Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật III Mùa Vọng A

Tin mừng Mt 11:2-11 Một diễn từ rất sôi nổi, với những câu hỏi ngắn móc nối nhau, tất cả đều cho thấy Gioan là một đại ngôn sứ.

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG NĂM A

(Mt 11, 2-11)


Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải


 

CÂU HỎI CỦA GIOAN TẨY GIẢ.

CHỨNG TỪ CỦA CHÚA GIÊ SU


CÂU HỎI GỢI Ý


1. Làm sao giải thích câu hỏi của Gioan (11, 2- 3.)? Gioan đã nghe biết các "việc " gì của Chúa Kitô (11, 2)? Phải chăng ông nghi ngờ, và nghi ngờ về điểm nào? Chúa Giêsu đã đưa ra lý chứng ngôn sứ nào để trả lời ông (11, 4-6)?

2. Câu hỏi của Gioan (11, 3) được đặt trong thế giới chúng ta và trong Giáo Hội hiện nay như thế nào?

3. Chúa Giêsu đặt Gioan Tẩy giả trong tương quan thế nào đi mình (11, 7- 15)? Sứ vụ của Gioan Tẩy giả liê n tục hay đứt đoạn với trào lưu ngôn sứ của Cựu ước? Sự cao cả của Gioan nằm ở chỗ nào (c. 11)?

4. Các cộng đoàn Ki-tô hữu đầu tiên, vào thời Mt, đã gặp nhiều lôi thôi với đồ đệ của Gioan Tẩy giả (x.Cv 19,1-7 chẳng hạn), với "người phái Gioan", những kẻ cứ mải lặp lại câu hỏi của thầy họ: Đấng Thiên sai mà thầy loan báo có đúng là Chúa Giêsu không? Vấn đề thành ra còn mang tính cách thời sự khi Mt viết Tin Mừng, cũng như đối với chúng ta ngày nay: Phải chăng chúng ta không là người phái Gioan một cách nào đó khi còn mong chờ một Đấng Thiên sai hùng mạnh khác đến thay đổi thế giới và canh tân mọi cơ cấu, khi chẳng dám tin rằng Chúa Giêsu thật sự đã hoàn tất mọi sự cho chúng ta? Và như vậy là Chúa Giêsu đã bị đặt lại vấn đề, vừa do câu hỏi của Gioan, vừa do thắc mắc của người đời, xưa cũng như nay.
 
5. Chẳng có người nào được Chúa Giêsu đề cập đến cách tỉ mỉ hơn Gioan Tẩy giả. Một diễn từ rất sôi nổi, với những câu hỏi ngắn móc nối nhau, tất cả đều cho thấy Gioan là một đại ngôn sứ. Những điều Chúa Giêsu nói không chỉ mặc khải ý nghĩa vai trò của Gioan Tẩy giả trong diễn tiến lịch sử cứu rỗi, mà còn cho thấy Gioan đã gây ấn tượng sâu xa cho Người đến chừng nào.
 
6.Câu hỏi mà vị Tẩy giả nhờ môn đồ đặt ra là một câu hỏi đích thực, trang nghiêm. Mt chứng minh điều đó bằng cách cho biết Gioan hiện bị cầm tù, sống xa cách mọi người trong chốn lao lung. Ông đã nghe nói về các việc Chúa Giêsu làm, nhưng không tài nào giải thích được. Phải chăng ông đã chờ đợi những "việc" thuộc lại khác, như một phong trào quần chúng bột phát, một cuộc phán xét công thẳng trên các kẻ thù của Thiên Chúa chẳng hạn? Thế nhưng cuộc phán xét đầy sóng gió mà chính Gioan đã cảm thấy được vài dấu hiệu đầu tiên (khi Chúa Giêsu chịu phép rửa) lại đã chẳng xảy đến.
 
Chúa Giêsu không trả lời trực tiếp không làm chứng về mình. Tuy nhiên, Người đã có thể đáp lại bằng một tiếng "phải" rõ ràng, đánh tan mọi nghi ngờ, như khi đứng tước vị thượng tế sau này. Song ở đây, Người tránh làm vậy, đồng thời lại chỉ cho Gioan con đường phải theo, con đường của mọi môn đồ: đó là biết nhìn các dấu hiệu và biết giải thích, biết nhận ra chúng như là "công việc" của Đấng Thiên sai. Đấy là con đường của đức tin, khởi hành từ những hậu quả hữu hình để đi đến chỗ khám phá Chúa Giêsu. Đó là con đường đi từ tối tăm đến ánh sáng, từ dấu chỉ đến thực tại.
 
Nếu biết nhìn các công việc của Chúa Giêsu, nhất là nếu có khả năng liên kết chúng, ta sẽ chẳng chút nghi ngờ. Chính Chúa Giê-su đã chỉ con đường đức tin bằng một câu tuyên bố lấy lại một đoạn ngôn sứ Isaia: "Người mù được thấy" (Is 35, 5- 6; 61, 1). Thần khí xức dầu cho Đấng Được Chọn đã ban cho Người khả năng thực hiện mọi kỳ công đó. Nhưng ta không được dừng lại nơi một trong các việc ấy, chỉ nhìn phép lạ này mà không thấy phép lạ kia, chỉ lắng nghe lời nói mà chẳng quan tâm đến việc làm. Không, tất cả đềụ bộc lộ khuôn mặt đích thực của Đấng Thiên sai. Chúa Giêsu không chỉ là một nhà giảng thuyết lôi cuốn được quần chúng hay một tay chuyên làm phép lạ. Người đã chẳng chữa lành như một y sĩ mà thôi, song còn phục sinh được kẻ chết. Chính loàn thể công việc mới cho phép ta quyết đoán chắc chắn Người là Đấng Được Xức Dầu của Thiên Chúa đang hiện diện và hành động, Đấng mà Isaia đã từng loan báo.
 
7. Mới thoạt nghe, câu trả lời của Chúa Giêsu làm ta thất vọng, vì hình như nó chẳng trực tiếp mặc khải con người của Người. Thật ra nó bắt Gioan nhìn vào chính Chúa Giêsu: "Phúc cho người không phải vấp ngã vì Ta" (11,6) vì đã mách cho vị Tẩy giả biết một "chân phúc" mà ông sẽ khám phá ra ý nghĩa qua chính cuộc đời của ông. Tin rằng các dấu hiệu thiên sai vừa được nhắc lại cho ông (11, 5) đã thật sự được hoàn tất trong con người tầm thường, khiêm tốn của Chúa Giêsu, điều đó đòi hỏi một sự từ bỏ bản thân hoàn toàn, từ bỏ cho đến chết. Và đấy là điều mà Gioan thấy mình đang được kêu mời thực hiện.
 
CHÚ GIẢI CHI TIẾT
 
"Bấy giờ Gioan, đang ở trong tù... ": Gioan đã chẳng sợ phê bình hạnh kiểm của Hêrôđê Antipas, kẻ đang sống với chị dâu. Để khóa miệng ông, vị tiểu vương đã giam ông trong pháo lũy Makêron (lời chứng của F.Josèphe, Ant.Jud. XVIII, 5,2) nằm trên bờ đông Từ Hải. Tuy nhiên nhà vua vẫn đối xử tử tế với tù nhân và cho phép ông gặp môn đồ. Chính Gioan đã nhờ họ đi hỏi Chúa Giêsu.
 
"Ngài có phải là Đấng sẽ đến hay không?" Khi nghe câu hỏi ấy, độc giả Tin Mừng không thể không nhớ lại lời Gioan đã nói về Chúa Giêsu: "Đấng đến sau tôi thì quyền thế hơn tôi" (3, 11). Câu nói này là âm vang của Is 40, sấm ngôn mà Gioan cho là lời định nghĩa về sứ mạng riêng của mình: "Tiếng của người hô trong sa mạc: Hãy dọn đường cho Chúa, hãy sửa cho thẳng lối Thiên Chúa ta" (Is 40, 3; x. Mt 3, 3); phần tiếp trong sấm ngôn ấy có loan báo: "Này đây Chúa đến với uy hùng dũng lực và cánh tay Ngài sẽ thống trị" (c.10). Như thế sức mạnh là đặc điểm của "Đấng sẽ đến".
 
Về tính chất của sức mạnh sắp biểu dương ấy, Gioan đã có những ý tưởng rất chính xác. Trước tiên ông so sánh nó với sức mạnh của người nông phu cầm rìu đốn ngã thân cây không sinh trái và ném vào lửa (3, 10). Ông cũng minh giải nó bằng hình ảnh người nông phu quét sạch sân lúa, thiêu đốt những gì không phải là giống tốt (c.12). Gioan kêu mời các tội nhân hối cải và ban cho họ phép rửa tha tội, mà họ phải mau mấn chịu lấy trước khi xuất hiện Đấng sẽ làm phép rửa bằng Thần khí và lửa, một phép rửa hủy diệt (c. 11). Nói cách khác, Gioan thấy "Đấng sẽ đến" như là một Thẩm phán đáng sợ lấy lửa chẳng hề tắt mà tiêu trừ mọi tội nhân không ăn năn hối cải.
 
Ta cũng đi đến một kết luận như vậy khi khởi từ Ml 3, 1, một bản văn cũng được dùng để định nghĩa sứ mệnh Gioan (x Mt 11, 10): "Này Ta sai sứ giả Ta, và nó sẽ dọn đường trước mặt Ta". Tiếp theo sứ giả, Chúa sẽ thân hành đến: "Ai chịu đựng nổi ngày Người đến? Ai đứng vững được khi Người hiện ra? Vì người đến như lửa của thợ luyện kim, như thuốc tẩy của người giặt ủi người sẽ ngự mà luyện kim, mà lọc bạc; Người sẽ thanh luyện con cái Lêvi..." (Ml 3, 2-3). Hình ảnh có thay đổi đấy nhưng bao giờ cũng vẫn là cuộc phán xét thanh luyện sẽ xô nhào tội nhân vào lửa.
 
Vì thế Gioan tự coi mình như có trách nhiệm chuẩn bị Israel đón chờ cuộc phán xét khủng khiếp; gương sáng và lời nói của ông chỉ muốn đưa tội nhân hối cải và thoát khỏi hình phạt đời đời đang đe dọa họ. Một khi "Đấng phải đến xuất hiện, thì không còn giờ tránh thoát sức mạnh hủy diệt của Người. Đàng khác, Gioan cũng ý thức vai trò phụ tá của mình đối với Chúa Giêsu. Song những gì ông biết về cách thức Chúa Giêsu thi hành sứ vụ Người hoàn toàn không tương ứng với ý tưởng ông có về cuộc phán xét sẽ phải xảy ra. Do đó mà câu hỏi của ông đầy vẻ ngạc nhiên.
 
Hơn nữa, có một tương quan hiện sinh giữa câu hỏi của vị Tẩy giả và thân phận tù đày của ông: Đấng Thiên sai mong chờ sẽ giải cứu những tù nhân, nhất là các tù nhân đức tin (Lc 4, 18; Is 61, 1); phải chăng ông không là người đầu tiên được giải cứu?
 
"Các ông hãy đi tin lại cho Gioan mọi điều tai nghe mắt thấy": Gioan biết các phép lạ Chúa Giêsu làm (c.2). Và Chúa Giêsu bảo ông hãy nhìn vào phép lạ. Đâu là sức mạnh của lập luận? Theo quan niệm bấy giờ, dựa trên các sách ngoại thư và truyền thống giáo sĩ do thái, thì ơn làm phép lạ tự nó không phải là một trong những đặc điểm của Đấng Thiên sai. Như thế Gioan có thể nghĩ rằng Chúa Giêsu không đóng vai trò và nhiệm vụ Đấng ấy. Thế nhưng Chúa Giêsu kêu mời Gioan suy nghĩ về những phép lạ đó bằng cách thu gộp chúng trong những từ ngữ gợi lại các sấm ngôn thiên sai. Nên Người đã chu toàn ít ra là một phần phận sự của Đấng Thiên sai vậy.
 
Chúa Giêsu không phán trực tiếp và với uy quyền: "Ta là Đấng Thiên sai", song kêu mời Gioan hãy cứu xét những gì mà các sứ giả của ông có thể thấy và nghe, tức là công việc và lời nói của Chúa Giêsu: đấy là con đường duy nhất để đi tới đức tin. Thành ra những kẻ không tin và người mù và điếc (23, 16), chẳng có khả năng giải thích các dấu hiệu Chúa Giêsu ban ra (13, 13). Bởi vậy Chúa Giê-su có thể bảo với những ai theo Người: "Mắt các ngươi có phúc vì thấy, tai các ngươi có phúc vì nghe " (13, 16).
 
"Người mù xem thấy... ": Câu Chúa Giêsu trả lời không quy chiếu một bản văn nà o nhất định (trừ Is 61, 1) cho bằng quy chiếu toàn bộ các lời tuyên sấm mà sách Isaia đã dùng để mô tả các việc thiện của thời thiên sai... hơn là các hình phạt tiên báo. Gioan sẽ nhận ra lối ám chỉ đó. Ông sẽ fliểu rằng Chúa Giêsu không chỉ muốn quả quyết Người là Đấng Thiên sai song còn đưa ra bằng chứng: hành động hào hiệp của Người thực hiện những gì mà Isaia đã loan báo về thời thiên sai. Nhưng đồng thời - và đây hẳn là cao điểm của câu trả lời – Chúa Giêsu kín đáo kêu mời Gioan quan niệm vai trò Đấng Thiên sai dưới một khía cạnh hơi khác khía cạnh mà ông đã lưu tâm. Khía cạnh mới này thiếu hẳn tính chất uy hùng đến nỗi trở thành một cơ hội nghi ngờ cũng như tin tưởng. Đấy là điều mà câu tiếp minh nhiên khẳng định.
 
"Phúc cho ngươi không phải vấp phạm vì Ta". Theo nghĩa đầu tiên, "cớ vấp phạm" trong hy ngữ ám chỉ việc giăng bẫy, rồi được áp dụng cho chính cái bẫy, theo nghĩa đen và nghĩa bóng. Trong bản Kinh Thánh Hy-lạp, nghĩa của nó còn rộng hơn nữa, và được dùng để nói về bất cứ chướng ngại nào trên đường, đặc biệt hòn đá vấp chân. Vậy "cớ vấp phạm" là tất cả những gì có thể gây ra một sự vấp ngã, và nói theo ẩn dụ, là nguyên nhân của một sa ngã luân lý hay tôn giáo. Trong Tin Mừng, thường có đối ngẫu giữa "vấp phạm" và "tin": kẻ không chấp nhận tin hoặc suy yếu đức tin sẽ phải "vấp phạm". Chúa Giêsu phát biểu cách tổng quát: "Phúc cho người không phải vấp phạm vì Ta". Người chẳng nhắm Gioan trực tiếp, nhưng rõ ràng là lời ấy nhắc nhở ông vì nằm trong sứ điệp dành cho ông. Người tiên đoán câu Người trả lời cho Gioan có
thể làm ông thất vọng. Giữa quan niệm của Gioan về Đấng Thiên sai và quan niệm của Người, đối nghịch không phải nhỏ! Gioan có di đến chỗ chấp nhận được mặc khải về tình yêu bày tỏ trong khiêm cung và yếu đuối chăng? Ta đừng ngạc nhiên về thử thách đang chờ đợi ông. Hãy nhớ lại phản ứng của Phêrô tại Césarée Philipphê (16, 22- 23) hoặc phản ứng của Gioan khi Thiên Chúa tha thứ cho thành Ninivê (Gn 4).
 
"Các người đi ra sa mạc để coi cái gì? cây sậy rung trước gió ư.". "Ba lần, Chúa Giêsu hỏi tại sao thiên hạ đi ra sa mạc? Việc chỉ nơi chốn có vẻ mơ hồ. Nói đến sông Giođanô không rõ hơn. Nhưng việc nhắc đến sa mạc dễ gợi lên ngay hình ảnh con người xuất hiện như "tiếng kêu trong sa mạc" (3, 3). Chính Gioan mà người ta nghĩ tới ngay từ đầu; con người của ông làm nổi bật các câu hỏi liên hệ tới ông.
 
Thiên hạ không đi vào sa mạc để nhìn xem một cây sậy phất phơ trước gió. Chắc hẳn Chúa Giêsu muốn đặt đối nghịch cây sậy với sự kiên cố bất lay chuyển của Gioan. Đức tính này làm cho Gioan gần giống với ngôn sứ Giêrêmia (Gr 1, 17-19), một con người bất khuất trước mọi sự nhờ luôn ý thức sứ mệnh thần linh của mình và nhờ được sức mạnh Thánh Thần Thiên Chúa nâng đỡ. Tính bất khuất ấy của Gioan là nơi đầu tiên nâng ông vượt trên thiên hạ và đặc trưng sự cao cả của ông.
 
"Để thấy một ngôn sứ ư? phải! Ta bảo các người... ". Dòng dõi đứt đoạn của các ngôn sứ (1 Mcb 9, 27; Tv 74,9) đã được nối lại với Gioan Tay giả. Và xét cho cùng, đó chính là cái lôi kéo mọi người đến với ông: Thiên Chúa lại bắt đầu phán bằng lời ngôn sứ, như Ngài đã từng làm trong bao thế kỷ qua tất cả lịch sử Israel. Những kẻ nghe Chúa Giêsu đều biết mọi điều ấy; lời của Người hẳn âm vang sâu xa trong tâm hồn họ. Nhưng Người còn nói hơn thế nữa.
 
"Và còn hơn ngôn sứ nữa". Dân chúng đã nhận ra Gioan là một ngôn sứ; nhiều người còn coi ông hơn cả một ngôn sứ, nghĩa là chính Đấng Thiên sai (Lc 3, 15; Ga 1, 20; Cv 13, 25); dĩ nhiên, ông lớn hơn một ngôn sứ, nhưng theo ý nghĩa khác: ông là vị Tiền hô. Đấng mà mọi ngôn sứ trước đây loan báo, thì Gioan đã thấy và đã chỉ cho biết: ông vừa đứng ở tận điểm và cao điểm thời kỳ đoan hứa, vừa đứng nơi ngưỡng của thời đại mới, thời đại Nước Trời.
 
"Kẻ nhỏ nhất trong Nước trời lại lớn hơn ông": Một câu khó hiểu từng phát sinh nhiều lối giải thích khác nhau. Một số nhà chú giải, trong đó có các Giáo phụ, cho rằng "kẻ nhỏ nhất" là chính Chúa Giêsu. Văn mạch quả thật có trình bày Chúa Giêsu như là "bạn của người thu thuế và tội lỗi " (c. 19), Người có được đồng hóa một cách nào đó với các "kẻ nhỏ" ấy và nhờ vậy khác với Gioan (F.Dibelius, F.Hanck, W.Grundmann...). Nhưng lối giải thích này vấp phải nhiều khó khăn. Khó khăn lớn nhất là ta không thấy làm sao, mặc dầu đã cố ý tự hạ, Chúa Giêsu lại có thể tuyên bố mình là "kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời". Thật vậy, Chúa Giêsu không đi vào trong một Nước Trời đã được thành hình, nhưng là loan báo và thiết lập Nước ấy trong chính con người của mình.
 
Đúng ra, có lẽ không nên đem Chúa Giêsu vào mà so sánh. "Kẻ nhỏ nhất trong nước Trời" chỉ một trong những kẻ đã chấp nhận sứ điệp của Người. Tuy nhiên cần phải lưu ý. Khó mà cho rằng kẻ kém nhất trong họ về sự thánh thiện lại trổi vượt Gioan trong phương diện ấy: như thế là bảo Chúa Giêsu đã phân biệt sự cao cả của sứ mệnh thần linh (loan báo Đấng Thiên sai) và sự toàn thiện của người được trao sứ mệnh (sự thánh thiện riêng của Gioan), một lối phân biệt chẳng phù hợp tí nào với tư tướng Kinh Thánh: cao cả nhờ sứ mệnh được ủy thác, Gioan không thể bị xem như thua kém người môn đồ tồi nhất của Chúa Kitô về phương diện trung thành được. Thật ra ở đây không cố ý nói đến sự thánh thiện cá nhân, nhưng, như văn mạch cho thấy, là nói đến hai trật tự, hai kinh nghiệm, hai thiên chức. Gioan đã xuất hiện như một ngôn sứ cao cả vào lúc kết thúc thời gian hứa hẹn và chờ đợi, song ông vẫn chỉ là một tiền hô; sau ông, khi Chúa Giêsu xuất hiện, là bắt đầu thời đại cứu rỗi thiên sai mới mẻ và chung cục. Thuộc vào thời đại ấy là một số phận may mắn, vượt xa những gì đi trước. Thành ra, kẻ trông nhỏ nhất giữa các phần tử nước Trời lại được cao cả hơn những ai thuộc về các thời trước vậy.
 
KẾT LUẬN
 
Tư tưởng thần học của đoạn văn này không dừng lại nơi Gioan Tẩy giả song còn đi xa hơn. Đi xa hơn trước tiên bằng cách đối chọi sự cao cả trần gian với sự cao cả của Nước Trời sẽ đến. Sau đó bằng cách cho thấy: vai trò của vị Tiền hô được soi chiếu nhờ phẩm cách thần linh của Chúa Giêsu, Đấng mà ông đi trước dọn đường. Phận sự của Gioan, và của các thánh nói chung, không phải là làm người ta chú ý đến mình, nhưng là dẫn đưa tới Chúa, Đấng họ đang làm chứng giữa loài người.
 
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

 
1. Câu hỏi môn đồ Gioan đặt ra cũng thượng được đặt do mọi thế hệ muốn đi tìm một thứ thiên sai chủ nghĩa mới, có tính cách triết học, chính trị hoặc xã hội. Đó là câu hỏi đặt ra do những ai mà đức tin trở nên do dự, mỏng dòn, do những ai thỉnh thoảng đi tìm trong các khuynh hướng tôn giáo khác (chiêu hồn, dị đoan, giáo phái) một câu trả lời cho bao mối lo âu của họ. Câu trả lời duy nhất nằm trong mặc khải về một Thiên Chúa nhân từ hằng ngỏ lời cách riêng với những kẻ nghèo nàn, khốn khổ để mang lại cho họ Tin Mừng cứu rỗi.
 
2. "Người què được đi": Chúa Giêsu đem lại cho người lảo đảo sự vững lòng và sức mạnh, đặt họ lại trên con đường ngay chính. Giáo Hội cũng không ngừng trả lại cho con người khả năng bước đi trong con đường của Chúa Kitô để tiến đến sự sống sung mãn.
 
3. "Người mù được thấy", họ không còn phải tìm một Thiên Chúa vô danh cách mò mẫm trong bóng tối nữa (Cv 17, 23- 28). Những kẻ sống nhờ Chúa Kitô là những người "nhìn thấy ánh sáng chan hòa" (Mt 4, 16) sau khi đã bước đi trong u tối.
 
4. "Kẻ phong cùi được sạch, người chết sống lại": Không ai bị loại ra khỏi Nước Trời: cho dù bị tội ác và thất vọng bôi bẩn hay giết chết, người ta vẫn có thể sống lại nhờ đức tin vào Đức Kitô, Đấng nâng dậy và tha thứ, chữa lành và tác sinh.
 
5. Sứ mạng của Ki-tô hữu giống với sứ mạng của vị Tiền hô: chuẩn bị các tâm hồn sẵn sàng đón Chúa Kitô. Và như Gioan Tẩy giả, Kitô hữu sẽ được kêu mời chịu đau khổ vì đức tin.
 
6. Giáo Hội tiếp tục công việc của Chúa Giêsu. Nhờ Giáo Hội, "kẻ nghèo, tức chúng ta, "kẻ nghèo của Đức Giavê, được nghe loan báo Tin Mừng", được phụng vụ Lời Chúa, bài giảng, giáo lý và giáo huấn của các vị lãnh đạo Giáo hội dạy dỗ cho. Chính Giáo Hội cũng chữa lành các tâm hồn và không ngừng bao bọc nỗi khổ thể xác của con cái mình bằng việc thực thi bác ái, giáng phúc thi ân.
 
 

Noel Quession - Chú Giải

 
Mt 11,2-11

Gioan Tẩy Giả lúc ấy đang ngồi tù nghe biết những việc Đức Kitô làm.

Trong diễn biến của Tin Mừng của ông, Mát-thêu bốn lần nói về Gioan Tẩy Giả... và luôn có liên quan với Đức Giêsu.

Mt 3,1-7 Gioan Tẩy Giả rao giảng "Nước Thiên Chúa" và làm phép rửa cho Đức Giêsu …

Mt 4,12 Việc bắt giữ Gioan Tẩy Giả, người định đoạt

cho Đức Giêsu "khởi đầu"…

Mt 11,2-18 Gioan từ trong ngục, đặt những câu hỏi về Đức Giêsu và Đức Giêsu đặt những câu hỏi về Gioan cho đám đông. Đó là đoạn chúng ta đọc hôm nay:

Mt 14,1-13 Cái chết của Gioan, loan báo phần thứ hai của sứ vụ của Đức Kitô.

Ông liền sai các môn đệ đến hỏi Ngườ rằng: Thưa Thầy, Thầy có phải là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi phải đợi ai khác?

Chính với lòng nhiệt thành mà Gioan trông đợi Đấng Mê-si-a. Chúa nhật trước chúng ta đã thấy sự sôi sục của quần chúng đã được khơi dậy do tiếng "kêu' của ông, do "Tin Mừng" của ông: "Nước Trời đã gần kề!".

Thế mà này đây là Gioan, bây giờ do dự, nao núng. Có lẽ ông ta sẽ không lầm lẫn chăng? Cái "hoài nghi" này có gây xúc động như thế ư? Và chúng ta cố đặt vào địa vị của Gioan. ông đang ở trong ngục, trong cái chiến lũy Macheronte, một cái pháo đài, khiếp đảm và kiên cố của Hê-rô-đê xây dựng chắc chắn vào một mỏm núi đá của hoang mạc Mô-áp, phía Đông Biển Chết. ông ta có giờ để suy nghĩ. Đó là một tù nhân bị giam trong bốn bức tường. Đây là cái thử thách khủng khiếp nhất: "đức tin" bị na núng... Một thứ tiếng kêu phá hoại khơi gợi ông ta: "tất cả chuyện gì anh tin cho tôi giờ, đều sai lầm cả... Giêsu của anh đâu phải Đấng Mê-si-a, ông ta không có khả năng giải thoát mi ra khỏi ngục.

Vâng, Gioan Tẩy Giả, vừa nghĩ đến những dòng dõi cứu thế thời mình, vữa chờ một Mê-sê-a chiến chúng: một Đức Ki tô của dòng Đa-vít, Đấng được Xức Dầu của Thiên Chúa, Đấng có lẽ giải phóng Do Thái khỏi tay quân thù... một Đức Kitô siêu việt, Con người mà Đa-ni-en loan báo, đến từ đám mây trời để phán xét tất cả những kẻ dữ của hơi thở từ miệng người". Và dó chính lâ Mê-sê-a mà Gioa đã loan báo những đám người ở hoang mạc: viên quan xét đã có sẵn chiếc rìu trong tay để chặt hết tất cả cây nào không sinh trái, người xay lúa cầm sẵn cái nia để rê trấu khỏi lúa mì.

Sự thất vọng? Đức Giêsu đang làm thất vọng. Thiên Chúa đang làm thất vọng.

Thiên Chúa cũng hay làm thất vọng chúng ta. Người không phải như chúng ta tưởng tượng. Thiên Chúa làm cho Người ta chưng bứng. Và như Gioan Tẩy Giả, chúng ta cứ tiếp tục mong ước rằng Thiên Chúa làm theo "ý muốn của chúng ta" và giống như hình ảnh mà chúng ta tạo ra về Người. Bạn hãy nói cho tôi biết tại sao Thiên Chúa lại để cho vị tiên báo của Người vào tù? Tại sao Thiên Chúa không bênh vực các bạn hữu của Người? Tại sao Thiên Chúa lại, không giải thoát cho không người bị tù tội vì Người? Tại sao dường như Thiên Chúa luôn luôn bị những kẻ thù của mình chiến thắng? Tại sao, Gioan Tẩy Giả, ngôn sứ của Thiên Chúa lại bị Hê-rô-đê khóa miệng lại? Tại sao Lời Chúa lại "quá lặng lẽ thế?

Tại sao Chúa ơi, Chúa yên lặng, khi có biết bao người đang cáo giác người? Tại sao có biết bao điều xấu, biết bao đau khổ, biết bao chết chóc trong vạn vật thụ tạo? Lạy Chúa, hôm nay, xin Chúa trả lời cho chúng con hay Chúa có phải là Đấng đem đến cho chúng coi mềm vui, sự sống và hạnh phúc không hay chúng con lại phải đợi một người khác?

Chúng con có phải tiếp tục tin vào Chúa không, hay chúng con phải khước từ Chúa để chúng con hiến mình cho những người khác? Khủng hoảng đức tin...

Những nhà lao tối tăm ở Macheronte... đêm tăm tối của Gioan Tây Giả.

Đức Giêsu trả lời: "Các anh cứ về thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo nghe được nghe Tin Mừng".

Đức Giêsu không trả lời trực tiếp cho câu hỏi đặt ra. Người không nói "Tôi là Người phải đến"... Người không cho một giải pháp có sẵn. Người gợi cho người chất vấn phải tự mình tìm câu trả lời cho vấn đề mình đặt ra.

Đức Giêsu, Đấng Mê-sê-a làm cho người ta chưng hửng, dẫn lại những đoạn Kinh Thánh, lấy trong ngôn sứ I-sai-a (Is 26,19 - 29,18 - 35,5 - 61,1). Khi đắn đo kể những đoạn này, hơn là các đoạn khác, Đức Giêsu cho thấy Người đã chọn là "loại Mê-sê-a nào": Thiên Chúa Đấng đã sai Người đến không tỏ mình ra qua những cử chỉ của quan xét và của người hiếu thắng, nhưng bằng những cử chỉ tốt lành đối với những người thất thế và người đau khổ: mù lòa, què quặt, phong cùi, điếc lác,... Và ý nghĩa sâu xa của hành động chữa lành này được thấy rõ trong hai việc lành sau cùng được nói lên: "cái chết" bị đánh bại... người nghèo được rao giảng Tin Mừng... Đấy chính là niềm vui mới!

Những câu hỏi mà chúng ta đặt ra về Gioan Tẩy Giả, những hoài nghi mà chúng ta có về Chúa, thì bây giờ chính chúng tại đem ta trở lại với "chính ta": bạn đã cáo giác Chúa, bạn làm gì trên thế gian này để giúp đỡ những người đau khổ, để giải phóng những người bị đè nén, để làm cho số phận của các anh chị em ta trở nên tốt hơn?

Dấu hiệu đích thực là Thiên Chúa ở đó, và Nước Người đã bắt đầu, chính khi có tình yêu! Chúng ta không "phải đợi một ai khác nữa"...

Câu trả lời của Đức Giêsu cho Gioan Tẩy Giả phải trở nên một câu hỏi khẩn thiết đối với mỗi Ki tô hữu, và đối với Giáo Hội nói chung: Giáo Hội hôm nay, Người có là cộng đoàn tình yêu của Đức Giêsu và của "Tin Mừng của Người cho người nghèo không hay chúng tôi phải chờ đợi một Giáo Hội khác nữa? Và bạn, Pierre, Cbantal, Francois, Monique (Dung, Thanh, Trang Diễm),... bạn có tự hiến thân cho những người thấy bạn sống những dấu chỉ của Đức Giêsu không? Đón tiễp, Uy an, Cứu vớt, Yêu thương.

Phúc thay cho người nào không vấp ngã vì tôi

Bản văn Hy Lạp nói ở đây: "Phúc cho ai không bị làm gương mù vi tôi'". Tiếng "skandalon" là hình ảnh gợi ra viên đá trên đường mà người nào cũng dẵm lên. Đức Giêsu, nhờ những dấu chỉ bất ngờ Người đưa ra, có thể trở nên một cơ hội "vấp ngã" đối với chính Gioan Tẩy Giả..Điều nghịch lý. Người rao giảng, hôm Chúa nhật trước, đã mời các đám đông người sám hối ở trên bờ sông Gio-đan, bây giờ được mời để tự Sám hối. Vâng, Gioan Tẩy Gỉa được mời đi tới một đức tin sâu xa hơn. Vị tiền hô được mời để tin" vào Thiên Chúa, ngay trong cảnh tù đầy, bằng cách chấp nhận như một lối thoát khỏi cảnh tù đày này mà không phải là sự cứu thoát bởi một Thiên Chúa toàn năng... những cái chết của mình, hiệp thông với cái chết, chẳng bao lâu nữa, của Đấng Mê-si-a trên thập giá. Lòng tin của chúng ta cũng thế, không phải là một "sự vật" chiếm hữu lấy một lần thay cho tất cả. Thật là tốt cho chúng ta biết mấy khi thấy một người khổ tu, một vị thánh, "ngôn sứ vĩ đại nhất"...được mời để làm cho đức tin lớn'lên... được mời để không bị "vấp phạm" vì Đức Giêsu.

Họ đi rồi, Đức Giêsu bắt đầu nói với đám đông về ông Gioan rằng: "Anh em ra xem gì trong hoang địa? Một cây sậy phất phơ trước gió chăng? Thế thì anh em ra xem cái gì? Một người mặc gấm vóc lụa là chăng? Kìa những kẻ mặc gấm vóc lụa là thì ở trong cung điện nhà vua. Thế thì anh em ra xem gì? Một vị ngôn sứ chăng? Đúng thế đó, mà tôi nói cho anh em biết. đây còn hơn cả ngôn sứ nữa".

Đức Giêsu bây giờ khen ngợi Gioan Tẩy Giả.

"Giêsu, ông là ai? Đức Giêsu hỏi đám đông. Đám đông không trả lời chi cả. Yên lặng. Dẫu vậy câu hỏi của Đức Giêsu trở nên sống động, tiến lên từng nấc, nhắc lại ba lần: một cây sậy? một ông hoàng? một ngôn sứ? A không! Người không phải là cây sậy bị cơn gió nào cũng làm lung lay, người đàn ông chốn hoang địa này đáng phải vào tù vì thái độ cương nghị của ông: đó là một người can đảm (Gr 1,10-17).

A, không, ông không phải là người tinh tế, có khả năng sống trong sự dễ dãi, người đàn ông này mặc áo da súc vật như ê-li-a (2 V 1,8). Đức Giêsu nói: Đó là một ngôn sứ, và còn hơn là một ngôn sứ.

Chính ông là người Kinh Thánh đã nói tới khi chép rằng: Này Ta sai sứ giả của ta đi trước mặt Con, người sẽ đón đường cho Con đến.

Như trong phần thứ nhất, để xác định căn tính của Đấng Mê-si-a ở đây Đức Giêsu dẫn một lời Kinh Thánh để xác định căn tính của Gioan. Và đó là đoạn sách Ma-la-khi (3,1). Nhưng Đức Giêsu đã sửa nguyên văn của Cựu ước, và điều này rất có ý nghĩa Ma-la-khi đã viết: "Này Ta sai sứ giả của Ta đến dọn đường trước mặt Ta". Trong đoạn này chỉ có hai nhân vật: Thiên Chúa và sứ giả của Người...

Đức Giêsu - khi giải thích đoạn trích dẫn, đặt vấn đề ba nhân vật: Thiên Chúa, sứ giả đi dọn đường, và Đấng sẽ đến"…tức là Đấng mà Thiên Chúa xưng là cha con: "trước mặt Con!".

Khi Đức Giêsu dẫn Kinh Thánh, người cho mình như Đấng Mê-si-a đã được loan báo. Và vì thế, Người đi dọn chỗdùng kỹ xảo với nguyên bản: Ma-la-khi tập trung vào người sứ giả Đức Kitô chú trọng đến "Đấng chuẩn bị sứ giả".

Như thế bằng cách bày tỏ cho đám đông hiểu căn tính sâu xa của Gioan Tẩy Giả, thì Đức Giêsu còn tỏ cả căn tính của mình.

Tôi nói thật với anh em: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gioan Tấy Giả. Tuy nhiên, kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông.

Chúng ta lặn ngụp, một lần nữa, vào trong ý thứ mà Đức Giêsu có về bản thể sâu xa, và vai trò của Người trong lịch sử Đức Giêsu có ý thức khơi động một thay đổi lịch sử thật sự. Có "trước" người và "sau' người. Lịch sử thế giôi đang ở một bước ngoặt. Nếu Đức Giêsu Na-da-rét này chỉ là một anh dân làng nhỏ bé kiêu kỳ, thì cuộc phiêu lưu của Người sẽ không kéo dài. Điều đó có lẽ không đúng, nhưng cuộc phiêu lưu lại kéo dài liên miên. Đức Giêsu đã dứt khoát và thực sự chia cắt lịch sử làm hai. Một kỷ nguyên mới đã bắt đầu với Người. Và Đức Giêsu có thể nói thực sự rằng con người thánh thiện nhất, vĩ đại nhất của Cựu ước, còn là người bé nhỏ hơn người Kitô hữu hèn mọn nhất của kỷ nguyên mới bắt đầu... Một cách nghịch lý chúng ta đi vào thời đại của "những người bé mọn": tự khi Thiên Chúa nhập thể làm "đầy tớ", thì sự vĩ đại quyền lực, chính là trở nên "bé mọn". Trong khi chịu thử thách, Gioan đã học được điều đó.
 

Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

 
"Thầy có phải là Đấng phải đến chăng,

hay là tôi còn phải đợi một Đấng nào khác?"
 
Mt 11,2-11
 
I / Ý CHÍNH:

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại ba sự việc:

Gioan tiền sứ giới thiệu môn đệ đến với Chúa.

Chúa Giêsu tự giới thiệu mình bằng lời tiên tri

Chúa Giêsu khen Gioan tiền sứ.

Cả ba sự việc này đều có tính cách giươí thiệu Chúa Giêsu là Đấng thiên sai, đồng thời cũng cao Tân Ước.

II / SUY NIỆM:

1) "Gioan ở trong ngục nghe nói các việc làm của Chúa...".

Gioan đã bị vua Hêrôđê bắt giam về tội ngăn cản nhà vua lấy chị dâu là nàng Hêrôđia (Mục tử 14,3. Mc6,17). Trong khi bị giam Gioan vẫn được đối xử tử tế và được tiếp xúc với các môn đệ đến thăm viếng, nhờ đó ông có thể theo dõi và biết được các việc Chúa Giêsu làm.

2) " Ông sai môn đệ đến thưa Người rằng... ".

Đã có lần các môn đệ Gioan đêm lòng ghen tỵ với Chúa Giêsu và môn đệ Người (Ga3,22-30). Gioan đã phân giải cho môn đệ ông hiểu biết mình chỉ là tiền sứ đi dọn đường. Chúa Giêsu mới là Đấng thiên sai thật. Nhưng môn đệ ông vẫn chưa hết đa hoài nghi. Họ vẫn muốn ông được tôn trọng hơn Chúa Giêsu. để đánh tan sự nghi kỵ này, Gioan đã sai môn đệ đến phỏng vấn Chúa Giêsu và ông hy vọng rằng khi họ được mắt thấy, tai nghe những việc Chúa Giêsu làm thì họ sẽ giác ngộ và tin theo Người, mà quả thật sau này các môn đệ ông đã đi theo Chúa Giêsu, và như vậy ông cũng làm tròn được vai trò tiền sứ trứơc khi chết.

" Thầy có phải là Đấng phải đến chăng?":

Tiên tri Isaia loan báo Chúa sẽ đến ( Is40 ): " Hãy dọn đường cho Chúa". Vì thế kiểu nói " Đấng phải đến" có ý chỉ về Đấng thiên sai ( Mt3, 11; Ga 1, 27 ).

3)"Hãy về thuật lại cho Gioan những gì các ông nghe và thấy...":

Chúa Giêsu không trả lời trực tiếp, không làm chứng về Mình. Mặc dầu Người đã có thể trả lời bằng một tiếng" Phải"rõ ràng để đánh tan mọi hoài nghi, như khi đứng trước vị thượng tế philatô ( Ga 18, 37 ) sau này hỏi Người có phải là vua không? nhưng ở đây Người tránh làm như vậy. Người muốn trả lời cách khôn ngoan kín đáo và thiết thực bằng việc làm.

Thời bấy giờ ai cũng tin khi nào Đấng Cứu Thế đến, Người sẽ làm nhiều phép lạ. Nay Chúa Giêsu muốn cho môn đệ Giaon biết Người là Đấng Cứu Thế, Người đã làm nhiều phép lạ cho họ được mắt thấy tai nghe. Rồi Người bảo họ về đưa tin lại cho Gioan. Nói thế không phải vì Gioan có bụng hoài nghi về Người, nhưng người có chỉ cho Gioan con đường phải theo, cũng là con đường cho mọi môn đệ theo Người: đó là phải biết nhìn các dấu chỉ và biết giải thích, biết nhận ra chúng như là(công việc) của Đấng thiên sai. Đây là con đường của đức tin, khởi hành từ những hiệu quả hữu hình để đi đến chỗ khám phá Đức Giêsu Kitô. Đó là con đường đi từ tăm tối đến ánh sáng, từ dấu chỉ đến thực tại, từ các phép lạ đến quyền năng của Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu Kitô." Người mù được thấy, người què được đi...":

Ở đây lấy từ những chỗ khác nhau của tiên tri Isaia:

* 26, 19: người chết sống lại,

* 35, 5 - 6: người mù sẽ thấy, người điếc sẽ nghe,

* 61, 1: Tin Mừng cho người nghèo khó

Những điều mà tiên tri Isaia đã nói về Đấng thiên sai thì Chúa Giêsu đã thực hiện ( Mt5, 1 - 9. 34 ). Chúa không chứng minh bằng lời nói, nhưng muốn nói việc làm mà trả lời, hơn nữa đây là việc làm để hoàn tất lời tiên tri về Đấng thiên sai.

" Phúc cho ai không vấp ngã vì Ta"

Chúa Giêsu khuyên như vậy vì cụ thể khi nghe Người giảng hoặc thấy cách cư sử của Người thì đã có nhiều người bất bình với Người.

Ở đây Chúa có ý nhắc đến sự chậm tin của các môn đệ Gioan và của mọi người khác. Người thật là Đấng thiên sai, vậy đừng vì vẻ bề ngoài: con bác thợ mộc, sống nghèo khó, chết đau thương trên Thập giá... mà vấp phạm, không tin vào vai trò cứu thế của Người.
 
4)" Chúa Giêsu liền nói với đám đông về Gioan...":

Ở đây Chúa Giêsu muốn nhân cơ hội này để là chứng và khen ngợi Gioan. Việc Gioan bị tống giam có thể gây ra hiểu lầm là ông bị thất bại và bị Chúa bỏ rơi, việc Chúa khen Gioan là để làm chứng và đánh tan sự hiểu lầm đó.

" Các ngươi đi xem gì ở trong hoang địa?...":

Người ta không bỏ công vào hoang địa để xem cây sậy phất phơ trước gió, vậy đám đông dân chúng đến hoang địa là vì Gioan là một người can đảm nhẫn nại và bất khất chứ không như cây sậy quen luồn cúi trước gió đâu.

" Vậy các ngươi xem gì? người ăn mặc lả lướt ư?":

Người ta cũng không đến hoang địa để tìm gặp một người ăn mặc lả lướt, tìm như vậy là không đúng chỗ vì họ ở nơi cung điện nhà vua kia! người ta đến hoang địa là vì Gioan là một người đơn giản khắc khổ.

" Vậy các ngươi đi xem gì? một tiên tri ư?":

Ơ đây Chúa Giêsu khen chức vụ tiền sứ của Gioan là cao qúy và ông đã thi hành chức vụ ấy rất hoàn hảo.

Chức vụ này đã được tiên tri Malakia nói đến rằng: " Này Ta sai sứ thần Ta đi trước con, để dọn đường sẵn cho con" ( Ml 3, 5 ).

Chức vụ này cao trọng hơn các tiên tri thời Cựu ước. Kiểu nói: " Trong các con cái người nữ sinh ra" là một cách nói long trọng để chỉ trong toàn thể nhân loại: không ai trọng hơn Gioan.

" Nhưng người nhỏ nhất trong Nước Trời...":

Trong Cựu ước: Gioan trọng nhất vì đang khi các tiên tri khác chỉ là người loan báo, thì Gioan là người chuẩn bị gần nhất cho Tân ước, vì ông đã được thấy Chúa và các công việc của Ngài. Cao trọng ở đây không do thánh thiện cá nhân cho bằng do sứ mạng.

Trong Tân ước: " Người nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông". Ơ đây cũng không có ý so sánh sự thánh thiện cá nhân, nhưng có ý so sánh Cựu ước với Tân ước. Tân ước vượt hản Cựu ước, vì Cựu ước chỉ là sửa soạn, còn Tân ước là thời kỳ thực hiện ơn cứu độ.
 
III / ÁP DỤNG:
 
A / Áp dụng theo Tin Mừng:

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Giáo Hội muốn chỉ cho ta thấy sự cao trọng của Tân ước là thời kỳ thực hiện ơn cứu độ, nhờ đó chúng ta biết ý thức và nhiệt thành đón nhận ơn cứu độ bằng cách tin nhận Chúa Giêsu Kitô và sống theo Người.
 
B / Áp dụng thực hành:
 
1/ Nhìn vào Chúa Giêsu:

a / Xem việc Người làm:

Chúa Giêsu tự giới thiệu về Mình qua những chứng tích từ trong Cựu ước. chúng ta noi gương Chúa Giêsu không tự giới thiệu về mình chỉ bằng lời nói suông nhưng bằng những chứng tích của đời sống cụ thể.
Chúa Giêsu khen Gioan để làm chứng về ông. Noi gương Chúa, muốn làm chứng về ai chúng ta phải dựa vào những ưu điểm về đời sống cụ thể của người ấy.
 
b/ Nghe lời Chúa nói:

" Hãy về thuật lại cho Gioan những gì các ông nghe và thấy": muốn làm tông đồ bằng cách nói về Chúa cho người khác, chúng ta phải dựa vào những gì đã nghe: tức là sự hiểu biết giáo lý của Chúa và những gì đã thấy tức là đức tin và những hiệu quả do việc sống đức tin ấy.

" Các ngươi đi xem gì ở hoang địa?": Chúa đặt câu hỏi và tự trả lời. Đó là lối giáo huấn rất hiệu nghiệm vì gây được sự chú ý của người nghe.
 
2 / Nhìn vào Gioan:

Từ trong tù, ông vẫn thi hành sứ mệnh tiền hô bằng cách sai môn đệ đến với Chúa Giêsu. Là người tông đồ của Chúa, chúng ta hãy noi gương Gioan biết thi hành sứ mệnh tông đồ trong mọi nơi, mọi lúc, kể cả những lúc xem ra như bị bó tay trong tù...

Chúa khen Gioan về đời sống khổ hạnh, về sự can đảm bất khất và về sứ mệnh. Chúng ta hãy sống theo kiểu sống của Gioan để được Chúa Giêsu tuyên xưng trước mặt Thiên Chúa Cha.
 
3 / Nhìn vào môn đệ của Gioan:

Gioan sai môn đệ đến với Chúa Giêsu để tìm gặp Chúa và theo Chúa. Chúng ta nghe theo những lời chỉ dẫn đạo đức để đến tìm gặp Chúa và sống theo Chúa.

 
Lm Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc - Bài Giảng Lễ

 
"Đấng phải đến"

Is 35,1-6a.10; Gc 5,7-10; Mt 11,2-11

 

Gioan Tẩy Giả là một nhân vật quan trọng của Mùa Vọng. Trong Tin Mừng Chúa Nhật trước, chúng ta đã nghe Gioan Tẩy Giả loan báo Đấng Cứu Thế sẽ đến là một Thẩm Phán chí công, thưởng phạt nghiêm minh. Ngày Đấng Cứu Thế đến sẽ là một ngày kinh hoàng đối với những người gian ác, tội lỗi, không chịu hối cải.

Nhưng rồi, khi Chúa Giêsu đến, Gioan Tẩy Giả đã thất vọng, vì ông chẳng thấy có gì là kinh hoàng như ông đã loan báo trước. Đang lúc đó chính Gioan Tẩy Giả lại phải ngồi tù, vì đã ăn ngay nói thẳng. Thật là chớ trêu!

- Gioan Tẩy Giả đã loan báo sai chăng?

- Hay là Chúa Giêsu chưa phải là Đấng Cứu Thế thực sự phải đến mà còn phải chờ đợi ai khác nữa?

Gioan sai các môn đệ đến hỏi Chúa Giêsu một lần cho rõ: Xin Thầy nói thật cho chúng tôi: "Thầy có phải là Đấng phải đến chăng, hay chúng tôi còn phải đợi Đấng nào khác nữa?"

Để trả lời cho Gioan và các môn đệ, Chúa Giêsu đã mượn lời Ngôn sứ Isaia loan báo về Đấng Cứu Thế: "Người mù được thấy, người què được đi, người phong hủi được sạch, người điếc được nghe, người chết sống lại…"

Thì ra Chúa Cứu Thế đến "không phải để xét xử luận phạt, nhưng để tìm kiếm và cứu chữa những gì đã hư hỏng". "Ngài đến không phải để kêu gọi người công chính, nhưng để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn". "Ngài đến để cho con người được sống và được sống dồi dào". "Và Ngài còn đến không phải để được người ta hầu hạ phục vụ, nhưng để phục vụ và thí mạng sống cứu chuộc loài người".

Bao lâu còn quan niệm như Gioan Tẩy Giả, còn chờ mong Chúa đến can thiệp kiểu vua chúa trần gian để áp đặt một quyền lực, chúng ta sẽ mãi mãi ảo vọng.Trong khi Gioan Tẩy Giả và Dân Do Thái mong một Đấng Cứu Thế đến tái lập uy quyền và vinh quang Thiên Chúa, thì Thiên Chúa lại chỉ mãi lo cho vinh quang của con người, ưu tiên cho những con người bị coi rẻ nhất: người mù, người què, người điếc, là những hạng người phải ăn mày để sống, ăn mày sự sống với những người quyền thế giàu có vẫn thường khinh bỉ họ, và nắm quyền sinh tử trên họ. Ngài coi đó là trả lại sự sống cho hạng người sống mà như chết dở, những người cùi hủi, những người bị khinh tởm, bị xua đuổi khỏi xã hội, chỉ được sống giữa những nấm mồ hoang giữa người chết.

Ngày xưa, khi Chúa Cứu Thế giáng sinh, các luật sĩ và cả Vua Hêrôđê và dân thành Giêrusalem đã không nhận ra Chúa cứu thế, vì họ đã quan niệm Chúa Cứu Thế phải đến oai phong lẫm liệt, phải sinh ra ở lầu son gác tía, chứ không phải ở chuồng bò.

Chúa Cứu Thế phải xuất hiện trong cung cách như thế đó. Chúng ta ngày nay phải hết sức tỉnh táo mới khỏi đón hụt mất Chúa Cứu Thế. Bởi vì, vẫn như ngày nào, Chúa đang hiện diện ở giữa chúng ta; không ồn ào giữa hàng lũ người tùy tùng hầu hạ kiểu vua chúa phong kiến, mà ẩn mình trong thân phận những con người nghèo đói, ốm đau, bệnh tật… Vẫn như ngày nào và sẽ mãi mãi cho đến tận thế, Ngài không dạy chúng ta đón nhận Ngài bằng bất cứ một hình thức nào khác hơn là đón nhận chính con người anh em, những người bé nhỏ, đói khát, mình trần thân trụi, không nhà không cửa, ốm đau bệnh tật, tù đày… Vì vậy, nếu không hết sức tỉnh táo, chúng ta sẽ đón hụt mất Ngài.

Anh chị em thân mến,

Hai ngàn năm rồi, Chúa đã đến, nhưng cũng còn những người vẫn đang mong chờ một Chúa Cứu Thế khác sẽ đến, chứ Ông Giêsu này không phải là Chúa Cứu Thế. Thậm chí có cả những người Công giáo cũng nghi ngờ Chúa Giêsu là Chúa Cứu Thế của họ. Bởi vì, tại sao Chúa cứ bắt tôi phải đói khổ, bệnh tật? Tại sao Chúa không trừng trị địch thù, những bọn gian ác? Chúng tôi phải chờ một Đấng Cứu Thế khác. Ngài sẽ đến thanh trừng với bạo lực, thống trị với quyền năng hiển hách như lời các ngôn sứ loan báo.

Chúa Giêsu Kitô chính là "Đấng phải đến". Ngài đã đến rồi. Đó là niềm tin của chúng ta hôm nay như đã là niềm tin của thánh Phêrô. Ngài nói: "Ngoài Đức Giêsu ra, dưới bầu trời này, ơn cứu độ chúng ta không có ở một người nào khác, không có một ai khác có khả năng cứu độ chúng ta" (Cv 4,12).

Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế đã đến, đã chết để cứu chuộc chúng ta, đã sống lại và đang sống ở giữa chúng ta. Ngài đã giải phóng chúng ta và bao nhiêu con người khác đang bị giam cầm trong tội lỗi. Chúng ta hãy vui mừng vì chúng ta đã được Ngài cứu độ và được sống trong Ngài. Chúng ta không phải chờ đợi một ai khác nữa.
 

Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng - Bài Giảng Lễ

 
ĐẤNG CỨU THẾ ĐÃ GẦN ĐẾN

Chúa Giêsu đã đến, chúng ta đã và đang gặp gỡ, đón tiếp Người trong kinh nguyện, trong Thánh lễ và trong việc sống Lời Người. Tuy nhiên, Giáo hội muốn qua phụng vụ của Chúa nhật III mùa Vọng này, kêu gọi chúng ta lắng nghe sứ điệp hy vọng. Niềm hy vọng chính Thiên Chúa sẽ đến cứu độ chúng ta, niềm hy vọng mang lại niềm vui sống, một niềm vui có sức biến đổi con người và biến đổi bộ mặt trái đất trở nên tươi đẹp hơn. Chúng ta đang đón Chúa và hân hoan chờ đợi ngày Người lại đến trong vinh quang để đưa chúng ta vào trong tình yêu viên mãn của Thiên Chúa Ba Ngôi.

I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

1. Bài đọc I: Is 35,1-6.10

Những điều kỳ diệu do ơn Cứu độ mang lại

Bản văn được trích đọc từ sách Tiên tri Isaia hôm nay là lời khích lệ nảy sinh từ nỗi u buồn của đau khổ, khó khăn trong cuộc sống. Chính Thiên Chúa chắc chắn sẽ đến giải thoát con người khỏi mọi đau khổ.

a. Đây là thời kỳ năm thứ 40 dân Do Thái phải chịu đau khổ trong cuộc lưu đày. Tiên tri Isaia loan báo cho họ biết Thiên Chúa sẽ đến ngay để giải thoát họ, để đưa họ về.

b. Thiên Chúa sẽ thực thi tình yêu của Người. Người biến đổi đau khổ thành hạnh phúc. Người sẽ bày tỏ vinh quang của Người cho nhà Israel, nghĩa là sẽ giải phóng và cứu độ họ.

c. Đây là mọt sứ điệp của niềm hy vọng. Thiên Chúa luôn yêu thương và mang lại hạnh phúc cho con người. Vấn đề là con người có tin tưởng chờ mong Người hay không?

2. Bài đọc II: Gc 5,7-10

Kiên nhẫn chờ đợi Đấng Cứu Thế

a. So sánh với bài đọc I tràn trề niềm phấn khởi và giàu chất thi ca, đoạn trích thư của Thánh Giacôbê có vẻ bình dị hơn, kêu gọi mọi người phải kiên nhẫn chờ đợi Chúa đến, bền chí đón nhận đau khổ thử thách trong đức tin.

b. Thánh Giacôbê gửi thư cho những người anh em bé mọn đang chịu thử thách trong cuộc sống. Ngài động viên họ hãy kiên nhẫn, đừng nản lòng. Thiên Chúa sắp đến để giải thoát mọi người.

c. Sự kiên nhẫn theo Tin mừng không là sự cam chịu cách vô ích, nhưng là một sự hy vọng tích cực, năng động. Nhờ đó, con người đón chờ ngày Chúa đến trong tín thác, kinh nguyện và niềm vui.

3. Tin mừng: Mt 11,2-11

Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất

Từ trong ngục, Gioan sai các môn đệ đến hỏi Chúa Giêsu: Ngài có phải là Đấng Messia mà dân đang chờ đợi không? Chúa Giêsu không có câu trả lời xác quyết trực tiếp, Người nêu lên những việc Người làm để ngầm xác nhận mình là Đấng Messia.

a. Câu hỏi mà Gioan đặt ra là một câu hỏi nghiêm túc. Ông ở trong tù nghe biết các việc Chúa Giêsu đã làm nhưng không tài nào giải thích nổi. Phải chăng ông chờ đợi những việc thuộc loại khác như một phong trào nổi dậy; một cuộc phán xét công bình trên các kẻ thù của Thiên Chúa?

b. Chúa Giêsu không khẳng định cách trực tiếp Người là Đấng Messia, nhưng kêu gọi hãy nhìn vào những công việc Người làm. Đối chiếu với Isaia 35,8-10, thì những việc Người làm minh chứng Người quả thật là Đấng Messia mà các tiên tri loan báo.

c. Tin mừng hôm nay cũng cho thấy mối tương quan giữa sứ vụ của Gioan Tẩy giả với Chúa Giêsu. Ông được chính Chúa Giêsu nhìn nhận là người cao trọng nhất trong số loài người. Ông là người được Thiên Chúa sai đi trước Đấng Messia để dọn đường cho Người.

II. GỢI Ý BÀI GIẢNG

1. "Thầy có phải là Đấng phải đến không?":

Gioan nghe biết những việc Chúa Giêsu đã làm nhưng vẫn chưa hiểu trọn vẹn về Người, mặc dầu ông đã giới thiệu công khai với mọi người về Chúa Giêsu, Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian. Ông đã cho môn đệ đến hỏi Chúa câu hỏi này. Điều này cho thấy, hiểu biết về Chúa Giêsu và sứ mạng của Người không phải là chuyện dễ dàng. Muốn biết về Chúa phải gặp gỡ Người thường xuyên, phải biết thực tâm đi tìm kiếm Người. Nếu chỉ dựa vào một vài bài giáo lý, một ít kiến thức Kinh thánh thì không thể nào biết Chúa là ai. Trả lời cho câu hỏi của Gioan, Chúa Giêsu không trả lời cách trực tiếp nhưng chỉ nói đến những việc người làm, và nếu đối chiếu với lời Tiên tri Isaia đã loan báo thì sẽ biết Người là ai. Như vậy, Chúa Giêsu cho chúng ta thấy muốn đi tìm câu trả lời thì phải tìm hiểu Kinh thánh để rồi nhận ra Người nơi những gì Người mang lại cho người nghèo khổ, khốn cùng.

Tìm hiểu về Chúa không phải nhằm mục đích thoả mãn óc tò mò tri thức ham hiểu biết. Nhưng tìm hiểu để biết Chúa, để yêu mến Người và để đi theo Người mang tình yêu cứu độ, mang Tin mừng đến cho anh chị em bần cùng. Chính trong sự hy sinh vì yêu thương tha nhân, chúng ta càng khám phá khuôn mặt đích thực của Chúa Giêsu Kitô.

2. "Hãy đi thuật lại những gì tai nghe, mắt thấy":

Chúa Giêsu không phán trực tiếp với uy quyền: Chính Ta là Đấng Thiên Sai nhưng Người mời gọi hãy xem xét những gì Người nói và làm để biết Người là ai. Đây chính là con đường để đi tới đức tin. Những ai không tin chính là những người mù và điếc vì không nghe được Lời Chúa, không thấy được việc Người làm. Đó cũng là con đường mà mỗi người Kitô hữu cũng phải thực thi để loan báo Tin mừng cho người khác. Loan báo Tin mừng chính là nói cho người khác biết về Chúa Giêsu qua những gì Người đã làm cho mình, đã nói với mình.

Ngày nay Giáo hội tiếp tục làm chứng cho Chúa, mỗi Kitô hữu là những sứ giả mang Tin mừng cho con người và xã hội của mình. Tất cả đều có trách nhiệm nói cho người khác, cho thời đại biết những gì mắt đã thấy, tai đã nghe qua giáo lý, qua giáo huấn, qua việc thực thi bác ái…

3. "Các ngươi đi xem gì?":

Đến ba lần Chúa Giêsu hỏi thính giả của mình câu hỏi này. Tất nhiên đây không chỉ đơn giản là một cách sử dụng từ ngữ, tu từ học để gây sự chú ý nơi người nghe của những nhà hùng biện. Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh đến sự cao trọng của Gioan, nhưng đồng thời cũng muốn lôi kéo mọi người đến việc chân nhận Người là ai, để rồi đi theo Người. Chúa Giêsu khẳng định Gioan cao trọng hơn các tiên tri, nhưng người nhỏ nhất Nước Trời còn cao trọng hơn ông nữa. Như vậy, phải đi tìm và vào cho bằng được Nước Trời. Nước Trời là một thực tại các tiên tri loan báo, Gioan chuẩn bị lòng người đón nhận, chính Chúa Giêsu là Đấng đến thiết lập và ban cho nhân loại. Sự so sánh không nhằm hạ thấp Gioan, hay cho rằng Gioan không bằng những kẻ bé mọn nhất trong số các môn đệ của Chúa, nhưng nhằm mục đích nói so sánh hai chức vụ, hai thời kỳ: thời kỳ trước, thời kỳ các tiên tri và Gioan là thời gian để chuẩn bị thôi, thời kỳ sau thời kỳ của Chúa Giêsu mới thực sự là thời gian cứu rỗi.

Một trong những cám dỗ của con người thời đại đó là thích những chuyện ly kỳ, phép lạ nên người ta cũng thích đổ xô đến những nơi cho là có sự kiện lạ để thõa mãn óc hiếu kỳ. Ngay trong đời sống đức tin cũng không hiếm những hiện tượng này. Tất cả mọi nỗ lực trong cuộc đời của mỗi người là phải đi tìm kiếm Nước Trời và vào cho bằng được.

4. Dẫn vào Phụng vụ Thánh thể:

Nơi Bí tích Thánh thể chúng ta nhận ra được tình yêu của Chúa Giêsu, nhận ra Người chính là Đấng Thiên Sai phải đến, Đấng đã hy sinh đến độ chết cho người mình yêu, Đấng đã hiến chính mình làm thần lương mang lại sự sống mới cho nhân loại.

III. LỜI NGUYỆN TÍN HỮU

Mở đầu: Anh chị em thân mến, Thiên Chúa đã sai Chúa Giêsu đến để giải thoát con người khỏi mọi khổ ải của kiếp người nô lệ cho tội lỗi và sự chết. Trong niềm tri ân cảm tạ, chúng ta cùng dâng lên Chúa những tâm tình cầu nguyện:

1. Giáo hội có sứ mạng công bố Lời Chúa cho muôn dân để tất cả nhận biết và tin theo Chúa. Chúng ta cùng cầu nguyện cho Giáo hội thực sự đưa được Chúa đến cho con người và xã hội hôm nay bằng chính những nỗ lực sống Tin mừng, thực thi lòng bác ái của mọi thành phần trong Giáo hội.

2. Ngày nay những tệ nạn xã hội, sự bất công, chiến tranh và bạo lực đã làm cho bao người phải rơi vào nỗi khốn cùng. Chúng ta cùng cầu nguyện cho những anh chị em này đón nhận được tình thương của Chúa qua sự chia sẻ của mọi người thiện tâm.

3. "Hãy đi thuật lại những gì tai nghe mắt thấy". Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta luôn nghiệm thấy tình yêu của Chúa dành cho bản thân, để tất cả có thể chu toàn sứ mạng loan báo Tin mừng.

Lời kết: Lạy Cha là Đấng giàu lòng nhân ái, chúng con cảm tạ Cha đã trao ban tình yêu cứu độ của Cha cho nhân loại chúng con nơi Chúa Giêsu Kitô. Xin Cha ban Thánh Thần đến hướng dẫn chúng con luôn biết nghe và theo Chúa Giêsu, Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.

Hành Trang Mục Vụ - Khoá 10 ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn