Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật II Mùa Chay C

Tin mừng Lc 9: 28-36: Chúa Giêsu lên núi cầu nguyện và cuộc biến hình xảy ra đang khi Ngài cầu nguyện, như thế là kết quả của lời cầu

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT II MÙA CHAY C
 

NGÀY 17/03/2019


Tin Mừng Lc 9: 28-36

 (St 15,5-12.17-18; Pl 3,17- 4,1; Lc 9,28-36)

 
Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải
 
BIẾN HÌNH TRÊN NÚI (Lc 9,28b-36)

1. Chúa Giêsu đang ở trong một khúc quanh quan trọng của sứ mạng Ngài. Việc rao giảng ở Gâlilê đã kết thúc. Trong nội bộ nhóm môn đệ. Phêrô vưa suy tôn Ngài là Đức Kitô của TC (9,20) và Chúa Giêsu, khi đón nhận lời tuyên tín ấy, đã hoàn toàn thêm bằng việc loan báo cuộc tử nạn của Ngài (9,22): Ngài không phải là kẻ chinh phục hiển hách mà từ bao đời vẫn mong chờ, cũng không phải là Đấng giải phóng chính trị mà người đương thời mơ tưởng, nhưng là Đấng Messia chịu đau khổ. Thánh giá nằm cuối chặng đường sứ mạng Ngài và là luật sống của Ngài cũng như của các môn đệ (9,23-26): thật là một viễn tượng khắc khổ cay đắng, nhưng đưa đến vinh quang nước trời (9,27). Cuộc biến hình làm cho các môn đệ thấy trước chính vinh quang đó, hầu soi sáng ý nghĩa của cuộc thử thách sắp đến. Chúa Giêsu dành riêng mạc khải này cho ba môn đệ đã đến rất gần mầu nhiệm của Ngài: Phêrô, Giacobê và Gioan. Cả ba cũng vừa được chứng kiến sự sống lại của con gái ông Giâirô (8,51-56).

2. Bài trình thuật của Lc về cuộc biến hình có các đặc điểm chung của phúc âm thứ ba. Tiếng metamorphpthê ("đã biến hình", coi Mc 9,2; và Mt 17,2) xem ra Lc đã cố ý tránh không dùng; nó được thế bằng câu: "dung nhan mặt Ngài ra khác". Quả vậy, phải tránh cho các độc giả Kitô giáo gốc lương dân hình dung ra một tương tự nào đó giữa biến cố này với những chuyện hóa thân của thần thoại ngoại giáo.

Chỉ có Lc ghi rõ Chúa Giêsu lên núi cầu nguyện và cuộc biến hình xảy ra đang khi Ngài cầu nguyện, như thế là kết quả của lời cầu.

Trong Púc âm thứ ba. Môisen và Êlia cũng được mặc lấy vinh quang thiên quốc, hai ông được trình bày như sau: "Có hai người là Môisen và Êlia... hiện đến trong vinh quang". Có nên từ đó suy luận rằng nhị vị ấy tiên báo"hai người mặc áo chói lòa" trong trình thuật phục sinh (24,4) hoặc tiên báo "hai người y phục trắng ngời" (Cv 1,10) đến cắt nghĩa cuộc thăng thiên siêu phàm cho các tông đồ chăng ? Điều đó xem ra hoàn toàn thích hợp với giòng tư tưởng của tác giả phúc âm thứ ba. Êlia đã được cất về trời (2V 2,11; 1Mac 2,58; Hđ 48,9); còn trong kinh thánh (Đnl 34,5), cái chết của Môisen bao trùm màn bí ẩn, nên chắc hẳn đã tạo cơ hội phát sinh cuốn ngụy thư được người ta biết đến dưới cái tên "sự thăng thiên của Môisen"; sau cùng, việc Chúa Giêsu kết thúc đời trần gian được gọi là cuộc "siêu thăng", như tiếng dùng cho Êlia (9,51; x.Cv 1,2.11.22; Mc 16,19) Tất cả những dự kiện góp chung lại đó làm cho chúng ta tin rằng sở dĩ Môisen và Elia có mặt trong bài trình thuật của Lc về cuộc biến hình là vì họ mang tư cách những nhân vật thiên quốc đến báo trước vinh quang tương lai của Chúa Giêsu. Các dữ kiện ấy cũng khiến ta tin rằng trong phúc âm thứ ba quang cảnh này trước hết là tiên trưng của biến cố thăng thiên. Đám mây, mà tác giả phúc âm muốn người ta chú ý vì đã làm cho các môn đệ sũng sờ, có thể đem so sánh với đám mây thăng thiên (Cv 1,9) mà một ngày nào đó sẽ mãi mãi che khuất Chúa Giêsu khỏi mắt người đời.

  1. Điểm đáng chú ý của bài trình thuật là việc Môisen và Elia đàm đạo với Chúa Giêsu về cuộc "xuất hành" của Ngài, nghĩa là cái chết của Ngài "sắp hoàn tất tại Giêtusalem (c.31). Cũng như ở chỗ khác, Lc là tác giả phúc âm duy nhất dùng tiếng doxa (vinh quang:c.32); mối liên hệ ông ta tạo ra giữa sự tử nạn và vinh quang rất gần với quang cảnh của Ga 12,27-28 mà người ta thường coi là tương ứng với câu chuyện Biến hình của phúc âm nhất lãm.

Người ta không nhất trí mấy về ý nghĩa chữ "xuất hành" (exodus). Nhiều người hiểu là "kết thúc" hay là "chết". Theo nguyên tự, chữ đó có nghĩa là "ra đi", mà người Pháp dịch là exode. Lc có lẽ xem toàn thể cuộc tử nạn, sống lại và lên trời như là một cuộc xuất hành mới: nhờ các cuộc tử nạn, sống lại và lên trời như là một cuộc xuất hành mới: nhờ các khổ đau của Ngài, Chúa Giêsu rời bỏ Giêruselem cứng tin, tương ứng với Ai cập, để đi vào vinh quang, tương ứng với Đất hứa của cuộc xuất hành xưa. Với lối chú giải này, người ta đi đến kết luận rằng: cuộc xuất hành mà trong Mc và Mt trùnh vào những ngày Chúa Giêsu bắt đầu đời sống công khai, thì lại được Lc cũng như Gioan đặt vào chặng cuối của cuộc sống Ngài ở trần gian. Cuộc viễn du 40 năm của dân Do thái tiến về đất hứa tương ứng với 40 ngày (Cv 1,3) từ khi sống lại đến lên trời. Tuy nhiên phải nhận rằng cách giải thích này còn gây nhiều vấn đề nan giải. Điều chắc chắn là tiếng xuất hành (exodos) không phải là tiếng thường dùng để chỉ sự chết (x. F,. Josephe, Ant. Jud. 4,8,2). Nhưng trái với hoài niệm xuất hành, người ta thấy rõ là sách tông đồ công vụ gọi cuộc đời Chúa Giêsu là một cuộc "tiến vào" (trong sứ mạng công khai) và "đi ra" (1,21; 13,24).

  1. Như các biến cố khác của cuộc đời Chúa Giêsu, kể cả phép rửa và cám dỗ, cuộc biến hình trong phúc âm thứ ba được qui hướng về tấn kịch cuối cùng và hướng về Giêrusalem. Ngoài những yếu tố khác nhau được ghi lại trên đây, Lc còn là người duy nhất ghi lại điều này: trong cuộc biến hình cũng như ở vườn Giêtsimani, các môn đệ mê ngủ mà họ chỉ chứng kiến sự kỳ diệu khi thức dậy. Trong cùng một ý nghĩa đó, việc Phêrô xin dựng ba lều để kéo dài thời gian đặc ân làm cho ta liên tưởng đến việc hai khách bộ hành đi Emmau cầu xin Đấng - sống - lại ở với họ lâu hơn nữa.
Ngày Chúa Giêsu chịu phép rửa, đã có tiếng từ trời phán ra để trao cho Ngài một sứ điệp tương tự: "Con là Con ta, hôm nay ta sinh ra con" (Lc 3,22). Đó là lời Chúa Cha nói với Con Ngài, là lời tấn phong Đấng Messia theo kiểu CƯ (Tv 2,7) là lời khai mạc sứ mệnh của Đấng cứu thế (theo Mt 3,17: lời Tc nói với đám đông để giới thiệu cho họ Đấng Messia)

  2. Còn trong cuộc biến hình, Chúa Cha ngỏ lời cho chính các môn đệ. Ngài mạc khải cho họ mầu nhiệm Chúa Giêsu: Ngài là Con Đấng đã được chọn. Danh hiệu "Đấng đã được chọn" này, tái xuất hiện khi Chúa chịu treo trên thập giá (23,35), đã gợi lại hình ảnh người tôi tớ (trong Is 42,1), vị tiên tri mang ánh sáng đến cho muôn dân và dùng cái chết để chuộc tội muôn người.

KẾT LUẬN
 
Cuộc biến hình là một gạch nối giữa ánh sáng mau vụt qua của phép rửa và ánh sáng rạng ngời của ngày phục sinh. Trong việc lên Giêrusalem, Chúa Giêsu thấy mình được lời Chúa Cha xác nhận trong sứ mạng Messia chịu đau khổ: Chúa Giêsu là Lời mà hết thảy mọi người phải nghe, là vị hướng đạo chắc chắn cho cuộc xuất hành cuối cùng tiến về cuộc sống sung mãn.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG 

1. Luật muôn đời của đức tin là: vinh quang TC bao giờ cũng chỉ được ban cho chúng ta trong một chớp sáng mau qua vào những lúc được an ủi thiêng liêng sâu xa nhất: vừa sáng đủ để củng cố cho đức tin, vừa ngắn ngủi để khỏi xâm phạm tự do của nó. Suốt thời gian thử thách TC vẫn là Vị TC mai ẩn đối với người tín hữu, bởi vì Ngài là Cha và vì Ngài muốn được các tâm hồn tự do yêu mến.

2. Cuộc biến hình của Chúa Giêsu là sự đáp trả của Chúa Cha đối với việc Ngài chấp nhận cuộc tử nạn với tình yêu. Quả thật, ít hôm trước, Chúa Giêsu đã loan báo cho các tông đồ cuộc tử nạn sắp đến của Ngài. Ngài hoàn toàn ý thức Ngài đang tiến về cái chết. Ngài đón nhận cái chết như do ý muốn Chúa Cha để cứu chuộc nhân loại. Và để đáp trả lời vâng phục đầy tình yêu của con, Chúa Cha mặc cho Chúa Giêsu ánh sáng và vinh quang. Một thời gian nữa, TC cũng làm cho như thế tại Giêrusalem. Chúa Giêsu sẽ uống chén đau khổ và chén sự chết vì tình yêu vâng phục thánh ý Chúa Cha. Và để đáp lại tình yêu đó, Chúa Cha sẽ phục sinh con Ngài trong ánh sáng và vinh quang. Trong đời sống Kitô hữu chúng ta cũng vậy. Nếu trong một vài lúc, sự vâng phục thánh ý Chúa Cha xem ra là một thánh giá nặng nề, chúng ta hãy tin chắc rằng ngày kia sư vâng phục đó sẽ là nguồn vâng phục khôn tả. Và ngay trong cuộc đời này, chúng ta đã được sự bình an của Chúa Giêsu. Với Ngài chúng ta có thể nói: "Tôi không ở một mình, vì có Cha ở với tôi, vì tôi hằng làm đẹp lòng Ngài" (Ga 8,29).

3. Chính đang khi cầu nguyện mà Chúa Giêsu được biến đổi. Thông thường các thánh, hình như cũng được biến đổi nhờ cầu nguyện và ngợi khen. Điều đó không lạ gì cả. Cầu nguyện là một sự gặp gỡ với Chúa Cha, làm chúng ta nên giống Ngài, ít ra là về tinh thần nếu không phải là về thể xác như trường hợp Chúa Giêsu và các thánh. Nếu chúng ta trung thành cầu nguyện, chắc chắn dần dần Chúa sẽ thông ban cho chúng ta ngay trong cuộc sống này một chút gì đó của sự bình an, của niềm hy vọng rạng rỡ của hạnh phúc Ngài.

4. Sau cuộc biến hình, các môn đệ gặp lại Chúa Giêsu với dáng vẻ tầm thường và cuộc sống thường nhật của Ngài lại tiếp tục. Và chỉ sau khi phục sinh, họ lại thấy Chúa Giêsu trong vinh quang của Ngài. Chúng ta cũng vậy, sau khi được an ủi nhiều, sau những cử hành phụng vụ đẹp mắt làm chúng ta sốt sắng, chúng ta lại trở về cuộc sống thường nhật. Tuy nhiên Chúa Giêsu vẫn tiếp tục ở với chúng ta trong mọi biến cố, mọi hành động thường ngày của đời sống. Trên đường đời, cho dù gặp nhiều thánh giá, nếu chúng ta bền tâm đi theo Ngài, một ngày kia chúng ta sẽ gặp Ngài trong mối thân tình êm ái còn hơn cả tình thân thỉnh thoảng chúng ta nếm được trên trái đất này. Vì khi đó, chúng ta sẽ thấy Ngài rõ ràng, mặt đối mặt. Khi đó, chính chúng ta cũng được biến đổi cho đến muôn đời.


Noel Quession - Chú Giải

 
CHÚA NHẬT II MÙA CHAY

Lc 9:28-36

Đức Giêsu đem theo các ông Phêrô, Gioan và Giacôbê.

Thật đáng tiếc, sách bài đọc Chúa nhật đã cất bớt câu của Luca. Ong đã nồi "khoảng tám ngày sau khi nói những lời ấy, Đức Giêsu đem theo các ông Phêrô, Gioan và Giacôbê". Lại càng đáng tiếc hơn, vì ba Tin Mừng nhất lãm đều đồng ý liên kết chặt chẽ biến cố biến hình của Đức Giêsu với cuộc đàm thoại nầy của Người "khoảng tám ngày trước đó" (Mt 17,1-9,2 ; Lc 8,28). Đó là một trong những trường hợp biến cố mà hai giai đoạn trong cuộc đời của Chúa Giêsu được nối liền theo thời gian. Vâng các ông Phêrô, Gioan và Giacôbê phải nhớ đến sự kiện này. Tám ngày trước, đâu có một cuộc đối thoại không thể quên được, gồm hai phần : Trước hết, Người đã hỏi các ông : "Anh em bảo Thầy là ai ?" và Phêrô đã trả lời câu hỏi về "lý lịch" này, bằng cách tuyên xưng đức tin vào Chúa là "Đấng Mêsia của Thiên Chúa"... Rồi ngay sau đó, Đức Giêsu bắt đầu loan báo cho họ biết cái chết sắp tới của Người. "Thầy phải chịu đau khổ nhiều, bị loại bỏ, bị giết chết, và ngày thứ ba sống lại". Đó là cuộc đàm đạo của các ông còn ghi nhớ trong tâm trí.

Việc biến hình liên quan mật thiết với cuộc thương khó và biến cố Phục Sinh. Trong vài tuần nữa, Đức Giêsu lại đem ba người theo Ngài, ba người bạn này đến vườn Ghếtsêmani (Mt 26,37 ; Mc 14,33). Gương mặt của Đức Giêsu mà họ sắp thấy rạng ngời vinh quang, lúc đó họ lại thấy thấm đầy mồ hôi và máu đỏ (Lc 22,44) bị vả tát, rồi phỉ nhổ (Mt 25,67).

Trong cuộc đàm đạo tám ngày trước, Đức Giêsu cũng loan báo cho các ông biết rằng, chính các ông sẽ phải "vác thập giá, của mình để theo Người" (Lc 9,23) và Người nói thêm rằng, "một số người sẽ không phải nếm cái chết, trước khi thấy Nước Thiên Chúa" (Lc 9,27)... "Vương quốc" bí mật này là sự phát triển vinh quang của Thiên Chúa trong nhân loại, thế thì biến cố biến hình phải chăng là một hình ảnh của vương quốc đó ? Lạy Chúa, làm sao con có thể đạt được mềm vui Phục sinh, mà không phải ngang qua con đường khổ giá ? Mùa Chay này có là dịp để giúp con thông hiệp với những đau khổ của Chúa không ? Tuần lễ thứt hai Mùa Chay bắt đầu để "nhờ thập giá tiến đến niềm vui" . Thương khó - Biến hình, cũng là một mầu nhiệm.

Cùng với Phêrô, Gioan và Giacôbê, Người lên núi để cầu nguyện.

Oi ! Thật các ông đã có một dịp may đặc biệt ! Cầu nguyện với Đức Giêsu ! Được thấy Người cầu nguyện ! Nhưng chỉ lát nữa, chúng ta sẽ thấy ngay, dù các ông có hiện diện trong lúc đó, các ông cũng không xứng đáng hưởng dịp may này. Trong khi Chúa Giêsu cầu nguyện thì các ông lại "ngủ". Đức Giêsu thật là "con người của cầu nguyện". Vào mỗi lúc quan trọng của cuộc đời, Người đều cầu nguyện (Lc 3,21 - 5,16 - 6,12 - 9,18 - 9,28 - 10,21 -11,1 - 22,32 - 22,41 - 42-23,84 - 23;46). Trong suốt Tin Mừng của ông, Luca luôn ghi nhận Đức Giêsu tìm sự cô tịch có thể gặp gỡ thân mật với Chúa Cha. Có một bí mật trong con người Đức Giêsu. Ngài sống trong sự thân mật đặc biệt với một Đấng nào đó mà Ngài gọi là "Cha". Đức Giêsu là "con người muốn hướng về Chúa Cha". Đó là chìa khóa khai mở lý lịch sâu xa của Ngài. "Cha" là lời xưng hô đầu tiên khi Ngài còn là một cậu bé 12 tuổi ở Đền Thánh (Lc 2,49) và cũng là lời thưa cuối cùng khi Ngài đã trưởng thành, lúc Ngài chết trên thập giá (Lc 23,46).

Vậy thì, trong Mùa Chay này, tôi sẽ hướng việc cầu nguyện của tôi như thế nào đây ?

Đang lúc Người cầu nguyện, dung mạo Người bỗng đổi khác, y phục Người trở nên trắng tinh chói lòa.

Rõ ràng là Thánh Luca tránh dùng từ biến hình mà Mát-thêu (17,2) và Máccô (9,2) đã dùng để loan báo Tin Mừng cho người đương thời, chúng ta cũng phải biết thích nghi, có thể phải tránh một vài từ. Thính giả của Luca là những người gốc ngoại giáo, hấp thụ văn hóa Hy Lạp, có thể chỉ thấy trong từ "biến hình" một trong rất nhiều biến dạng của những thần linh có tính huyền thoại. Luca thích một thứ ngôn từ bề ngoài có vẻ khiêm tốn hơn nhằm trong lúc cầu nguyện, gương mặt của Đức Giêsu trở nên khác thường". Thực tế, khi ngắm nhìn một số người nam nữ, trong lúc họ sốt sắng cầu nguyện ta cũng có thể thấy gương mặt của họ rạng ngời từ bên trong : cũng chính là con người đó, nhưng có một cái khác thường đang toát ra.
Trong văn hóa Kinh Thánh, biểu tượng "y phục" cũng giúp ta bổ sung cho sự quan sát đầu tiên này. Y phục "trắng tinh và chói lòa" là "dấu chỉ" cho các hữu thể trên trời (Đn 7,9-10,5) Còn các Kitô hũu đầu tiên dùng để nói về Đức Giêsu. Phục Sinh (kh 1,13 , Lc. 17,23-24,4). Đó là tấm áo trắng các bé thơ của chúng ta thường mang khi chịu phép rửa... Ao trắng của những người lớn khi tuyên xưng lại đức tin . . . áo trắng của cô dâu trong ngày cưới , áo của linh mục trên bàn thờ. . . Đó là những dấu chỉ của Phục sinh, dấu chỉ của những môn đệ , chia phần vinh quang với Thầy (Kh 3,4-5 - 3,18-4,4 - 6,11-7,9-9,13)

Khi gợi lên cho ta thấy Đức Giêsu với "gương mặt biến đổi" nhờ cầu nguyện, Luca có ý khích lệ chúng ta. Trong cuộc sống đầy thử thách và thất bại, đầy đau khổ và tội lỗi chỉ có cầu nguyện, vào những lúc nào đó, mới có thể biến đổi chúng ta. Bởi vì chúng ta cũng được "biến đổi" phản chiếu vinh quang của Chúa như một bức gương" (2 Cr 3,18). Khuôn mặt Mùa Chay, phải là khuôn mặt biến đổi !

Có hai nhân vật đàm đạo với Người, đó là ông Môsê và ông Ê-li-a. Hai vị hiện ra rạng ngời vinh hiển, và nói về cuộc xuất hành Người sấp hoàn thành tại Giêrusalem.

Chỉ mình Luca mới nói cho chúng ta biết về đề tài cuộc đàm đạo giữa Chúa và hai chứng nhân vĩ đại của Cựu ước : Họ nói về việc Chúa lên đường, cuộc "xuất hành" (exodou, theo từ Hy Lạp). Chúng ta không hiểu rõ Đức Giêsu đã sống bị ám ảnh và đeo đuổi trước viễn tượng về cái chết của mình như thế nào, cái chết mà Gioan gọi là sự "bước qua" cuộc vượt qua của Người ( Ga 13, 1 ) và Luca gọi là "sự bốc đi" (Lc 9,51-24,51). Đức Giêsu là con người hy sinh chính thân mình. Người biết Người đến để làm gì, sẽ đi về đâu Ngời đi về cùng Chúa Cha , Người "bước vào trong vinh quang bằng cách ngang qua cái chết", và kéo theo Người toàn thể nhân loại. Mầu nhiệm Phục Sinh của Đức Giêsu tại Giêrusalem, là tóm tắt toàn bộ lịch sử con người, tóm tắt định mệnh của tôi : Dù tôi muốn hay không, dù tôi ý thức hay không, tôi cũng đang bước đi trên con đường về với Chúa, bằng cách vượt qua cái chết. Tôi đang "xuất hành", rời bỏ miền đất nô lệ để đến miền đất hứa. Giáo Hội bắt đầu Mùa Chay, vào ngày lễ tro, để nhắc cho ta nhớ định mệnh của ta : "Hỡi người, hãy nhớ mình là bụi tro và sẽ trở về tro bụi !". Nhưng cuộc biến hình sẽ biến đổi tình trạng phũ phàng của ta thành một viễn tượng vinh quang : Nhờ trở thành tro bụi, chúng ta mới bước vào trong Chúa. Niềm tin nơi Đức Giêsu là một điều lạc quan phi thường. Đó là ánh sáng cho mọi người ? Chúng ta đang tiến về với Thiên Chúa.

Ong Phêrô và đồng bạn thì ngủ mê mệt, nhưng khi tỉnh hẳn, các ông nhìn thấy vinh quang của Đức Giêsu và hai nhân vật đứng bên Người. Đang lúc hai vị này rời xa Đức Giêsu, ông Phêrô thưa với Người rằng : "Thưa Thầy chúng con ở đây hay quá ! Chúng con xin dựng ba cái lều, một cái cho Thầy một cái cho ông Môsê, và một cái cho ông Êlia". Ong không biết mình đang nói gì .

Trước cảnh tượng gây ngỡ ngàng mà các ông đang chứng kiến một lần nữa các tông đồ không hiểu gì. Các ông đang sống trong tình trạng tranh tối tranh sáng, vừa tỉnh vừa mê, nói linh tinh. Tiếp cận với thế giới thần linh, không thể nói lên bằng ngôn ngữ rõ ràng được. Khi mọi sự kết thúc, nghĩa là khi Môsê và Êlia đã ra đi, thì các ông mới nhập cuộc, mới ấp úng mở lời. Tại Ghếtsêmani, cả ba người này đều ngủ cả .

Môsê và Elia là những con người của núi Sinai (Xh 38,18-22 ; 1 V 19~9-14). Cả hai như bừng cháy lên vì được gặp cảnh tượng không thể diễn tả. Cả hai, đều đã khơi dậy công cuộc giải phóng dân tộc mình khỏi mọi thần tượng đang chiếm chỗ của Thiên Chúa duy nhất. Đức Giêsu đã đàm đạo thân mật với các vị ngôn sứ lớn trong cựu ước. Trong Mùa Chay tôi có dành thời giờ để mở Kinh Thánh không ?

Ong Phêrô còn đang nói, bằng có đám mây đến bao phủ các ông. Khi thấy mình vào trong đám mây, các ông hoảng sợ.

Khác với Mát-thêu và Máccô, Luca đưa ba môn đệ vào trong "đám mây: là biểu tượng thường xuyên của thế giới thần linh. Vì các Ngài còn không hiểu gì về biến cố. Biến hình vua xảy ra, nên có thể nói, chính Chúa đã muốn mạc khải lần thứ hai cho các ông. Để bước vào trong Chúa, chúng ta cần phải trải qua nhiều giai đoạn liên tiếp. Và một lần nữa, chúng ta lại ghi nhận sự sợ hãi liên tiếp của những người được gặp gỡ Chúa : Vì đó là Đấng hoàn toàn khác". Hơn nữa, họ đâu có gì về việc đó lần này họ cũng lại im lặng.. Tất cả những, định nghĩa tín tý, theo lý trí, về Thiên Chúa, chỉ là những lời lẽ phần lớn là sau những lời nói tầm phèo. Lạy Chúa, Chúa vượt trên mọi quan niệm, chúng con chỉ có thể gọi Chúa là Đấng mà chúng con "không thể nhận biết được". Chúng ta nên im lặng, thinh lặng nội tâm: Chúng ta hãy bước vào bóng mờ của đám mây, trong màn sương mù tạo bóng tối, trong đó ta không thấy cách xa bốn thước, nơi đó, ta phải dò dẫm, tìm đường mà đi.

Và từ đám mây có tiếng phán rằng : "Đây là Con Ta, Người đã được Ta chuyện chọn". Hãy vâng nghe lời Người.

Ở đây Mát-thêu và Luca đã dùng từ "Con yêu dấu" (tiếng Hy Lạp là "Aga pèto). Chỉ có Luca dùng từ "Người con đã được tuyển chọn" (tiếng Hy Lạp là "eklegnlenos"). Những nhà duy lý đề cao lịch sử, thường đặt vấn đề : Thực sự tiếng nói đó đã hàm chứa điều gì ? Các Tin Mừng không hề quan tâm đến việc trả lời sự tò mò đó. Từ "được tuyển chọn", là do Luca tự ý viết ra. Luca tham chiếu nhiều đoạn sách ngôn sứ Isaia trong đó từ này nói về "dân Chúa" một cách tập thể, hay nói về nhân vật bí mật "Người tôi tớ của Thiên Chúa" (Is 42,1~3,20'45,4). Vào lúc Chúa bị đóng đinh, Luca cũng sẽ dùng lại từ này (Lc 23,35).

Chúng ta cũng vậy, chúng ta đã được tuyển chọn do phép rửa của mình và mọi người lựa chọn đều nhằm tách riêng con người ra, để phục vụ kẻ khác. Chúa đã tuyển chọn tôi vì Người đang mong đợi một điều nào đó nơi tôi , một cái gì rất độc đáo.

Tiếng phán vừa dứt, thì chỉ còn thấy một mình Đức Giêsu. Con các môn đệ thì nín thinh, và trong những ngày ấy, các ông không kể lại cho ai biết gì cả về những điều mình đã xem thấy. 

Như vậy thì tốt hơn ! Các ông đã không hiểu gì ngay lúc đó. Sau này các ông sẽ hiểu, khi Đức Giêsu sẽ là "Người tôi tớ", người "được tuyển chọn trong biến cố Vượt qua", trong cuộc xuất hành của Ngài về với Chúa Cha.

Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

 
CHÚA NHẬT II MÙA CHAY
"Khi đang cầu nguyện, diện mạo Người biến đổi khác thường".

BÀI TIN MỪNG: (Lc 9, 28b-36)

Tin mừng nhất lãm đều tường thuật việc Chúa Giê-su biến hình và dựa theo một tài liệu duy nhất. Vì thế xin xem lại phần chú giải Tin Mừng Chúa Nhật II Mùa Chay các năm A vàB. Ơ đây xin thêm một vài chi tiếc đặc biệt của Tin Mừng Luca 9, 28b-36 và một vài ý tưởng thực hành.

1. Biến cố biến hình xảy ra sau khi Chúa Giê-su loan báo về cuộc khổ nạn của Người. Mặc dầu Chúa chưa chịu chết và sống lại, nhưng Người cũng muốn cho ba trong số các Tông Đồ được chiêm ngắm vinh quang của Người dù chỉ trong chốc lát để củng cố niềm tin các ông trên đường theo Chúa và đồng thời để các ông có bằng chứng loan báo về việc Chúa phục sinh sau này.

2. Biến cố biến hình đã được báo trước vì đã xảy ra sau khi Chúa đã hứa cho các Tông Đồ rằng: "Quả thật, Ta bảo các ngươi, trong những kẽ có mặt đây, có người sẽ không nếm cái chết trước khi thấy Con Người đến trong vinh quang của Người" (Mt 16,28)

3. Biến cố này cũng xảy ra sau khi Phêrô tuyên xưng Chúa Giê-su là Đức Kitô của Thiên-Chúa (Lc 9,20). Và Chúa Giê-su, khi đón nhận lời tuyên xưng ấy đã dùng cuộc biến hình này để chỉcho các Tông đồ thấy trước chính vinh quang đó, hầu soi sáng cho các ông thấy rõ ý nghĩa của cuộc thử thách mà Người đã loan báo, tức là cuộc thương khó và tử nạn sắp sảy đến, đồng thời Chúa Giê-su cũng muốn chứng minh rằng Người không phải là kẻ chinh phục hiểm hách mà từ lâu bao đời mong chờ, cũng không phải là đấng giải phóng chính trị mà người đương thời mo tưởng, nhưng Người la đấng Thiên Sai chịu đau khổ.

4. Chúa Giê-su đưa Phêrô, Giacôbê và Gioan… cũng như xưa: Maisen khi lên núi Sinai đã đem một số người đồng hành, trong số có ba người được nêu tên: Anron, Nađát và Abihu (Xh 24,9) thì Chúa Giê-su cũng đưa theo ba tông đồ lên núi cao. Ba ông này được chọn riêng trong ba trường hợp:

+ Chúa cho con ông Giairô sống lại (Mt 9,18)

+ Chúa biến hình (Mt 17,1)

+ Vườn Cây Dầu (Mt 26,3)

Sự hiện diện của ba tông đồ trong cuộc biến hình cũng cần thiết để sau này làm chứng cho Chúa. đồng thời cũng cần có ba người để lời chứng có giá trị (Dnl 19,25). 

5. Núi cao. Khi kể lại biến cố này, các Tin Mừng nhất lãm chỉ nói là: "lên núi cao" mà không nói rõ là núi nào. Cũng giống như trường hợp khi Chúa Giê-su chịu cám dỗ, chỉ nói trên núi cao. Sự trùng hợp này cho thấy có một sự liên hệ chặt chẽ giữa hai biến cố: Cám dỗ và Biến hình; để thưởng công Chúa Giê-su chịu cám dỗ đã khiêm tốn và tin tưởng vào Chúa Cha, nên Chúa Cha cho biến hình trong vinh quang, đó là một cách thực hiện trước biến cố Phục Sinh.

Tuy Tin-Mừng không cho biết rõ là núi nào, nhưng thánh truyền (Thánh Cyrillô và Hiêrônimô) cho biết đó là núi Thabor. Núi này cao 970 mét thuộc miền nam Galilê về phía đông Nagiarét. Trong vòng sáu ngàych có thể đi lại từ Cêsarê Philipphê và đến núi Thabor.

6. Mấy chi tiếc đặc biệt của Luca:

6.1/ Bản văn phụng vụ việt là "khi ấy" nhưng Mt và Mc viết là "sáu ngày", còn Lc ở đây viết là "khoảng tám ngày". Luca nói "khoảng" có nghĩa là xê dịch tuỳ ý cách tính ngày. Điều quan trọng hơn là khi nhắc đến thời gian nối liền hai biến cố: Việc tuyên xưng của Phêrô tại Cêsarê (Mt 16,16) và việc biến hình trên núi. Việc biến hình sảy ra sau là để chứng thực lời tuyên xưng của Phêrô: "Thầy là Đức Kitô của Thiên-Chúa".

6.2/ Mt 17,2 và Mc 9,2 dùng chữ "biến hình" còn Lc ở đây lại dùng kiểu nói "diện mạo người biến đổi khác thường". Lc viết cho những người lương dân trở lại, nên ông không dùng chữ "biến hình" vì sợ dân ngoại hiểu lầm mà hình dung ra một tương tự nào đó giữa biến cố này với những chuyện "hóa thân" của thần thoại ngoại giáo.

6.3/ Chỉ có Lc mới ghi rõ Chúa lên núi cầu nguyện và cuộc biến hình xảy ra đang khi cầu nguyện. Viết như vậy Luca có ý cho thấy rõ cuộc biến hình là kết quả của cuộc cầu nguyện. Tin mừng Luca có ghi nhiều lần Chúa Giê-su cầu nguyện:

-Lc 3,21: Khi Chúa Giê-su chịu phép rửa.

-Lc 6,12-13: Khi Chúa Giê-su chọn 12 tông đồ.

-Lc 9,8: Khi Phêrô tuyên xưng đức tin.

-Lc 9,28: Khi Chúa Giê-su biến hình.

-Lc 10,21: Khi các tông đồ đi thực tập về. 

-Lc 11,1: Khi các môn đệ xin Chúa dạy cầu nguyện.

-Lc 21,37-28 trong những ngày cuối đời Người thường lên núi cầu nguyện.

-Lc 22,39-45: cầu nguyện ở núi Cây Dầu.

6.4/ Trong Tin-Mừng của Luca, Maisen và Elia cũng được ma95Cha lấy vinh quang thiên quốc: "Maisen và Elia hiện đến uy nghi". Điều này có ý nghĩa tương quan rằng:

- Hai vị này tiên báo "Hai người mặc áo chói lòa "Trong biến cố Chúa Phục Sinh" (Lc 24,4).

- Hai vị này tiên báo "hai người y phục tráng ngời" (Cv 1,10) đến cắt nghĩa cuộc thăng thiên siêu phàm cho các tông đồ.

Sự liên tưởng này cho thấy: theo Luca thì Maisen và Elia ở đây mang tư cách những nhân vật thiên quốc đến báo trước vinh quan biến cố thăng thiên. Đám mây ở đây mà tác giả muốn " làm cho người ta chú ý vì đã làm cho các tông đồ sững sờ" (9,34), có thể đem so sánh với đám mây thăng thiên (Cv 1,9).

6.5/ Các tông đồ mê ngủ và họ chỉ chứng kiến sự việc sau khi thức dậy (Lc 9,32) có liên tưởng đến biến cố ở vườn Cây Dầu (Lc 22,45-46).

6.6/ Việc Phêrô xin dựng ba lều để kéo dài thời gian đặc ân làm cho ta liên tưởng đến việc hai khách bộ hành đi Enmaus xin Đấng ở lại với họ lâu hơn nữa.

6.7/ Một vài áp dụng thực hành:

a. Chúa tỏ vinh quang cho các Tông Đồ ở đây vừa rõ ràng, vừa ngắn ngủi chớp nhoáng. Điều này chứng tỏ những an ủi thiêng liêng Chúa ban cho ta vừa đủ để củng cố đức tin vừa ngắn ngủi chớp nhoáng để khỏi xâm phạm tự do của ta.

b. Cuộc biến hình của Chúa Giê-su là sự đáp trả cũa Chúa Cha đối với việc Người chấp nhận cuộc tử nạn.

Trong đời sống đạo của chúng ta cũng vậy. nếu trong một vài lúc, sự vâng phục thánh ý Chúa xem ra là một thánh giá nặng nề, chúng ta hãy tin chắc rằng ngày kia sự vâng phục đó sẽ là nguồn vui khôn tả. Với Chúa, chúng ta có thể nói như Chúa Giê-su "Tôi không ở một mình, vì có Cha ở với Tôi, vì tôi hằng làm đẹp lòng Cha" (Ga 8,29).

c. Chính đang khi cầu nguyện mà Chúa Giê-su được biến đổi. Lời cầu nguyện đích thực của ta là lời cầu nguyện làm biến đổi ta mỗi ngày.

d. sau cuộc biến hình, các tông đồ thấy Chúa Giê-su với giáng vẻ bình thường và cuộc sống thường nhật của Người lại tiếp tục. Và chỉ sau phục sinh họ lại thấy Người trong vinh quang của Người. 

Chúng ta cũng vậy, sau khi được an ủi nhiều, sau khi được sốt sắng trong những việc làm đạo đức hay cử hành phũng vụ thánh lễ long trọng nào đó, chúng ta lại trở về cuộc sống thường ngày. tuy nhiên Chúa Giê-su vẫn tiếp tục ở với chúng ta trong mọi biến cố, mọi hành động thường ngày của cuộc sống.

e. Chúa tỏ vinh quang trong biến cố biến hình là củng cố niềm tin cho các tông đồ.tin tưởng vào phần thưởng vinh quang sau cuộc sống trần gian sẽ là động lực mạnh mẽ giúp chúng ta chịu đựng cách kiên nhẫn trước những gian nan thử thách của cuộc đời.

g. chiêm ngắm Chúa là một hạnh phúc lớn lao khiến Phêrô quên mọi sự khác.

lòng đạo đức đích thực là lòng đạo đức khiến chúng ta sẳn sàng từ bỏ mọi sự, qur6Người hết mọi sự để yêu mến, gắn bó và theo Chúa luôn mãi.

h. "hãy nghe lời Chúa": Thiên-Chúa phán với ta lời này mỗi khi chúng nghe đọc, suy niệm lời Chúa.nghe ở đây có nghĩa là biết, rồi hiểu và đem ra thực hành.

Những gì các ngươi làm cho những người bé mọn này là làm cho chính ta.

Bạn sẽ gặp Đức Kitô nơi người nghèo đói, bệnh tật, thất học, cô đơn.

Nếu bạn thấy vinh quang Chúa nơi họ, bạn sẽ phục họ cách vị tha.

Các tông đồ được thấy Chúa hiển dung đã: "Xin dựng ba lều" cho Chúa, mà không giữ cho m ình cái nào cả.

HTMV Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn