Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật III Mùa Chay B

Tin mừng Ga 2: 13 - 25: Các Tin Mừng Nhất lãm đặt giai thoại này vào cuối sứ vụ của Chúa Giêsu, trong lúc Gioan lại đặt ngay từ đầu. Có thể dung hòa hai truyền thống đó không? Nếu phải chọn một trong hai thì chọn bên nào?...
CHÚ GIẢI TIN MỪNG

NGÀY 04 THÁNG 03 NĂM 2018

CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG B


Tin mừng Ga 2: 13 - 25

Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải


TẨY UẾ ĐỀN THỜ


CÂU HỎI GỢI Ý

1. Các Tin Mừng Nhất lãm đặt giai thoại này vào cuối sứ vụ của Chúa Giêsu, trong lúc Gioan lại đặt ngay từ đầu. Có thể dung hòa hai truyền thống đó không? Nếu phải chọn một trong hai thì chọn bên nào?

2. Phải hiểu như thế nào hành vi đầu đời công khai đây của Chúa Giêsu? Ta biết rằng ít nhất từ lúc lên 12 tuổi, hằng năm Chúa Giêsu đi lên liền thờ ba lần, chẳng lẽ Người đã không có nhiều cơ hội đuổi những kẻ buôn bán ra khỏi đó? Tại sao bây giờ Người mới hành động?

3. Tại sao cử chỉ này của Chúa Giêsu có vẻ gai mắt đối với các thủ lãnh Đền thờ?

4. Tại sao lời tuyên phán của Chúa Ciêsu về Đền thờ phải hiểu theo nghĩa thiêng liêng mới hợp với hoàn cảnh và với lối lập luận của Người?

5. Chi tiết xác định "46 năm" nơi c.20 có quan trọng đối với thời biểu cuộc đời công khai của Chúa Giêsu không?

6. Phải hiểu cc.24-25 như thế nào?

1.Đây là lần đầu tiên Gioan cống hiến cho ta một đoạn văn song song với Tin mừng Nhất lãm (Mt 21 , 12- 1 7; Mc 11, 15-19; Lc 19,45-48). Dị biệt giữa các trình thuật này rất lớn. Trong lúc Gioan đặt biến cố vào đầu sứ vụ Chúa Giêsu thì Tin mừng Nhất lãm lại đặt vào đầu tuần Khổ nạn, lý do can thiệp của Chúa Giêsu cũng khác nhau: "một cái chợ" trong Gioan (2,16), còn trong Tin mừng Nhất lãm thì lại là "một hang trộm cướp. Sau cùng, cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và các địch thủ Người, theo Gioan, xảy ra ngay lúc đó, nhưng theo Tin Mừng Nhất lãm (Mc 11,28 ss) thì lại vào ngày hôm sau.

Chịu ảnh hưởng của thuyết tương phù, người ta trước đây đã thường đưa ra giả thuyết: có lẽ Chúa Giêsu đã đuổi quân buôn bán ra khỏi Đền thờ hai lần, một lần khi mới bắt đầu sứ vụ (Gioan) và một lần khi chấm dứt (Tin mừng Nhất lãm). Nhưng khó tin rằng Chúa Giêsu đã tái diễn một hành vi khiêu khích đối với nhà chức trách Do thái như thế. Hơn nữa, có nhiều nét tương đồng được nhận thấy giữa trình thuật Gioan và trình thuật Tin mừng Nhất lãm khiến ta nghĩ rằng đây có lẽ là cùng một biến cố thôi, vì trong cả hai bên, ta gặp cùng một cơ hội (sự có mặt của những kẻ buôn bán và đổi tiền trong Đền thờ), một lời Chúa Giêsu chất vấn con buôn, sự can thiệp của các thủ lãnh Do thái, và nhất là mối liên hệ chặt chẽ giữa hành động của Chúa Giêsu với cái chết của Người (Ga 2,17- 19; Mc 11, 18; Lc 19,47).

Thành thử phải chọn hoặc bản văn Gioan hoặc bản văn Tin Mừng Nhất lãm: bản văn nào đã đặt biến cố đúng theo thời gian nhất? Đa số người Công giáo và nhiều người Tin lành thiên về bản văn Gioan. Lý chứng chính của họ là chi tiết xác định thời Gioan ở 2,20: chi tiết này cho thấy biến cố xảy ra vào khoảng năm 27-28 sau công nguyên là niên hiệu phù hợp với lúc Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ, chứ không phải với lúc Người chết. Sở dĩ Tin mừng Nhất lãm đã xê dịch việc tẩy uế Đền thờ để đặt vào cuối sứ vụ Chúa Giêsu, chính là vì họ chỉ đề cập đến một lần lên Giêrusalem và một lễ Vượt qua duy nhất.

Những kẻ nghiêng về Tin mừng Nhất lãm trước tiên nhận xét rằng: ngay từ đầu sứ vụ Chúa Giêsu mà đã nói tới sự liên hệ giữa việc khiêu khích này với cái chết của Người thì không hợp mấy. Hơn nữa, việc nhiều nhân chứng nhắc lại lời tuyên bố của Chúa Gjêsu về chuyện phá hủy Đền thờ trong vụ xử án Người, giả thiết là sự kiện mới xảy ra gần đấy thôi. Tuy nhiên lập luận mạnh nhất của họ là cho rằng Gioan đã đem trình thuật này vào đầu sứ vụ Chúa Giêsu để phù hợp với viễn tượng mà ông đã phác họa trong dấu chỉ trước đó (2,4-11): quy hướng ngay từ đầu toàn thể sứ vụ của Chúa Giêsu về Giờ Người tử nạn; hơn nữa Gioan muốn cho Do thái giáo chính thức gặp Chúa Giêsu ngay lúc Người biểu lộ rõ ràng thiên sai tính để đặt người Do thái trong một vị thế xét xử.

Tóm lại; ở đây chúng ta gặp một trường hợp cổ điển về vấn đề chú giải trong đó khó mà chọn lựa theo bên nào, vì cả hai lập trường đối nghịch đều có những lý chứng mạnh mẽ như nhau. Về phần chúng tôi, chúng tôi chưa thấy có lý chứng hay lập luận quyết định nào khiến phải theo giả thuyết này hay giả thuyết kia cả.

2. Chúng ta được đưa vào tiền đường Đền thờ, en tôi hiêrôi (khác với naos, Đền thờ đúng nghĩa, gồm nơi thánh và nơi cực thánh). Đây chỉ là sân dành cho dân ngoại, nơi ít tôn quý nhất của thánh đàn, nơi duy nhất người ngoại quốc được đặt chân đến. Truyền thống tốt đẹp lâu đời bắt buộc người ta cũng phải giữ thái độ cung kính ở nơi đây, ví dụ như phải tránh đi ngang qua chỉ vì muốn tiện đường (x. Mc 11 ,16 và Strack-billerbeck, t.III, tr.27). Nhưng các quy luật này thường không được tuân giữ nhất là vào những lúc áp lễ Vượt qua. Vì việc khách hành hương phải dâng hy lễ (một con bò hay một con chiên đối với những kẻ giàu, một con bồ câu đối với người nghèo khó) và nạp nửa đồng tiền thuế cho Đền thờ (một thứ tiền đặc biệt) đã gây ra một cảnh thương mãi vô cùng trâng tráo. Hàng quán của các lái buôn chiên bò dựng ngay trước trụ lang và bàn của những người đổi bạc đặt ngay ngoài trời đã làm cho khuôn viên Đền thờ trở thành một cái chợ lớn kiểu đông phương. Nhưng thay vì chống lại sự tục hóa này, các tư tế dã xem đó là một nguồn lợi quý giá. Một câu châm ngôn của sách Mishna có ghi lại lời than phiền của một ký lục đạo đức trước khi thành Giêrusalem bị phá hủy như sau: Họ là tư tế, con cháu họ là thủ ngân, rể họ là thanh tra Đền thờ, và gia nhân họ cầm dùi để chực đánh chúng ta" (Strack-billerbeck, t I tr.853; t.Il, tr.570).

Chính trên tất cả hậu cảnh vừa nói mà Chúa Giêsu đã can thiệp. Vì giờ đã được đặt làm Messia-con Thiên Chúa, nên không còn với tư cách một khách hành hương mà Chúa Giêsu vào nhà Thiên Chúa nữa. Người vào đó và long trọng can thiệp với tư cách quản lý và chủ nhân. Sở dĩ Người đột ngột có thái độ mời này, sở dĩ Người tỏ uy quyền giữa Đền thờ cách xuất kỳ bất ý, ngay từ chuyến hành hương đầu hết của đời công khai ( ít nhất theo văn bản Gioan). Chắc hẳn là vì muốn mặc khải chính mình giữa lòng Do thái giáo, trước mặt các nhà lãnh đạo và đám dân tứ xứ hành hương, hầu thực hiện lời Malaki sấm bản "thình lình sẽ đến nơi Đền thờ của Người vị Chúa mà các ngươi đòi hỏi, và thần sứ Giao ước mà các người ước nguyện, này người đang đến... Nhưng ai chịu đựng nổi ngày Người đến, ai đứng vững được ngày Người hiện ra? Vì người như lửa của thợ luyện... Người sẽ thanh luyện con cái Lêvi (các thừa tác viên Đền thờ)..." (Ml 3,1-3) chắc hẳn, trong mọi lần hành hương trước đây, Chúa Giêsu đã lấy làm khó chịu vì cái cảnh buôn bán vốn biến nơi cầu nguyện này thành một trung tâm thương mại ồn ào, thành một hang trộm cắp (Mc 11,17). Giờ được chính thức giao phó lo việc Chúa Cha, người phải chấm dứt ngay cái cảnh lộn xộn đã quá kéo dài đó. Lòng nhiệt thành đối với quyền lời Chúa Cha đã khiến Người dùng mọi phương thế hữu hiệu nhất để trả lại sự trong sạch cho Đền thờ. Bất chấp hiểm nguy, người không ngần ngại đem sức mạnh cánh tay hỗ trợ cho sức mạnh của lời mình để hoàn thành ước vọng của Cha tỏ bày qua miệng Dacaria ngôn sứ: "Ngày ấy sẽ không còn phường lái buôn trong Đền thờ của Gioan nữa" (Dcr 14, 1). Theo sấm ngôn của Malaki (3, 1 -3), chẳng ai có thể đứng vững trước vị ngôn sứ quả cảm và nhiệt thành với danh dự của Thiên Chúa như thế: "Đừng biến thành một cái chợ nhà của Cha Ta", Người dùng một lời Giêrêmia mà tuyên bố với họ như vậy (Gr 7, 11). Cử chỉ này, vốn nhắm mục đích trực tiếp là thanh tẩy lại Đền thờ, hình như có một ý nghĩa biểu tượng: Chúa Giêsu muốn qua đó cho thấy là sẽ chiếm chỗ các tư tế Do thái trong việc quản lý Đền thờ Thiên Chua và sẽ gạt bỏ hết mọi súc vật tế lễ để thay bằng một lễ dâng tinh tuyền mà Thiên Chúa đã loan báo cũng qua liệng Malaki: "Ta không thích chút nào lễ vật do tay các ngươi dâng hiến, nhưng ở khắp nơi sẽ có hy lễ tinh tuyền dâng kính thánh danh Ta" (Ml 1, 10-11). Và giờ đó sắp điểm.

Sự can thiệp quyết liệt này của Chúa Giêsu chắc hẳn đã khiến các môn đồ rất ngạc nhiên, nhưng nhất là nó làm cho họ sợ rằng Người sẽ chịu nhiều hậu quả nguy khốn. Vì mặc dầu chỉ hoàn toàn bị thúc đẩy bởi mối ưu tư cao thượng về danh dự Thiên Chúa, lòng nhiệt thành của Người, theo họ nghĩ, thế nào cũng gây nên sự thù oán của bọn con buôn và của hạng đồng lõa bí mật với chúng là các thừa tác viên Đền thờ, tất cả đều bị thiệt thòi và phật ý vì việc tái lập trật tự chính đáng hôm nay.

Và khi thấy Người hăng hái hành động như vậy, các môn đồ nghĩ tới tiếng kêu của tác giả thánh vịnh 69: "Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa mà con đây phải thiệt vào thân"; qua hình ảnh thánh vịnh gia bị nung nấu vì lòng nhiệt thành đối với Đền thờ đồng thời bị xâu xé bởi các địch thủ, họ thoáng thấy khuôn mặt ngôn sứ của Chúa Giêsu. Về sau, khi tuyên bố trong cuộc khổ nạn rằng thánh vịnh 69 này được thực hiện nơi mình (Ga 15,25), Chúa Giêsu sẽ công nhận linh cảm đây của các môn đồ là đúng: lòng nhiệt thành nung nấu nội tâm Người trong dịp lễ vượt qua đầu tiên sẽ nung nấu toàn thân Người trong dịp lễ Vượt qua cuối cùng để biến Người thành hy lễ "đẹp lòng Thiên Chúa hơn lễ tế bò tơ, hơn ngưu sinh đủ sừng đủ móng" (Tv 69,32).

3. Được báo động bởi tiếng kêu la, xô đẩy và chắc hẳn bởi một nên mật thám nào đó của bọn lái buôn, "người Do thái", nghĩa là các thủ lãnh Đền thờ và nhà chức trách tối cao địa phương, liền lập tức can thiệp. Họ kích động trước một hành vi đột xuất khác thường và có tính chất cách mạ người như thế? Bởi vì mặc dù không có chức tư tế cũng chẳng mang nhiệm vụ, nào trong Đền thờ, Chúa Giêsu cũng đã dám lên án một hệ thống được giới lãnh đạo thừa chuẩn và như thế tự ý chiết lấy một quyền bính cao hơn họ; Người còn tỏ ra muốn bãi bỏ việc phụng tự Thiên Chúa thiết lập đây, và như thế là tự cho mình có quyền bằng vị Thiên Chúa mà Người vẫn gọi là Cha Người theo một danh nghĩa độc nhất! Bởi vì đã tự cho mình có một quyền bính thần linh, thì Người hãy minh chứng bằng cách làm một dấu lạ từ trời, nghĩa là từ Thiên Chúa đi (Mc 8,11) để cho thấy Người đã được Thiên Chúa ủy nhiệm Và Người tỏ ra dấu lạ nào? Chưa dấu lạ nào lúc ấy cả Người chỉ đáp: "Hãy phá hủy (hãy làm tiêu tan) Đền thờ này đi, và trong ba ngày Ta sẽ dựng lại (cho dậy lại)!'', Mệnh lệnh cách ở đây tương đương với một thì tương lai, nên có nghĩa: "Các Ông sẽ phá Đền thờ này... " hoặc với một nhượng bộ cách (concessive): "Giả sử các ông có phá Đền thờ này..." (x. Blass Debrunner 387 và Abel 6oa). Xét theo sân khấu của cuộc tranh luận, thì xem ra Chúa Giêsu muốn nói tái việc phá hủy và tái xây dựng Đền thờ bằng đá trong tương lai rất gần, và người Do thái cũng nghĩ như thế, nên họ lập tức cho rằng không thể được: đã chẳng mất 46 năm với bao nhiêu thợ để xây dựng ngôi đền còn dang dở này sao! Thật ra, quả là điên rồ khi muốn trong ba ngày xây lại nó, cũng như quả là cuồng dại nếu nghĩ rằng ta có thể tấn công nơi thánh này, cột thu lôi thần linh của Giêrusalem và toàn thể Israel, đối tượng tôn sùng nhiệt thành của hết thảy dân Chúa. Cho nên nếu hợp lý, thì người Do thái sẽ không gán những ý tưởng như vậy cho một người có lương tri, biết lẽ phải: vì xét như là người Đông phương chính hiệu, quen với lối văn bóng bảy gợi hình cũng như với những lời tuyên phán đầy ẩn ý, thì họ phải phỏng đoán rằng ở đây có một nghĩa biểu tượng, nhất là vì các hạn từ "làm tiêu tan" và "cho dậy lại" được Chúa Giêsu dùng không mấy thích hợp với một ngôi nhà vật chất. Nhưng họ đã cố tình hiểu theo nghĩa vật chất như người thiếu phụ Samari về vấn đề nước sống (4, 11-15), như người Do thái về vấn đề Bánh ban sự sống thật sau này (6,34).

4. Còn các môn đồ thì trung thành ghi nhớ lời tuyên phán nhưng không hiểu. Chỉ sau khi Thầy phục sinh, họ mới khám phá được ý nghĩa câu nói bí nhiệm đó, ý nghĩa mà Gioan cho ta biết trước ở đây và ta phải coi như là duy nhất xác thực: Chúa Giêsu không hề nói đến đền thờ bằng đá, nhưng chỉ nói đến đền thờ là thân thể Người, nhân tính Người. Các tiếng Người dùng phù hợp với nghĩa này hơn: "Hãy làm tiêu tan đền thờ là thân xác Ta đây (các ngươi sẽ gây ra sự tan rã, gây nên cái chết của thân xác Ta), và trong ba ngày Ta sẽ cho nó chỗi dậy (Ta sẽ đánh thức nó dậy khỏi giấc ngủ ấy)". Đàng khác, ý nghĩa cũng phù hợp hoàn toàn với hoàn cảnh. Vì nếu các môn đồ đã linh cảm được rằng lòng nhiệt thành đối với ngôi nhà vật chất của Thiên Chúa sẽ làm cho Chúa Giêsu bị xâu xé bởi những địch thủ mà Người đang khiêu khích (c 17) thì phần Chúa Giêsu, Người còn biết rõ hơn họ là cử chết này sẽ dẫn Người đến chỗ chết. Do đó, đối với Chúa Giêsu. Cái chết của Người sẽ chẳng phải là một tai nạn bất ngờ hay một thất bạt không thể tránh, nhưng là một thử thách tự do chấp nhận và sẽ đưa đến một sự sống hoàn hảo hơn. Thành thử, vì được loan báo trước, người Do thái sẽ không thể coi đó là một chiến thắng khải hoàn, và các môn đồ là một cớ vấp ngã.

Ý nghĩa thiêng hứng này cũng phù hợp với lối lập luận. Người Do thái xin Chúa Giêsu hãy chứng minh Người có uy quyền trên đền thờ đá bằng một "dấu ctlỉ". Người liền hứa cho họ dầu chỉ Giona (Mt 1 2,38-40): cuộc phục Sinh vinh hiển của Người, một khi chứng minh cho thấy người có uy quyền tối thượng trên thân thể người, và rằng thân thể người là Đền thờ đích thực của thần tính, sẽ xác nhận rõ ràng Người có uy quyền tối thượng trên đền thờ Giêrusalem, hình ảnh bất toàn của thân xác-đền thờ Người Cũng như sẽ làm đối với Nicôđêmô về việc tái sinh, đối với người đàn bà Samari về nước sống, đối với người Do thái tại Capharnaum về bánh sự sống (3,3; 4,10; 6,27), ở đây Chúa Giêsu đột ngột đi từ các thực tại vật chất lên đến các thực tại thiêng liêng tương ứng, và để cho các thính giả phận sự nhận ra việc di chuyển ấy trong các câu tuyên bố của Người: "Chính các ngươi sẽ làm tan đền thờ này (dĩ thiên không phải là đền thờ bằng đá của các ngươi, nhưng chính là thân thể Ta) và nội trong ba ngày Ta sẽ cho nó đứng dậy lại".

Lời tiên đoán này của Chúa Giêsu cảm hứng một phần từ sấm ngôn của ngôn sứ Hô sê: "Sau hai ngày Ngài sẽ cứu sống chúng ta; đến ngày thứ ba Ngài sẽ cho chúng ta chỗi dậy" (Hs 6,2). Về sau, khi cuộc Phục sinh của Thầy họ đã thực hiện sấm ngôn Chúa Giêsu lấy lại đây và đã cho thấy Người là đền thờ đích thực của Thiên Chúa, thì các môn đồ sẽ nhận ra ý nghĩa toàn vẹn của sấm ngôn Hô sê này và lời tiên đoán của Chúa Giêsu về cái chết và việc Người sống lại cũng như ý nghĩa của lời Người tuyên bố về vai trò Đền thờ chung quyết của Người.

Theo lời Chúa Giêsu hứa với Nathanael, các môn đồ sẽ thấy tôn sư họ là Bêthel đích thực, là Nhà Thiên Chúa và là cửa Trời (1,51). Qua hình ảnh biểu tượng như vậy, Chúa Con bắt đầu mặc khải cho các thính giả biết Chúa Cha sống trong người cách trọn vẹn và dứt khoát (8,16; 10,38; 14,10; 6,32) và chỉ trong Người là các tín hữu mới có thể gặp được Chúa Cha vô hình ấy (14,6-10).

5. Đền thờ Giêrusalem gồm cung thánh và tiền đường đã được sửa sang lộng lẫy nhờ lòng hào phóng của Hêrôđê. Khởi sự từ năm thứ 18 triều đại ông (x.Flavius Josèphe, Ant. jud. 15, 11, 1) nghĩa là vào năm 734-735 theo lịch Rôma, tức năm 19-20 trước công nguyên, công cuộc trùng tu kéo dài cho đến thời quan thái thú Albinus, năm 62-64 (Ant. jud. 20,9,7). Khi xảy ra biến cố của chúng ta, người ta đang ở vào năm 46 kể từ ngày xây cất. Thành thử tùy theo ta lấy năm 20 hay 19 (trước công nguyên) làm khởi điểm, mà việc Chúa Giêsu tẩy uế đền thờ đã xảy ra vào lễ Vượt qua năm 27 hay 28. Điều này phù hợp với Lc 3,2 là chi tiết đánh dấu phép rửa của Chúa Giêsu vào năm thứ 15 đời Tibêriô, tức giữa ngày mồng 1 tháng 10 năm 27 và 30 tháng 9 năm 28. Sự trùng hợp niên đại này cung cấp một trong những điển chắc chắn nhất cho thời biểu đời công khai của Chúa Giêsu.

6. Giữa đức tin quảng đại của các môn đồ, vốn chỉ cần nghe lời uy quyền của Chúa Giêsu là đủ tin vào Người, và sự cứng lòng của chính quyền Do thái vốn ngoan cố khép kín mình trước ánh sáng cùng ân sủng, là sự tán đồng của giới bình dân. Đức tin thắng dễ dàng hơn với một tâm trí biết thần phục, nhưng điều này lại không phải là trường hợp của những kẻ giảng dạy người khác! Tuần lễ Vượt qua (hê heortê, khác với to Pascha là chính ngày lễ) kéo dài 8 ngày. Trong thời gian đó, lúc khách hành hương còn ở tại Giêrusalem, Chúa Giêsu đã làm nhiều phép lạ (2,23; 3,2). Các dấu lạ này tác động mạnh trên đám bần dân và đoàn lũ chầu lễ nhưng không lâu dài bao nhiêu. Niềm tin phát xuất từ đó thật bất toàn; Gioan sẽ còn ghi nhận điều này nhiều lần nữa (4,48; 6,2-l4). Các phép lạ chỉ là để chuẩn bị tâm trí. Sẽ đến lúc mà sau khi đã tin các dấu chỉ, người ta chỉ còn tin vì ánh sáng vốn nằm sẵn trong lời Chúa Giêsu. Bao lâu giai đoạn nhất chưa được vượt qua. Đức tin chưa xứng đáng với tên gọi của nó. Chỉ cần gió trở thình lình là nó sẽ bị lung lạc.

Chúa Giêsu biết điều này, không cần ai phải dạy. Người hiểu rõ thái độ bên trong của con người ra sao. Đi sâu vào tâm can và đọc thấy trong đó những bí mật che dấu kỹ nhất là một khả năng đặc biệt của Thiên Chúa (Gr 17,10; 18,25 v.v... ). Như sách Talmud đã bảo (Sanhedrin 37b), chỉ mình Thiên Chúa mới dò thấu tư tưởng lòng người (Strack-bill. tII, tr.412). Chúng ta cũng biết đó là trường hợp của Chúa Giêsu (x. Mt 9,4; 12, 15... ). Người không bị lừa bịp bởi những dấu chẳng tỏ trung thành với Người. Người chẳng hề mắc ảo tưởng về những kẻ bên Người lân la. Vì thế Người không tín nhiệm họ và giữ một thái độ chờ thời. Người chẳng mặc khải vội vã về mầu nhiệm Kitô giáo để khỏi làm khiếp sợ những tâm hồn chưa được vững tin. Người làm dịu bất ánh sáng của giáo huấn mình tùy theo tâm trạng của các thính giả.

CHÚ GIẢ CHI TIẾT

"Lễ vượt qua của người Do thái gần đến Thời gian xảy ra dấu chỉ đây tự nhiên làm ta ngh~ tới lễ Vượt qua trong đó Chúa Giêsu sẽ bị lên án tử hình. tương quan giữa việc tẩy uế Đền thờ và cuộc Tử nạn của Chúa ki tô như thế là đã được ám chỉ. Mc 1 1,18 và Lc 19,47 ghi chú rằng việc can thiệp này của Chúa Giêsu n~lằjn lên án giới lãnh đạo Do thái giáo, sẽ thúc đẩy các tư tế và ký lục "tìm cách hại Người".

"Người gặp thấy trong Đền thờ... ": Đền thờ gợi lên tất cả hệ thống phụng tự cổ xưa vốn tập trung hoàn toàn tại đó. Cũng tại đó, các lái buôn bán súc vật để làm lễ hy tế riêng và những người đổi tiền đổi cho bạn tiền Do thái (tiền cũ của vùng Tyrô) là thứ tiền duy nhất được chấp nhận để trả thuế Đền thờ.

"Một cái chợ": thành ngữ này cảm hứng từ Dcr 14,21, trong khi Tin mừng Nhất lãm, vì muốn đối chọi hoàn cảnh hiện tại ("một hang trộm cướp") với lý tưởng Thiên Chúa muốn ("một nhà cầu nguyện"), nên dã trích dẫn Gr 7,1 1 và Is 56,7.

"Môn đồ nhớ lại": Các môn đồ chỉ hiểu được câu chuyện này sau khi Chúa Giêsu sống lại, lúc Thần khí đã cho họ ơn thông hiểu các dấu chỉ Thầy đã làm.

"Lòng nhiệt thành đối với nhà Chúa sẽ nghiến cả mình tôi: Thánh vịnh 69 trình bày người Công chính trị thiêu đốt bởi lòng nhiệt thành đối với sự thánh thiện của nhà Thiên Chúa, nhưng lòng nhiệt thành này khiến ông phải bị bách hại. Ga 15,25 và 19,29 cũng sẽ còn trích dẫn thánh vịnh 69, luôn luôn trong tương quan với cuộc Khổ nạn chia Chúa Kitô. Thành thử ý nghĩa của câu trích dẫn này trong văn mạch hiện tại là như sau: cũng như người Công chính đau khổ đã phải trả giá cho lòng nhiệt thành đối với Đền thờ thì Chúa Kitô, khi tẩy uế Đền thờ cũng gây nên đau khổ và cái chết cho bản thân.

Chúa Giêsu thanh tẩy Đền thờ và phụng tự cũ hầu xây dựng một Đền thờ mới cùng thiết lập một phụng tự mới (cc.19-20); việc đi từ cũ sang mới này sẽ được thực hiện nhờ cái chết của
Người.

"Người Do thái": Trong thực tế, đây là các chức sắc trong Đền thờ (tư tế, Lêvi và vệ binh) có trách nhiệm về những chuyện Chúa Giêsu kết án. Tuy nhiên, như hết mọi nơi trong Tin Mừng của ông, Gioan không phân biệt giới lãnh đạo với toàn thể dân Do thái đã từ chối tin vào Chúa Kitô. Thành thử đây là vấn đề hệ thống phụng tự của toàn dân Do thái.

"Dấu nào ông tỏ ra được cho chúng tôi...?": Qua câu này, người Do thái muốn nói tới một hành động phi thường vốn sẽ biểu lộ dấu ấn Thiên Chúa trên sứ mệnh Chúa Giêsu. Mt 12,38; 16, 1; Mc 8, 11 và Lc 11, 16 cũng ghi lại một lời yêu cầu tương tự của Biệt phái. Dcr 1,22 bảo người Do thái hay đòi hỏi như vậy.

"Hãy phá tlủy Đền thờ này đi": Vì không tin, người Do thái sẽ trở thành dụng cụ gây nên dấu chỉ họ đòi hỏi. Về sau câu nói này của Chúa Giêsu sẽ bị nhắc lại bởi các chứng nhân trong vụ án xử Người (Mt 26,61; Mc 14,58) và bởi khách bộ hành lăng nhục Người dưới chân thập giá (Mt 27,40; Mc 15,29) Dấu chỉ Chúa Giêsu loan báo đây tương ứng với câu Người trả lời cho Biệt phái trong Mt l2,29t và 16,4. "Con Người, Người đã nói về Đền thờ thân thể Người'': Đền thờ mới thay thế Đền thờ cũ đã bị tục hóa chính là thân thể phục sinh của Chúa Kitô.Tín hữu thành Ephêsô, độc giả trực tiếp của Gioan, rất quen thuộc với một sự đồng hóa như vậy vì Dcr 3,16 và 12,27 (được viết tại Ephêsô) cũng như Ell 2,21 và 4,12 đều nói Kitô hữu vừa là Đền thờ của Thiên Chúa, vừa là thân thể Chúa Kitô, với lối giải thích này của Phaolô, Đền thờ mới chính là Giáo hội, Thân thể vinh hiển của Chúa Kitô phục sinh mà mọi tín hữu đều kết hợp vào.

"Vậy khi Người phục sinh từ cõi chết, môn đồ người nhớ lại... họ đã tin": Márcô thường ghi nhận là các môn đồ không hiểu gì hết. Gioan thì nói cách tích cục là họ hiểu rõ sau ngày Chúa Kitô phục sinh (12,16). là vì chỉ sau khi Chúa Giêsu được tôn vinh, họ mới nhận lãnh Thần khí (7,39), Đấng sẽ soi sáng cho họ hiểu các dấu chỉ Chúa Giêsu đã làm (14,26. 15,26tt). ri'hành thử ở đây đức tin của các môn đồ được liên kết với sự phục sinh không như với một bằng chứng về sự xác thực của những gì Chúa Giêsu đã bảo, song như với nguyên nhân ban ơn Thần khí, Đấng duy nhất giúp cho họ hiểu.

"Họ đã tin vào Kinh thánh": Ta không rõ Gioan muốn ám chỉ đoạn nào trong Cựu ước. Có thể so sánh với Cv 2,24t. 13,34tt, nơi có những bản văn thường được Giáo hội sơ khai trích dẫn đối chiếu với sự Phục sinh của Chúa Gtêsu (đặc biệt là Tv 16,10). Xin lưu ý là thánh kinh (lời Thiên Chúa) và Lời Chúa Giêsu đều được đặt trên cùng bình diện (so sánh Ga 18,9.32) và đều là đối tượng niềm tin của các môn đồ.

Các câu 23-25 là những câu chuyển mạch nhằm chuẩn bị cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu với Nicôđêmô; chúng giải thích việc Nicôđêmô đến (3,2), niềm tin bất toàn của ông và những lời Chúa Giêsu khiển trách ông (3,11t). Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu với Nicôđêmô như thế được đặt trong một khung cảnh cụ thể. Thói quen của Gioan là vậy: chuồi một vài câu để đặt các trình thuật biểu tượng và thần học của ông trong một khung cảnh lịch sử: so sá nh 4,43-45; 7, 1-13; 10, 19-21.40-42; 11,55-57; 12,17-19.41-43.

"Lắm kẻ tin vào Danh Người": Nhiều kẻ tin rằng Chúa Giêsu đến từ Thiên Chúa (3,2), nhưng không tin vào tất cả mầu nhiệm con người của Người. Niềm tin của họ chỉ dựa trên phép lạ mà thôi: nó không phải là vô giá trị, nhưng bất toàn (4,48; 20,29).

KẾT LUẬN

Sau bức màn bị xé toang của Đền thờ và qua thân thể bầm dập tắt thở của Chúa Giêsu Thiên Chúa đã xuất hiện trong một thân xác người đích thực, phủ đầy vinh quang thần linh Giấc mơ của Cựu ước Thiên Chúa-ở-cùng-chúng-ta, giờ đây được thực hiện trong Chúa Giêsu phục sinh mãi mãi.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Vì yêu Chúa Cha, Chúa Giêsu đã chắp dây thừng làm roi đánh đuổi quân buôn bán ra khỏi Đền thờ, nơi mà 20 năm về trước, Người đã vào như vào nhà thân phụ" khi làm cử chỉ đầu tiên của một người Israel khôn lớn. Người đã dùng võ lực bênh vực quyền lợi của Cha, vì bị nung nấu bởi lòng nhiệt thành đối với nhà Cha, vì muốn nhà Cha được sử dụng cách xứng đáng, vì bị thúc đẩy bởi một cơn thịnh nộ. Thành thử, dù là Đấng "hiền lành và lòng đầy khiêm nhượng", bạn bè của các trẻ nhỏ và tội nhân, Chúa Giêsu cũng là người biết nổi giận và phẫn uất. Người chẳng phải là một thượng thánh im lìm song là một con người bằng xương bằng thịt, biết phản ứng và tỏ ra kinh khủng khi phải bênh vực vinh quang Cha Người.

2. Chúa Giêsu cũng muốn dùng phương pháp trên để giải phóng tâm hồn nhân loại, biến nó thành Đền thờ đích thực của Thiên Chúa hằng sống. Người biết rõ mọi cái có nơi con người ta" hơn cả những nhà tâm phân học, biết những uẩn khúc của ý thức, tiềm thức, vô thức chúng ta, biết các con vật đang thu mình và gầm gừ trong đó. Người hết sức muốn giải phóng ra khỏi cảnh nô lệ này, khỏi sự tục hóa này cái con Người đã được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, cái con người đã được mời gọi sống sự sống thần linh. "Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Ngài hầu những ai tin vào người sẽ được sống vĩnh cửu" (Ga 3,16).

3. Trong dịp lễ Vượt qua đầu tiên của đời sống công khai này, Chúa Giêsu tỏ mình như một nhà giải phóng khác với Môisen: người thiết lập một ngày sabbat mới và một lễ Vượt qua mới. Vì danh Cha, Người muốn có một phụng tự khác trong Thần khí và sự thật, trong tình yêu và tự do, một phụng tự tôn thờ đích thực trong đó giới răn thứ nhất được thi hành một cách tuyệt hảo: "Ngươi hãy thờ lạy một mình Thiên Chúa và mến yêu Ngài trên hết mọi sự ".

4. "Hãy phá hủy Đền thờ này đi, và nội trong ba ngày Ta sẽ xây dựng lại". Nghĩa là thân xác Chúa Giêsu sẽ bị đánh dập nhừ tử, sẽ bị giết chết nhưng rồi sẽ phục sinh. Trong thực tế, vào ngày thí sáu Tuần thánh, hai nhân chứng sẽ đến lặp lại những lời này: nên này đã nói: Ta có thể triệt hạ Đền thờ Thiên Chúa và trong ba ngày sẽ xây cất lại" (Mt 26,61). Tại đồi Canvê, dân chúng sẽ lắc đầu nhạo báng Người mà rằng: "Mày định triệt hạ Đền thờ và trong ba ngày sẽ xây lại, hãy tự cứu mình đi " (Mt 27,41). Nhưng rồi cuộc Phục. sinh đã khôi phục cái Đền thờ trong đó Chúa Giêsu đã dâng hy tế hoàn hảo, đã dâng của lễ giải phóng nhân loại. Trên thập giá, Người đã vừa dâng lễ vừa tự hiến, là tư tế và hy lễ cùng một lúc Thành thử đối với chúng ta Đền thờ mến yêu và thờ lạy chính là thân thể Chúa Kitô, trái tim Chúa Kitô. Trong thân thể của Người, chúng ta có thể kết hợp với Chúa Kitô tư tế và hy lễ. Trong thân thể phục sinh của Người là tạo vật được giải phóng tuyệt hảo nhất, thuần tính (nguồn tự do toàn vẹn) đã chiến thắng trong thân thể phục sinh của người, Giao ước mới đã được ký kết và củng cố mãi mãi.

5. Người Kitô hữu là Đền thờ Thiên Chúa. Phạm tội là biến Đền thờ thiên Chúa là hang trộm cắp, và như thế xua đuổi Thiên Chúa ra khỏi lòng mình. Mùa chay là lúc trùng tu, kiến thiết đền thờ tâm hồn chúng ta để xứng đáng làm nơi Thiên Chúa ngự trị.

 

Noel Quession - Chú Giải



Gần đến Lễ Vượt qua của người Do Thái, Đức Giêsu lên thành Giêrusalem.

Đức Giêsu là một người Do Thái nhiệt thành sống đạo. Trong Tin Mừng của mình, thánh Gioan đã bảy lần ghi lại Đức Giêsu tham dự những buổi lễ trọng phải hành hương (Ga 5,1 - 6,4 - 7,2 - 10,22 - 11,55 -12,1 - 13,1), đặc biệt là Lễ Vượt qua vào Mùa Xuân và Lễ Lều trại vào Mùa Thu. Trước hết tôi chiêm ngưỡng Đức Giêsu, với tư thế là một người trần hòa lẫn trong đám đông, đang cầu nguyện ca hát trên bước đường hành hương, rồi trên sân trước của Đền thờ. Cho dù trên thực tế, Đức Giêsu đã sửa đổi rất kỹ những nghi thức phụng tự Do Thái, nhưng về mặt giáo lý Người không chủ trương bài xích. Cuốn phim "Lễ vật toàn thiêu" nhắc lại cho ta thấy sự đau khổ của dân tộc này mà Đức Giêsu là thành phần... một dân tộc luôn mang một định mệnh đặc biệt cách nhiệm mầu. Trang Tin Mừng trên đây của thánh Gioan bắt đầu bằng "Lễ Vượt qua của người Do Thái" (câu 13), và kết thúc với "Lễ Vượt qua của Đức Giêsu (câu 2) nhằm nhắc lại những môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu đều là người Do Thái, là những kẻ "tin vào danh Người trong dịp lễ vượt qua" (câu 23). Từ lễ Vượt qua của người Do Thái" đến "Lễ Vượt qua Kitô giáo, luôn thể hiện cùng một mầu nhiệm khôn dò: Mầu nhiệm phá hủy một đền thờ, rồi nhờ đó lại mọc lên một đền thờ khác...

Người thấy trong Đền thờ có những kẻ bán chiên bò, bồ câu và những người đang ngồi đổi tiền. Người bèn lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi đền thờ, còn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra và lật nhào bàn ghế của họ. Người nói với những kẻ bán bồ câu: "Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây".

Tranh ảnh Kitô giáo đã không bỏ sót diễn tả những cảnh này với màu sắc và hành động thật là phong phú. Đức Giêsu đang nổi giận, cầm roi trong tay, xua đuổi "phường buôn bán ra khỏi Đền thờ". Chúng ta cần phải vượt qua giới hạn của "biến cố" trên, đê tìm hiểu ý nghĩa thần học sâu xa của pha cảnh. Trong câu này, ta nhận thấy, hình như Đức Giêsu đối xử với "những kẻ bán bồ câu với thái độ khác thường, tử tế hơn so với những kẻ khác: Vì bồ câu thuộc "lễ vật của người nghèo", lễ vật của những người như Đức Maria xưa kia, đã không đủ tiền để mua những con vật lớn. Ở đây, Đức Giêsu chứng tỏ thái độ ưu ái đối với nhưng người nghèo mà Người không ngừng biểu lộ.

Đừng biến nhà Cha tôi thành nơi chợ búa.

Những con buôn và phường đổi tiền không nhất thiết là những người xấu. Thực ra, họ đã phục vụ đáng kể đối với các tín hữu từ xa đến, đang cần sắm sửa tại chỗ những lễ vật cần thiết để tiến dâng: Như trướng hợp Maria và Giuse, đến đền thờ trong ngày Hiến dâng con mình, hẳn là rất hài lòng gặp được những người buôn bán như thế, để mua sắrn một cặp bồ câu non (Lc 2,24). Vì thế, chúng ta dễ sai lầm nếu chúng ta chỉ đọc trang Tin Mừng trên cách hời hợt, nhất là chúng ta chỉ áp dụng trang sách đó... cho kẻ khác. Chúng ta rất dễ nổi giận... dễ dùng lời nói mà không sợ bị liên lụy để chống lại tiền bạc, sự mua bán trái phép, những "ồn ào của bạc tiền" chung quanh bàn thờ, xã hội tiêu thụ, đề cao lợi nhuận trong các nền kinh tế phương Tây. Đức Giêsu quả đã là một người nghèo thực sự. Người đã nổi giận trước vị trí quá lớn của tiền bạc đang ngự trị trong Đền thờ... Chắc chắn là thế! Như vậy, chính chúng ta cũng phải hoán cải về vấn đề này. Lạy Chúa, xin cứu chữa chúng con khỏi lòng dính bén với tiền bạc.

Nhưng điểm cốt yếu của trang Tin Mừng hôm nay không nằm ở đó.

Chúng ta hãy lắng nghe kỹ kiểu nói lạ thường mà Đức Giêsu sử dụng để nói về đền thờ: "Nhà của Cha tôi". Chúng ta quá chán với kiểu nói đó. Tuy nhiên chúng làm cho ta càng phải tìm hiểu sâu xa hơn căn tính của "con người" này, Giêsu thành Na-da-rét? Trong con người đó đang ẩn chứa một bí nhiệm to lớn biết bao! Giữa Người và Thiên Chúa, có một mối tình yêu thương mật thiết biết bao! Người đang hiện diện nơi nhà mình, trong đền thánh của Giavê. Nơi các thánh này, chính diện bất khả xâm phàm này, không ai được phép vào trừ vị Thượng tế, mỗi năm một lần (Dt 9,7). Đó là nơi "chí thánh", nói "tách biệt" với tất cả "không ai được đụng chạm" đến, không ai bước vào mà không phải chết... Thế mà nói một cách hết sức tự nhiên, đó là "nhà của Cha Người", là nhà của Người, vì Người là con. Vào lúc 12 tuổi, Người cũng nói như thế, nhưng không ai hiểu cả, ngay cả mẹ Người là Đức Maria: Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?" (Lc 2,49).

Vâng! yếu tố trước nhất trong việc phụng tự mà ta thể hiện với Thiên Chúa, không phải là việc làm bề ngoài (như bò, chiên, bồ câu) mà là tấm lòng con thảo ta đặt vào đó. Lạy Chúa, xin giải thoát chúng con khỏi mối bận tâm quá đề cao những nghi lễ, những hình thức bên ngoài.

Các môn đệ của Người nhớ lại lời đã chép trong Kinh thánh: "Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà tôi đây lẽ phải thiệt vào thân" (Tv 69,10).

Đối với Đức Giêsu " rinh yêu Chúa Cha" luôn thiêu đốt Người, nói cách văn vẻ, như ngọn lửa ngốn trọn những nhánh ctủ khô. Lễ vật dâng lên Chúa Cha của Đức Giêsu không theo "nghi thức", nghĩa là những gì ở bên ngoài Người. Người sẽ dâng hiến chính bản thân mình làm lễ vật và trọn cuộc sống Người luôn là một của lễ như thế. Còn đối với tôi, việc phụng tự ra sao? Nó mang hình thức nào? Tôi "dự lễ hay tôi "trung phần" vào thánh lễ? Cùng với Đức Giêsu, tôi có được Thiên Chúa khơi lửa nhiệt tình, nung đốt tình yêu và làm cho say đắm không? ôi lạy Cha, con cũng muốn rằng, từ giờ trở đi nhà của Cha sẽ làm cho con phải thiệt vào thân vì yêu mến, Nếu Đức Giêsu đã phản ứng mành mẽ như thế, chính là vì danh dự và vinh quang của Cha Người đã bị xúc phạm trong việc "buôn bán trái phép" đó Đức Giêsu quả là một con người say mê Thiên Chúa, sống cho quyền lợi của Thiên Chúa.

Các ông cứ phá hủy đền thờ này đi, nội ba ngày tôi sẽ xây dựng lại. Người Do Thái nói: Đền thờ này phải mất bốn mươi sáu năm mới xây xong, thế mà nội trong ba ngày ông xây dựng lại được sao?"

Ở đây bản văn Hy -Lạp không dùng từ "đền thờ" (iéron) mà là từ "thánh điện" (naos). Và đó không phải là điều ngẫu nhiên, bởi vì trước đó, cùng trong cùng bản văn, Gioan đã sử dụng chính xác từ "đền thờ". "Người thấy trong đền (iéron) có những kẻ buôn bán... và Người xua đuổi họ ra khỏi đền thờ (iéron)". Theo nghĩa này, đền thờ là toàn bộ những công trình kiến trúc, kể cả đường dạo chơi, công trường, các sân phía trước. Nhưng giờ đây Đức Giêsu đi xa hơn nhiều, khi Người nói: "Các ông cứ phá hủy thánh điện (naos) này đi, tai hại biết bao, nếu những người dịch không tôn trọng bản văn! Thánh điện chỉ là phần kiến trúc hoàn toàn bé nhỏ, những quý giá nhất của toàn bộ đền thờ; là trung tâm điểm, nơi Thiên Chúa hiện diện ( shékinah")! Chúng ta đừng quên rằng, Đức Giêsu sẽ bị kết án tử hình do lời tố cáo sai lầm của Người đã tuyên bố: "Tôi sẽ phá thánh điện này và sẽ xây cất lại" (Mt 26,6). Thực sự đó là một lời phạm thượng. Thánh điện này vẫn hoàn toàn mới mẻ, được Hêrôdê cho phép khởi công xây cất 50 năm trước đó. Đó là niềm tự hào của quốc gia, là nơi tôn kính để cầu nguyện và hành hương, mà mỗi năm hàng triệu người tới viếng thăm. Đó cũng là nơi phụng tự duy nhất" của ít-ra-en. Quả thực, con người này bạo gan mới dám nói như thế! Phát triển như thế, cũng như người nào đó tuyên bố: "Cứ phá Đền thờ thánh Phêrô ở Rôma đi Hay cứ phá đền thánh Lộ Đức, nhà thờ Đức bà ở Paris hay vương cung thánh đường ở Angers...". Thế mà, Đức Giêsu nói năng tự nhiên, không có vẻ gì của một kẻ khiêu khích cả.

Nhưng đền thờ (naos) Đức Giêsu muốn nói ở đây là chính mình Người.

Đền thờ ở đây, bản văn Hy Lạp dùng từ "thánh điện" (naos). Hiển nhiên, ta đang ở vào trung tâm của trang Tin Mừng trên. Ta thử tìm hiểu thêm, Đức Giêsu đã ý thức về mình thế nào. Người biết Người là ai. Người nói; Người là một thánh điện. Đức Giêsu tự tạo cho mình thành "nơi Thiên Chúa Ỵhiện diện". Chính thân xác Người là "đền thờ mới "... là nơi " phụng tự mới "... Gioan Tẩy giả đã chỉ Người như chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian (Ga 1,29). Phải, Đức Giêsu đã phịu sát tế trên ngọn đồi ngoài cửa thành, hy sinh vào đúng giờ mà trong Đền thờ người ta đang sát tế nhiều chiên vượt qua, ngày áp lễ "Vượt qua trọng đại" (Ga 19,31). Bằng chính thân xác mình chịu hy sinh, Đức Giêsu đến thay thế cho mọi lễ vật và làm cho Đền thờ Giêrusalem trở nên vô tích sự và màn trong Đền lúc đó có thể bị xé bỏ (Mt 27,51). Từ thân xác đó sẽ tuôn ra "con sông vôi dòng nước mạnh" (Ga 19,84): Nước và máu đã được ngôn sứ Edêkien báo trước, sẽ từ thánh điện chảy ra (Ed 41,l-12).

Vậy khi người từ cõi chết trỗi dậy, các môn đệ nhớ lại Người đã nói điều đó.

Do đó, Lễ Vượt qua của Đức Giêsu và của các Kitô hữu đã kết thúc "Lễ Vượt qua của người Do Thái", như đã đề cập đến d đầu trang Tin Mừng trên. Đây là cuộc giải phóng phi thường và triệt để, mà cuộc giải phóng khỏi ách nô lệ Ai Cập chỉ là sự báo trước và là hình ảnh tiêu biểu. Đây là Đền thờ mới, làm vô hiệu mọi nơi thờ tự khác. Như vậy, nơi Thiên Chúa hiện diện không còn là một lâu đài nữa, mà là một Đấng nào đó: Đó là Thân mình Đức Kitô. Tất cả phụng vụ Kitô giáo chỉ được thể hiện chung quanh thân thể này. Nhưng chúng ta cần hiểu thêm, mầu nhiệm này còn đi xa biết bao? Sau này, thánh Phaolô sẽ nói với các Kitô hữu, các kẻ bốc dỡ hàng tại cảng Côrintô: "Anh ern là Thân mình Đức Kitô" (1 Cr 12,27). Đó là cơ sở để xây dựng phẩm giá cao cả của con người: "Nào anh em chẳng biết rằng anh em là đền thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao? (1 Cr 3,16--l7).

Như thế, không phải chỉ có "thân xác Phục sinh" của Đức Giêsu mới là Đền thờ mới, mà cả "thân xác của mỗi người đã chịu phép rửa": "Anh em không biết rằng thân xác của anh em là Đền thờ của Thánh Thần, và Thánh Thần đang ngự trong anh em sao?" (1 Cr 6,19-20 ). Thánh Au-tinh cũng nói với các tín hữu của mình: "Khi linh mục nói với anh em "Mình Thánh Chúa Kitô", anh em đáp lại: "Amen" với niềm xác tín anh em đang "hiện diện trong Đức Kitô". Có một bản thánh ca ngợi khen mầu nhiệm này như sau: "Chớ gì chúng con trở nên mình thánh biết sung sướng tạ ơn... chớ gì chúng con trở nên mình thánh, giữ gìn Giao ước của Chúa...".
Chúng ta tuôn có huynh hướng "ấn định chỗ ở cho Thiên Chúa", xây dựng cho Người những "nhà tù sơn son thiếp vàng", những "thánh điện" để cô lập Người, gạt Người ra khỏi thế giới, khỏi cuộc sống của ta. Nhung không có nhà thờ nào, vương cung thánh đường hay đền thánh nào có thể giam giữ Thân mình Đức Kitô được? Anh em là Thân mình Đức Kitô! Tôi là Thân mình Đức Kitô! Khi nhận mình thánh Đức Giêsu, tôi "trở nên" Thân mình của Người, trở nên thánh điện.

Trong lúc Đức Giêsu ớ Giêrusalem vào dịp Lễ Vượt qua, có nhiều kẻ tin vào danh Người.

Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

" Các ngươi cứ phá đền thờ này, nội trong ba ngày Ta sẽ dựng lại "


BÀI TIN MỪNG: Ga 2, 13 - 25

I. Ý CHÍNH:

Bài Tin Mừng hôm nay gồm 2 ý tưởng chính:

+ Kể việc Chúa Giêsu xua đuổi những người buôn bán trong đền thờ để nói lên việc Chúa Giêsu thanh tẩy đền thờ vì lòng nhiệt thành đối với Thiên Chúa Cha.

+ Những hoạt động của Chúa trong thành thánh để nói lên sứ mệnh Thiên sai của Người đối với nhân loại.

II. SUY NIỆM:

1 / " Lễ vượt qua của dân Do thái ":

Do thái mừng lễ Vượt qua để kỷ niệm ngày họ vượt qua Biển Đỏ, thoát ách nô lệ. Thánh Maccô dùng chữ " Lễ Vượt qua của người Do thái " để tránh với lễ Phục sinh của Kitô hữu.

+ Giêrusalem được gọi là thành thánh hay đền thánh vì là nơi tượng trưng cho Thiên Chúa ngự. Nơi đây quy tụ toàn dân trong ngày đại lễ.

+ Những người bán bò, chiên, chim câu: theo tục lệ khách hành hương lên đền thờ phải dâng của lễ, người giàu thì dâng bò hay chiên kẻ nghèo thì một cặp bồ câu. Dân buôn bán lợi dụng đem bầy bán những thứ này ngay ở sân đền thờ cho khách hành hương.

+ Cả những người đổi tiền bạc: luật Do thái cũng bắt các đàn ông hàng năm phải nộp thuế đền thờ nửa đồng tiền của người Do thái. Tiền La mã lúc ấy rất thông dụng, nhưng vì in hình vua ngoại đạo nên không được lưu hành trong khu đền thờ. Vì thế con buôn cũng lợi dụng việc đổi chác tiền bạc cho khác hành hương để kiếm lời.

2 / " Người chấp dây thừng làm roi ":

Sự bất kính do con buôn như thế làm Chúa Giêsu đau lòng. Không nén nổi cơn thịnh nộ, Người nhặt lấy những dây buộc tiền người ta ném bừa bãi ở đó, chấp thành roi để đánh đuổi con buôn ra khỏi đền thờ.

+ " Đừng làm nhà Cha ta thành nơi buôn bán ": câu nói này, Chúa Giêsu tự xưng là Con Thiên Chúa. Dùng kiểu nói " Nơi buôn bán " hay " Hang trộm cướp " để diễn tả một tình trạng bất kính ở nơi đền thờ, đang khi đó đền thờ là nhà Cha Ta, nơi cầu nguyện, phải được tôn kính.

3 / " Sự nhiệt thành vì nhà Chúa thiêu đốt tôi ":

Các môn đệ không hiểu ý Chúa muốn nói gì mà chỉ nhớ tới một lời chép trong Thánh vịnh ( 68, 10 ) nói về lòng sốt sắng việc nhà Chúa áp dụng lời ấy cho Người.

4 / " Bấy giờ người Do thái bảo Người rằng: Ông hãy tỏ cho chúng tôi là ông có quyền ":

+ Người Do thái ở đây là các chức sắc trong đền thờ như Lêvi, Tư tế... tỏ ra không ưng hành động của Chúa Giêsu, nên họ đòi Người phải làm một việc lạ để chứng tỏ Người có sứ mệnh Thiên Chúa sai và ban quyền hành động như thế. Đây là kiểu đòi hỏi của Biệt phái thường có đối với Chúa Giêsu ( Mt 12, 38; 16, 1; Mc 8, 11; Lc11, 16 ).

5 / " Các ông cứ phá đền thờ này đi ":

Chúa Giêsu hứa cho họ thấy một phép lạ làm chứng là Người sẽ chết và sau ba ngày sẽ sống lại. Nhưng Người nói theo kiểu các Tiên tri, dùng lời nói bóng gọi thân xác mình là đền thờ.

6 / " Người Do thái đáp ":

Phải 46 năm mới xây được...

Nói như vậy có lẽ vì việc trùng tu đền thờ có thể khởi sự từ năm 27 - 28 sau Chúa Giêsu nên việc trùng tu kéo dài 46 năm. Người Do thái có ý nói nghĩa đen về việc xây đền thờ chứ không hiểu theo nghĩa bóng nhưng Chúa muốn nói đến Đền thờ là thân xác Người sau khi chết ba ngày sẽ sống lại.

7 / " Các môn đệ mới nhớ lại ":

Bấy giờ chẳng ai hiểu ý nghĩa lời Chúa nói, các môn đệ cũng chẳng hiểu, mãi đến khi Người sống lại, lúc Thánh Thần đã cho họ ơn thiêng thông hiểu các dấu chỉ Người đã làm, các ông mới nhận ra.

+ Nên đã tin Kinh Thánh và tin Lời Người đã nói: Thánh Kinh " Lời Thiên Chúa" và Lời Đức Giêsu đều được đặt trên cùng một bình diện ( Ga 18, 9 - 32 ) và đều là đối tượng niềm tin của các tông đồ.

8 / " Nhiều kẻ tin danh Người...":

Các môn đệ tin tưởng Chúa cách mạnh mẽ, nhưng người Do thái nhất là những người có chức sắc trong dân lại chống đối Chúa. Đang khi đó lại có những người tin vào danh Chúa vì họ thấy những phép lạ Chúa làm.

+ Niềm tin của họ vì vậy có tính cách bất toàn, không bền chí, nên Chúa Giêsu đã không tin tưởng họ.

9 / " Người biết rõ mọi điều trong lòng người ta ":

Điều này muốn nói: Thiên Chúa thấu suốt mọi tâm can con người mà không cần một trung gian nào. Mọi việc con người làm dù kín đáo đến đâu, như ý nghĩ trong lòng, cũng đều bầy ra hết trước mắt Chúa vì Chúa biết hết mọi sự. Ở đây Chúa thấy rõ niềm tin hời hợt của người Do thái vì họ chỉ dựa vào hình thức bên ngoài là phép lạ Chúa đã làm, chứ không tin vào chính nguồn gốc của phép lạ là chính con người của Người.

III. ÁP DỤNG:

A / Áp dụng theo Tin Mừng:

1 / Ở đây Chúa Giêsu sử dụng cả sức mạnh thể lý để bênh vực và bảo vệ cho " Nhà Cha": chúng ta cũng phải biết vận dụng đúng mức sức mạnh của tinh thần, của thể xác, của vật chất mà ta đang có để bênh vực:

+ Cho danh nghĩa người Kitô hữu của chúng ta, vì ta là con Thiên Chúa.

+ Cho thân xác chúng ta được trong sạch vì là đền thờ của Chúa ngự.

+ Cho Giáo Hội vì là mình mầu nhiệm của Chúa Kitô.

+ Cho nhà thờ, cho những nơi thờ phượng Chúa vì là nơi Chúa ngự để gặp gỡ con người.

+ Cho tất cả những gì làm sáng danh Chúa.

2/ Để trả lời sự thắc mắc của người Do thái. Chúa Giêsu đã lấy hình bóng Đền thờ bị phá rồi xây lại để diễn tả ý nghĩa cuộc tử nạn và phục sinh của Người.

+ Đang sống trong mùa chay, chúng ta còn đang do dự chưa thực sự sống tinh thần Mùa chay. Giáo Hội muốn dùng ý nghĩa của việc tử nạn và Phục sinh của Chúa Kitô như là bằng chứng để thúc đẩy chúng ta thực sự sống tinh thần Mùa chay bằng cách xám hối, cải thiện đời sống và thực thi bác ái trong việc phục vụ tha nhân. Sống tử nạn để được Phục sinh.

3 / " Người biết rõ mọi điều trong lòng người ta": lời này làm thức tỉnh chúng ta phải làm mọi việc vì ý ngay lành, vì ta có thể lừa dối người khác chứ không thể lừa dối được Thiên Chúa.

B/ Áp dụng thực hành:

1 / Nhìn vào Chúa Giêsu có lòng nhiệt thành đối với " Nhà Cha":

Chúng ta cũng phải nhiệt thành đối với nhà Cha bằng cách chăm sóc nhà thờ: vệ sinh, trang hoàng, giữ gìn trật tự, tôn kính xứng đáng...

2 / Nhìn vào những người buôn bán trong đền thờ:

Chúa Giêsu đã sua đuổi họ, chúng ta phải rút kinh nghiệm đừng dùng những giờ đọc kinh cầu nguyện, suy niệm, đạo đức... mà tâm hồn còn đang bề bộn những công việc bất xứng như lo ra, chia trí, lo lắng việc này, việc kia khiến cho ta tâm bất an hoặc dùng những việc đạo đức ấy như một thứ mặt hàng, nhằm trao đổi với Chúa ơn này, ơn nọ... Cần phải kiên trì luyện tập tinh thần tin tưởng, phó thác và yêu mến Chúa.

3 / Nhìn vào người Do thái:

Họ đòi Chúa làm dấu lạ để nhận ra quyền của Người. Chúa đã không làm dấu lạ như ý họ muốn. chúng ta đừng đòi hỏi Chúa theo ý mình làm phép lạ để ta tin, để ta sốt sắng... Nhưng chúng ta phải đòi hỏi mình theo ý Chúa để nhận ra những việc lạ người làm cho ta.

4 / Nhìn vào các tông đồ:

Các ngài chỉ hiểu Lời Chúa sau khi Chúa đã sống lại nhưng các ngài vẫn tin. Chúng ta cứ tin và thực hành Lời Chúa dạy mặc dầu chưa hiểu rõ, nhưng cứ kiên tâm chờ đợi ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần.

5 / Nhìn vào những kẻ tin danh Người:

Chúa không tin tưởng họ, chúng ta đừng chỉ tin vào Chúa vì những gì ta đã thấy hay đã hiểu, nhưng hãy tin cả vào những mầu nhiệm của Thiên Chúa dù không hiểu hết được.


 

Lm Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc - Bài Giảng Lễ

Thánh đường, điểm hẹn của con người


Một giáo xứ miền quê nọ đã được thành lập từ lâu, nhưng chưa có được một ngôi nhà thờ xây cất hẳn hoi. Giáo dân lại nằm rải rác trong hai ngôi làng sát cạnh nhau. Khát vọng duy nhất của giáo dân là được có nơi thờ phượng đàng hoàng. Với sự hăng say bộc phát của những người nông dân, mọi người đã quảng đại đáp lại lời kêu gọi của cha chính xứ: kẻ góp công, người góp của. Thế nhưng vấn đề cơ bản vẫn là: đâu là địa điểm xứng hợp nhất để xây cất ngôi nhà thờ mới. Người ở làng bên này thì muốn ngôi nhà thờ tọa lạc trong làng của mình. Người ở làng bên kia thì lại muốn nhà thờ được xây cất gần bên chỗ mình ở. Thế là hai bên cứ tranh luận, không bên nào muốn nhường bên nào. Tiền của đã có sẵn, vật liệu cũng không thiếu, nhưng không biết phải đặt viên đá đầu tiên ở đâu.

Giữa lúc vấn đề địa điểm xây cất chưa ngã ngủ, một nạn hạn hán trầm trọng đang đe dọa dân chúng trong cả hai làng. Thế là người ta chỉ còn nghĩ đến việc chống hạn hán hơn là xây cất nhà thờ. Năm ấy toàn dân trong hai làng đều phải chịu cảnh đói khát. Trong cảnh túng quẫn, lá lành đùm lá rách, dân làng hai bên mới nghĩ đến nhau. Một đêm kia, dân làng bên này lặng lẽ phân chia lúa thóc rồi mang qua cứu trợ dân làng bên kia. Trong khi đó, dân làng bên kia cũng có một ý nghĩ tương tự, họ cũng mang lúa thóc qua cứu trợ dân làng bên này. Giữa đêm tối, không hẹn mà hò, dân làng hai bên đã gặp nhau trong cùng một ý nghĩ và hành động. Không cần một lời giải thích, không cần một lời chào hỏi, họ đã hiểu nhau: Họ đặt những bao lúa xuống đất và ôm chầm lấy nhau… Điểm gặp gỡ của tình tương thân tương ái, của tình liên đới chia sẻ ấy đã được giáo dân gọi là "đất thánh" và họ đã nhất trí chọn địa điểm này làm nơi đặt viên đá đầu tiên xây cất ngôi nhà thờ mới của giáo xứ.

Thưa anh chị em,

Nhà thờ đúng là nơi hẹn hò gặp gỡ: hẹn hò gặp gỡ với Thiên Chúa và với anh em đồng bào. Không ai đến nhà thờ mà không tìm gặp được sức mạnh từ chính Chúa, sự an ủi nâng đỡ từ cộng đoàn anh em. Do đó, nhà thờ phải là điểm hẹn của mọi nẻo đường, là nơi hội tụ của mọi xây dựng, là giải đáp của mọi tranh luận, là nơi gặp gỡ của tình yêu thương.

Đền thờ Giêrusalem là nơi tập họp của dân Do Thái trên khắp mọi miền đất nước vào dịp lễ Vượt Qua hằng năm, mừng kỷ niệm dân được Thiên Chúa giải phóng khỏi ách nô lệ Ai Cập, vượt qua Biển Đỏ về miền Đất Hứa. Năm ấy, Chúa Giêsu cũng hòa mình vào đoàn dân tiến bước về Đền thờ. Vừa bước vào Đền thờ, Chúa Giêsu đã chứng kiến những cảnh chướng tai gai mắt: buôn bán chiên bò, trao đổi tiền bạc, đám đông ồn ào náo nhiệt, vô trật tự. Không cầm mình được trước cảnh tượng Đền thờ linh thiêng bị biến thành thị trường, sào huyệt của bọn đầu trộm đuôi cướp, Chúa Giêsu đã "nhào vô" thẳng tay đánh đuổi những kẻ buôn thần bán thánh, thanh tẩy Đền thờ, trả lại sự trong sáng cho nơi cầu nguyện và gặp gỡ của Cha Ngài và của mọi người.

Nhưng không phải chỉ có thế. Dưới ngòi bút của Thánh Sử Gioan, hành động của Chúa Giêsu còn mang một ý nghĩa biểu tượng sâu sắc hơn nhiều, khi Gioan nói: "Các ông cứ phá hủy Đền thờ này đi, nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại". Sau này, dưới ánh sáng Phục sinh, các môn đệ mới hiểu Đền thờ Chúa muốn nói ở đây là chính thân xác của Chúa Giêsu sẽ được phục sinh sau ba ngày ở trong mồ.

Chúa Giêsu đã xua đuổi bọn con buôn, xô đổ lật nhào bàn ghế những người đổi tiền. Ngài phá hủy không phải chỉ để phá hủy. Phá hủy sẽ không có ý nghĩa gì cả, nếu không gắn liền với xây dựng. Ngài chỉ phá hủy những gì hủy hoại con người, hủy hoại mối tương giao giữa con người với Thiên Chúa và giữa con người với nhau. Thực ra, chính việc buôn bán, đổi chác, ồn ào trong Đền thờ mới phá hủy Đền thờ, làm cho Đền thờ không còn là Đền thờ, không còn là nơi gặp gỡ Thiên Chúa và anh em đồng bào, trái lại trở thành sào huyệt trộm cướp, bóc lột, cắt cổ nhau. Chính vì thế, việc phá đổ, giết chết, đánh mất ý nghĩa là "việc của các ông": "Các ông cứ phá hủy Đền thờ này đi". Còn "việc của Thiên Chúa" là xây dựng lại Đền thờ mới, là cứu sống và tái tạo tất cả trong Đức Giêsu khi cho Ngài phục sinh sau ba ngày ở trong mồ, và đặt Ngài làm Đức Chúa, để từ nay, Đức Giêsu Kitô trở thành trung tâm phụng tự duy nhất. Trong Ngài toàn thể nhân loại sẽ "thờ phượng Thiên Chúa trong Thánh Thần và chân lý".

Anh chị em thân mến,

Thời Cựu Ước, dân Do Thái tôn thờ Thiên Chúa một cách vụ hình thức, bôi bác, máy móc. Họ nghĩ rằng, cứ dâng cúng vào Đền thờ nhiều tiền của, nhiều lễ vật là Chúa hài lòng, Chúa sẽ xí xóa mọi tội lỗi cho họ. Họ tưởng dùng tiền của, lễ vật, quà cáp là mua chuộc, hối lộ được Thiên Chúa. Thành thử ra, dù có sống gian tà, xảo trá, độc ác, bất công, chỉ cần đợi dịp đại lễ, hành hương lên Đền thờ, dâng cúng cho nhiều, thế là vừa bình an trong lương tâm vừa được tiếng đạo đức. Chính Ngôn sứ Giêrêmia đã thốt lên lời sấm chống lại Đền thờ, vì ở đó không còn nền phượng tự đích thực nữa. Dân chúng chỉ sống đạo bề ngoài mà không hoán cải đời sống, không tuân giữ giao ước mười điều răn của Thiên Chúa (x.bđ.1). Ngôn sứ nói: "Chúa phán: Sao? trộm cướp, giết người, ngoại tình, thề dối, thờ cúng Thần Baal, đi theo các tà thần, rồi chạy vào đến trước mặt Ta trong Đền thờ này, các ngươi cho thế là thoát nợ, để rồi tiếp tục cái trò quái gỡ ấy ư? Các ngươi đã biến Đền thờ này là nơi Danh Ta được kêu cầu thành sào huyệt trộm cướp" (Gr 7,9-11). Điều Thiên Chúa muốn, rõ ràng không chỉ là thái độ phải có trong Đền thờ mà là thái độ phải có trong cả cuộc sống.

Trong cuộc sống, chúng ta thường quan niệm bổn phận đối với Thiên Chúa trong nhà thờ tách rời khỏi bổn phận đối với anh em ngoài xã hội. Thực ra, thờ phượng Thiên Chúa đâu chỉ là đến nhà thờ đọc kinh, dự lễ và rồi người anh em bên cạnh có chết đói, chết rét, có gặp tai ương hoạn nạn… cũng chỉ là việc riêng tư của họ, không cần biết đến. Người ta không thể xây dựng những ngôi nhà thờ nguy nga đồ sộ mà lại làm ngơ trước những người đang giẩy chết bên cạnh. Người ta không thể nhắm mắt đi đến nhà thờ trong khi bên lề đường có bao nhiêu người lê lết trong đói khổ. Nhà thờ phải là nơi hẹn hò gặp gỡ với Thiên Chúa và với anh em đồng loại. Nhà thờ chỉ có thể xây dựng ngay chính trên "Đất Thánh" của tình yêu thương, chia sẻ, của tình liên đới anh em mà thôi. Và việc đi đến nhà thờ cũng chỉ có ý nghĩa khi nó là điểm hẹn, là biểu tượng của chính những viên đá sống động, những viên gạch bác ái mà người ta không ngừng xây dựng trong cuộc sống hằng ngày. Vì chính các kitô hữu là đền thờ của Chúa Thánh Thần (x.Cv 7,49-51; 1Cr 3,16; 2Cr 6,16).

Chúng ta đang tham dự Thánh lễ là lễ tế của Chúa Giêsu trên Thập giá. Chính Thánh Thể của Ngài giờ đây vĩnh viễn thay thế mọi lễ tế chiên bò trong Đền thờ Giêrusalem và khánh thành một Đền thờ mới với một Phụng tự mới trong Thánh Thần và Chân lý là yêu thương và phục vụ anh em, vì anh em cũng là chi thể của Thân xác Chúa Giêsu Phục Sinh và là Đền thờ của Thiên Chúa Ba Ngôi.

 

Lm Vũ Phan Long- Bài Giảng Lễ

Thanh tẩy Đền thờ


Lm. Vũ Phan Long OFM

Đền thờ là nơi thờ phượng Chúa, nơi thánh thiêng, là một trong những biểu tượng cao quý của Do Thái giáo. Với Chúa Giêsu, đó còn là nhà Cha của Người. Thế nhưng, đã bị tục hóa bởi những sự lạm dụng buôn bán, đổi chác, thành một cái chợ, thành hang trộm cướp. Chúa Giêsu không thể chấp nhận được môt nơi thánh, nhà Cha của Người lại là một nơi như thế. Bằng lòng nhiệt thành với Chúa Cha, Người đã dùng mọi phương thế để trả lại sự trong sạch cho đền thờ. Người đã không ngần ngại dùng ngay cả phương thế xem ra bạo lực để quyết tâm thanh tẩy đền thờ theo như ước nguyện của Thiên Chúa Cha đã được tỏ bày qua miệng Tiên tri Giacaria: "Ngày ấy sẽ không còn phường lái buôn trong đền thờ của Giavê nữa" (Dcr 14,1).

Qua sự kiện này Chúa Giêsu cũng mạc khải Người chính là Đền thờ đích thực của Thiên Chúa, với một nền phụng tự mới.

I. Khám Phá Sứ Điệp Tin Mừng: Ga 2,13-25

Sự kiện Chúa Giêsu đánh đuổi những người buôn bán khỏi đền thờ mang tính cách của các tiên tri thường làm để loan báo một sứ điệp cho hiệu quả hơn. Gồm có một hành động và các lời giải thích. Đánh đuổi người buôn bán - yêu cầu chấm dứt những hành vi bất xứng với Thiên Chúa ấy và lời mạc khải huyền nhiệm về đền thờ mới là chính Thân Thể Người.

1. Hành động của Chúa Giêsu:

"Người chắp dây thừng làm roi đánh đuổi tất cả… Người hất tung tiền của những người đổi bạc". Chiên bò, chim… là những con vật được dùng vào việc tế lễ, cũng thế, tiền dâng cúng vào đền thờ hoặc để đóng thuế chỉ sử dụng tiền Do Thái vì không được phép dùng tiền có hình Hoàng đế hay dân ngoại. Do nhu cầu của khách hành hương từ nơi xa đến cần lễ vật hay tiền dâng cúng, cho nên, hình thành nhưng nơi buôn bán đổi tiền ở sân đền thờ (dưới các hành lang trên sân dân ngoại 'Hieron' chứ không phải ngay trong đền thờ 'naôs'). Ở đây, ngoài việc thấy nơi hành động của Chúa Giêsu một ý định muốn chống lại những sự lạm dụng bất chính, trục lợi biến đền thờ thánh thiêng tôn thờ Chúa thành cái chợ, trả lại sự trong sạch cho đền thờ, hành động của Chúa Giêsu còn mang một ý nghĩa biểu trưng: súc vật và tiền bạc là dấu hiệu của một nền phụng tự cũ, đã lỗi thời, một khi Chúa Giêsu đến thì một nền phụng tự mới xuất hiện. Do đó, cần phải đánh đổ và thay thế nền phụng tự cũ bằng nền phụng tự mới, với đền thờ mới.

2. Lời của Chúa Giêsu:

- "Đừng biến nhà Cha Ta thành nơi buôn bán": Chúa Giêsu xác nhận đền thờ là nhà Cha Người, nói lên mối tương quan mật thiết giữa Người và Thiên Chúa mà Do Thái giáo tôn thờ, mối tương quan Cha - Con. Hành động của Người làm với tư cách của người con bảo vệ danh dự và quyền lợi cho người cha. Người vào đền thờ không phải là tư cách của một người hành hương nhưng với tư cách của người con được thừa kế, quản lý và làm chủ. Đây cũng chính là một mạc khải về chính mình giữa dân Do Thái của Chúa Giêsu.

- "Các ông cứ phá hủy đền thờ này đi, nội trong ba ngày Ta sẽ xây dựng lại". Đáp lại yêu cầu của người Do Thái muốn Chúa Giêsu tỏ một dấu nào đó cho thấy Người có quyền làm như thế, Người đã mạc khải cách bí nhiệm về chính mình. Lời loan báo này Người có ý ám chỉ đến đền thờ là thân thể Người. Người Do Thái chắc chắn không thể hiểu nổi lời của Người mà chỉ nghĩ đơn giản đến chính ngôi đền thờ bằng đá do cha ông họ đã phải mất 46 năm mới xây dựng được. Đây là lời Chúa Giêsu loan báo về việc thân xác Người sẽ bị hành hạ, đánh đập, tàn phá cho đến chết, nhưng trong ba ngày Người sẽ phục sinh vinh hiển. Thân thể Phục sinh của Người chính là đền thờ mới thay thế đền thờ cũ.

II. Chiêm Ngắm Chúa Giêsu:

Với lời loan báo ám chỉ đến Thân thể Phục sinh của Chúa Giêsu, cho phép chúng ta chiêm ngưỡng Người chính là Đền thờ đích thực của Thiên Chúa. Trên hy tế thập giá, Người vừa là tư tế, vừa là chính của lễ dâng lên Thiên Chúa Cha. Mọi sự thờ phượng, dâng lễ của Kitô hữu hôm nay đều phải thực hiện nhờ Người, với Người và trong Người, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần để tôn vinh Thiên Chúa Cha. Đền thờ là trung tâm của Do Thái giáo thì Chúa Giêsu Kitô là trung tâm của tôn giáo mới. Thân thể Chúa Giêsu còn chính là Giáo hội, nhiệm thể của Người, trong đó mỗi Kitô hữu là những viên đá sống động xây nên ngôi đền thờ này. Do đó, khi nhận ra Chúa Giêsu là đền thờ của Thiên Chúa thì cũng đồng thời nhận ra nơi Giáo hội, nơi chính bản thân mỗi người cũng là đền thờ của Thiên Chúa, như Thánh Phaolô khẳng định: Thân xác anh em là đền thờ của Chúa Thánh Thần.

III. Gợi Ý Bài Giảng:

1. Chúa Giêsu, Đền thờ đích thực của Thiên Chúa:

Đền thờ mới thay thế đền thờ cũ đã bị tục hóa, lỗi thời chính là Thân thể Phục sinh của Chúa Giêsu. Người là Đền thờ đích thực cho nên, chính nơi Người, con người được gặp gỡ Thiên Chúa, như Người đã nói với các môn đệ: "Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy". Trong thân thể của Người, chúng ta có thể kết hợp nên một thành của lễ duy nhất làm đẹp lòng Chúa Cha. Chính nhờ Người, mọi lời khẩn cầu của chúng ta được Chúa Cha vui lòng chấp nhận. Người là Đấng trung gian duy nhất chuyển thông ơn cứu độ đến cho nhân loại. Chúa Giêsu là Đền thờ đích thực của Thiên Chúa, vì thế đời sống cầu nguyện và mọi cử hành thờ phượng, bí tích của Giáo hội đều làm nhân danh Người. Tất cả những sự thờ phượng tôn kính nào không làm trong Người, nhờ Người và cùng với Người đều là sự giả hình, không có giá trị trước mặt Chúa. Thậm chí đó sẽ chỉ là những hành vi mê tín dị đoan.

2. Giáo hội, Đền thờ của Thiên Chúa:

Giáo hội chính là Nhiệm thể của Chúa Giêsu. Theo Thánh Phaolô đền thờ mới chính là Giáo hội, Thân thể Phục sinh vinh hiển của Đức Kitô. Giáo hội là đền thờ của Thiên Chúa, nên nơi Giáo hội nhân loại cũng đến để gặp gỡ tôn thờ Thiên Chúa. Giáo hội chính là hình ảnh của một đền thờ Giêrusalem mới để người ta từ khắp đông tây nam bắc đến tôn vinh Thiên Chúa. Ngày nay, không còn phải đi tới một đền thờ cố định nào nữa mà tín hữu và mọi người từ khắp nơi đều có thể tham dự vào một hiến lễ duy nhất, một cử hành phụng tự duy nhất qua các thánh lễ, các cử hành phụng vụ tại khắp mọi cộng đoàn Giáo hội địa phương. Cũng chính vì thế, mọi cử hành phụng vụ đều phải đi sát với hướng dẫn của Giáo hội và làm sao phải thể hiện được tính cộng đoàn, hiệp thông. Ngày nay, vẫn có những sự lạm dụng các cử hành phụng vụ, biến thành những sự ban phát lộc thánh đặc quyền đặc lợi, tư riêng, thậm chí là trục lợi.

3. Kitô hữu, Đền thờ đích thực của Thiên Chúa

Mỗi Kitô hữu nhờ Bí tích Thánh tẩy và Thánh thể được trở nên chi thể sống động của Đức Kitô, cũng đích thực trở nên đền thờ của Thiên Chúa. Là đền thờ của Chúa nghĩa là nơi Chúa ngự, là nơi mà anh chị em chung quanh có thể gặp gỡ Chúa. Là nơi Chúa ngự nên bản thân Kitô hữu luôn phải là một người đạo hạnh thánh thiện. Tội lỗi làm cho con người trở thành hang trộm cướp, thành chợ búa buôn bán điều phi nghĩa bất chính. Tâm hồn luôn mưu toan điều trái lẽ, luôn ước muốn điều sai quấy. Mùa Chay là thời gian thuận tiện để thanh tẩy lại lòng mình xứng đáng là đền thờ của Thiên Chúa. Kitô hữu là đền thờ của Thiên Chúa, là nơi mọi người chung quanh có thể gặp gỡ Thiên Chúa. Làm sao người ta có thể thấy và yêu mến Thiên Chúa vô hình? Bằng đời sống của Kitô hữu mà người ta nhạn biết Chúa. Kitô hữu với đời sống quảng đại, với cuộc sống luôn thực thi lời Chúa sẽ là những sứ giả loan báo Tin mừng đưa Chúa đến với mọi người và đưa mọi người đến với Chúa.

III. Lời Cầu Chung:

Mở đầu: Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu chính là Đền thờ đích thực của Thiên Chúa, vậy nhờ Người chúng ta cùng dâng lên Chúa Cha những ước nguyện của chúng ta.

1. Giáo hội, Nhiệm thể của Chúa Giêsu, Đền thờ đích thực của Thiên Chúa. Chúng ta cùng cầu nguyện cho Giáo hội thực sự là nơi con người và thế giới hôm nay gặp gỡ và tôn vinh ca ngợi Chúa qua các cử hành phụng vụ và qua các chương trình phục vụ cộng đồng nhân loại của Giáo hội.

2. Chúa Giêsu đã đánh đuổi những người buôn bán, đổi tiền làm ô uế đền thờ, để trả lại sự trong sạch cho đền thờ. Chúng ta cùng cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo các quốc gia và mọi người cùng nắm tay nhau đẩy lùi những cái sai, cái ác và sự dữ đang lan tràn trong xã hội hôm nay, để làm cho thế giới ngày càng tốt đẹp với một nền văn minh chan hòa tình yêu thương, một nền văn hóa phát triển sự sống.

3. Kitô hữu cũng chính là ngôi đền thờ sống động của Thiên Chúa. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta luôn nỗ lực thanh luyện tâm hồn bằng đời sống sám hối, siêng năng cầu nguyện và thực thi bác ái theo tinh thần của mùa Chay, để mỗi người xứng đáng là nơi Thiên Chúa ngự.

Lời kết: Lạy Thiên Chúa, Đấng Toàn Năng, chúng con ca ngợi và tôn vinh Chúa đã sáng tạo và cứu độ chúng con bằng chính Con Một của Chúa là Chúa Giêsu Kitô. Xin cho chúng con thực sự trở nên những đền thờ sống động biết tôn thờ Chúa bằng đời sống theo Tin mừng. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.


Hành Trang Mục Vụ - Khoá 10 ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn