Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật II Mùa Vọng B

Tin mừng Lc 1: 1-8: Đoạn Tin mừng hôm nay đặt ta và thời tiền sứ vụ của Chúa Giêsu tại Galilê. Vào giai đoạn này xuất hiện dung mạo ngôn sứ của Gioan Tẩy giả, vị tiền hô loan báo và giới thiệu Chúa Giêsu...
CHÚ GIẢI TIN MỪNG  
 
 CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG B    
   
    NGÀY 10/12/2017    
   
   
 
 
  Tin mừng Lc 1: 1-8

 

Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

SỨ VỤ CỦA GIOAN TẨY GIẢ, KHỞI

NGUYÊN CỦA TIN MỪNG


CÂU HỎI GỢI Ý

1. Theo Mc và lời rao giảng sứ đồ sơ khai (Cv 1,21t; 10, 37; 13, 24) thì khởi nguyên của Tin Mừng là gì?

2. Chữ "Tin Mừng" trong câu 1 có những ý nghĩa nào? Phải chăng đấy là tên của cuốn sách?

3. Câu của ngôn sứ Malaki (3.1) mà Mc trích dẫn ở đây ( 1,2)

còn nằm chỗ nào khác trong Tin Mừng Nhất lãm? Vị trí của nó tự nhiên hơn trong Mc hay trong Mt và Lc?

4. Phép rửa của Gioan có ý nghĩa gì đối với biến cố thiên sai sắp đến?

5. Tại sao Mc đã phóng đại chi tiết về Giuđê và Giêrusalem (c 5)?

(xem Ml 3,4 và Is 40,3).

6. Tại sao Mc (và Tin Mừng Nhất lãm) đều mô tả Gioan mặc áo lông lạc đà và ngang lưng thì thắt xiêm bằng da thú vật" (c.6)? (xem 2V 1,8 và Dcr 13,4).

7. Đâu là cao điểm ctỉa đoạn văn này?

8. Sự trổi vượt của Chúa Giêsu trên Gioan, theo đoạn văn này, nằm ở chỗ nào?

Nếu Luca là thánh sử duy nhất song đối thời thơ ấu của Gioan Tẩy giả và của Chúa Giêsu, thì cả bốn thánh sử đều nhất trí đặt khuôn mặt của vị Tiền hô ngay trước ngưỡng cửa đời công khai của Đấng Cứu thế. Trong vui mừng và thống hối, Hội thánh đang chuẩn bị cử hành việc Chúa Giêsu đến lần thứ nhất, chuẩn bị sống lại "trong mầu nhiệm" biến cố đó vào ngày lễ Giáng sinh? đang khi chờ đợi Người đến lần thứ hai, chờ đợi cuộc tái lâm của vị Thẩm phán tối cao. Rồi vào ngày 6 tháng Giêng và Chúa nhật kế tiếp, Hội thánh sẽ liên kết việc "thần hiện" ở Bêlem với việc thần hiện xảy ra ở sông Giođanô, lúc Chúa Giêsu chịu phép rửa. Vậy làm sao Hội thánh lại không ao ước đọc lại những bài tường thuật được linh ứng đề cập đến sứ vụ của kẻ đã là chứng nhân niềm vui thiên sai (Ga 3,29), kẻ loan báo ngày phán xử, kẻ dọn đương và làm phép rửa cho Chúa Giêsu? Với một câu dứt khoát, Mc đã nói lên tầm quan trọng của sứ vụ kẻ ấy: sứ vụ đó là khởi nguyên của Tin Mừng".

I.TIN MỪNG KHỞI ĐẦU VỚI GIOAN (c.1)

a – Khởi nguyên của Tin Mừng …

Cuốn sách Mc mở ra một cách đột ngột bằng một mệnh đề không có động từ. Người ta đã xem đây là tiêu đề của cc.1-8 nói về việc rao giảng của Gioan Tẩy Giả hay của phần nhập đề (cc 1-13) hoặc là nhan đề của cả tác phẩm (x. CE.B. Cranfield, The Gospel according to St Mark, Cambridge, 1 963, tr.34tt). Nếu câu 1 là nhan đề của cả tác phẩm thì sứ vụ của Chúa Giêsu và cuộc tử nạn của Người chỉ là khởi đầu Tin Mừng, Tin Mừng này sẽ được tiếp nối bằng sứ mạng của Hội thánh, ý kiến này có thể đúng, nhưng không có gì chứng tỏ rằng Mc quan niệm hoạt đông của Hội thánh như là một phần của Tin Mừng, như thể Hội thánh phải rao giảng về chính mình vậy: vì thế chính nội dung tác phẩm của Márcô, thì Tin Mừng mà Hội thánh phải loan báo là chính biến cố cứu rỗi đã xảy ra trước đó và đã khai sinh ra Hội thánh, tức sứ vụ của Chúa Giêsu và cuộc Vượt qua của Người.

Thành thử chúng tôi nghĩ rằng câu 1 là tiêu đề của bài tựa Mc: hoạt động của Gioan, Tiền hô và Tẩy giả của Chúa Kitô, là mào đầu cho biến cố cánh chung tức là sứ vụ, là cuộc Khổ nạn và tôn vinh của Chúa Giêsu. Ta biết rằng chữ "Tin Mừng", mượn từ Cựu ước (Is 40,9; 52,7; 61,1...) là "một tiếng tương đương với chữ lời rao giảng sứ đồ sơ khai (kérygme)" (C.H.Dodd, La prédication apostolique et ses développements, bản dịch pháp ngữ Paris, 1964, tr.61 ). Lời rao giảng sứ đồ sơ khai này được khai triển trong Mt, Mc, Lc và cả Ga, và được đặc biệt lưu giữ trong các diễn từ của sách Công vụ Mc. Vì không có trình thuật nào về thời thơ ấu và vì chỉ giữ lại rất ít lời nói của Chúa Giêsu, nên gần với lời rao giảng đó hơn hết.

Thế mà lời rao giảng sứ đồ (Cv1,21 t; 10.37; 13,24), cũng như cuốn Tin Mừng Mc, mở đầu bằng sứ vụ của Gioan T6ảy Giả. Thành thử chính sứ' vụ này làm nên "khởi nguyên của Tin Mừng". Ý nghĩa thu hẹp của thành ngữ "Khởi nguyên Tin Mừng" được xác nhận do công thức tương tự nằm trong Hôse 1,2, nơi người ta thấy có một tiêu đề thứ hai dẫn vào chương nhất: (Khởi đầu điều Giavê đã phán qua Hôsê" sau một nhan
đề chung cho cả cuốn sách.

b)… Tin Mừng Chúa Giêsu con Thiên Chúa.

Thành thử bài tựa của Mc mở ra với việc đề cập đến Tin Mừng; Bài tựa này ta có thể kéo dài cho tới câu 15, nếu muốn nó kết thúc cùng một cách thức (Hãy tin vào Tin Mừng") theo lối đóng khung, bao hàm" (M.E.Boismard. Evangile des Phionttes et problème synoptique (Mc 1.2-6 et par ) trong Revue biblique 73 ( 1966) tr.324 ).

Tiếng "Tin Mừng" rất năng gặp nơt Mc, người duy nhất trong bốn thánh sử dụng nó nhiều lần một cách trống, không có quán từ hay túc từ, như Phaolô thày ông. Nhân vì có câu nói Chúa Giêsu kêu gọi dân chúng tin vào Tin Mừng" (1, 14 ), nên thành ngũ "Tin mừng của Thiên Chúa (1,l4), một thành ngữ vừa có nghĩa Tin Mừng bởi Thiên Chúa mà đến, vừa có nghĩa Thiên Chúa là đối tượng của Tin Mừng vì Ngài khơi dậy biến cố cánh chung, thành ngữ đó buộc ta cũng phải hiểu câu 1 theo nghĩa của một thuộc cách khách thể (génittt objectil". Tin Mừng có đối tượng là Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa) và theo nghĩa của một thuộc cách chủ thể (génittf subiectìl': Tin mừng do Chúa Giêsu giảng rao, trước hết bằng vtệc loan báo - theo cách thức một truyền lệnh sứ của lời rao giảng - sự can thiệp quyết liệt của Thiên Chúa, trong khi chờ đợi mặc khải vai trò trung tâm và tính cách siêu việt của bản thân Người qua các phép lạ và qua uy quyền" của giáo huấn Người) (J. Delorme, Aspects doctrinnaux du second Evangile, trong Eph. theol. lov. 43 ( 1907), tr.84-86.). Thứ đến, tính cách song đối giữa "vì Chúa Kitô" và vì Tin mừng" (8,35; 10,29; 13, 9t) xác nhận rằng, đối với Márcô, Tin Mừng là chính Chúa Giêsu: là biến cố Giêsu, cái biến cố mặc khải cho mắt đức tin mầu nhiệm về bản tính thiên sai Cứu Chúa và Con Thiên Chúa của Nguời, là sứ điệp mà đối tượng là biến cố ấy, nghĩa là lịch sử cuộc tỏ mình của Chúa Kitô, Đấng tự mặc khải bằng cách mặc khải điều mà Thiên Chúa hoàn thành giữa chúng ta nhờ Người" (J.Delorme, sđd, tr.84). Cuối cùng, những chỗ đề cập đến việc loan báo Tin mừng khắp thế giới (13,10; 14, 9) do các môn đồ đã được chọn để tiếp nối Chúa Kitô (1,16-20; 3, 13-15; 6,7), nhắc lại cho ta nghĩa vụ tham gia vào công tác truyền giáo của Hội thánh - dù phải hy sinh rất nhiều (8,35; 10,29 ) - và cho ta thấy Mc đã nuôi ý định đích thân tham gia vào công tác đó khi ông khai triển những điểm đầu tiên của lời rao giảng có liên quan đến sứ vụ eủa Chúa Giêsu và việc chuẩn bị của Gioan Tẩy Giả, những điểm mà lời rao giảng về Phục sinh của các sứ đồ đã không khai triển đúng mức.

Thành thử Mc muốn chứng minh qua cuộc sống tiền phục sinh của Chúa Giêsu, rằng người là Chúa Kitô và là con Thiên Chúa theo nghĩa chức năng và nghĩa siêu việt mà Hội Thánh đương thời đã gán cho hai tước hiệu này. Nhờ ánh sáng phục sinh, các Kitô hữu đã hiểu theo nghĩa của Chúa Giêsu là Đấng Thiên sai đã được tiên báo và là "Con Thiên Chúa '' mà Thánh vịnh 2,7 đã nói tới ngày xưa (x. Cv 13,33; Dt 1, 5): không phải là Đấng thiên sai trần thế và quốc gia mà quần chúng Do thái mong đợi, nhưng là hữu thể mầu nhiệm mà nhờ đuợc mạc khải như là Chúa (Cv 2,36) và được thần khí "xức dầu" (4;26t; 10,38.) qua việc phục sinh, đã được ban khả năng để giải phóng mọi người khỏi Satan, tội lỗi, đau khổ và cái chết. Bây giờ, khi đọc lại lịch sử tiền phục sinh Mc kể cho họ, họ sẽ hiểu rằng Chúa Giêsu đã mặc khải, nơi hoang địa và trong đời công khai của Người (đặc biệt của các lần trừ quỷ ). Cuộc chiến thắng giải phóng mà Người đã thu lượm được nhờ cuộc Tử nạn và phục sinh, cuộc chiến thắng vốn đã xác nhận tước hiệu Kitô của Người. Họ cũng sẽ hiểu rằng Chúa Giêsu qua mệnh lệnh buộc tất cả phải im lặng, đã không muốn tiết lộ quá sớm cho người Do thái biết tước hiệu Messia (Kitô ) này; rằng chính Phêrô cũng đã không hiểu gì ngay khi vừa tuyên tín "Thầy là Chúa Kitô" (8,29-33); rằng tước hiệu quen thuộc "Con Thiên Chúa" (x. Gl 1,16; Cv 9,l2; Rm 13t; 1Ga 4, 15), được tiếng Chúa Cha công bố (1,11; 9,7) nhưng bị che dấu vớ i mọi người cho đến cuộc Phục sinh (9,9; x. 3, 11 t), chỉ đuợc Chúa Giêsu đòi hỏi (14, 61) và được kẻ đại diện thế giới ngoạt giáo tuyên xưng (15,39) vào lúc kết án và lúc Con.

Thiên Chúa chết đi: các tước hiệu vinh quang của Chúa Giêsu, Người Tôi tớ Giavê, chỉ có thể được hiểu đúng qua mầu nhiệm đau khổ của Người. Và các Kitô hữu sẽ biết rằng họ chỉ có thể tltyên xưng cách đúng đắn Giêsu là Chúa Kitô và là con Thiên Chtía khi họ bước đi theo Người trên đường đau khổ (8,34tt; 10,35-45).

Như vậy, Mc đã gán danh hiệu Tin mừng cho cuộc Tử nạn phục sinh và cho cả lịch sử tiền phục sinh mà trong đó ông giúp khám phá ra những chiều kích siêu việt của con người Chúa Giêsu điều ông muốn tường thuật, chính là Tin mừng về cuộc chiến thắng mà Chúa Giêsu đã bắt đầu, rồi thực sự hoàn thành trên các quyền lực của sự ác, cuộc chiến thắng mà nhờ đó Người đã tự mặc khải như là Kitô và Con Thiên Chúa ngay cả trước khi được tấn phong trên trời. Và sứ vụ của Gioan Tẩy giả, kẻ giới thiệu và loan báo trực tiếp Chúa Giêsu, làm tiên "khởi nguyên" của Tin mừng đó, theo chứng từ của Kinh thánh (c.2-3) nghĩa là theo chương trình cứu độ của Cbúa Cha, Đấng mà tiếng nói đã vang lên lúc Gioan làm phép rửa cho Con yêu dấu Ngài.

2.GIOAN TẨY GIẢ NHẬP CUỘC.(cc.2-6)

Dù tác giả ý thức hay không, thì cơ cấu của tiểu đoạn 2-6 hình như tương ứng với một luợc đồ A-B-B'-A' (theo Boismard): hai bức tranh song song, một về Gioan Tẩy giả đang rao giảng phép rửa thống hối để được tha tội (c.4.), một về đám quần chúng đang đến với Ông để thú tội. Và lãnh phép rửa (c.5), tạo nên phần nòng côt nằm giữa một phần nhập đề (c 2-3) có trích dẫn ngôn sứ (với tiếng kêu trong hoang địa và một phần kết luận (c.6) nhắc đến y phục kiểu ngôn sứ của Gioan (với thức ăn ở hoang địa).

a- Chứng từ của các ngôn sứ (cc.2-3).

Hai câu trích dẫn Ml 3,1 và Is 40,3; được gán cho Isaia vì phỏng chừng, đã đặt ra nhiều vấn đề cho các nhà phê bình. một phần vì chỗ đứng của chúng, một phần vì nội dung của chúng. Câu của Malakia chỉ có trong Mc ở chỗ này, nhưng nơi Mt và Lc nó lại nằm trong đoạn nói về việc Chúa Giêsu làm chứng cho Gioan Tẩy Giả sau khi đoàn sứ giả của ông ra đi (Mt 11, 10; Lc 7,27). Sự nhất trí của Mt và Lc ngược với Mc, chỗ đứng khá tự nhiên của lời trích dẫn trong văn mạch hai Tin mừng này, bổ đề của câu trích dẫn (Mc 1,2 song song) (nơi một mình Isaia được kể tên), sự kiện Ga 1,23 cũng chỉ trích dẫn Isaia, tất cả khiến ta nghĩ rằng hản văn của Ml 3, 1a trong Mc 1,2b là một câu được Mc thêm vào nguồn tài liệu chung của các tác giả Nhất lãm. Sau khi cố ý loại bỏ trình thuật về đoàn sứ giả của Gioan, có lẽ Mc đã không rnuốn để mất yếu tố cổ truyền này của chân dung Gioan, nên đã sử dụng nó để thêm cho phần nhập đề; vả lại Ông cũng muốn liên kết Ml 3, 1 với Is 40, 3, bởi vì cả Hai câu trích dẫn đều có chu ng mộ tư tưởng là dọn đuờng cho Chúa. Có lẽ cũng chính ông đã đảo lộn thứ tự sơ khởi để đem lời trích dẫn Thánh Kinh lên đầu đoạn văn (thứ tự mà Mt-Lc tôn trọng và có vẻ tự nhiên hơn vì lời phát biểu về vai trò của Gioan phải nằm trong lời Kinh Thánh mô tả về ông mới hợp lý ); làm như vậy, Mc có được một đoạn mở đầu long trọng hơn (mà các thánh sử khác không cần, vì đã có một bài tựa về thời thơ ấu) và nhất là nhờ đấy Mc có thể làm nổi bật tư tưởng này là: khởi nguyên của Tin mừng cứu độ đã được chính các ngôn sứ xác nhận là vào lúc Gioan Tẩy Giả xuất hiện" (L.Vaganay, Le problème synoptique, Tournai-paris, 1954, tr. 346tt). Vả lại lý do chính này về cách xếp đặt của Mc vẫn có giá trị, dù nếu ta chấp nhận giả thiết này rằng Mt và Lc đã sử dụng bản văn Mc và đã muốn sắp xếp lại thứ tự cho hợp lý hơn.

Ta hãy trở lại với lời trích dẫn của câu 2. Ngoài một chữ "Ta" không có trong Lc và thành ngữ "đàng trước ngươi" không có trong Mc, lời trích dẫn hoàn toàn giống nhau trong Mc cũng như trong Mt 11,10 và Lc 7,27. Cái cốt yếu lấy từ Ml 3,1a: "Này Ta sai thần sứ Ta, kẻ sẽ vén đường bạt lối trước nhan Ta". Nhưng rất có thể ảnh hưởng của bản văn tương tự là Xh 23,20 (LXX) ("Này Ta sai thần sứ Ta đi trước mặt ngươi để gìn giữ ngươi trên đường") đã khiến các thánh sử viết "mặt ngươi" thay vì "nhan Ta" để biến vị sứ giả thành tiền hô không phải của Thiên Chúa nữa, nhưng là của Đấng mà Ngài đang nói với, của vị "Chú a" mà Ml 3, 1b đề cập và đối với thánh sử (có lẽ trừ ở Lc 1, 17.76) là Chúa Giêsu và Gioan Tẩy giả là sứ giả Thiên Chúa sai đi trước Chúa Giêsu dọn đường cho Người: đây là điều Mc muốn nói, là điều ông gán cho chính Thiên Chúa nói qua lời Thánh Kinh. Ngoài ra Mc khó mà không nghĩ đến đoạn cuối sách Malaki (3,23t) trong ấy một soạn giả linh ứng đã gán cho con người Êlia vai trò tiền hô mà Malaki đã xác định ở đầu chính chương 3: Mc 9,12 trích dẫn đoạn cuối này và quả quyết rằng Elia đã đến, trong khi đó đoạn song song Mt 17, 11-13 (x. Lc 1, 17 và nhất là Mt 11, 14) nói rõ đó là Gioan Tẩy giả. Thật ra Gioan không phải là Elia (Ga 1,21), và Lc tránh đồng hóa hai vị này (x. H.Sahlin, Der Messias und das Cottesvolk. Uppsala, 1954, tr.81; P.Benoit trong Exégcsc et théologie III, 1968, tr.180; M.E. Boismard. sđd, tr.327; R. Swaeles, trong Assemblécs du Scigneur, lèrc séric, 1969, tr.55tt). Nhưng bởi vì Gioan Tẩy giả đã được sai đi trước Chúa Kitô" (Ga 3,28) trong thần khí và quyền năng của êlia" (Lc 1,17) để báo Đấng Thtên sai, làm phép rửa cho Người và chuẩn bị dân chúng bằng việc mời gọi thống hối, nên ông đã thực hiện niềm hy vọng của dân Do thái, niềm hy vọng Êlia sẽ trở về trong tư thế Tiền hô với trách nhiệm loan báo sự xuất hiện của Đấng Thiên sai thẩm phán cánh chung, và theo chứng từ của thánh Gustinô xức dầu cho Người nữ (x M.E.Boismard. Elie dans le Nouveau rrcstament, trong Elie le prophète (Études Carmélitaines) I, 1956, tr. 116-125; M.I.Sliassny, Le prophète Elic dans le Judaisme, ibid, 11, 1956, tr. 199-255). Để xác dịnh ngay từ đầu sứ mạng của Gioan như là sứ mạng của một con người được tiền định để dọn đường cho Chúa, Mc còn sử dụng bản văn Is 40,3 (I-XX); và đây ông gặp lại các thánh sử khác. Hình như tất cả đều hiểu chữ "Chúa" như ám chỉ Chtía Giêsu Kitô, và các Tin Mừng Nhất lãm (hay đúng hơn nguồn của chúng) đã sửa đổi bản văn của bản LXX theo viễn tượng này bằng cách viết lời của Nguời'' thay vì lối của Thiên Chúa chúng ta". Đàng khác, thành ngữ "trong hoang địa" sẽ được gặp lại trong câu sau, như làm âm vang cho bản văn Is. Như các "thầy dòng" Qumrân (mà Gioan hẳn có tiếp xúc và họ đã sử dụng Is 40 rất nhiều) đã lui vào hoang địa để mở đường cho Thiên Chúa theo sấm ngôn (x. 1QS VIII, 1-14), thì Gioan cũng rao giảng trong hoang địa để

dọn duờng cho "Chúa Giêsu", bằng việc thúc đẩy mọi nguời hối cải và như vậy chuẩn bị cho họ bước theo "Đấng đang đến".

b- Gioan Tẩy giả và chủ đề rao giảng của ông (c.4).

Điều nói bây giờ về Gioan là điều thực hiện các sấm ngôn, đặc biệt sấm ngôn Is 40,3: ông ở trong hoang địa" và tại đó ông hô lớn" lời khuyến dụ mọi người hối cải, để dọn đường cho Chúa ( Giêsu).

Mc bắt đầu bằng cách gán cho ông một danh hiệu: "Người rửa" (Lc baptisant) (x. 6,25; 8.28). tương ứng với danh từ "Tẩy giả" (Lc baptiste) của Mt 3,1 (nhưng nhấn mạnh hành động làm phép rửa hơn). Trong Tin mừng Mc và Lc, phép rửa thống hối là đối tượng đặc biệt của ''lời rao giảng" của Gioan.

Hai hoạt động khác nhau, nhưng tương quan với nhau được diễn tả bằng một thành ngữ duy nhất: rao giảng để mời gọi hối cải và ban một phép rửa cũng có tương quan với sự hối cải.

Tương quan ấy là gì? Mặc dù Mc dùng cách diễn tả của Kitô giáo để nói về phép rửa của Gioan, chắc chắn lúc đó phép rửa này chưa có hiệu năng như phép rửa Kitô giáo; tuy nhiên nó cũng đã rõ ràng vượt quá một nghi thức thanh tẩy bên ngoài. Ta biết rằng trong Do thái giáo có làm phép rửa cho các tân tòng (phép rửa này không được chứng thực trước thế kỷ thứ 1, nhưng dám chắc đã có từ trước); nó có một giá trị thanh tẩy theo nghi thức và vế sau mặc thêm ý nghĩa bổ túc là khai tâm vào Do thái giáo. Trái lại, các cuộc tắm gội, vốn là những hành vi phụng tự đích thực mỗi ngày, của người Essên mà sử gia Josèphe có đề cập đến, và của những ẩn sĩ ở Qumrân, thì có ý nghĩa vừa trên bình diện luân lý vừa trên bình diện nghi thức: chẳng phải là tự chúng đem lại sự trong sạch luân lý đâu; nhưng sự trong sạch này, vốn là kết quả của

nỗ lực "trở về với luật Môisen" và là một ân huệ của Thiên Chúa, là điều kiện phải có trước khi tắm gội; việc tắm gôi này làm dấu chỉ và dấu ấn xác nhận sự trong sạch luân 1ý ấy, đồng thời cũng thanh tẩy cả xác thịt, xác thịt mà người ta thường quan niệm là đã bị tội lỗi làm cho nhơ bẩn cả bên ngoài (x.J.Delormc, La pratique du baptême dans le udaisme contcmporain des origincs chrétiennes, trong Lumicrc et vie 26 (1956) tr 21-60; J.Schmiu, mục Jean (le Baptiste) trong Catholicisme (1963); Assemblées du Seigneur, lère serie, 21, tr.50-79).

Dù Gioan Tẩy giả có thuộc về phong trào Essêni ở Qumrân hay không, thì phép rửa của ông rất giống với phép rửa của người Essêni, nhất là ở điểm trong cả hai phép rửa, nghi thức diễn tả một sự hoán cải nội tâm; sự hoán cải này, vốn là một hành vi nhân linh vừa là một ân huệ Thiên Chúa, chuấn bị các tâm hồn đón nhận sự can thiệp cánh chung sắp đến của Thiên Chúa. Tuy nhiên giữa hai phép rửa cũng có những dị điểm quan trọng. Dầu F.Josèphe nói gì chăng nũa, thì hình như Gioan vẫn không hề bận tâm đến sự nhơ bẩn thể lý mà người ta bảo là phát sinh do tội lỗi. Tiếp đến, trong lúc các người Essêni đòi buộc những kẻ đã "thống hối tội lỗi " phải qua một năm thử luyện trước khi được phép tự mình nhảy xuống bể nước dành cho những ai đã được khai tâm, thì các hối nhân của Gioan (được tiếp nhận không một kỳ thị nào như ở Qumrân, x. Lc 3,l0-14; Mt 3,9ss) làm hành vi thống hối ngay chính khi thú tội và nhận lãnh phép rửa của ông; và chính ông đóng vai trò tích cực trong phép rửa này, có thể nói là một vai trò thừa tác viên Bí tích góp phần làm phát sinh sự hối cải xét như nó là ân sủng (x. Mt 3,11). Sau cùng, phép rửa của Gioan chỉ ban một lần, bởi vì nó thực sự (chứ không chỉ trong hy vọng) là cuộc chuẩn bị cuối cùng cho biến cố Thiên sai, và đây chính là tính cách độc đáo nhất của nó: không còn chỉ là một sự thanh tẩy hợp thức nhằm canh tân đời sống nữa nhưng mang ý nghĩa một khai tâm trực tiếp vào việc xuất hiện của Đấng Được Xức Dầu, Đấng sẽ làm phép rửa trong lửa và Thánh Thần" (H.Cazellcs, Naissance de l'Eglise: seete juive rejetée? Paris, 1968, tr.94).

Phải chăng chính trong chiều hướng ấy mà ta phải giải thích câu "để được tha thứ tội khiên" Đối với Lc, trong cả hai tác phẩm, hình như đó là vấn đề ơn tha tội tương lai ở Chúa Giêsu Cứu thế mang lại, ơn mà phép rửa của Gioan chỉ có tính cách chuẩn bị dọn đường (x. P.Benoit, sđd, tr. 189- 191). Có lẽ tư tưởng của Márcô kém chuyên đoán hơn: trong chính nhãn quan Do thái, sự trở lại của tâm hồn, biểu lộ qua việc thú tội, lôi kéo sự tha thứ của Thiên Chúa như là một ân huệ hiện tại. Nhưng Mc cũng biết đến các sấm ngôn (Gr 31, 34; Ed 36,25 ). Tiên báo là ơn tha thứ thanh tẩy sẽ được đổ tràn vào thời đại thiên sai mà Gioan Tẩy giả là người khởi phát? và chắc chắn Mc đã nghĩ đến điều này khi ông giới thiệu sứ vụ của Gioan Tẩy giả như là ngưỡng cửa"thời gian viên mãn" (1,15).

c- Thành công của Gioan giữa quần chúng (c.5 ).

Ta không cần trở lại với phần thứ hai của câu này là phần liên quan đến phép rửa do Gioan ban với việc thú tội kèm theo (trước hay sau gì đó). Ta chỉ cần lưu ý dến sự thành công mà phần đầu câu gán cho phép rửa của ông, cái thành công chứng tỏ vị Tiền hô có uy tín đến mực nào. Dù các thành ngữ hơi có tính cách phóng đại (toàn xứ Giuđê và tất cả dân thành Giêrusalem tuôn đến), dữ kiện của Mc về sự thành công và uy tín này đã được Josèphe cũng như tất cả các tài liệu Tân ước xác nhận; và chi tiết đặc biệt về dân thành Gêrusalem có thể đem đối chiếu với Ga1,19, nơi nói rằng các người Do thái gởi tư tế và Lêvi từ Giêrusalem đến chất vấn Gioan.

Nhưng Mc không cố ý viết lại trong 4 hay 5 câu tiểu sử của Gioan Tẩy giả, mà ông giả thiết là các độc giả đã tường. Mục đích của Mc, như hai lời trích dẫn ngôn sứ ở đầu bản văn chỉ rõ (ông rất ít trích dẫn Thánh Kinh), là cho thấy rằng sứ vụ của vị Tẩy giả có ý nghĩa quan phòng là khai mạc giai đoạn cuối cùng của chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa. Trong bối cảnh ấy, ktlông phải vô tình mà Mc đã phóng đại chi tiết về Giuđê và Giêrusalem, thủ đô tôn giáo của Do thái giáo, nhất là vì Ml 3,4 có mặc nhiên ám chỉ đến sự thanh tẩy Giụđa và Giêrusalem (theo Sahlin) và Is 40,3tt có ám chỉ sứ điệp vui mừng được gởi đến cho Giêrusalem và các thành Giuđa (Boismard). Cuộc phiêu lưu cánh chung vĩ đại bắt đầu: vấn đề là hỏi xem dân Thiên Chúa có nhận ra "Chúa Kitô, Con Thiên Chúa" (c. 1) nơi chính "Kẻ quyền thế hơn" (c.7) mà Gioan Tẩy giả đang dọn đường cho không.

d- Lối sống của Gioan Tẩy giả (c. 6).

Thay vì "lông 1ạc đà", hai thủ bản ( I ) và a) nói là "da lạc đà": người ta nghi ngờ bản văn đã được sửa đổi theo Der 13,4 (nói là "da có lông"), nhưng vài tác gìả (Turncr, Vaganay. Boismard…) lại cho cách đọc của D là nguỵên thủy. Vagana và Boismard cũng nghĩ rằng hình như D và vài thủ bản khác đã có lý khi bỏ các chữ ngang lưng thì thắt xiêm bằng da thú vật, là những chữ có lẽ đã được các sao lục viên thêm vào bản văn Mc do ảnh hưởng của Mt 3,4. Nếu ta theo các tác giả này, thì câu 6 chỉ ám chỉ đến y phục có lông của các ngôn sứ, theo Dcr 13,4; trong trường hợp ngược lại, bản văn ám chỉ cách chính xác hơn y phục của êlia, "một người mình đầy lông lá và vấn một tấm da ngang lưng" (2V l,8). Như vậy việc mô tả Gioan như là một Êlia mới sẽ rất thích đáng, sau lời trích dẫn Ml ở câu 2. Dầu sao, ở đây chắc chắn Gioan được trình bày như một ngôn sứ. Còn thức ăn của ông là đồ ăn của một người sống ở hoang địa hơn là của một nhà khổ hạnh. Con người đó, đang rao giảng một phép rửa thống hối, là một ngôn sứ thành thử phải chú ý lắng nghe ông khi ông loan báo, trong các câu tiếp theo (7-8), sự xuất hiện của một Đấng Quyền thế hơn, vì ông nói nhân danh Thiên Chúa.

3. GIOAN TẨY GIẢ LOAN BÁO SỰ XUẤT HIỆN CỦA ĐẤNG THIÊN SAI (cc.7-8).

Chúng ta đến cao điểm của đoạn văn, vì chỉ ở đây Gioan mới bắt đầu nói và trỏ cho thấy ( nhưng không gọi tên) Đấng mà ông chỉ là Tiền hô.

Việc "ngự đến" của Đấng Quyền thế hơn có lẽ ám chỉ Is 40, 10 là bản văn theo rất sát đoạn trích dẫn trong Mc 1,3: "Kìa Chúa ngự đến uy hùng và cánh tay Ngài sẽ thống trị". Gioan được mạnh mẽ nhờ sức mạnh của Thtên Chúa vì ông là vị ngôn sứ có trách nhiệm chuẩn bị trực tiếp dân Thiên Chúa đón chờ Chúa giá lâm; nhưng Kẻ đến sau ông lại còn mạnh mẽ hơn ông nữa ! Sự tương phản giữa hai người, mà câu tiếp theo sẽ diễn tả, mãnh liệt đến nỗi Gioan không dám so sánh vị thế ctỉa mình trước Đấng Quyền thế hơn với vị thế của một tên nô lệ bị bắt buộc phải cúi mình xuống cởi giây giầy cho chủ, một dịch vụ dù sao cũng rất hèn hạ đến nỗi không một người nô lệ Do thái nào theo sách Mishna, bị ép buộc phải làm (Lagrange).

Sự tương phản như vậy giữa Gioan và Chúa Giêsu đuợc nhấn mạnh luôn trong Tân ước và thuờng với cùng một công thức (x. Mt 3, 11; Lc 3, 16; Ga 1, 15.27.30; 3,30; Cv 13,25). Luca đã xây dựng Tin Mừng về thời thơ ấu trên sự tương phản này. Còn Mc lại làm nổi bật sự tương phản đó bằng sự kiện là không nói gì đến lời rao giảng luân lý của vị Tẩy giả (Mt 3,7-10; Lc 3,7-14). Đối với Tin Mừng Nhất lãm, sự trổi \/ượt của Đấng Thiên sai được tập trung và biểu lộ trong sự trổi vượt của phép rửa Người làm: Gioan thanh tẩy bằng nước, Chúa Giêsu sẽ làm phép rửa bằng Thánh Thần, và chính vì điểm này mà Người sẽ tỏ ra là kẻ mạnh nhất. Tuy nhiên Mc khác biệt với Mt và Lc và gần giống với một đoạn khác (Ga l,33; Cv 1, 5; 11, 16) ở điểm ông không biết, hay đúng hơn, ông bỏ chi tiết lửa sau chi tiết Thánh Thần, và bỏ luôn cả lối so sánh người nông dân đang sảy sạch sân lúa và đốt trấu lép bằng lửa không bao giờ tắt (Mt 3,12; Lc 3,17). Chắc chắn, lời loan báo của Gioan về phép rửa trong lửa, nghĩa là về sự trừng phạt khủng khiếp các tội nhân, ăn khớp với cả một trào lưu cánh chung luận Do thái (x. Am 7,4; Is 31, 9; 6, 15, Xp 1, 18; Ml 3,19...) và ăn khớp với sự ngạc nhiên sau này của Gioan trước thể cách thiên sai của Chúa Giêsu (Mt 1l,2-6; Lc 7,18-23); lời loan báo của Gioan về phép rửa trong Thánh Thần (vốn có cùng một ý nghĩa) cũng hòa hợp như vậy với các sấm ngôn nói về "hơi thở" hay "thần khí" huỷ diệt, giống như ngọn lửa đốt thiêu, của Thiên Chúa (Is 30, 27t; 40,7. 24; Kn 5,23... ) Thành thử tư tưởng độc đáo của Gioan Tẩy giả đã được Mt và Lc phản ảnh trung thực: "Phép rửa của ông thanh tẩy các tâm hồn thiện chí; phép rửa của Đấng Quyền thế hơn sẽ định đoạt số phận của mọi người và sẽ khai mạc Nước Thiên Chúa; ở giữa hai phép rửa có cả một khoảng cách phân chia nước với Thần khí và Lửa, nghĩa là với quyền năng và cơn giận của Thiên Chúa mà Đấng Thiên sai sẽ sử dụng" (Van Imschoot, Baptême d'eau et Baptême d'Esprit Saint, trong Eph. Théol lov 13 (1963 ), tr.661). Trái lại Mc, vì chỉ nghĩ đến việc đối chọi nghi thức chuẩn bị của Gioan với việc Chúa Kitô khai mạc Nước Thiên Chúa qua hoạt động của Ngườí, nên đã rút sự so sánh song song hai phép rửa khỏi bối cảnh của một chung cục có tính cách Khải huyền và có tính cách báo oán, và như vậy gán cho "phép rửa bằng Thánh Thần" cái ý nghĩa tí.ch cực mà cũng có trong Kinh thánh (x. Is 32,15tt; 44,3tt; Ed 36, 25tt; 39,29; Ce 3,l tt): ý nghĩa một sự tái sinh bên trong tâm hồn. Nhưng khi làm như thế, Mc có thể bắt gặp lại một khía cạnh đích thực trong lời rao giảng của Gioan, cái khía cạnh mà Quy luật Qumrân có ám chỉ; trong Quy luật này, ít nhất có một lần, việc chung thẩm được diễn tả hằng hai hình ảnh lẫn lộn nhau là hình ảnh thanh luyện kim loại trong lò luyện kim và hình ảnh thanh tẩy bằng thần khí thánh thiện (IQS. IV,20-22). Đàng khác, không chắc Mc đã trực tiếp nghĩ đến phép Rửa Kitô giáo là phép rửa không thể đối nghịch với phép rửa của Gioan Tẩy giả dưới phương diện này, vì thế là một phép rửa bằng nước.

KẾT LUẬN:

Bây giờ ta mới có thể hiểu rõ hơn tại sao, theo Mc sứ vụ của Gioan làm nên "khởi nguyên" của Tin Mừng mà Chúa Giêsu vẫn sẽ là người đầu tiên công bố (1,14). "Tất cả sẽ sáng tỏ nếu ta hiểu Tin mừng là biến cố trước khi là sứ điệp. Mc chỉ lưu ý tới vị Tẩy giả dưới hai khía cạnh: một là qua ông, Thiên Chúa thực hiện các lời đã hứa (cc.2-3) hai là sứ điệp của Gioan liên quan đến Chúa Giêsu, Kẻ mạnh nhất (bằng sức mạnh của Thiên Chúa) sẽ làm phép rửa trong Thánh Thần (tức cũng là sức mạnh của Thiên Chúa) (c.6-8). Như vậy, sứ vụ của Gioan đã là một thành phần của biến cố cánh chung, cái biến cố được xác quyết do lời rao giảng của Chúa Giêsu ở Galilê và của các môn đồ khắp thế giới. Mc đi tắt hiện tại của thời đại ông lên đến lúc khởi nguyên của cái lịch sử mà trong đó Thiên Chúa can thiệp để thiết lập nước Ngài. và ngay cả trước khi Chúa Giêsu xuấtt hiện, thì đã có Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô rồi, không những chỉ vì Gioan loan báo điều đó, nhưng là vì với việc rao giảng của ông, thời gian cứu rồi đã khai mạc" (J.Delorme, bài báo đã dẫn, (E.T.L1967) tr.82).

Như ngôn sứ cuối cùng của Cựu ước,Gioan chỉ là một sứ giả đi "trước mặt" Chúa (c.2); một kẻ mạnh hơn ông sẽ đến sau ông" (c.7), bởi thế mà "người nhỏ nhất trong Nước Trời lại lớn hơn ông" (Mt 11,11). Nhưng chính ông có sứ mạng viết nên trang nhập đề Tin mừng Chúa Giêsu Kitô Con Thiên Chúa; vì vậy mà trong các con cái tới người nữ, không có ai lớn hơn Gioan Tẩy giả'' (Mt 11, 11).

Bản Pháp ngữ của Paul Ternanl Asscmblécs du Seigneur số 6

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Đoạn Tin mừng hôm nay đặt ta và thời tiền sứ vụ của Chúa Giêsu tại Galilê. Vào giai đoạn này xuất hiện dung mạo ngôn sứ của Gioan Tẩy giả, vị tiền hô loan báo và giới thiệu Chúa Giêsu. Việc Gioan Tẩy giả xuất hiện ở đây mang ba chức năng:

- Trước tiên Gioan Tẩy giả là chứng từ Cựu ước xác nhận rằng đã ứng nghiệm lời sấm của Isaia về việc Thiên Chúa can thiệp để khai mở một thời mới với sự tụ ậtp một dân mới dưới quyền dẫn dắt của Đấng Messia.

- Gioan Tấy giả là vị ngôn sứ đứng ở giao điểm của hai thời để loan báo và giới thiệu Đấng sẽ đến. Đồng thời qua việc thanh tẩy hối cải, Gioan chuẩn bị dân đón nhận Giao ước mới để trở thành dân mới.

- Sau cùng, Gioan là nhân vật tiêu biểu cho tinh thần hối cải và chờ đón Chúa.

2. Nhiệm vụ ngôn sứ của Gioan không chỉ là rao giảng hối cải mà còn sống tinh thần hối cải, không chỉ tỉnh thức dân trước biến cố đang xẩy đến mà còn lay tỉnh chính mình trước công việc nhiệm mầu của Thiên Chúa. Cái nét mô tả về cách

ăn mặc của Gioan nói lên tâm tư và phong cách hối cải đó. Thực Vậy? lối sống đơn giản và khổ chế của Gioan chứng tỏ ông dã thoát khỏi những ràng buộc phiền toái của xã hội Do thái và những bận tâm quá đáng về vật chất để qui hướng cuộc sống vào việc chờ dẫn và rao giảng về Đấng Cứu Thế. Chính ông cũng đã không ỷ lại vào dòng tộc tư tế của mình, cũng như đã chẳng tự mãn với truyền thống đạo lý của nhóm Qumrân mà ông đã sống với trong nhiều năm. Ông đã làm chứng về Đấng Thiên sai và chờ đợi người đến bằng một đời khổ hạnh và tỉnh thức. Người tín htĩu hôm nay, khi nhắc nhở mầu nhiệm Chúa đến, phải có tâm tư và thái độ sống thế nào? làm thế nào để nhìn thấy Chúa vẫn dang đến, vẫn còn đến?

3. Mỗi tín hữu là một Gioan Tẩy giả. Và toàn thể Hội thánh có sứ mệnh tiền hô. Ta đã làm gì, nói gì tin chuẩn bị cho những anh chị em chung quanh biết đón nhận Chúa. Ta dã gia tăng thêm lời cầu nguyện, vì lối sống hoán cải để dọn đường Chúa đến, để chuẩn bị cho sự tỏ mình của Chúa chưa? ( chữ Vọng, trong nguyên ngữ có nghĩa là "ngự đến").

4. Lòng ăn năn đích thực, sự hối cải chân thành không nằm nơi những tình cảm đẹp đẽ suông, những sáo ngữ hấp dẫn, những nghi thức rầm rộ bên ngoài, những nơi những công việc và hành vi cụ thể: sửa lại cho thẳng những lối đi quanh co vày vò của con tim, bạt xuống cho ngay các đồi núi kiêu căng của tâm trí, lấp đầy hố thẳm nghèo đói lời Chúa của tâm hồn.v.v.

5. Sau 2000 năm mỏi mòn, hình như chúng ta không còn mong chờ nữa. Phần đông các tín hữu chẳng còn thắc mắc gì như Hội thánh sơ khai (x. 2 Pr 3,8-14) là vì họ quên bẵng rằng Chúa Giêsu đã đến, đang đến, đức tin Kitô giáo như nép

mình vào quá khứ, phụng vụ trở thành sự nhắc nhở đạo đức về các biến cố xa xưa và ngày cánh chung đã mang một khuôn mặt tai họa gớm ghiếc cần phải làm chậm trễ càng lâu càng tốt. Mỗi năm, mùa Vọng đến xua tan nỗi kinh hoàng bệnh hoạn trong ta, thức tỉnh niềm hy vọng tê cóng trong ta. Giáng sinh khiến ta đưa mắt nhìn về tương lai. Chúa Giêsu đang đến. Không phải trong ý nghĩa bí nhiệm giữa khuya 24 tháng 12, nhưng đến thực sự và thực tế trong mỗi giây phút cuộc đời ta.

 

Noel Quession - Chú Giải


Hôm nay, chúng ta sẽ đọc trang đầu tiên của Tin Mừng theo thánh Mác-cô. Trong suốt năm phục vụ này, năm B, chúng ta sẽ đọc cách đặc biệt Tin Mừng Mác-cô.

Truyền thống thường giới thiệu Mác-cô như môn đệ của Phêrô. Vì thế trong trình thuật của ông, ta được nghe lại những kỷ niệm và giáo lý của vị tông đồ, đã từng mục kích Đức Giêsu. Người ta cho rằng: Tin Mừng này đã được soạn thảo tại Rôma, khoảng năm 70, và gửi cho một cộng đồng Latô gồm những người gốc ngoại giáo, chưa từng sống tại Pa-let-tin.

So sánh với ba Tin Mừng khác, Tin Mừng của thánh Mác-cô rất thực tế: đó là câu truyện của một người bình dân, có những nét gây thích thú. Nhưng ta đừng vội lầm, Mác-cô cũng là một nhà thần học, sẽ tỏ lộ cho ta cuộc khám phá dần dần của Phêrô. Suốt trong phần đầu, mọi người đều tự hỏi: "Đức Giêsu là ai !"Đức Giêsu thể hiện những hành động, noí những lời luôn đặt thành vấn đề. Nhưng thật lạ lùng. Người vẫn đặt "bí mật" trên con người mình. Mãi tới phần thứ hai của đời sống công khai, người mới từ từ thông tỏ về bản thân Người.

Khung cảnh địa lý Máccô sử dụng cũng mang tính thần học. Theo đó ông đề cao xứ Galilê, miền đất mở ngở và để đón nhận sứ điệp của Đức Giêsu, nghịch lại với Giêrusalem, thành phố luôn chối từ Đức Giêsu.. Hơn nữa đối với Mác-cô, biển hồ Galilê mang một ý nghĩa biểu tượng (Phêrô người thuyền chài, biết rõ từng vũng nhỏ trong hồ ông sinh sống !). Bờ hồ phía tây, là người Do Thái. Bờ hồ phía đông, là anh em dân ngoại Máccô có ý nhấn mạnh cho ta thấy, Đức Giêsu đang đi vào "miền đất ngoại giáo "...như thế khai mở "vùng truyền giáo" của Giáo Hội mà Tin Mừng ông muốn gửi tới.

Cuối cùng Tin Mừng của Mác-cô đượm vẻ "bi thảm". Ba nhóm người được miêu tả trong đó. Trước hết đó là Đức Giêsu và các môn đệ của Người, luôn chung sống với nhau. Rồi tới đám dân chúng theo Đức Giêsu, nhưng không hiểu biết gì về Người. Sau hết, đó là các kẻ thù nghịch, ngay từ đầu chỉ xoi mói rình rập nhằm kết án Đức Giêsu.

Khởi đầu Tin Mừng.

Có lẽ không phải là ngẫu nhiên mà lời đầu tiên của Tin Mừng theo thánh Mác-cô cũng là lời đầu tiên trong Bộ Kinh thánh: 'Khởi đầu trời và đất" (St 1,1). Thánh Gioan cũng sử dụng cùng một từ đó, cũng bắt đầu Lời tựa trong Tin Mừng của ông: "Khởi đầu vẫn có Ngôi Lời" (Ga 1,1). Còn Mát-thêu và Luca, cũng gợi lên thực tại của một khởi đầu này: "Đây là gốc tích Đức Giêsu Kitô " (Mt 1, 18; Lc 1 3). Như thế, cả bốn thánh sử đều gợi lên cho ta thấy, nhờ Đức Giêsu, chương trình của Thiên Chúa đã có một bước khởi đầu mới: Có thể nói, một cuộc tạo thành mới đang khởi sự. Và mỗi năm, Mùa Vọng bắt đầu, cũng là một dịp khởi đầu lại. Lạy Chúa, thế mà chúng con vẫn thích dừng chân tại chỗ để thốt lên: Đủ rồi, xin Chúa không ngừng ban lại cho chúng con tinh thần biết "khởi sự". Xin làm sống lại trong chúng con niềm hy vọng.

"Tin Mừng": Chúng ta quá quen thuộc với từ này. Nó dịch từ tiếng Hy Lạp "Evangélion". Nhưng từ này không có ý diễn tả "một cuốn sách" hay một sự việc. Đó là Tin Mừng nước Thiên Chúa đã khơi sự trong con người của Đức Giêsu. "Tin Mừng", đó là sự sống lại, là Phục sinh, là sự chiến thắng vĩnh viễn của sự sống? Tin Mừng phát xuất từ sấm ngôn của I-sai-a, khi ông loan báo cho những người bị lưu đày biết tình trạng khổ ái của họ sắp chấm dứt: "Hãy an ui, hãy an ủi dân Ta... Dịch vụ của nó mãn rồi. Hãy nhủ lòng cùng Giêrusalem, hãy công bố tội của nó được tha. Hãy lên núi cao, hỡi Sion, người loan Tin Mùng. Hãy gióng tiếng lên cho mạnh và loan báo: Kìa Thiên Chúa của ngươi đang đến... (Is 40,1-11). Tôi có tin tưởng như thế không? Đức tin của tôi có là một thứ gánh nặng, tôi phải vất vả đeo mang, hay là một Tin Mừng "Vui tươi", "Tốt đẹp", "Tuyệt diệu".

Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, con Thiên Chúa.

Ngay từ dòng đầu của Tin Mừng, Máccô đã nói ngay nếu ông muốn bàn. Những "tước hiệu" trên đây của Đức Giêsu là chìa khóa khai mở toàn bộ trình thuật của ông. Những tước hiệu đó sẽ được lặp lại vào giây phút cuối đời; khi một người "dân ngoại" nhận biết Đức Giêsu chết trên thập giá: "Quả thật người này là con Thiên Chúa " (Mc 15,39). Đó là điều ta thường gọi là một thứ "hệ luận" theo kiểu nói "Xê--mít". Đó là kiểu cách văn chương nhằm biểu thị ý nghĩa sâu xa của một câu chuyện, mà toàn bộ "bao gồm " trong hai từ được lặp đi lặp lại từ đầu đến cuối.

Giêsu... trong ngôn ngữ Do Thái muốn nói lên "Thiên Chúa cứu độ " – "Yéshouah". Đó là một từ quen thuộc, diễn tả tính cách nhân bản, lịch sử trần thế của con người Na-za-rét. Kitô.... trong ngôn ngữ Do Thái có ý nghĩa Đấng được "Đức Chúa xức dàu": "Meshiah" Tước hiệu này biểu lộ, Đức Giêsu chính là Đấng mà toàn dân ít-ra-en mong đợi, là con cháu nhà Đa-vít, là "Vua nước Thiên Chúa".

Con Thiên Chúa... tước hiệu cuối cùng này, chỉ mang ý nghĩa trọn vẹn, lúc Chúa sống lại: Vào thời Mác-cô viết Tin Mừng, các Kitô hữu đã dùng kiểu nói mạnh này để tuyên xưng đức tin vào thần tính của Đức Giêsu.

Trong sách Ngôn sứ I-sai-a có chép rằng: "Này Ta sai sứ giả của Ta đi tnrớc Con, để dọn đường cho con đến". Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường cho Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi".

Một lần nữa không phải ngẫu nhiên, mà Tin Mừng Máccô bắt đầu bằng một câu trích dẫn trong Cựu ước. Đức Giêsu không phải là một "sao băng" từ một hành tinh khác mà đến. Ngài được ghi tên trong tịch sử của một dân tộc Ngài được người ta "mong chờ', "loan báo", "chuẩn bị "... Từ sau Công đồng Vatican, bài đọc Cựu ước mà ta đọc mỗi Chúa nhật, không phải là một việc làm mới lạ của Giáo Hội hiện nay. Các Kitô hữu tiên khởi, các tín hữu của Máccô, cũng như của Mát-thêu, Luca và Gioan, đã từng đọc Kinh thánh Cựu ước... và ứng dụng cho Đức Giêsu. Còn chúng ta thìn sao? Chúng ta thường phàn nàn vì không gặp gỡ Thiên Chúa. Nhưng ta có coi Kinh thánh như phương thế tiếp gặp Chúa chưa?"

Ta làm gì để gặp gỡ Chúa? Ta có chuẩn bị con đường cho Chúa đến không? Mùa Vọng này có thể là một thời gian để ta suy niệm lại Kinh thánh.

Ong Gioan Tẩy Giả xuất hiện trong hoang địa, rao giảng kêu gọi dân chúng chịu phép rửa, tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội. Mọi người từ khắp miền Giu-đê và thành Giêrusalem kéo đến với ông. Họ thú tội, và ông làm phép rửa cho họ tại sông Gio-đan.

Chúng ta đừng có mơ tưởng rằng, ta sẽ "gặp" được Thiên Chúa, chẳng- hạn như dịp Noen này, mà không cần phải "chuẩn bị" cho Người đến, không cần phải thanh tẩy, không cần phải làm việc để hoán cải thay đổi đời sống.

Chính Gioan Tẩy Giả không chút nể nang thính giả của ông. ông bảo họ: "Các ngươi phải thay đổi hoàn toàn nếp sống... Hãy trở lại !. Đó là ý nghĩa của từ "Metanoia" bản dịch là "hoán cải". Các người đã làm điều này sao? Giờ đây, hãy làm ngược lại. Điều xấu, điều ác mà các ngươi đã thực hiện, hãy chấm dứt ngay? Điều tốt lành như vậy mà sao các ngươi không làm, hãy bắt tay thi hành ngay đi ! Phải thay đổi, cần thay đổi gấp!

Sắp tới lễ Noen rồi, mọi Kitô hữu lại được mời gọi lãnh nhận "bí tích giao hòa" để được ơn tha tội. Ngay từ bây giờ, tôi muốn chuẩn bị lãnh nhận, để nhờ bí tích đó tôi có một bước tiến đáng kể, trưởng thành và có trách nhiệm hơn. Và cũng như dân chúng xưa kia tuôn đến sông Giođan, tôi cần phải bắt đầu "nhận biết" tội lỗi mình, cách sáng suốt. Lạy Chúa xin mở rộng đôi mắt con.

Ông Gioan mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, ăn châu chấu và mật ong rừng".

Đó là y phục tiêu biểu của những "người vùng hoang địa", những con người du mục.

Hoang địa" ! Để tới đó theo sự lôi cuốn của Gioan Tẩy Giả, dân chúng phải rời bỏ một thế giới nào đó họ đang sống, để bước vào một thế giới khác. Lui vào "hoang địa " nghĩa là từ chối dễ dãi, tiện nghi. "Hoang địa" đó là vùng đất mở tới rất xa, là nơi không thể nhận rõ dấu vết lộ trình, là tiếng mời gọi ta dấn thân mạo hiểm? "Hoang địa" đó cũng là nơi cô tịch và yên lặng: Mời gọi ta hướng đến cuộc gặp gỡ nội tâm? ở đây ta không thể vui chơi giải trí hay lánh ẩn để kiếm tìm những việc bề ngoài, những điều xem ra giả tạo mà là nơi con người gặp lại bản thân, đối mặt với chính mình, trong tình trạng bị bóc lột trần trụi. Trong tư thế lột xác và thinh lặng này, Thiên Chúa mới có thể làm cho ta nhận ra tiếng Người: Đó là lời mời gọi ta nhận ra thực tại của bản thân, khi các mặt nạ đã được trút bỏ, trong tiếng Nga, từ "hoang địa" được dịch là "poustinia". Và luôn luôn có những người nam cũng như nữ lui vào trong "poustinia" của họ: Cuộc gặp gỡ giữa họ với Thiên Chúa sẽ mang tính chất nào, đều phụ thuộc vào giá trị này cả. Tôi có lợi dụng Mùa Vọng này, để tạo cho mình một thời gian chính thức sống cô tịch không?

Ong loan báo: "Có một Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi. Tôi không đáng cúi xuống cởi dép cho người. Tôi thì tôi làm phép rửa cho anh em bằng nước, còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em bằng Thánh Thần".

Gioan Tẩy Giả chỉ hiện diện tại đó để tiến dẫn một kẻ khác, một người nào đó chưa được gọi tên: "Đấng đang đến "... Đấng quyền năng nhất "... "Đấng xứng đáng nhất !... Đấng dìm trong Thánh Thần"... Nếu ta quyết định hoán cãi Thiên Chúa sẽ không là người phong kiến ngoại cuộc: Người sẽ dìm chúng ta trong Thần Khí của Người.


 

Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

" Hãy dọn đường Chúa cho ngay thẳng "



I. Ý CHÍNH:

Bài Tin Mừng hôm nay nói đến mục vụ của Thánh Gioan Tiền sứ. Người được Thiên Chúa uỷ thác thiên chức làm Tiền sứ dọn đường cho Chúa Cứu Thế đến.

II. SUY NIỆM:

1 / " Khởi đầu Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô ":

Ở đây có ý nói việc khởi sự đời sống công khai của Chúa Giêsu và việc Người rao giảng Tin Mừng cứu độ, đã được loan truyền và sửa soạn bằng việc rao giảng của Thánh Gioan Tiền sứ.

2 / " Như có lời tiên tri Isaia chép rằng ":

Gioan không tự xưng tên tuổi, không nói rõ chức phận của mình, nhưng ông mượn lời tiên tri Isaia để tự xưng là tiếng kêu trong rừng, có bổn phận sửa sang đường lối cho Chúa đến.

Ở đây nhắc đến Cựu ước để cho ta thấy rằng không có gián đoạn giữa Cựu ước và Tân ước. Trái lại Tân ước được sửa soạn trong Cựu ước và tiếp tục Cựu ước.

3 / " Gioan Tẩy giả xuất hiện trong hoang địa "

a / Hoang địa là nơi con người dễ tiếp xúc với Thiên Chúa.

- Chúa Giêsu khởi sự đời sống truyền giáo của Người trong hoang địa.

- Chúa Giêsu thường tìm nơi thanh vắng để tiếp xúc với Thiên Chúa Cha.

- Chúa Giêsu cũng thường nhắc các tông đồ vào nơi thanh vắng để tĩnh dưỡng và suy niệm.

- Thiên Chúa thường đến với con người nơi thanh vắng:

+ Môisen nơi bụi gai ( Xh 2, 1 - 7 )

+ Chúa ban lề luật cho Môisen trên núi ( Xh 19, 1 - 2 )

+ Thiên Chúa hiện ra với Tiên tri Êlia ở núi Horeb. ( 1 V 19, 11 )

b / Gioan xuất hiện trong hoang địa cho ta thấy:

+ Ai muốn gặp Chúa cũng phải sống trong yên tĩnh.

+ Ai muốn đem Chúa cho các linh hồn cũng phải biết sống yên tĩnh.

+ Vì thế yên tĩnh nội tâm là điều kiện để gặp gỡ Chúa, để cải tạo đời sống...

4 / " Rao giảng phép rửa thống hối cầu ơn tha tội "

Gioan khuyên người ta ăn năn hối cải, dọn mình để nhập tịch nước Thiên Chúa, Nước mà Đấng Cứu Thế sẽ thiết lập nay mai.

5 / " Lúc đó Gioan mặc áo lông lạc đà ":

Gioan nêu gương sám hối bằng đời sống khổ hạnh, mình khoác một áo choàng rộng bằng lông lạc đà, lưng thắt dây da, lương thực ông là châu chấu nướng với mật ong rừng.

6 / " Dân cả miền Giuđêa và Giêrusalem tuôn đến ":

Gioan rao giảng khắp miền núi Giuđêa, gặp lúc mùa gặt mới xong, dân chúng rảnh rang, nên người ta đến nghe Người giảng rất đông.

7 / " Người rao giảng rằng...":

- Gioan kêu gọi người ta sám hối để được tha tội. Ông đặt ra hai ghi lễ và bắt mọi người theo: tắm rửa và thú tội. Người Do thái không cho ghi lễ của ông là kỳ dị, vì họ quen lấy sự tắm rửa phần xác làm tiêu chuẩn cho sự tắm rửa linh hồn.

- Gioan đã phân biệt thân thế và sứ mệnh của ông với thân thế và sự nghiệp của Chúa Giêsu.

a / Về thân thế: Gioan thua kém Chúa Giêsu. Ông không đáng cởi dây giầy vì Chúa Giêsu tuy đến sau nhưng cao trọng hơn ông nhiều.

b / Về sứ mệnh ( tức là làm phép rửa ): phép rửa của Chúa Giêsu trổi vượt hơn phép rửa của Gioan vì.

+ Phép rửa của Gioan cho người chịu được khỏi tội, nhưng được tha tội đây không tại việc chịu rửa song là bởi lòng khoan hậu của Chúa. Chúa nhận thấy lòng ăn năn sám hối của kẻ chịu rửa mà tha tội cho họ.

+ Phép rửa của Chúa Giêsu sinh công hiệu do chính việc làm. Người rửa bằng Thánh Thần, nghĩa là ban cho kẻ chịu rửa bằng nước bề ngoài, được ơn Chúa Thánh Thần sinh ra trong lòng, Bí tích Rửa tội và Giải tội, Chúa Giêsu đã lập có giá trị tha tội qua việc làm.

+ Phép rửa của Gioan sánh với phép rửa của Chúa cũng giống như hình ảnh sánh với sự thật.

+ Việc so sánh hai phép rửa này, làm nổi bật ý nghĩa trội vượt:

* Sự trội vượt của Chúa Kitô trên Gioan.

* Của phép rửa Chúa Kitô trên phép rửa của Gioan.

* Của sự tác động của Chúa Thánh Thần trong phép rửa tội trên tính cách biểu hiệu của nước.

III. ÁP DỤNG:

A / Theo ý nghĩa Tin Mừng:

1 / Gioan là chứng từ của Cựu ước, nơi ông đã ứng nghiệm lời sấm của Isaia về việc Thiên Chúa can thiệp để khai mở một thời mới và tụ tập một dân mới dưới quyền dẫn dắt của Đấng Cứu Thế.

2 / Gioan Tiền sứ là vị ngôn sứ đứng ở giao ước của hai thời loan báo và giới thiệu Đấng sẽ đến, đồng thời qua việc thanh tẩy hối cải, Gioan chuẩn bị dân đón nhận Giao ước mới để trở thành dân mới.

3 / Gioan là nhân vật tiêu biểu cho tinh thần hối cải chờ đón Chúa.

Noi gương Gioan chúng ta:

+ Nêu cao vai trò con cái sự sáng, con cái của Chúa khác với con cái thế gian ( con cái của ma quỷ ), bằng một đời sống hoàn thiện: công bình, bác ái, phục vụ, khiêm nhường, ngay thật, vị tha...

+ Tự tạo cho mình một đời sống gương mẫu, phản ảnh được chính Thiên Chúa để người ta nhận ra hình ảnh, tình thương và quyền năng của Chúa qua chúng ta.

+ Sống với niềm tin vững chắc và phó thác vào Chúa để làm chứng về Chúa và về sự sống đời sau.

B / Áp dụng thực hành:

Bài Tin Mừng hôm nay có Gioan Tiền sứ là nhân vật tiêu biểu:

1 / Noi gương Gioan ở hoang địa:

+ Chúng ta tỏ ra tha thiết với việc thinh lặng nội tâm để gặp Chúa: tĩnh tâm năm, tháng, suy niệm mỗi ngày, cầu nguyện trước mỗi việc làm...

+ Đến với Chúa trong những giờ cầu nguyện, chúng ta tự tạo cho mình một tâm hồn yên tịnh bằng cách cắt đứt mọi vướng mắc lo toan bề bộn của cuộc sống... thực sự sống tinh thần phó thác để đến với Chúa.

2 / Noi gương Gioan đi rao giảng:

Gioan đi rao giảng sự sám hối: chúng ta dùng những phương tiện Chúa ban cho đời sống để thăng tiến tha nhân, giúp cho tha nhân được hoàn hảo hơn, được xứng đáng đón nhận ơn Chúa hơn: cầu nguyện, hy sinh, hãm mình, gương sáng bằng lời nói việc làm và ý muốn... để phục vụ lợi ích phần rỗi cho tha nhân.

Gioan chỉ dẫn cách thức sám hối bằng cách tắm rửa và thú tội. Chúng ta chỉ dẫn cho tha nhân bằng đời sống gương sáng, bằng việc làm ( việc lành ) và bằng lời nói chỉ dẫn khi có thể...

3 / Noi gương hoạt động tông đồ của Gioan:

+ Gioan dùng lời nói, và chứng tích đời sống để rao gảng: vì Gioan sống đời khổ hạnh để làm chứng cho việc sám hối.

+ Chúng ta rao giảng về Chúa Kitô, chúng ta phải sống theo Chúa Kitô để làm chứng.

4 / Noi gương Gioan:

+ Sống khó nghèo và đơn sơ trong cách ăn mặc và sinh sống.

+ Sống chính trực không tham vọng và khoe khoang không tự mãn trước những vinh dự do người đời trao tặng.

+ Sống khiêm nhường, quy hướng mọi vinh quang và thành công về Chúa: " Tôi không đáng cởi dây giầy cho người..."

 

Lm Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc - Bài Giảng Lễ


Giấc mơ hay hiện thực?

Is 40,1-5.9-11; 2Pr 3,6-14; Mc 1,1-8



M

ột người kia kể lại giấc mơ khủng khiếp như sau:

Tôi thấy mình đứng trước một biệt thự nguy nga. Bước vào trong tôi thấy hai hành lang với hai hàng chữ: Bên phải dành cho người công giáo, bên trái dành cho kẻ ngoại đạo. Theo bảng chỉ dẫn, tôi đi theo hành lang bên phải dành cho người công giáo.

Đi được một lúc, tôi thấy mình đứng trước một ngã rẽ khác. Lần này tôi đọc thấy bảng chỉ dẫn như sau: Bên phải dành cho kẻ có đức tin vững mạnh, bên trái dành cho kẻ có đức tin yếu kém. Và tôi lại đi bên phải.

Đến một ngã rẽ khác, tôi lại thấy một bảng chỉ dẫn: Bên phải dành cho những người có lòng bác ái, bên trái dành cho những người ích kỷ. Tôi lại chạy qua bên phải mà đi.

Cuối cùng tôi gặp một bảng chỉ dẫn: Bên phải dành cho những ai có đời sống thánh thiện, bên trái dành cho những kẻ tội lỗi. Một lần nữa tôi cứ chọn bên phải mà đi. Nhưng tôi đang hân hoan rảo bước, thì bỗng một cảnh tượng hãi hùng khủng khiếp hiện ra ở cuối hành lang ấy: cảnh hỏa ngục với muôn vàn hình khổ không lời nào tả xiết. Tôi hoảng hốt kêu rú lên và giật mình thức giấc.

Sau một phút tôi hoàn hồn và tự hỏi: "Phải chăng đời sống đạo của tôi cũng chỉ là một giấc mơ hãi hùng?"

Anh chị em thân mến,

Câu hỏi trên đây có lẽ cũng có thể được nêu lên cho mỗi người chúng ta trước tiếng hô của Gioan Tẩy Giả: "Có tiếng hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường cho Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi". Thường thì chúng ta cứ chọn bên phải mà đi, chứ mấy ai lại thích đi bên trái. Cái ảo tưởng về sự tốt lành của mình luôn luôn bám sát chúng ta như hình với bóng. Lòng tự cao tự đại thường mê hoặc chúng ta, làm cho chúng ta như chìm sâu mãi vào một giấc mơ hãi hùng.

"Anh em hãy tỉnh cơn mê, đêm đã tàn, ngày đang đến". Lời ấy của Thánh Phaolô muốn thôi thúc chúng ta thành khẩn nhìn lại giá trị đích thực của đời mình. Tôi có thực sự xứng đáng đứng bên phải trong ngày phán xét cuối cùng không? Hay đó chỉ là một giấc mơ hãi hùng?

Gioan Tẩy Giả kêu gọi chúng ta hãy dọn đường cho Đấng Cứu Thế. Dọn đường cho Ngài đến thực hiện một cuộc giải phóng mới, không phải giải phóng khỏi ách nô lệ Ai Cập hay khỏi nơi lưu đày Babylon, mà là khỏi tội lỗi, trở về với Thiên Chúa. Vì vậy, Gioan Tẩy Giả kêu gọi mọi người hãy sám hối. Ông đã dùng Phép Rửa như một dấu hiệu của lòng sám hối, từ bỏ tội lỗi để đón nhận Chúa Kitô, đồng thời như một dấu hiệu tiên báo một Phép Rửa hoàn hảo hơn: Phép Rửa của Chúa Giêsu: "Tôi thì tôi làm phép rửa cho anh em bằng nước, còn Ngài, Ngài sẽ làm Phép rửa cho anh em bằng Thánh Thần".

Gioan không chỉ rao giảng sám hối mà còn sống tinh thần sám hối, không chỉ thức tỉnh dân chúng trước biến cố đang xảy đến mà còn lay tỉnh chính mình trước công việc mầu nhiệm của Thiên Chúa: cách ăn mặc của Gioan nói lên tâm tư và phong cách sám hối. Thực vậy, lối sống đơn giản và khổ chế của Gioan - mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, ăn châu chấu và mật ong rừng - chứng tỏ ông đã thoát khỏi những ràng buộc phiền toái của xã hội Do Thái và những bận tâm quá đáng về vật chất đề quy hướng cuộc sống vào việc chào đón và rao giảng về Đấng Cứu Thế. Ông đã làm chứng về Đấng Cứu Thế và chờ đợi Ngài đến bằng một đời sống khổ hạnh và tỉnh thức.

Thưa anh chị em,

Đời người là một Mùa Vọng dài hướng về ngày Chúa đến lại. Mỗi tín hữu là một Gioan Tẩy Giả, và toàn thể Giáo Hội có sứ mạng tiền hô. Người tín hữu hôm nay, khi nhắc đến mầu nhiệm Chúa đến, phải có tâm tư và thái độ sống thế nào để dọn đường cho những anh chị em chung quanh biết đón chờ Chúa? Chúng ta đã gia tăng cầu nguyện, hoán cải đời sống để dọn đường Chúa đến, để chuẩn bị cho Chúa tỏ mình ra chưa?

Lòng sám hối đích thực không nằm ở nơi những tình cảm tốt đẹp, những sáo ngữ hấp dẫn, những nghi thức rầm rộ bên ngoài, nhưng nơi những công việc và hành vi cụ thể: sửa lại cho thẳng những lối đi quanh co tăm tối của con tim, bạt xuống cho bằng các đồi núi kiêu căng của tâm trí, lắp đầy hố thẳm nghèo đói Lời Chúa của tâm hồn.

Thánh Phêrô trong thư của Ngài đã cho thấy lòng sám hối không phải là một thái độ nhất thời, mà là thái độ thường xuyên của người kitô hữu trong suốt giai đoạn chờ Ngày của Chúa. Ngài nhắn nhủ: "Anh em thân mến, trong khi chờ đợi ngày đó, anh em phải cố gắng nên tinh tuyền, không chi đáng trách, để được bình an trước mặt Chúa" (2Pr 3,14). Lời nhắn nhủ đó là những lời kêu gọi các tín hữu sám hối để tạo nên cho mình một thái độ tương xứng cần thiết.

Hiển nhiên là lời kêu gọi sám hối trong Phụng vụ Chúa nhật 2 Mùa vọng này không thể chỉ được giới hạn trong việc xét mình ăn năn và xưng tội để có được một tâm hồn trong sạch xứng đáng cho Chúa ngự, vào thánh lễ đêm Giáng sinh. Sám hối là một thái độ sống của người kitô hữu. Sám hối là một sự đổi mới, một sự đổi mới toàn diện: trong tư tưởng, trong sự chọn lựa, trong hành động. Sự đổi mới này không chỉ diễn ra một lần là đủ, mà là một đổi mới liên tục. Người kitô hữu được kêu gọi từ bỏ con người cũ, lối sống cũ, lối sống theo lòng ích kỷ, tham lam, tàn bạo, không đếm xỉa đến quyền lợi của người khác, để sống theo con người mới với lòng yêu thương, với tình liên đới với người chung quanh, ở trong gia đình, trong trường lớp, trong cơ quan, xí nghiệp… Người kitô hữu vẫn tin rằng ơn cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện không chỉ nơi thâm sâu thầm kín của từng con người mà còn ngang qua lịch sử trong xã hội con người.

Anh chị em thân mến,

Tiếng hô của Gioan Tẩy Giả trong hoang địa là một tiếng gọi mang đầy hy vọng và niềm vui: "Hãy dọn đường cho Đấng Cứu Thế, vì Người sắp đến rồi !" Hãy thay đổi bộ mặt trái đất này cho loài người được sống ấm no hạnh phúc, để cho Trời Mới Đất Mới xuất hiện, trong đó công lý và hòa bình sẽ ngự trị và mọi người sẽ được thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta.


 

Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng - Bài Giảng Lễ


Dọn đường cho Chúa

Phụng vụ Chúa nhật II mùa Vọng mời gọi chúng ta chuẩn bị con đường cho Chúa Cứu Thế ngự đến. Chúa đến là niềm vui lớn lao nhất cho toàn thể nhân loại, nhưng để được hưởng niềm vui này đòi hỏi mỗi người cũng như toàn thể nhân loại phải biết dọn đường cho Người đến.

Dọn đường là nỗ lực hoán cải bản thân, tẩy trừ tội lỗi trong đời sống; đồng thời, tập thể cũng cần phải hoán cải để trong xã hội tình yêu và chân lý, công lý và hòa bình được ngự trị.

I. KHÁM PHÁ SỨ ĐIỆP TIN MỪNG: Mc 1,1-8

Bản văn Tin mừng được chọn đọc hôm nay là phần đầu của Tin mừng theo Thánh Maccô. Các nhà chú giải Kinh thánh cho đây là phần nhan đề của cả tác phẩm. Phần này nói lên chủ đích của tác phẩm là trình bày Tin mừng của Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa.

1. "Khởi đầu Tin mừng của Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa": Tin mừng là từ ngữ được Maccô sử dụng thường xuyên. Maccô sử dụng từ ngữ này vừa có nghĩa Tin mừng từ nơi Thiên Chúa đến; vừa có nghĩa Thiên Chúa là đối tượng của Tin mừng. Trước khi là một sứ điệp được loan báo, Tin mừng là một biến cố, là một con người cụ thể, Đức Giêsu Kitô. Đối với Maccô, Tin mừng chính là Người, là biến cố Đức Giêsu tử nạn và phục sinh ban ơn cứu độ cho nhân loại theo ý định yêu thương của Thiên Chúa.

2. "Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa": Đức Giêsu được mạc khải bằng hai danh hiệu đầy ý nghĩa "Kitô" và "Con Thiên Chúa". "Kitô" chuyển âm từ "Christos" tiếng Hy Lạp dùng để dịch từ Messia của tiếng Do Thái, có nghĩa là xức dầu. Như thế, Kitô có nghĩa là Đấng được Thiên Chúa xức dầu, Đấng Thiên Sai. "Con Thiên Chúa", đây là danh hiệu được dành riêng cho Đấng Messia, Người là Con Thiên Chúa, được Thiên Chúa che chở. Dưới ánh sáng phục sinh, tước hiệu Kitô, Con Thiên Chúa, các tín hữu đã hiểu và áp dụng vào Đức Giêsu Nagiarét. Người chính là Đấng Messia được tiên báo và là Con Thiên Chúa mà Thánh vịnh 2 đã nói tới (x. Cv 13,33; Dt 1,5). Hai tước hiệu này trả lời cho câu hỏi "Đức Giêsu, Người là ai?", và câu trả lời được Maccô ghi lại qua lời tuyên tín của Phêrô (8,29) và lời viên sĩ quan Rôma chứng kiến cái chết của Người trên thập giá: "Quả thật người này là Con Thiên Chúa" (Mc 15,39). Tin mừng chính là Đức Giêsu, và với Người, thời đại mới bắt đầu. Ngay từ những từ đầu tiên của Maccô đã là sự khai mở, từ đó xuất hiện một danh hiệu mới, một sự hiện diện mới: Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa.

3. Gioan Tẩy giả và lời kêu gọi dọn đường cho Chúa đến:

Maccô đã thấy rõ nơi Gioan Tẩy giả là người thực hiện các điều mà Is 40,3 đã loan báo. Với sự trình bày súc tích vắn gọn, Maccô đã phác họa rõ nét con người, cách sống, sứ điệp và ảnh hưởng của Gioan nơi dân chúng. Gioan là chứng từ của Cựu ước minh chứng việc Thiên Chúa khai mở một dân mới do Đấng Messia dẫn dắt mà Isaia đã loan báo. Ông là vị tiên tri giao thời giữa Cựu ước và Tân ước để loan báo và giới thiệu Đấng Cứu Thế sẽ đến. Và qua việc thực hiện phép thanh tẩy sám hối, ông cũng chuẩn bị lòng dân đón chờ Người. Gioan là con người tiêu biểu cho tinh thần hối cải và chờ Chúa đến. Vì là người loan báo và giới thiệu Đấng Cứu Thế, nên sứ điệp của ông kêu gọi mọi người chuẩn bị lòng mình đón Chúa đến, bằng việc dọn những con đường tâm hồn ngay thẳng để Chúa đi vào từng cõi lòng mỗi người. Sám hối và canh tân cuộc sống chính là việc dọn đường cho Chúa.

II. CHIÊM NGƯỠNG CHÚA GIÊSU:

Chúa Giêsu Kitô chính là Đấng quyền năng hơn Gioan. Người sẽ thanh tẩy nhân loại trong Thánh Thần. Thanh tẩy trong Thánh Thần tức là thanh tẩy bằng sức mạnh của Thánh Thần Thiên Chúa. Nhờ đó, những ai được thanh tẩy sẽ thực sự được biến đổi hoàn toàn, được nên công chính, nên thánh thiện. Lời loan báo của Gioan giúp nhận ra Chúa Giêsu chính là Đấng thanh tẩy nhân loại khỏi mọi ô uế của tội lỗi, khỏi mọi khổ lụy của sự nô lệ cho ma quỷ và sự chết. Sứ mạng của Người được Chúa Cha sai đến trần gian là để cứu độ nhân loại. Tâm tình hướng về Người là tâm tình sám hối, hoán cải cuộc sống vì biết rằng nhờ sức mạnh Thánh Thần của Người, tất cả sẽ trở nên tinh tuyền.

III. SỐNG VÀ CHIA SẺ TIN MỪNG:

1. Dọn đường chuẩn bị cho Chúa đến vì tin:

Dân chúng cả miền Giuđêa và Giêrusalem tuôn đến với Gioan. Chắc chắn, đằng sau sự lôi cuốn của Gioan qua cuộc đời, cách sống và lời rao giảng của ông, chính là niềm tin thống hối của mỗi người. Vì tin nên khi nghe Gioan rao giảng, họ đã chịu để ông thanh tẩy và sám hối. Nếu không tin, chỉ vì hiếu kỳ, họ sẽ đến xem rồi đi như đi xem một vở kịch, một diễn viên, thì dù có diễn hay đi mấy, có gây xúc động đến mấy cũng khó biến đổi lòng người. Lòng ăn năn thống hối đích thực, sự hối cải chân thành không nằm nơi những tình cảm suông, chóng qua; những nghi thức bên ngoài, nhưng phải xuất phát từ chính nội tâm bên trong, từ chính niềm tin chờ mong Đấng Cứu Thế. Tin rằng Người đến sẽ thúc đẩy người ta đi đến việc dọn đường cho Người. Dọn con đường tâm hồn để tâm của mình trở nên trong sáng. Dọn con đường cuộc sống để bản thân trở nên đạo đức.

2. Những nẻo đường cần được dọn cho Chúa đến:

"Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng", sứ điệp này vẫn không ngừng vang lên trong thế giới hôm nay. Chúa Giêsu đã đến cách đây hơn 2000 năm; nhưng không vì thế mà người ta không còn cần dọn đường cho Chúa nữa. Chúa đã đến và vẫn đang đến. Phụng vụ mùa Vọng không chỉ dừng lại ở việc mừng biến cố Giáng sinh đã qua, nhưng là qua việc này hướng lòng người trông chờ ngày Chúa đến lần thứ hai trong vinh quang, ngày cánh chung, ngày Người hoàn tất và qui phục mọi loài trong vương quyền tình yêu của Thiên Chúa. Vì vậy, sứ điệp "dọn đường cho Chúa" vẫn cần thiết đối với mọi người qua mọi thời cho đến ngày cuối cùng. Chúa đã và đang đến với từng người, từng gia đình và toàn xã hội. Con đường cho Chúa đến là những nẻo đường đời của mỗi tâm hồn, là những hoàn cảnh sống của từng gia đình, là tất cả mọi phương diện của đời sống xã hội. Sám hối canh tân không chỉ là chuyện đạo đức của mỗi cá nhân mà là việc cần làm ngay của các gia đình và của toàn xã hội. Vì Chúa không đến với mỗi người mà thôi, nhưng Người đến với tất cả nhân loại và vũ trụ. Ơn cứu độ không chỉ là ơn tặng ban cho cá nhân mà là công trình yêu thương của Thiên Chúa ban tặng cho tất cả nhân loại.

3. Từ sứ mạng của Gioan, đến sứ mạng của Chúa Giêsu suy nghĩ về vai trò của Kitô hữu trong thế giới hôm nay:

Gioan có sứ mạng đi trước dọn đường cho Chúa đến, nhiệm vụ của ông là chuẩn bị một dân biết sẵn sàng đón Chúa. Ông thực thi sứ mạng bằng lời rao giảng sám hối và chính ông đã thực thi sự sám hối bằng đời sống của mình. Cách sống, cách ăn mặc của ông toát lên một tinh thần khó nghèo, sám hối thực sự. Ông đã biết thoát đi khỏi những ảnh hưởng của cuộc sống vật chất, những ràng buộc của người thuộc dòng họ tư tế để chuyên chú vào việc chờ đón và rao giảng về Đấng Cứu Thế. Gioan kêu gọi canh tân hoán cải bằng phép Rửa tỏ lòng thống hối để chờ đón Chúa đến. Chúa Giêsu đến để thanh tẩy nhân loại tội lỗi bằng Thánh Thần để dẫn đưa con người được thanh tẩy vào trong đời sống sung mãn, tự do và thánh thiện của Thiên Chúa. Từ sứ mạng của Gioan, đến sứ mạng của Chúa Giêsu cho thấy vai trò của Kitô hữu đối với thế giới và con người hôm nay. Kitô hữu chính là Gioan Tẩy giả của hôm nay có trách nhiệm cảnh tỉnh con người và thế giới của mình, có trách nhiệm kêu gọi mọi người chung quanh tỉnh thức đón Chúa, giới thiệu Chúa cho họ. Hơn nữa, trong vai trò một Kitô hữu, chúng ta được mời gọi dấn thân vào đời, thanh tẩy cuộc đời này khỏi những tệ nạn, khỏi những cái sai, cái ác, cái xấu đang hoành hành trong xã hội loài người bằng chính nỗ lực sống và loan báo Tin mừng.

IV. LỜI CẦU CHUNG:

Mở đầu: Anh chị em thân mến. Chúa Giêsu đã đến và Người vẫn đang đến với chúng ta qua lời Người, qua Bí tích Thánh thể và qua Giáo hội. Tin tưởng vào sự hiện diện của Người, chúng ta cùng dâng lời cầu xin.

1. Giáo hội cũng được trao phó sứ mạng như Gioan Tẩy giả loan báo cho con người biết ơn cứu độ của Chúa, biết Chúa Giêsu đã đến và đang đến. Chúng ta cùng cầu nguyện cho Giáo hội luôn can đảm và hăng say thi hành sứ mạng của mình.

2. Thế giới và con người hôm nay đang đắm chìm trong biết bao nhiêu khổ lụy của cuộc đời: nghèo đói, chiến tranh, bệnh tật, tệ nạn xã hội… Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người, mọi quốc gia lắng nghe được sứ điệp hòa bình và yêu thương của Chúa Giêsu, là sứ điệp duy nhất mang lại công lý và hòa bình, tự do và tình yêu đích thực.

3. Kitô hữu cũng như Gioan Tẩy giả được trao phó sứ mạng cảnh tỉnh con người và thế giới hôm nay. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta biết nỗ lực, can đảm sống Tin mừng trong môi trường của mỗi người, để nhờ đó, Tin mừng cứu độ của Chúa Giêsu được đến với mọi người.

Lời kết: Lạy Thiên Chúa giàu lòng nhân ái. Chúng con cảm tạ Chúa đã sai Con Một là Chúa Giêsu Kitô đến cứu độ chúng con, đưa chúng con trở nên con cái Chúa. Xin Chúa giúp cho mỗi người chúng con biết canh tân hoán cải cuộc sống để chúng con biết dọn đường ngay thẳng cho Chúa Giêsu ngự đến trong cuộc đời, gia đình và xã hội chúng con. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.


Hành Trang Mục Vụ Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn