh như : núi, sự biến đổi của Chúa Giêsu. Các chứng nhân đặc tuyển của người . . . Cuộc Biến hình loan báo chính điều đó vậy: loan báo biến cố quyết định thay đổi ý nghĩa của toàn thế giới.

II. CÁC Ý TƯỞNG CHÍNH CỦA TRÌNH THUẬT

Thành thử toàn thể trình thuật có mục đích chuyển đạt một mặc khải liên quan tới Chúa Giêsu trong vai trò đối với thời cánh chung. Nhưng nơi Mc, mặc khải này được trình bày dưới một hình thức đặc biệt: nó quá lạ lùng đến nỗi chỉ dành riêng cho một vài người thôi và đối với họ có vẻ như là việc đưa ra một mầu nhiệm có tính cách chất vấn hơn là một thị kiến dứt khoát và rõ ràng. Các yếu tố chính của trình thuật có thể được xem xét dưới khía cạnh kép ấy.

1. Một điều gì đó được tiết lộ về lai lịch Chúa Giêsu : Người là nhân vật khai mạc Vương quốc người ta mong đến trong thời cánh chung, nói cách khác là Đấng Messia "Con Người".

Việc Chúa Giêsu là nhân vật mà cùng với Người đã khai mạc Vương quốc cánh chung được diễn tả một cách sống động rực rỡ qua mọi hạn từ liên hệ tới các biểu tượng khải huyền.

-Khung cảnh mở đầu cho trình thuật tự nó đã có tính cách tiêu biểu. "Sáu ngày sau bản ăn nói mà không xác định phải tính như thế nào, bắt đầu từ đâu. Điểm mơ hồ này ngụ ý là phải hiểu từ ngữ trong ý nghĩa thần học của nó. Chủ yếu, nó nhắc lại thời gian mà Môisen đã trải qua trên núi Sinai trước khi đi vào đám mây (Xh 24,16). Thành thử đây là khoảng thời gián chuẩn bị cho một mặc khải quan trọng là Chúa Giêsu, lời phải nghe của Thiên Chúa, Đấng thay thế cho các bảng đá lề luật. Vì Lề luật được ban vào một ngày thứ bảy, nên rõ ràng là một mặc khải quan trọng về Chúa Giêsu cũng phải xảy ra vào một ngày thứ bảy. Hiểu theo cánh chung luận, thì thành nghĩ' cũng có thể là một cách ngụ ý thời gian đi trước ngày viên mãn, ngày "sau cùng".

Chỉ có ba chứng nhân được kêu mời chia sẻ mặc khải. Trong các cuộc Khải huyền, sự tuyển chọn này cho thấy đây là một bí mật được dành riêng. Nhưng nơi Mc, người ta dùng một ngữ điệu đặc biệt : họ được đem "riêng ra". Từ ngữ này gặp lại bảy lần trong Tin Mừng ông và bao giờ cũng trong những đoạn có nội dung thiên sai (x. 6,31-32; 13,3).

Việc định vị "trên một ngọn núi cao" sau cùng đến bổ túc cho khung cảnh. Là một vị trí dành riêng cho những cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa, đặc biệt đối với Môisen, núi đã đi đến chỗ biểu hiệu, trong các cuộc Khải huyền, địa điểm mặc khải của thời cánh chung. Thành ra trước tiên nó có cái nghĩa thần học này.

- Điều xảy ra cho Chúa Giêsu cũng là nét tiêu biểu cho những cuộc biến đổi người ta chờ đợi sẽ thực hiện vào lúc vương quốc các thánh đến.

Dựa vào điều đã nói về Môisen như "da mặt ông chói lọi. (Xh 34,29). các cuộc Khải huyền mô tả việc biến đổi sau cùng (hay tôn vinh) của các hữu thể với nhiều hạn từ riêng biệt như: trắng ngần, ánh sáng, y phục. . . mà tất cả đều có một ý nghĩa cánh chung. Trong thực tế, chúng muốn bảo rằng thời cánh chung, trong đó loài người sẽ được biến đổi, đã đến cùng với Chúa Giêsu.

Để tóm tắt trạng thái của Chúa Giêsu diễn tả qua tất cả các từ ngữ đó, bản văn nói Người đã được "biến hình" (c.2). Thành ra khác với Môisen, người không chỉ phản ảnh ánh sáng nhưng bộc lộ tất cả hữu thể thâm sâu của mình : Người là chính Thiên Chúa. Bảo Chúa Giêsu được hiến hình, chính là nói lên rằng sự sống thâm sâu của Người, thực tại sâu xa của bản chất Người đã lộ ra xuyên qua nhân tính người.

Việc mặc khải điều xảy ra cho Chúa Giêsu còn muốn nhấn mạnh là Người đồng hóa với nhân vật đem vương quốc đến vào thời cánh chung. Sự đồng hóa này được diễn tả bằng ba cách : qua hình ảnh hai nhân vật, qua các biểu tượng của thiên nhiên và qua một lời nói.

Môisen và Elia cả hai đã từng trèo lên núi mặc khải. Thành thử chẳng có gì lạ khi họ xuất hiện trên Tân Sinai này, nơi các sứ đồ đang ở. Nhưng hơn nữa, trong văn chương Kinh Thánh, họ đã trở thành các nhân vật của thời cánh chung. Elia, người mà cái chết được bao phủ bằng một màn bí mật ( x. 2V 2, 11-13), sẽ phải đến như tiền hô (x. Ml 3, 1 .23 và Mc 9, 11-12; Mt 17, 10 . . . ). Còn về Môisen, do việc không tìm ra dấu vết ngôi mộ ông (x. Đnl 34,5), người ta nghĩ rằng ông đã cùng Elia đi vào trong thế giới cánh chung của các hữu thể vinh quang và sẽ trở lại như Elia vào thời sau hết.

Do đó, việc đề cập đến Môisen và Elia trong thị kiến muốn nói rằng thời cánh chung đã tới và xác nhận cho các sứ đồ hay thiên sai tính của Chúa Giêsu. Như thế Chúa Giêsu là chính trung tâm của chương trình Thiên Chúa. Hình ảnh lều gợi lên bởi sự hiện diện của hai nhân vật này cũng nhắc nhớ một biến cố liên quan đến lịch sử Israel tại Sinai (Xh 26,7).

Vì che phủ Khám giao ước, lều là biểu tượng của sự hiện diện của Thiên Chúa giữa dân Ngài. Vào thời Chúa Kitô, trong niềm mong đợi thời cánh chung, nó tượng trưng nơi ở thiên quốc. Nên một trong những ý nghĩa của phản ứng Phêrô (c.4) có lẽ là ông tưởng rằng thời cuối cùng đã đến và muốn kéo dài giây phút ấy mãi mãi.

Các yếu tố thiên nhiên cũng can dự vào với ý nghĩa biểu tượng của chúng để giúp quán triệt mặc khải đang diễn ra. Ngược với lều trại do tay con người làm ra và dìm trong bóng tối Đám mây thuộc thiên giới và chiếu tỏa rạng ngời. Vào thời Môisen, nó bao phủ lều tạm (Xh 40,34-35) và tượng trưng sự hiện diện của Thiên Chúa (Vinh quang Ngài) giữa dân. Chính vì vậy, trong các thế kỷ sau cùng trước Chúa Kitô,

người ta mong chờ là vào thời cánh chung, sự hiện diện của Thiên Chúa, Vinh quang Ngài, tượng trưng rằng Đám mây, sẽ biểu dương một lần nĩa (xem tập chú giải có tính cách khải

huyền về 2Mcb 2,1-8). Thành thử việc đề cập đám mây trong cuộc Biến hình cho thấy là thời sau cùng đã đến là các sứ đồ đã kinh nghiệm được sự hiện diện của thiên Chúa trong con người Chúa Giêsu.

Nhưng còn hơn thế nữa: Đám mây chẳng nhtỉug phủ bóng trên các nhân vật thiên quốc, mà còn thiên các sứ đồ (điều này minh nhiên trong Lc, mặc nhiên trong Mc và Mt). Nên những ông này không phải là khách hàng quan : họ được lôi vào trong một cuộc tập họp.

Trong họ, chính dân mới người ta chờ đợi vào thời cánh chung (x. 2Mcb 2,7) đã được quy tụ. Khi nghe giáo huấn của Chúa Giêsu, họ bắt đầu thực hiện sự hiệp thông gltĩa dân trần

thế với cộng đoàn trên trời. Chính tất cả kế đồ của Thiên Chúa được mặc khải trong thị kiến của họ.

Như thế, bộ áo văn chương của trình thuật là nhắm làm nổi bật lai lịch thiên sai của Chúa Giêsu. Tuy nhiên, khác với các cuộc khải huyền mở trời ra để lôi con người vào đó, trong những thị kiến uy hùng, ở đây có sự đảo ngược. Cái uy hùng để dành làm trang cảnh. Vai trò của nó, thay vì đây người ta muốn vào trong cái kỳ diệu, thì chỉ giới hạn việc chuẩn bị cho một mặc khải đưa người ta về trái đất và tập trung trong một lời liên quan đến con người cụ thể của Chúa Giêsu, Mặc khải đích thục của trời giữa nhân loại.

2. Thế nhưng, điều gì đã được nói về Con ngươi ấy? Người được gọi là "Con chí ái", hay nói cách khác là "tôi tớ".

Ý nghĩa của một tước hiệu như vậy đã có trong Phép rửa rồi (Mc 1,11) và ở đây được củng cố chẳng những do văn mạch như đã thấy mà còn do tất cả những ám chi về Môisen. Thật vậy, trong truyền thống Do thái . Thời Chúa Kitô, nhân vật này đã được đặt trong tương quan với nhân vật Tôi tớ. Ngoài ra, chính trong ý nghĩa vừa nói mà phần tiếp của Tin mừng sẽ

giải thích đoạn này (9,9-13), chính trong ý nghĩa vừa nói mà Mc, và chỉ mình ông, quy thường khi sử dụng tước hiệu "Con chí ái" giũa lòng dụ ngôn các tá điền sát nhân (12,6). Nhưng cái mới mẻ so với Phép rửa, chính là một lời kêu gọi hãy "nghe" Chúa Giêsu. Chẳng những Người nằm trong bí mật của Thiên Chúa, liên hệ đến Con người của thời cánh chung, mà còn là Đấng mà thiên hạ có thể tin nghe lời giáo huấn về sứ mệnh Người: mặc khải Thiên Chúa bằng cái chết mà Người sẽ trải qua. Như thế, bí mật lớn nhất, bí mật được che dấu trên khuôn mặt nhân loại của Chúa Giêsu, chính là thần tính Người. Và để nhận ra thần tính đó, phải quy chiếu về sứ mệnh Tôi tớ của Người là sứ mệnh phải chết đi. Khía cạnh này được nhấn mạnh nơi Mc hơn nơi Mt. Hình như chính việc đặt Elia trước Môisen (c.4) nói lên điều này. Thật vậy, trong phần tiếp của tính thuật, chỉ có Mc giải thích: "Elia phải đến trước . . . và con Người sẽ chịu nhiều đau khổ . . ." (c. 12). Chỉ có niềm tin vào cuộc Khổ nạn vinh hiển của Chúa Giêsu mới có thể cho ta hiểu được cuộc biến hình của Người và cho ta thấy thân tính của người phản ảnh trong nhân tính đau khổ của Người.

3. Tuy nhiên, cho dầu được ban ra, mặc khải vẫn không kém khó hiểu.

Đấy là điều đặc biệt tỏ rõ qua phản ứng của các chứng nhân. Lúc đầu, họ đề nghị dựng ba lều. Phản ứng của họ gợi nhớ phản ứng của Đavít muốn xây cho Thiên Chúa một ngôi nhà như nhà của ông; đáp lại, Thiên Chúa đã mặc khả là sẽ xây cho ông một ngôi nhà thuộc loại khác (2Sm 7). Ở đây, muốn dựng một lều cho Chúa Giêsu theo kiểu lều của Môisen và Elia, chính là tự đặt mình ngang hàng với các Đấng. Câu trả lời cho một ngộ nhận như thế được đưa ra bởi đám mây là Lều không làm bằng tay người nhưng đến từ Thiên Chúa và hơn nữa, gợi lên việc tụ họp những kẻ mà nó bao phủ : thành thử Chúa Giêsu ở giữa một nhân loại mà người quy tụ bằng cách đặt họ hiện diện trước Thiên Chúa qua chính bản thân Người.

Xin lưu ý là Phêrô nói (c.5) dù đã chẳng ai ngỏ lời với ông. Nghĩa là ông cảm thấy bỉ biến cố chất vấn và nói lên rằng mình sống một điều nghịch lý, tốt đẹp lắm rồi, nhưng còn ao ước được thỏa mãn hơn nữa. Thánh sử tóm tắt bằng cách bảo ông không biết mình nói gì; nói cách khác, cái đang xảy ra vẫn khó hiểu đối với ông. Điều này còn rõ ràng hơn nữa sau khi tiếng nói quyết định được thốt lên (c.7) vì nó chẳng gây được một phản ứng nào nơi ba kẻ chứng kiến. Nhưng thánh sử đã kết luận trình thuật một cách nào đó với những lời này: "Họ chỉ thấy duy một mình Chúa Giêsu ở với họ" (c.8), nghĩa là muốn nói rằng các sứ đồ, sau khi đã sống một biến cố độc nhất liên quan đến lai lịch Chúa Giêsu, vẫn không kém cô đơn, đối diện với mầu nhiệm Người. Điều này đúng và nằm trong cách nói của Mc ; ông thường cho rằng Chúa Giêsu tự bản chất là kẻ mà đứng trước mặt, người ta như thể đứng trước một dấu hỏi lớn. Lý do căn bản là Chúa Giêsu chỉ tự mặc khải một cách hoàn toàn nhờ cuộc Phục sinh mà thôi. Trước đó, không thể biết đích xác Người được. Các kẻ gần gũi với Người nhận thấy trong Người có một bí mật, nhưng chưa có cách nào hiểu thấu.

Sau cùng, nên lưu ý là kinh nghiệm ấy về mầu nhiệm của con người Chúa Giêsu đã được ban cho ba phần tử của nhóm sứ đồ. Họ nhận được "mặc khải" này với tư cách đại diện cho nhóm Mười hai, nòng cốt biểu tượng của dân mới tương lai là Giáo hội. Như thế, biến cố loan báo sứ mệnh mà Giáo hội cũng sẽ được "tách riêng ra" để thi hành.

III. NỀN TẢNG LỊCH SỬ CỦA BIẾN CỐ

Như đối với Phép rửa, ta có thể đặt những vấn đề về lịch sử tính của biến cố Biến hình. Trong thực tế, các vấn đề này gồm hai loại: biến cố đã có thật không ? Và nếu có thật, thì có thể hình dung như thế nào ?

Ta biết rằng chẳng có gì được ghi lại ngay lúc đó, song tất cả đã được lưu truyền sau Phục sinh và trong mục đích dẫn các độc giả đến đức tin, hoặc củng cố họ trong niềm tủi phục sinh của họ. Sau cùng, cấu trúc qua hệ thống của trình thuật và vị trí của nó trong toàn thể Tin mừng đều đập vào mắt chúng ta. Đặc biệt trong Mc, chủ ý thật rõ ràng, chủ ý này nằm trong đường hướng thần học chủ yếu của ông: minh chứng Chúa Giêsu là kẻ mang một bí mật mà chỉ cuộc phục sinh mới mặc khải ra.

Thành thử phải thừa nhận ảnh hưởng chủ yếu của niềm tin Phục sinh trong trình thuật. Nhưng dầu vậy, trình thuật này hình như chẳng phải là một sáng tác thần học thuần túy. Nhiều dấu chứng cho ta sờ mó được, bên kia cấu trúc văn chương. Thực tại của một biến cố tiền phục sinh. nhiều môn đồ của Phêrô đã ghi lại chứng từ của chính ông về biến cố. này (2Pr 1,16-18). Sẽ khó giải thích lối trình bày không mấy vẻ vang về Phêrô trong trình thuật nếu cho rằng trình thuật đã được sáng tác giữa lòng một cộng đoàn mà ông được tôn kính. Rồi ta biết rằng, sau Phục sinh, với những trình thuật hiện ra, các Kitô hữu có một cái giá trị hơn trình thuật Biến hình nhiều. Tại sao lại trở lùi như thế? Chỉ có thể giải thích là vì biến cố đã xảy ra thực. Và đấy chính là cái làm tăng giá trị cho lập luận của thư Phêrô: một sự quy chiếu về một biến cố tiền phục sinh nằm trong cuộc sống bình thường thì có sức minh chứng sự hiện diện của vinh quang trong đời sống đó hơn là các trình thuật về những lần hiện ra mà khoảng cách với đời sống bình thường đó khó nắm được. Bản văn không viết "hãy nghe Người" nữa khi nói về Chúa Giêsu, mà kêu mời hãy nghe Phêrô, kẻ tự xưng là chứng nhân của giáo huấn ông đã nhận về việc Chúa đến vào thời cánh chung.

Ngoài ra, nếu Mc đã hệ thống hóa việc đặt nổi bí mật Chúa Giêsu trong mục đích hiển nhiên là nhấn mạnh đến tầm quan trọng của chương trình cứu rỗi nhờ Thập giá, thì bí mật này phải có đủ mọi tính cách xác thực lịch sử. Lại nữa, nó không phù hợp với đường lối sư phạm sao? Chúa Giêsu chỉ có thể mặc khải một điều gì đó về chính Người trong mức độ mà giới thân cận Người đặt những câu hỏi về Người. Do đó chẳng có gì là lạ khi Người đã tìm cách cho họ đặt ra. Người đã lợi dụng điều đã nói về Người để đi xa hơn nữa. Phêrô vừa bảo: "Ngài là Đấng Messia" (8,29). Ông không biết tất cả nội dung của lột lời tuyên tín như thế. Nhưng lời tuyên bố đã được nói lên và bởi vậy cho phép chúa Giêsu mặc khải là phải hiểu nó trong ý nghĩa nào. Đó là một trong những lý do của cuộc Biến hình. Hơn nữa, giai thoại nằm ngay trước cuộc Khổ nạn của Chúa Kitô để củng cố trước các sứ đồ hầu họ đứng vững hơn khi xảy ra biến cố đau thương mà họ không hiểu nổi.

Như vậy tất cả đều đòi hỏi biến cố phải có thực. Văn thể bóng bảy được dùng để diễn tả nó, một văn thể nói lên bối cảnh văn chương tiền Phục sinh, cũng nhấn mạnh điều này; hơn nữa, văn thể này có thể ngụ ý là biến cố nào đã có thể xảy ra. Bản văn xác định nó như một "thị kiến" (c.9). Việc trình bày nó vượt lên trên lãnh vực của cái khả chính nghiệm nên vì thế những người nói đến nó đã phải dùng một văn thể bóng bảy.

Nếu muốn thử diễn tả biến cố một cách dè dặt, trong ngôn ngữ hiện đại, thì thiết tưởng phải nghĩ đến những giây phút đặc biệt mà đôi lúc nghiêng người bạn tâm giao nếm biết với nhau, tuy nhiên không được giản lược tất cả nào đó, vì có một phần mầu nhiệm vượt quá chúng ta. Vào một lúc hiệp thông sâu xa nào đó, họ có cảm tưởng như nhận ra hoàn toàn hữu thể của người đối thoại. Bây giờ là như thể những giây phút xuất thần. Trở về lại thực tế, họ nhận ra là sẽ không bao

giờ biết được tất cả về người ấy. Nhưng họ ghi giữ dấu vết kinh nghiệm và kinh nghiệm này đẩy họ đi tới để nếm biết những giây phút mới cũng kỳ diệu như vậy, bằng cách chấp nhận chết cho mỏi cái mà tự bản chất làm ngăn trở việc này. Tóm lại, bên kia những dáng vẻ bề ngoài của cuộc sống thường ngày, các sứ đồ, vào một lúc đặc biệt nào đó, đã có kinh nghiệm về lai lịch đích thực của Chúa Giêsu, về sự thâm sâu của bản thân Người, Đấng chia sẻ sự sống thần linh, và về giáo huấn sáng sủa của Người. Họ đã ngây ngất nhưng đã hết sức ngạc nhiên đến nỗi không tài nào lặp lại kinh nghiệm đó trước khi có sự sinh động của Thần khí lễ Ngũ tuần.

IV. SỨ ĐIỆP CỦA TRÌNH THUẬT

Các lời mời gọi bản văn Biến hình đưa ra có vẻ như dành cho con người hiện đại, nhất là Mc.

Biết bao ý thức hệ triết học, tôn giáo, chính trị, khoa học v.v. chất chứa trong những khát vọng của chúng nỗi chờ mong một lúc mà nhân loại sẽ vượt lên chính mình và đạt tới một tình trạng trong đó nó sẽ được siêu thăng hóa. Khi la lớn rằng chúng không được thỏa mãn, phải chăng một vài ý thức hệ đã không tuyên bố cùng những khát vọng trên?

Trên bình diện đức tin Kitô giáo, cuộc Biến hình là câu trả lời của Chúa Giêsu cho các khát vọng ấy: con người được tạo dựng để hưởng vinh quang, nghĩa là để được tỏ hiện trong chính mình, bên kia cái mình đã làm, một cuộc sống siêu phàm của hữu thể mình mà không là gì khác ngoài sự sống được chia sẻ với Thiên Chúa khì đảm nhận thân phận hay chết của mình. Định mệnh này có một tính cách khiến lý trí chưng hửng ngạc nhiên. Có thể kinh nghiệm về nó và không hẳn là biết phát biểu ra nó. Chính cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu được nghe và được đi theo khi Người chỉ cho thấy mặc khải sau cùng về con người, mới cho phép phát biểu và tin vào định mệnh như thế.

Mặc dầu cuộc Phục sinh đã xảy ra và mặc dầu bức màn che đã hoàn toàn bị cất khỏi bản tính và con người. Chúa Giêsu khai mở nhân loại mới ấy, Kitô hữu vẫn không thể sống trong ảo tưởng: các thực tại bi thương của cuộc sống không bị tiêu trừ; chúng vẫn còn phần lớn trong một hoàn cảnh gần như hoàn cảnh các sứ đồ lúc cuộc Biến hình xảy ra. Cuộc Phục sinh đã chẳng hủy tiêu các giáo huấn đưa ra trước đó, song chỉ củng cố chúng mà thôi. Các là thánh sử làm tỏ rõ hơn hết các hoàn cảnh mà trong đó người ta tưởng đã hiểu và tuy vậy, vẫn chẳng bao giờ thôi thấy rằng người ta đã chưa hoàn toàn hiểu thấu. Ông trình bày Kitô hữu như những người đã khám phá trong Chúa Giêsu một con người duy nhất đã cho họ một kinh nghiệm quyết định nhưng chẳng chấm dứt bao giờ.

Đời sống môn đồ của Chúa Giêsu được trình bày như thỉnh thoảng có một nhịp mạnh. Núi là biểu tượng của nơi mà, nhờ phép rửa, đã xảy ra cho người ấy cuộc gặp gỡ với hữu thể vinh quang là Chúa Giêsu. Một khi trèo lên trên nó, người ấy

đi vào trong một thế giới khác xem ra vừa kỳ diệu vừa lạ lùng, một thế giới biến đổi ý nghĩa đời họ . Nhưng tiếp đó họ phải trở về cuộc sống bình thường: phải tiếp tục trong cùng viễn tượng hấp dẫn của một sự sống vinh quang, nhưng không cùng trong một bầu khí, hoàn cảnh. Thành thử cuộc sống thường nhật này được đánh dấu bằng nhtĩng giai đoạn đưa kẻ ấy đến chỗ nghe con người Chúa Giêsu, những giai đoạn trở thành cho kẻ ấy những lúc "tách riêng" thật sự, vì chúng giúp họ đào sâu, một cách nội tâm hơn và thân tình hơn, lai lịch của Đấng là họ đang song hành với.

Hai yếu tố có tính cách quyết định đối với hiệu quả này. Một là sự rút lui thật sự khỏi cuộc sống thường ngày, dù có ý hay ngẫu nhiên. Bấy giờ là như thể một khung cảnh làm vỡ tung cái bình thường và chuẩn bị cho một cuộc bùng vỡ nội tâm. Đó chẳng phải là một sự rút lui kiểu ngoài giáo nhắm cắt đứt khỏi đời sống hoặc làm cho người ta trở về đó như về lại một cái gì không chịu nổi, nhưng là một kinh nghiệm thiêng liêng đích thực đưa người ta vào lại đời sống và giúp người ta trải qua cuộc sống bằng cách biến đổi cái thường nhật gần gũi. Hai là, trong đời riêng tư, phải kinh nghiệm sự đau khổ và ngay cả sự chết dưới bất cứ mọi hình thức, để đi vào sự hiểu biết mới mẻ ấy hơn.

Tuy nhiên, có một cám dỗ rình chờ Kitô hữu trên con đường ấy, đó là dừng lại ở một trong các giai đoạn, thôi bước và tuyệt đối hóa kinh nghiệm mình như thể nó đã có tính cách dứt khoát, phong thánh cho các viễn quan riêng mà, dầu có hảo ý, vẫn còn có tính cách nhân loại. Trên bất cứ điểm nào, Kitô hữu cũng phải là một con người đang hành trình chứ chẳng phải là một con người đã đến đích. Chỉ có con người Chúa Giêsu mà họ đi theo mới là tuyệt đối.

Sau cùng, bản văn kêu mời Kitô hữu phải hành động với cùng phương pháp sư phạm như Chúa Giêsu. Chẳng có gì lạ khi loài người chỉ khám phá được dần dần mầu nhiệm Người, khi đầu tiên họ lưu ý đến con người trong chính nó, rồi ngạc nhiên về cái ý thức mà Người cho thấy về một sự sống siêu nhiên đang ở trong Người mà Người gọi là Thiên Chúa. Cũng chẳng có gì lạ khi chờ đợi cho loài người đặt những câu hỏi trước lúc trả lời họ, khi một vài kẻ, để sẵn sàng hiểu hơn, đã kinh nghiệm trong cuộc đời họ thế nào là chết cho chính mình và kinh nghiệm được ước vọng vượt quá những giới hạn của họ.

Gilles Becquet, lecture d'evangiles, . . . année B .

Trang 186-200

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Việc Chúa Kitô chịu đau khổ và chịu chết là một mầu nhiệm khó chấp nhận, "là cớ vấp phạm cho người Do thái, là sự điên rồ đối với dân ngoại" (Lc 1,23) Bởi đó Thiên Chúa đã chuẩn bị tâm hồn mọi người để có thể hiểu được phần nào mầu nhiệm ấy.

Cuộc chuẩn bị xa xôi nhất là việc Thiên Chúa đòi tổ phụ Abraham sát tế con trai duy nhất, dâng làm của lễ toàn thiêu cho Ngài. Việc đòi hỏi ấy thật là mâu thuẫn với lời Chúa hứa cho ông. Nhưng Abraham không thắc mắc, không phản đối mà hoàn toàn tin tưởng. Kết quả: ông được kể là công chính và Isaac con ông vẫn được sống, chứ chẳng bị sát tế (Bài đọc 1 )

Sự công bình và lòng thương yêu của Chúa đối với ta đã đòi hỏi Chúa làm một điều tương tự như Abraham là "không dung tha Con mình, nhưng lại phó thác Con vì tất cả chúng ta" (Rm 8,32). Isaac không bị giết mà Abraham vẫn được kể là công chính (Gc 2,21 ), còn Chúa Kitô thì đã bị giết, đã chết thực sự, nhưng đã sống lại, ngự bên hữu Chúa Cha và đã trở thành Đấng "công chính hóa" nhân loại (Bài đọc 2).

Chính là để cho các môn đồ thân tín giữ vững niềm tín thác khi thấy mình đau khổ và chết mà Chúa Kitô đã tỏ phần nào vinh quang của Người trên núi Taborê.

2. Chúa Giêsu đã đem ba môn đồ thân yêu lên núi Biến hình và cũng sẽ đem họ vào vườn Cây Dầu trong cơn hấp hối của Người. Mọi cảnh ngộ dầu là dịp Chúa gởi đến để kêu mời ta tiến sâu trong tình thân ái với Người. Hãy biết đọc các "dấu chỉ thời đại" dưới ánh sáng đức tin, trong tình yêu Chúa nồng nàn.

3. Các môn đồ không thể hiểu ngay mọi ý nghĩa của biến cố Biến hình. Trong đời sống thường nhật, đứng trước những khó khăn, gian truân, vui buồn, được an ủi hay bị bỏ rơi ta thật khó quán triệt ý nghĩa cuộc đời, khó khám phá ra Thiên Chúa tình yêu và công bình. Nhưng hãy kiên tâm, bền chí trong kinh nguyện, trong suy niệm lời Chúa. Trong đời hoạt động và ta sẽ thấy Thiên Chúa lớn hơn con tim chúng ta.

4. Ngày nay biến cố Biến hình vẫn còn tiếp diễn trong thế giới: Chúa Kitô biến hình trong người nghèo đói, bệnh tật, tù đày bơ vơ không nhà cửa, trong các sứ giả Tin mừng . . . "Ai tiếp đón các con là tiếp đón Ta, ai tiếp dón Ta là tiếp đón Đấng dã sai Ta". Mùa Chay giúp ta thay đổi cái nhìn, kiện toàn cách cư xử của ta với tha nhân.

Noel Quession - Chú Giải

Mc 9,2-10


Sáu ngày sau, Đức Giêsu đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan đi theo mình...

Mác-cô không nói phải dựa vào sự kiện nào để tính "sáu ngày" trên. Một lần nữa, sự thiếu chính xác này cho ta thấy, không nên đọc Tin Mừng theo cách thông thường. Đối với người Do Thái, đối với mọi người đã làm quen với Kinh thánh, thì "sáu ngày" trên chỉ là một kiểu nói thần học. Đó là thời gian cần thiết để con người thanh tẩy trước khi đến gần Thiên Chúa : "Sáu ngày sau, từ giữa đám mây, trên núi Sinai, Thiên Chúa mới gọi Môsê..." (Xh 24,16). Chúng ta hãy lưu ý những từ : "sáu ngày"... "Mô sê"... "đám mây" . . . "núi " . . . Trình thuật của Mác-cô cũng được dệt bằng những hình ảnh Kinh thánh như thế. Nhưng còn mang ý nghĩa hơn : Có phải là ngẫu nhiên mà "Lễ lều tạm" (Yom Sukkôt) tại ít-ra-en lại xảy ra sáu ngày sau "Lễ xá tội" (Yom Kippour) không ? Vì thế Lễ lều tạm là lễ người ta dựng những lều bằng cành lá, làm nới trú ẩn mỏng manh trong thời gian lang thang nơi hoang địa, tượng trưng cho sự mỏng dòn của con người trên bước hành trình về Miền Đất Hứa. Sau này Phêrô cũng muốn dựng một nhà trú, một lều tạm.

Phêrô, Giacôbê và Gioan...

Đức Giêsu không mời gọi tất cả các môn đệ , nhưng chỉ chọn có ba ông ! Chi tiết đó cũng không phải là một ngẫu nhiên, mà nếu đọc qua ta có thể không để ý đến. Chính ba" môn đệ này đã chứng kiến việc Đức Giêsu làm bồi sinh bé gái 12 tuổi (Mc 5,37), và chính ba ông này sẽ chứng kiến cơn hấp hối của Người tại Ghét-sê-ma-ni (Mc 14,83 ).

Họ có phải là những con người được đặc ân không ? Không phải vậy. Họ chỉ là ba con người sống những cảm nghiệm đặc biệt, để có khả năng nâng đỡ đức tin cho kẻ khác. Tại sao ta lại hay so bì và ghen tị ? Mỗi người chúng ta cũng đều nhận được một ân riêng, độc nhất... ơn đó không chỉ dành riêng cho mình, nhưng để thông truyền cho kẻ khác.

Chỉ có ba ông, đi riêng với Người, lên một ngọn núi cao...

Đó là những điều kiện theo truyền thống Kinh thánh, để "gặp gỡ Thiên Chúa". Một đầu óc hiện đại có thể phản ứng lại . Thiên Chúa ở khắp nơi mà ! Tại sao cứ phải bày vẽ ra như thế ? Đúng vậy ! Nhưng chúng ta là loài có thân xác nên không thể tránh bỏ một số những biểu tượng. Riêng tôi; tôi thấy hình ảnh đó thật đẹp và rất hùng hồn : Nào ta hãy tiến lên với "Thiên Chúa" (Xh 24,1 - 34,2 ; 1 V 18,20 - 19,8-11). Bạn hãy đứng trên núi ! Hãy tạo lập cho bạn một núi trong i.âm hồn, một đỉnh núi cô tịch và diện kề với Chúa . Hãy biết tận dụng những chân trời mở rộng ! Bạn sẽ không khi nào nhìn thấy những chân trời đó, nếu không chấp nhận rời bỏ thung lũng, nương theo nhưng con đường mòn mà leo cao, nếu không chịu khổ nhọc lâu dài, thả dốc trên những đỉnh cao trước không khí loãng nhạt và gay gắt nếu không chịu tách xa đám động dân chúng.

Và Người biến đồi hình dạng trrớc mắt các ông...

Khi con người cố diễn tả những tương quan giữa Thiên Chúa và thế gian, họ luôn bị dao động giữa hai do dự, hai quan niệm :

Một quan niệm "bi quan" : Cần phải tiêu diệt thế gian để nhận thấy Thiên Chúa. Ta có thể gọi quan niệm đó là quan niệm của Thánh Au tinh, Luther và phái Tin lành phục hưng cách mạnh mẽ.

- Một quan niệm "lạc quan" : Chính "thế gian này" là Nước Thiên Chúa. Người ta đề cao giá trị của con người và thế giới và làm giảm nhẹ ảnh hướng của Thiên Chúa. Đây có thể là cơn cám dỗ của người Công giáo, thường biến Giáo Hội trở nên một cái gì tuyệt đối, là Nước Trời đã đến.

- Nhưng cũng có một "quan niệm thứ ba biến dạng" Vâng, xác thịt là tốt và thân xác là do Thiên Chúa muốn tạo ra . . . Vâng, thế gian là tạo vật của Chúa. . . Nhưng đó chỉ là "hình ảnh", là "họa ảnh" tương tự của Thiên Chúa. Để thực sự tốt hẳn, thế gian không cần bị "tiêu diệt", nhưng cần được "biến dạng". Trên núi, Đức Giêsu không để một ánh sáng từ ngoài rọi chiếu vào, nhưng chính Người, trong thân xác Người, đã là ánh sáng. Và tất cả những gì là xác thịt trong ta, cũng phải trở nên ánh sáng, trong suốt, tinh thần. Bên Phương Đông thuộc Chính thống giáo, lễ Biến Hình là đại "Lễ", Lễ tôn kính Hình tượng... Con người được Thiên Chúa xuyên qua. Trong thời kỳ tập sự, không chỉ nhắm học một "kỹ thuật", người họa sĩ hình tượng trước hết phải về một ảnh Đức Giêsu biến hình . . . để chứng tỏ anh ta có khả năng vẽ được một khuôn mặt người – hình ảnh - của Thiên Chúa hay không. Đó là cả một quan niệm về cuộc đời, về xã hội loài người, về Giáo Hội, về phụng vụ mà mục đích là giúp ta rập theo đúng khuôn Đức Giêsu. Nếu những cách nhìn này có vẻ làm chúng ta choáng váng, thì có lẽ chúng ta phải khám phá ra ý nghĩa đích thực của Phép rửa, bí tích đã "dìm" ta trong Đức Kitô, đã làm cho ta được "tham dự vào bản tính của Thiên Chúa" (2 Pr 1,4). Đúng ra, toàn diện đời sống Kitô hữu chúng ta chỉ là một sự thông phần, một biến hình trong Đức Kitô. Tất cả chúng ta, mặt không che màn, chúng ta phản chiếu vinh quang của Chúa như một bức gương. Như vậy, chúng ta được biến đổi nên giống cũng một hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, như cao bởi tác động của Chúa là Thần khí" (2 Cr 3,18).

Chắc chắn, ở dưới trần gian này, mầu nhiệm phi thường đó - nghĩa là sự biến đổi thực sự con người trong Thiên Chúa vẫn không thể thấy đọc. Tuy nhiên, sự biến hình của ta đã đạt được, dù còn bí ẩn, nhưng một ngày nào đó sẽ bùng tỏa ra : "Sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Đức Kitô nơi Thiên Chúa. Khi Đức Kitô, nguồn sống của chúng ta xuất hiện, anh em sẽ được xuất hiện với Người, và cùng Người hưởng phúc vinh quang" (Cl 3,3-4).

Y phục Người trở nên rực rỡ, trắng tinh, không có thợ nào ở trần gian giặt trắng được như vậy.

Đừng coi thánh Phêrô và thánh Mác-cô, thư ký của ông, lại ngây ngô hơn ta. Đó là những con người rất thực tế những kẻ bình dân, không phải là các nhà trí thức. Các ông mới biết mở miệng... nhưng chưa biết phải nói thế nào về cảm nghiệm phi thường đã "xảy đến" cho mình. Như thế cả chúng ta nữa, ta cũng không nên dừng lại ở mức độ sơ đẳng là "giặt sạch nhất", "trắng nhất". Vấn đề không nằm ở yếu tố đó.

Một lần nữa, chúng ta đang nằm trong lĩnh vục ngôn ngữ Kinh thánh biểu tượng : Màu trắng là màu của thế giới trên trời... và không gì ở trần thế so sánh được. Đó là màu của thiên sứ hiện đến lúc Phục sinh (Mt 28,3), lúc Chúa lên trời (Cv l,10). Đó là máu của những kẻ chiến thắng (kh 3,4.20,11.2,17.6,11.7,13-15). Ao trắng khi chịu phép rửa, lúc tuyên xưng đức tín, áo trắng của cô dâu, áo trắng của linh mục lúc dâng lễ . . . đều lấy lại hình ảnh biểu tượng này. "Anh em được mặc lấy Đức Kitô" (Gl 3,27). "Cái thân sẽ chết này sẽ mặc lấy sự bất tử" (l Cr 15,53). "Anh em hãy cởi bỏ con người cũ để mặc lấy con người mới" (Cl 3,10).

Ong Êlia cùng Môsê hiện ra đàm đạo với Đức Giêsu.

Môsê và Elia tượng trưng cho sự mong đợi của ít-ra-en được ghi trong "lề luật" và các "ngôn sứ" . Chúng ta cũng ! cần ghi nhận, họ không chỉ là những nhân vật đứng ra "làm vì". Đó là khuôn mặt tiêu biểu, đã chết trước đó nhiều thế kỷ mà lại hiện diện đồng thời với Đức Giêsu và đang nói chuyện với Người. Họ đang liên hệ sống động với Chúa. Đó là thứ ánh Sáng chiếu trên cuộc sống bên kia thế giới. Anh Sáng chiếu tỏa trên những người quá cố của chúng ta. Cái chết thay vì là kết điểm. Có phải là một "cửa ngõ" dẫn chúng ta vào thế giới của Thiên Chúa không ?

Trong Cựu ước Môsê và Êlia là hai nhân vật vĩ đại đã được Thiên Chúa mạc khái cho "trên núi". Và truyền thống Do Thái vẫn mong đợi hai vị trở lại vào lúc kết thúc thời gian chuẩn bị cho Đấng Mêsia đến (Mt 3,22-24). Vả lại theo thánh Máccô, thì đó cũng là câu hỏi mà các môn đệ đã đặt ra cho Chúa Giêsu, ngay sau khi diễn ra quang cảnh trên (Mc 9,11-13).

Cùng với Đức Giêsu, thời cánh chung đã khởi sự.

Bấy giờ ông Phêrô thưa với Đức Giêsu rằng : "Thưa Thầy, chúng con ở đây hay quá ! Chúng con xin dựng ba cái lều". Thực ra, ông không biết phải nói gì, vì các ông sợ quá.

Một lần nữa, Phêrô lại đóng vai phát ngôn viên. Chính ông, trước đó vài hôm, lúc ở Xêdarê đã nhân danh cả nhóm 'tuyên xứng đức tin" .(Mc 8,27-33). Chính ông đã đóng vai Xatan cám dỗ Đức Giêsu khước từ thập giá (Mc 8,33). Hôm nay, ông vẫn chưa hiểu hơn gì. Đó là một "người chứng" không vẽ vời điều gì thêm. Các biến cố xảy đến cho ông, đều mang tính cưỡng ép, trái với ý ông... Sau này, ông sẽ viết : Đó không phải là những chuyện hoang đường thêu dệt khéo léo... chính chúng tôi' đã được thấy tận mắt vẻ uy phong lẫm liệt của Người... khi chúng tôi ở trên núi thánh với Người (2 Pr 1,16-18). Chúng ta cũng nên đọc lại đời ông : Phêrô không phải là con người chiêm niệm huyền bí... đó chỉ là anh chàng làm nghề biển .! Chúng ta có thể tin tưởng vào khiếu quan sát của ông. Ngoài ra, ông cũng nhận ra rằng, đó là điều không thể hiểu được. Nhưng điều đó buộc ông phải chấp nhận. ông không biết phải nói gì.

Bỗng có một đám mây bay đến bao phủ các ông. Và từ đám mây, có tiếng phán rằng : "Đây là con ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người".

Theo kiểu nói biểu tượng đám mây là "Sự hiện diện của Thiên Chúa" (Xh 16,10 - 19,9 - 24,15 ; Ds 14,10). Tiếng nói trên đây cũng chính là tiếng nói ngày Đức Giêsu chịu phép rửa (Mc 1,1 I). Nhưng lúc đó, tiếng nói đó chỉ dành cho Đức Giêsu. Còn hôm nay, tiếng phán này gửi cho các môn đệ .

Vậy Đức Giêsu là ai ? Để đáp lại câu hỏi cơ bản này, ta không thể vận dụng "những suy luận" cá nhân, cũng không nhờ vào "những nghiên cứu Kinh thánh", nhưng qua cách cầu nguyện "riêng một mình trên núi"; nếu ta biết lắng nghe ! Căn tính đính thực của Đức Giêsu mà ta biết được chỉ nhờ Chúa Cha mạc khải... Đó là điều vượt khỏi khả năng nắm bắt của con người.

Ở trên núi xuống, Đức Giêsu cấm các ông không được kể lại cho ai nghe những điều đã thấy, cho đến khi con Người từ cõi chết sống lại. Các ông tuân lệnh đó, nhưng vẫn bàn hỏi nhau xem câu "từ cõi chết sống lại" nghĩ a là gì ?

Cần phải có Thập giá và Phục sinh, để các môn đệ khám phá ra căn tính đích thực của Chúa Giêsu.



Giáo phận Nha Trang - Chú Giải


" Đây là Con Ta rất yêu dấu "


BÀI TIN MỪNG : Mc 9, 1 - 9

I. Ý CHÍNH :

Chúa Giêsu biến hình để củng cố niềm tin cho các Tông đồ và đồng thời để chuẩn bị cho các ông có thể đón nhận việc Chúa Giêsu chiụ đau khổ và chịu chết .

II. SUY NIỆM :

1 / " Chúa Giêsu đưa Phêrô, Giacôbê và Gioan đi riêng với Ngài " :

Chúa đưa ba Tông đồ thân yêu lên núi biến hình và cũng để đem họ vào vườn Cây Dầu trong cơn hấp hối của Người, chuẩn bị việc trước để giúp họ đón nhận việc sau . Vinh quang và đau khổ có sự hiện diện của Chúa . Chúa đưa ba ông đi riêng để các ông là những người theo Chúa cũng được thông phần vinh quang và đau khổ của Người .

+ Lên núi cao : Núi cao là biểu tượng nơi Thiên Chúa ngự . Lên núi cao để gặp gỡ Thiên Chúa . Ở đây ba Tông đồ được đưa lên núi cao là để được tiếp xúc với vinh quang của Chúa Giêsu, tiếp xúc với thần tính của Người .

+ Người biến hình trước mặt các ông : Chúa Giêsu tự tỏ thiên tính của mình ra qua việc biến hình bằng cách để các Tông đồ nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong con người của Người .

+ Áo Người trở nên chói lọi trắng tinh ... Diễn tả một sự biến đổi lạ kỳ, để nói lên thực tại vinh quang Chúa khác hẳn và vượt cao hơn thực tại trần thế, ngôn ngữ loài người chỉ có thể diễn tả thực tại vinh quang ấy bằng sự so sánh : " Trắng tinh như tuyết, không thể nào giặt được như vậy " :

2 / " Rồi Êlia cùng Môisen hiện ra và đàm đạo với Chúa " :

+ Môisen tượng trưng cho Lề luật, Êlia tượng trưng cho tiên tri . Việc có mặt hai ông, chứng minh có sự liên tục giữa Tân ước và Cựu ước, đồng thời sự có mặt của hai ông với Chúa Giêsu biến hình nói lên rằng thời cánh chung đã tới, đó là thời cứu chuộc, thời đem lại hạnh phúc đời đời .

+ Hai ông đàm đạo với Chúa Giêsu : Mac-cô không nói đến nội dung cuộc đàm đạo, nhưng Luca 9, 29 có nói rằng " Và nói về sự chết của Người ở Giêrusalem " .

3 / " Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm " :

Phêrô vốn tính bộc trực, nên đã thốt lên cái cảm nghiệm của mình : " Ở đây thì tốt lắm " có nghĩa là hạnh phúc ở đây thì chẳng đâu bằng, vì thế ông muốn kéo dài cái hạnh phúc này bằng cách xin làm ở đây ba lều .

+ Lều : Là biểu tượng sự hiện của Thiên Chúa giữa dân Người ( Xh 26, 7 ... ) . Thời Chúa Giêsu, lều là tượng trưng ở nơi Thiên quốc, vì thế . Phêrô có cảm tưởng rằng thời cuối cùng, tức là thời Thiên quốc đã đến và ông muốn kéo dài giây phút này mãi mãi .

4 / " Phêrô không rõ mình nói gì vì các ông đều hoảng sợ " :

Phêrô và hai Tông đồ kia đã chứng kiến những phép lạ, nhưng không có phép lạ nào gây xúc động mạnh mẽ như ở đây : Chúa Giêsu trong vinh quang của Người . Vì thế, Phêrô nói lên cảm nghĩ của mình mà chính mình không hiểu điều mình nói .

+ Phản ứng của các Tông đồ cho thấy việc Chúa Giêsu biến hình để tỏ bày vinh quang của Người vẫn là điều khó hiểu đối với các ông . Vì thế các ông chỉ hiểu được, hay nói cách khác, Chúa Giêsu chỉ tự mạc khải một cách trọn vẹn nhờ cuộc phục sinh của Người mà thôi .

5 / " Lúc đó một đám mây bao phủ các ngài " :

+ Nếu " Lều trại " tượng trưng cho sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa dân người ( Xh 26, 7 ... ) thì đám mây cũng được tượng trưng cho sự hiện diện của Thiên Chúa ở trên thiên giới ( Xh 40, 24 - 35 ) .

+ " Đám mây " trong cuộc biến hình, chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa và do đó mang ý nghĩa của thời cuối cùng, thời cánh chung, thời thiên đàng đã đến .

+ Đám mây bao phủ các ngài : Là những nhân vật trên thiên quốc : Môisen, Êlia và các nhân vật ở trần thế là ba môn đệ, sự bao phủ này mang ý nghĩa sự tập họp trong ngày sau hết .

6 / " Đây là Con Ta rất yêu dấu, các ngươi hãy nghe Lời Người " :

Đây là tiếng nói của Thiên Chúa Cha giới thiệu với các Tông đồ về Người Con yêu quí của Người . Người giới thiệu Người Con của Người trong biến cố biến hình này là để mạc khải mầu nhiệm Chúa Giêsu chịu đau khổ, chịu chết và Chúa Giêsu vinh hiển .

Giới thiệu xong, Chúa Cha đòi hỏi các Tông đồ hãy nghe Lời Người vì Người là tiếng nói của Thiên Chúa .

7 / " Bỗng nhìn chung quanh các ông không thấy ai khác " :

Hiện tượng biến hình của Chúa Giêsu kết thúc một cách mau chóng đột ngột và sau đó trở lại trạng thái bình thường với Chúa Giêsu và các Tông đồ .

8 / " Chúa ra lệnh cho các ông đừng thuật lại cho ai ..." :

+ Cũng như các phép lạ khác, Chúa nói với đương sự không được tiết lộ ra, lần này Chúa truyền cho các Tông đồ không được cho ai biết . Điều này chứng tỏ Chúa cần có thời gian để mạc khải từ từ về mầu nhiệm Cứu chuộc của Người . Mạc khải cách đột ngột sẽ làm dân Do thái không kịp tiếp thu, và như thế sẽ làm hỏng công trình của Người .

+ Mạc khải về con người của Chúa Giêsu chỉ được biểu lộ hoàn toàn nhờ sự phục sinh của Người . Vì thế Người chỉ cho tiết lộ vinh quang của Người sau khi từ cõi chết sống lại .

+ Các ông tuân giữ lời căn dặn đó, nhưng vẫn tự hỏi nhau : Các ông tuân giữ Lời Chúa căn dặn mặc dầu các ông không hiểu . Chứng tỏ đức vâng phục của các ông chứa đựng một niềm tin phó thác vào Chúa Giêsu .

+ Các ông tự hỏi nhau : Chứng tỏ các ông chưa hiểu về biến cố biến hình, mặc dầu các ông đã được chứng kiến, và như vậy các ông cũng không hiểu nổi về sự phục sinh sau cái chết của Chúa Giêsu khi chưa xảy ra . Các ông chỉ hiểu được và đón nhận sau khi Chúa Giêsu phục sinh và Chúa Thánh Thần hiện xuống .

III. ÁP DỤNG :

A / Áp dụng theo Tin Mừng :


1. Chúa Giêsu dùng biến cố biến hình để củng cố niềm tin và chuẩn bị cho các Tông đồ đón nhận và làm chứng về cuộc khổ nạn của Chúa Kitô .

Giáo Hội muốn dùng biến cố biến hình của Chúa Kitô để củng cố niềm tin và niềm hy vọng vào ơn cứu rỗi để ta biết thực hành cuộc tử nạn bằng cách sám hối trong việc hy sinh, hãm mình, chay tịnh ... theo tinh thần Mùa Chay này .

2. Tin nhận mầu nhiệm Tử nạn và Phục sinh của Chúa Kitô, chúng ta hiểu rõ hơn về niềm vui như hoa trái của đau khổ, nhờ đó chúng ta đủ can đảm, đủ nghị lực và thêm khích lệ để đón nhận những gian nan thử thách trong đời sống hàng ngày trong tinh thần hiệp thông với Chúa Kitô vì : cùng chết với Chúa Kitô, chúng ta cùng sống lại với Người .

3. Ngày nay, biến cố biến hình của Chúa Kitô vẫn còn tiếp diễn trong thế gian : qua các dấu chỉ của mỗi biến cố, và nhất là qua hình ảnh của mỗi người vì : "Ai tiếp đón các con là tiếp đón Ta, ai tiếp đón Ta là tiếp đón Đấng đã sai Ta" . Mùa chay giúp ta thay đổi cái nhìn, kiện toàn cách cư xử của ta với tha nhân .

B / Áp dụng thực hành :

1 / Nhìn vào Chúa Giêsu :


+ Chúa Giêsu gọi riêng ba môn đệ lên núi để tỏ mình cho các ông : Chúa cũng muốn tỏ mình ra cho mỗi người chúng ta khi chúng ta biết theo Người lên núi cao qua những giờ cầu nguyện, tĩnh tâm, suy niệm ...

+ Khi biến hình Chúa Giêsu đã được Chúa Cha giới thiệu : "Này là Con yêu dấu ..." . Vậy nếu chúng ta biến hình bằng cách cởi bỏ con người cũ, mặc lấy tinh thần mới của Chúa, chúng ta cũng được Thiên Chúa giới thiệu với mọi người qua đời sống gương sáng và chứng tích ...

2 / Nhìn vào ba Tông đồ, nhất là Phêrô :

+ Khi nhận ra Chúa biến hình, các Tông đồ đã cảm thấy hạnh phúc không muốn rời xa Chúa, chúng ta cũng không muốn rời xa Chúa, khi chúng ta thực sự gặp Chúa qua những giây phút cầu nguyện, suy niệm, lãnh nhận các bí tích .

+ Các Tông đồ gặp Chúa, lúc vinh quang ở Tabor cũng như lúc đau khổ ở núi Cây Dầu . Chúng ta cũng có thể gặp Chúa lúc vui và lúc buồn .


HTMV Khóa X - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn