Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật III Phục Sinh A

Tin mừng LC 24: 13-35: Câu chuyện hai môn đệ đi Emmau trong bài Tin Mừng hôm nay, chỉ được một mình Luca thuật lại, để cho thấy rằng Chúa Giêsu muốn hướng dẫn các môn đệ...
CHÚ GIẢI TIN MỪNG

NGÀY 30 THÁNG 04 NĂM 2017

CHÚA NHẬT III PHỤC SINH A



 
Tin mừng LC 24: 13-35
 
Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

HAI MÔN ĐỒ LÀNG EMMAU

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Đâu là mục đích của thánh sử khi kể lại cách chi tiết cuộc hiện ra với hai môn đồ Emmau? Hay nói cách khác, đâu là ý nghĩa thần học của trình thuật này?

2. Có sự tương tự giữa trình thuật này với buổi hội họp Thánh Thể không?

3. Trình thuật này phải chăng chỉ là một sáng tác có tính cách thần học, một câu chuyện giả tưởng có ý nghĩa tượng trưng? Đâu là những lý chứng biện hộ tính cách lịch- sử của nó?

1. Đâu là mục đích thánh sử theo đuổi khi kể lại cách chi tiết cuộc hiện ra với hai môn đồ Emmau? Hình như không cùng mục đích với giai thoại kế tiếp (24, 36- 43) là cuộc hiện ra với nhóm mười một. Đoạn văn sau này nhấn mạnh nhiều đến thực tại thể lý của Đấng Phục sinh. Việc nó trưng ra nhiều dấu chỉ mà Chúa Kitô ban cho nhóm Mười một thật không có gì khó hiểu: các sứ đồ phải làm chứng việc Chúa Giêsu Kitô sống lại cho thế giới, nên người đã cho họ thấy mình vẫn sống, với nhiều tang chứng rành rành (tekmêris) " (Cv 1, 3). Thật vậy, niềm xác tín làm cơ sở cho sứ mệnh của họ phải dựa trên nhiều chứng cứ không thể chối cãi được (đó là nghĩa chính xác của chữ tekmêrion). Các diễn từ của Phêrô và Phaolô trong Cv cũng nói lại điều ấy (Cv 10, 40- 41; 13, 30- 31).

Giai thoại hai môn đồ Emmau có mục tiêu khác. Ở đây Chúa Kitô không hiện ra với các chứng nhân chính thức của cuộc Phục sinh, nhưng với các môn đồ thường. Vì thế Người không mấy quan tâm đến việc làm cho họ xác tín về tính cách thể lý của Sự sống lại cho bằng là đoan chắc với họ rằng: cuộc Tử nạn chẳng làm họ vắng bóng Người đâu. Người cho thấy Người vẫn hiện diện với họ, đồng thời để cho họ hiểu trưng từ nay trở đi sự hiện diện đó sẽ thường có tính cách vô hình. Vì thế Cao điểm của trình thuật chính là giây phút họ nhận ra Chúa Kitô và giây phút Người biến mất khỏi họ, hai giây phút này liên hệ mật thiết với nhau.

Việc nhận ra Chúa Kitô lại được nối kết với cử chỉ Đấng Phục sinh bẻ bánh. Chẳng lẽ ở đấy không có điểm nào liên quan tới mầu nhiệm Thánh Thể sao? Khó mà nghi ngờ được Nhưng trước nhất, ta hãy so sánh Lc 24, 13- 35 với giai thoại viên hoạn quan người êthiopi, công chức của nữ hoàng Canđakê trong Cv 8, 26- 40. Cả hai cảnh đều diễn tiến theo một lược đồ giống nhau. Như hai môn đồ Emmau đang trao đổi về cuộc Tử nạn thì Chúa Giêsu đến, cũng thế, khi người êthiopia đang đọc Is 53 thì phó tế Philipphê bắt kịp xe ông. Như Chúa Giêsu đi từ Kinh thánh để giải thích cái chết và Phục sinh của Người, thì Philipphê cũng giải thích Is 53. Sau khi bẻ bánh ở Emmau thì Chúa Gtêsu biến mất, cũng thế, sau khi rửa tội cho người êthiopia, Philipphê liền được Thánh Thần đem đi mất dạng. Một bên, việc giải thích mầu nhiệm con người Chúa Giêsu được nối kết với nhiệm tích rửa tội, bên khác, nó lại được nối kết với việc bẻ bánh, mà theo Cv 2,42, là bí tích Thánh Thể.

Vậy phải chăng có thể kết luận rằng việc bẻ bánh ở Emmau nói cho đúng ra cũng là bí tích Thánh Thể? Một ít tác giả cổ xưa (thánh Augustin, Hiêrônimô , bê đa) và vài nhà chú giải hiện đại (Dupont, Grundmann...) cũng đã nghĩ thế. Nhưng đa số các nhà chú giải vẫn phản đối lối giải thích có tính cách thần túy Thánh Thể đó (prat, Lebrẹton, Lagrange, Plummer, Klostermann, Valensin-huby, Schlatter, man son, Schmid, Creed...) và các lý do họ đưa ra cũng khá vững. Như chúng ta, Luca cũng biết là các môn đồ Emmau chẳng hiện diện trong bữa Tiệc ly; như thế làm sao ông có thể giả thiết là Chúa Giêsu đã làm cho họ một cử chỉ mà họ không tài nào giải thích đúng, được? Ngay trong Công vụ sứ đồ, việc bẻ bánh không phải đâu đâu cũng là bí tích Thánh Thể cả: ít nhất phải loại trừ 27,35 là trường hợp có các người ngoại đạo hiện diện và cùng ăn uống (trong hoàn cảnh này, không thể nghĩ rằng Phaolô ăn một mình thôi, vì theo tập tục Do thái, người ta bẻ bánh để rồi san sẻ cho các bạn thực khách). Chống lại mấy lý chúng trên, người ta cho rằng các độc giả Hy lạp đầu tiên đọc Tin Mừng thứ ba, chỉ có thể nghĩ đến bí tích Thánh Thể khi nghe nói về việc bẻ bánh ở chương 24, vì họ không hề biết nghi thức bẻ bánh của người Do-thái trước một bữa ăn thông thường. Nhưng người ta quên rằng họ đã biết, cũng nhờ chính tin Mừng, một cuộc bẻ bánh khác do Chúa Giêsu thực hiện như cuộc bẻ bánh ở chương 24 (các cuộc bẻ bánh trong Cv là sự kiện của Giáo Hội), và là chính hình bóng của phép Thánh Thể: việc bẻ bánh trước khi hóa bánh ra nhiều (Lc 9, 16).

Nhận xét sau cùng này đưa chúng ta đến ý nghĩa thần học đích thực của giai thoại. Như việc hóa bánh ra nhiều, cử chỉ của Chúa Giêsu ở Emmau, dù không là phép Thánh Thể đúng nghĩa, cũng phải được xem như là biểu lượng của Thánh Thể vậy. Ngay cả đối với hai môn đồ, cử chỉ này mang một tính chất huyền nhiệm: bẻ bánh là việc dành cho gia chủ; thế mà Chúa Giêsu, khách của hai vị, lại thi hành phận vụ đó, và do đấy xử sự đối với họ như gia chủ mời khách ngồi bàn; Người cũng đã xử sự giống hệt đối với các đám đông khi hóa bánh ra nhiều. Một cử chỉ như thế giúp các môn đồ nhận ra Cứu Chúa của mình: "họ đã nhận ra Người lúc bẻ bánh"; nhưng chỉ về sau, nhờ thực hành của Giáo Hội, họ mói có thể thấu triệt ý nghĩa biểu tượng bl tích gắn liền với việc bẻ bánh này.

Dưới con mắt thánh sử, chính ý nghĩa Thánh Thể vừa nói mới là điều thiết yếu, là điều ông muốn ta chú ý lưu tâm. Trong trình thuật này, Chúa Giêsu gợi ý cho các môn đồ đang muốn giữ Người lại (hãy lưu lại với chúng tôi, vì trời đã về chiều) hiểu rằng Người không những hiện diện chắc chắn với họ cho dù từ này về sau sự hiện diện ấy sẽ thường mang tính cách vô hình (ý nghĩa thần học thứ nhất của trình thuật) mà còn hiện diện với họ từ đây trong chính bí tính Thánh Thể (ý nghĩa thần học thứ hai).

2. Nhưng cơ cấu cũng như ngữ vựng của trình thuật còn làm ta suy diễn thêm điều khác. Trước khi đến với phép Thánh Thể, con người phải tin vào Chúa ki tô. Hai môn đồ đang hoài nghi mà Chúa Giêsu theo kịp trên đường làm ta nghĩ tới các tâm hồn thiện chí đang tìm kiếm trong khắc khoải lo âu; Chúa Giêsu không vắng mặt trong nỗi khổ đau và sự kiếm tìm của họ. Trước tiên "bị ngăn ngừa không nhận diện được" Chúa Giêsu (c. 16), mắt các tông đồ cuối cùng đã mở ra" (cho) và họ nhận biết Người. Có mối liên hệ hiển nhiên giữa việc nhận biết này với ơn đức tin mà Lc thương thích diễn tả một cách tương tự: theo câu 45, Chúa Gỉêsu "mở trí" cho hai môn đồ hiểu Kinh Thánh; trong Cv 16,14, Thiên Chúa "mở lòng" Lyđia, cho bà chú ý vào các điều Phaolô giảng dạy và sau đó bà đã được rửa tội. Như thế, trình thuật hấp dẫn của Lc 24, 13- 35 phác họa chính tất cả tiến trình của những tâm hồn đi tắt trạng thái hoài nghi đến đức tin và từ đức tin đến các bí tích.

Ta có thể đi xa hơn nữa và thêm rằng các trình thuật như trên đã được nghĩ ra và biên soạn trong bầu khí của các cộng đoàn phụng vụ đầu tiên. Không những chi tiết của phần cuối mà cả toàn bộ trình thuật đều gợi lên một lược đồ phụng vụ: trước hết, có các bài đọc nhắc lại việc chuẩn bị Kinh Thánh và những gì Chúa Giêsu dã làm là Thánh thư và Tin Mừng đoạn người ta ngồi vào bàn và Chúa đến, rồi tâm cả ăn lấy Người. Như trong một phần tiền lễ. các môn đồ em mau thảo luận, và Chúa Giêsu giải thích Kinh Thánh cho họ nghe; họ như những dự tòng lãnh nhận huấn dụ đầu tiên và mở rộng lòng đón lấy đức tin. Rồi khi tâm hồn đã được bài giáo lý đầu Thánh lễ ấy chuẩn bị, họ tham dự việc bẻ bánh, Chúa trở nên hiện diện và mắt họ mở ra. Họ rước lễ thiêng hứng, vì đã gặp được Người.

3.Tuy nhiên, dù có bận tâm nêu lên ý nghĩa giáo thuyết và biểu tượng của trình thuật Luca, ta cũng không nên đi đến chỗ xem trình thuật này như một sáng tác có tính cách thần học. Xét về phương diện thực tại lịch sử, đừng hê thấy một trình thuật có nhiều điểm trùng hợp với các chủ đề văn chương chung, thì lập tức kết luận rằng nó hoàn toàn có tính cách văn chương chứ không có nền tảng thực tại; đấy là một sai lầm mà nhiều đầu óc phiêu lưu đã phạm phải và gieo rắc trong Giáo Hội hiện nay. Thế mà, như ta sẽ thấy ngay bây giờ, có nhiều suy đoán nghiêm chỉnh biện hộ cho lịch sử tính tổng quát của trình thuật này. Trước tiên hãy xem một lý do tổng quát và tiên thiên, rồi sau đó những lý do riêng biệt.

Cách chung, tác giả Tin Mừng thứ ba đã thu lượm được nhiều tài liệu bên lề truyền thống chính thức của Giáo Hội, tức truyền thống của nhóm 12 trong các cuộc hành trình riêng, Luca đã gặp nhiều môn đồ không thuộc nhóm 12 tí nào: toàn bộ sách Công vụ sứ đồ xác nhận điều đó. Ông đã tò mò chất vấn cả các phụ nữ Galilê như Maria, Gioanna, Suzanna chẳng hạn. Qua các cuộc đàm thoại ấy, ông cảm thấy hình như có một Tin Mừng nào đó khác với Tin Mừng của nhóm 12 (Mt và Lc): Tin Mừng của các môn đồ. Như ta biết, có nhiều môn đồ đã theo Chúa Giêsu đến Giêrusalem: họ làm thành một nhóm khác trong cộng đoàn, ở bên cạnh nhóm 12, nhóm anh em của Chúa và nhóm các phụ nữ. Ta hiểu rằng truyền thống chung, tức truyền thống nhóm 12, nhóm sứ đồ người Galilê, đã chẳng mấy quan tâm đến các môn đồ hạng hai này... Nhưng Lc không chia sẻ mối ngại ngùng của truyền thống chung, và đã biết thu thập tin tức, tài liệu. Vì ông tỏ ra xác thực, có thẩm quyền trong những nơì liên hệ tới truyền thống chung (truyền thống của nhóm 12), điều mà chúng ta có thể kiểm chứng, nên cũng phải kết luận tương tự đối với truyền thống của các môn đồ. Hầu như chắc là Lc không hề bịa đặt; ông đã tìm tài liệu từ các môn đồ Chúa Giêsu; và tại sao tài liệu này, vì khác với truyền thống của nhóm 12 và chứa đựng nhiều sự kiện hơn, lại bị khả nghi?

Riêng về trình thuật đang nghiên cứ đây, người ta có thể đưa ra một số lý lẽ khiến ta không được xem nó như một câu chuyện giả tương có tính cách biểu trưng. Các lý lẽ này giá trị không đều nhau:

a. Dĩ nhiên phải công nhận rằng Kitô giáo nguyên thủy rất thích lối biểu tượng. Nhưng làm sao cắt nghĩa được não trạng của Lc nếu cho rằng ông, người muốn viết với tư cách sử gia, lại chẳng đủ khả năng phân biệt một sự kiện có thực với một huyền thoại? Thường ta dễ chiều theo lối suy rộng về các phương pháp mà sử gia cổ vẫn dùng. Nhưng càng tiếp xúc các sử gia có, dù là vị khá hoặc dở, ta càng thấy mình không được nghĩ rằng, ngoại trừ việc ghi lại các diễn từ, phương pháp của họ hoàn toàn khác biệt phương pháp của các sử gia gần với ta hơn.

b. Trong các trình thuật liên hệ đến cuộc Phục sinh, các thánh sử hẳn cảm thấy trách nhiệm họ còn nặng nề hơn chỗ khác. Ở đây chứng từ cá nhân có một tầm quan trọng thật đặc biệt. Giáo Hội hẳn không thể chấp nhận các truyền thống có nguồn gốc mập mờ.

c. Sự kiện giai thoại Emmau liên hệ đến hai môn đồ ngoài nhóm 12 là một lý chứng bênh vực lịch sử tính của nó. Vì huyền thoại hẳn đã chọn các diễn viên quan trọng hơn. Thấy Chúa Kitô Phục sinh và cùng ăn với Người, chắc chắn không phải là một đặc ân tầm thường.
d. Rất hiếm khi các nhân vật thấp kém và các địa điểm ít tiếng tăm được Tin Mừng Nhất lãm nêu danh rõ ràng. Lúc xảy ra luật trừ, ta có thể tự hỏi phải chăng thánh sử muốn qua đó ngụ ý rằng ông đã được một chứng nhân tận mắt cung cấp cho tài liệu mà ông là người duy nhất trình bày lại cho ta.

e. Ngôn ngữ sêmita của một trình thuật chắc chắn không bảo đảm lịch sử tính. Nhưng ít nhất nó khiến ta không được nghĩ rằng trình thuật này chỉ là một sáng tác thi văn của thánh sử. Lúc viết ở c.18: duy chỉ có ông ngụ tại Giêrusalem thì lại đã không hay biết các việc xảy ra ở đó mấy ngày nay!". Cú pháp lòng thòng này chẳng phải là không có trong Hy ngữ. Tuy nhiên, nếu không bị vướng ngôn ngữ Aram, thì có lẽ thánh sử đã viết: "ông là người duy nhất ở Giêrusalem không hay biết... ".

f. Tiếng kêu ở câu 25: "Hỡi những kẻ ngu độn và trí lòng chậm tin ", mà bề ngoài có vẻ cứng rắn nhưng kỳ thực đầy tình âu yếm, chắc tác giả đã không thể bịa đặt; vì ta nhận ra ở đó âm diệu không tài nào bắt chước của giọng nói Chúa Kitô.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

"Một làng kia cách Giêrusalem sáu mươi dặm, tên là Emnmau": địa điểm này hãy còn được tranh luận. Người ta nghĩ đó là Amwas, cách Giêrusalem độ 30km về hướng Tây. "60 dặm" là cách đọc thông thường được chấp nhận (tương ứng với 12 km); nhưng nhiều chứng từ đáng tin cậy (như bản Sinaiticus, 5 trong các thủ sao khá nhất của bản Phổ thông và 3 thủ sao của bản syri-palestin) lại đọc 160, là điều phù hợp với địa danh Amwas.

"Ông là cư dân duy nhất ở Giêrusalem": Cách dịch này không đúng mấy vì làm ta tưởng các môn đồ xem Chúa Giêsu như là người thường trú tại Giêrusalem. Nhưng động từ Hy lạp được dùng ở đây, paroikéô, chắc hẳn có nghĩa thông thường như trong bản 70: "cư ngụ với tư cách ngoại kiều, lưu trú như người ngoại quốc". Các môn đồ coi Chúa Giêsu như khách hành hương đến Giêrusalem dịp Lễ Vượt qua.

"Một ngôn sứ quyền năng trong việc làm": Các môn đồ cho tới bày giờ vẫn còn xem Chúa Giêsu như một ngôn sứ thôi.

"Nhưng với ngần ấy cơ sự, nay đã là ngày thứ ba rồi kể từ khi các việc ấy diễn ra": Các môn đồ đã thất vọng vì Chúa Giêsu bị nhà cầm quyền Israel tuyên án tử hình thập giá. Họ cũng thất vọng vì đã ba ngày sau vụ đóng đinh rồi mà Thiên Chúa chẳng hề can thiệp gì để cứu giúp vị ngôn sứ cả.

"Khởi từ Môisen và rảo qua hết thảm các ngôn sứ ": Môisen, nghĩa là Lề luật, với các Ngôn sứ tạo thành chất liệu chủ yếu của Thánh Kinh (16, 16. 29- 31; 24, 44; Cv 24, 14; 28, 2) người ta đọc sánh các vị trong phụng tự ở Hội đường (Cv 13, 15).

"Người cầm lấy bánh, chúc tụng, đoạn bẻ ra trao cho họ": Không chắc là bấy giờ Chúa Giêsu tái diễn bữa Tiệc ly. Nhưng Lc dùng ở đây một ngữ vựng có tính cách Thánh Thể (x 22, 19 và 9, 16) để cho độc giả cảm thấy rằ ng việc "bẻ bánh" (Cv 2, 42.46; 20,7. 11) làm họ gặp gỡ Đàng phục sinh, như trường hợp các môn đồ Emmau.

"Người đã hiện ra cho Simon": Biến cố này được đề cập tới trong bản liệt kê cổ xưa của 1 Cr 15, 5, cũng như đã được loan báo ở 22, 31- 32, nơi người ta cũng gặp tên Simon.

"Lúc bẻ bánh": tiếng Hy lạp cho phép ta hiểu: lúc bẻ bánh hoặc nhờ việc bẻ bánh.

KẾT LUẬN

Sự hiện diện của Đấng Phục sinh thâm nhập vào tâm thức tôn giáo, vào trong đời sống đức tin, nhờ Thánh Kinh được giải thích theo ý nghĩa sứ điệp Vượt Qua, nhờ bữa ăn Thánh Thể nung đốt tâm hồn và giúp tâm hồn nhận ra Chúa.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Tâm trạng của các môn đồ Emmau mấy ngày sau cái chết của Chúa Giêsu không phải là đặc biệt lắm. Lúc ấy cũng như bấy giờ, có nhiều người đã đặt niềm hy vọng vào Chúa hay vào Giáo Hội và họ đã thất vọng vì diễn tiến các biến cố. Họ nghĩ Chúa Kitô phải ban cho họ niềm trông cậy và bình an, Giáo Hội phải đem đến cho họ những điều vững chắc và nhiều gương mẫu thật đáng phục; thế nhưng chẳng có gì được thực hiện. Chúa không được mọi người thành tâm thiện chí nhận ra, và Giáo Hội chẳng tai tiếng thì cũng làm nhiều kẻ nản lòng...Dĩ nhiên, sự việc không bao giờ xảy ra như đã hứa và niềm hy vọng của chúng ta đôi khi như bị dối lừa.

2. Các môn đồ Emmau và mọi ai đã trông cậy vào Chúa Giêsu mà thất vọng, là vì niềm hy vọng của họ quá trần tục, dựa trên cái nhìn nhân loại về các biến cố. Để thắng nỗi ô nhục, cớ vấp phạm gây ra do sự thất bại của Chúa Giêsu, niềm hy vọng đó phải biến thành niềm hy vọng đốt thần, đặt cơ sở trên cái nhìn của Thiên Chúa về lịch sử. Vì thế, trong cuộc đàm thoại với hai môn đồ Emmau, Chúa Giêsu đã sửa đổi nhãn giới của các vị bằng cách giúp họ hiểu rằng cái chết của Người có ý nghĩa xét về quan điểm của Thiên Chúa. Quan điềm này được diễn tả trong Thánh Kinh. Bắt đầu từ Môisen và hết thảy các ngôn sứ, Người dẫn giải cho họ các điều đã viết về Người trong toàn bộ Thánh Kinh".

Chúng ta không rõ hai môn đồ nghe gì lúc ấy, chỉ biết vài ngày sau đó họ nói vắn tắt thế này: lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên khi Ngươi trò chuyện cùng ta trên đường đi đó sao? Có lẽ Chúa Giêsu đã nhắc lại cách vắn tắt và sống động toàn bộ lịch sử của tuyển dân, với bao biến cố thăng trầm, bao phen trung thành và bội phản của họ; nhắc lại những chuỗi can thiệp của Chúa mà, mỗi thế hệ, qua mọi mọi biến cố đau thương hay hạnh phúc, đã làm dấy lên nhiều ngôn sứ với nhiệm vụ khêu lại lòng trung thành nhạt phai, đã hứa ban Đấng cứu thế mà một ngày nào đó sẽ đến tai lập tất cả trong bình an và trật tự. Ta có thể nghĩ rằng người lữ khách vô danh này đã nhắc lại cho họ các thi ca về người Tôi tớ của Isaia và các Thánh vịnh, như Phêrô đã làm trong ngày lễ Ngũ tuần trước mặt người Do thái. Tắt một lời, khi gợi lại 12 thế kỷ lịch sử này, Người cho họ thấy "Đấng Messia phải chịu đau khổ đã rồi mới vào trong Vinh quang".

Cuối cuộc chiêm niệm này, sau khi đã dấn bước đi theo, các bậc tiền tổ trong đức tin, tức là các ngôn sứ, hiền nhân, thi sĩ của Thiên Chúa toàn năng, hai môn đồ mới bắt đầu khám phá ra rằng có lẽ tất cả không đến nỗi phải thất vọng, rằng mọi sự có lẽ nằm trong trật tự, cho dù trật tự ấy khác với trật tự mà tự nhiên họ đã mong chờ. Đức tin vào Giêsu Nadarét của họ. Niềm tin của họ có lẽ đã thoát ra khỏi một thứ lý luận trần tục nào đó, thì lý luận đã giam hãm họ và đẩy họ đến chỗ thất vọng ê chề; nhưng dầu sao niềm tin ấy xem ra không phi lý nữa, mà còn có thể phù hợp với cái nhìn của Thiên Chúa về thế gian, cái nhìn đã được loan báo dần dần bởi các hiền nhân và các ngôn sứ trong suốt 1200 năm lịch sử.

3. Nhờ lại Thiên Chúa được khám phá trong Thánh Kinh, các môn đồ Emmau đã có một não trạng khác; họ đã mở rộng quan điểm, hay đúng hơn đã loại bỏ quan điểm của mình dể đi vào quan điểm của Thiên Chúa. Chỉ sau đấy họ mới nhận ra Chúa Giêsu. Muốn tin vào Chúa Kitô tử nạn, chiến bại và Phục sinh, thì phải chấp nhận ra khỏi cái kiểu lý luận thế nhân, để đặt mình trong kế hoạch của Thiên Chúa, kế hoạch mà mọi phương hướng luôn luôn làm lý trí nhỏ bé của con người choáng ngợp, và để Ngài hướng dẫn. Bấy giờ mọi sự sẽ trở nên đơn giản, sẽ biện thành niềm vui. Như thánh Phêrô đã nói khi kết thúc một đoạn trong thư của ngài mà chúng ta vừa nghe lúc nãy: nhờ Chúa Kitô, anh em tin vào Thiên Chúa. Đấng đã cho Người sống lại từ cõi chết và đã ban vinh quang cho Người, ngõ hầu anh em đặt cả lòng tin và niềm hy vọng của anh em nơi Thiên Chúa" (1Pr 1, 21).


 
Noel Quession - Chú Giải


Cũng ngày hôm ấy, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Em-mau, cách Giêrusalem chừng mười một cây số.

Dù vị trí của làng Em-mau vẫn còn đang tranh cãi. Một truyền thống cho rằng Em-mau nằm tại Amwas, khoảng nửa đường giữa Giêrusalem và Tel-Aviv, gần tu viện dòng Xitô Latroun. Nhưng người ta cũng nói đến El Qubeibeh Moca. Beit Misseh và nhất là Abu Gosh nơi các quân Thập tự chin, đã xây một ngôi nhà thờ đẹp theo kiến trúc Roman bên trên một con suối.

Người ta đã nói: "Bạn hãy vẽ một vòng tròn cách Giêrusalem chừng mườì một cây số, Em-mau ở nơi nào đó trên vòng tròn ấy". Vì người ta không thể xác định vị trí của một biến cố đầy ý nghĩa: nên bất cứ nơi nào trên thế giới mà người ta gặp gỡ được Đức Kitô hằng sống, nơi đó là Em-mau!

Bạn cũng vậy, bạn đang đi trên con đường ấy, con đường có thể dẫn bạn đến Đức Giêsu.

Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán thì chính Đức Giêsu tiến đến gần và cùng đi với họ.

Sự việc đã xảy ra ba ngày trước đó... Ngày thứ sáu vừa qua, bạn họ là Đức Giêsu đã chết. Trong đời một con người, cõi chết trước sau gì cũng xảy ra, chỗ này hay chỗ khác: một niềm hy vọng lớn bị thất bại, một cái tang hung dữ, một sự thất bại chua xót, một nỗi lo âu, một vấn đề không giải quyết, một tội lỗi gây ra đau khổ. Một hoàn cảnh không lối thoát! Họ trở về nhà, cúi đầu bước đi, cái nhìn tắt lịm.
Đức Giêsu ở đó! Trong tình cảnh rất nặng nề mà họ đang chịu đựng. Đức Giêsu đang đi với họ.

Nhưng con mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người.

Trường hợp này thường xảy ra, cả với chúng ta.

Người hỏi họ: "các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy?"

Đức Giêsu quan tâm đến nỗi lo âu của họ. Lạy Chúa, Chúa biết những nỗi vất vả của chúng con và những nỗi tuyệt Vọng của chúng con. Chúng con biết rằng Chúa luôn thấu hiểu mọi sự chúng con mang nặng trong lòng mình. Lạy Chúa Giêsu, con để cho Ngài nhìn thấy và hỏi han con.

Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu. Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-pát trả lời: "Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giêrusalem mà không hay biết những chuyện xảy ra trong thành mấy bữa nay". Đức Giêsu hỏi: "Chuyện gì vậy?". Họ thưa: "Chuyện ông Giêsu Na-da-rét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình. và đã đóng đinh Người vào thập giá "

Đức Giêsu để họ trút hết bầu tâm sự. Trước khi ngỏ lời, Người lắng nghe họ thật lâu. Dĩ nhiên. Người là người đầu tiên biết điều gì đã xảy ra, Người không ngắt lời họ nói. Họ thuật lại các biến cố cho nhân vật chính. Đức Giêsu lắng nghe một cách kiên nhẫn.

"Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc ít-ra-en. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi."

Suy sụp, chán nản, tuyệt vọng... Họ không còn trông mong gì Từ nay xin chừa vậy. Như nhiều người, họ đã đi theo Đức Giêsu trong một thời gian nào đó... họ đã tin vào Người đến một mức độ nào đó. Trình độ đức tin của họ không phải hoàn toàn không có gì, chúng ta ghi nhận được điều đó? Họ đã coi Người như một "ngôn sứ , một người phát ngôn cho Thiên Chúa... họ đã thừa nhận đức tính của các "lời nói và hành động" của Người họ chờ đợi sự giải phóng" của Người... Nhưng tất cả chỉ có thế thì quá í, mơ hồ và chưa hoàn chỉnh. Họ chỉ nhìn bề ngoài "vụ việc Giêsu": Những thành công lúc ban đầu và rồi vụ án, khổ nạn, cái chết!

"Thật ta, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói; còn chính Người thì họ không thấy".

Mọi tường thuật của Phúc âm về sự sống lại đều nhất trí về điểm này: Họ không sẵn sàng thừa nhận sự kiện… họ hồ nghi... họ không trông chờ biến cố ấy để sau cùng chính biến cố bắt họ phải thừa nhận. Một ngôi mộ trống. Những người đàn bà lo lắng! Tất cả điều đó không đủ. Mắt họ vẫn còn bị ngăn cản. Còn phải có điều gì để họ có thể nhìn thấy rõ ràng.

Bấy giờ Đức Giêsu nói với hai ông rằng: "Các anh chẳng hiểu gì cả! Lòng trí các anh chậm tin vào lời các ngôn sứ!

Đức Giêsu kêu gọi đến đức tin. Người đề nghị với họ một cách giải thích khác về vụ việc Giêsu. Đức Giêsu không chối bỏ các sự kiện: Sự kết án của các thủ lãnh, vì vậy, cái chết trên thập giá, đúng vậy... Nhưng nếu người ta chiếu rọi trên các sự kiện ấy một ánh sáng khác!

nếu người ta thử đưa ra một lời giải thích khác! Nếu người ta thử soi sáng mọi điều đó bằng đức tin! Nếu như Thiên Chúa hiện diện nơi mà người ta không chờ đợi, trên thập giá thì sao?

"Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?"

Phải chịu!

Mỗi lần Đức Giêsu nói về thập giá của Người, Người sử dụng ngôn ngữ đó: "Con Người phải chịu đau khổ nhiều" (Lc 9,22). Những chữ đó không diễn tả bất kỳ ý tưởng nào về định mệnh mù quáng, nhưng có nghĩa là biến thập giá dù có làm cho chúng ta hoang mang đến đâu Đức Giêsu vẫn coi đó như sự hoàn thành ý định mầu nhiệm Chúa Cha.

Đức Giêsu không chịu đựng cái chết của Người. Cái chết ấy không phải là một tai nạn, một sự thất bại... nhưng, một phần chủ yếu trong dự án muôn đời của Thiên Chúa: Chẳng phải điều đó đã cần phải xảy ra sao?

"Rồi bắt đầu từ ông Môsê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông nhưng gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh.

Với một sự thanh thản cao cả; Đấng Khách Lạ làm cho hai người bạn nhìn lại những biến cố mà họ vừa nói đến dưới một góc độ khác.

Sách Thánh là ánh sáng cao cả để nhìn đời sống của chúng ta một cách hoàn toàn mới. Đức Gtêsu thực hiện một bài học về chú giải Sách Thánh: Giá mà chúng ta đã có ở đó để lắng nghe Người đích thân giải thích các sách thánh của I-sai-a, Mô sê, các Thánh Vịnh... Cựu ước soi sáng Tân ước. Kinh Thánh dẫn nhập vào Tin Mừng. Dự án của Thiên Chúa được theo đuổi không gián đoạn. Điều được thực hiện nơi Đức Giêsu thì chính Thiên Chúa đã tiên liệu từ trước muôn đời... đã bắt đầu thực hiện trong lịch sử của dân tộc ít-ra-en. Tôi có thường đọc lại Kinh Thánh để thấy rõ hơn trong đời tôi, trong những lúc tôi thất vọng các thất bại các điều tôi đang, tìm kiếm?

Khi gần tới làng họ muốn đến. Đức Giêsu làm như còn phải đi xa hơn nữa. Họ nài ép Người rằng: "Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều và ngày sắp tàn". Bấy giờ Người mới vào và ở lại với họ.

Thế đấy? Không phải việc trình bày học thuyết Kinh Thánh, hay giảng dạy giáo lý do chính Đức Giêsu thực hiện mở được mắt họ ra. Cả với những lớp học dạy học thuyết, người ta cũng không đem lại đức tin! Mặc dù! tất cả những lời giải thích. họ vẫn chưa nhận ra Người. Vậy, phải làm gì? Một sự cởi mở của tấm lòng bắt đầu với sự hiếu khách hoàn toàn đơn sơ của họ: "Mời ông ở lại với chúng tôi ghé nhà chúng tôi dùng bữa...".

Khi đồng bàn với họ. Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất.

Để mô tả cử chỉ cho phép thật sự nhận ra Đức Giêsu, Luca cố ý sử dụng những công thức nhắc lại sự hóa bánh ra nhiều (Luca 9,16) và bữa Tiệc Ly (Luca 22,19). Vào thời của Luca, những cử chỉ ấy được các Kitô hữu đầu tiên sử dụng trong thánh lễ của họ. Đương nhiên không phải bởi sự tình cờ. Từ lâu rồi, người ta đã nhận thấy rằng tường thuật của hai môn đệ trên đường Em-mau trình bày lại sơ đồ bình thường của các thánh lễ: Sau phần "phụng vụ Lời Chúa, chúng ta bước vào phụng vụ bàn tiệc thánh"... Đó là hai kinh nghiệm bổ túc cho nhau để gặp gỡ Đức Giêsu hằng sống.

Họ mới bảo nhau: "Dọc đường. khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?"

Đức Giêsu đã biến mất... Đức Giêsu sống lại ở đây...nhưng như vắng mặt.

Bởi sự biến mất này. Đức Giêsu nhắc nhở rằng từ nay mọi tiếp xúc với Người sẽ được thực hiện trong đức tin: người sẽ hiện diện với họ trên đường... khi lòng họ bừng cháy lên, cho dù họ chưa cảm nhận được Người.

Ngay lúc ấy, họ đứng dậy, quay trở lại Giêrusalem gặp nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó. Những người này bảo hai ông: "Chúa trỗi dậy thật rồ, và đã hiện ra với Simon". Còn hai ông thì thuật lại những việc đã xảy ra dọc đường, và mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh.

Tướng thuật này trên bình diện văn chương được xây dựng tuyệt vời, và cũng hoàn toàn hài hòa trên bình diện thần học: Ngày hôm nay, Đức Giêsu hằng sống vẫn luôn luôn "gây bất ngờ" và sự tiếp cận của Người mầu nhiệm, khó lường... Đức Giêsu thình lình biến mất và không giữ lại được bởi vì từ nay Người thuộc về thế giới của Thiên Chúa, thế giới của "chỗ khác" cho dù Người vẫn ở trên những nẻo đường mà con người đang đi nhưng người "ẩn giấu. Người ta chỉ có thể gặp gỡ Đức Giêsu trong việc chuyên cần đọc lại Lời Chúa, trong "Dấu chỉ của anh em" được mời gọi và phục vụ và trong "Dấu chỉ của việc bẻ bánh sau hết, người ta không bao giờ gặp gỡ Đức Giêsu mà không gặp gỡ cộng đoàn Giáo Hội tụ họp trong nhà Tiệc Ly nơi Đức Giêsu đã tụ họp các tông đồ để ăn bữa cuối cùng với họ... Vì thế cuộc gặp gỡ riêng tư của Đức Giêsu với hai môn đệ Em-mau được trở nên chính thống nhờ sự gặp gỡ chính thực: Người đã hiện ra với Simon Phêrô.


 
Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

" Hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh"


I / Ý CHÍNH:

Câu chuyện hai môn đệ đi Emmau trong bài Tin Mừng hôm nay, chỉ được một mình Luca thuật lại, để cho thấy rằng Chúa Giêsu muốn hướng dẫn các môn đệ đã vì cớ vấp phạm của Thập giá mà mất niềm tin thì nhờ Kinh Thánh và việc bẻ bánh mà củng cố niềm tin vào Chúa Kitô phục sinh.

II / SUY NIỆM:

1 / " Cùng ngày thứ nhất trong tuần...":

Tức là ngày Chúa phục sinh, ngày mà các môn đệ cũng như các tông đồ đang buồn bã thất vọng vì Thầy mình đã chết, đã chôn và chưa nhận ra Người đã phục sinh.

+ " Có hai môn đệ ": ở đây không cho biết tên nhưng không phải là người trong nhóm 12 tông đồ, vì khi đó ngoài nhóm 12 tông đồ mà Chúa Giêsu tuyển chọn riêng, còn có những nhóm môn đệ khác nữa.

+ " Emmau": chưa biết rõ nơi nào nhưng người ta nghĩ đây là làng Amva cách Giêrusalem chừng 30km về phía Tây.

2 / " Dọc đường các ông nói với nhau về những việc...":

Chứng tỏ biến cố thương khó và tử nạn của Chúa Giêsu là mối bệnh tâm sâu đậm cho các môn đệ, đến nỗi dù trong sự thất vọng, các ông cũng không thể nào nghĩ tới, không bàn tới, khi có cơ hội, nhất là lúc đi đường với nhau.

3 / " Chính Chúa Giêsu tiến lại cùng đi với họ...":

Ơ đây Luca muốn nhấn mạnh rằng Chúa Giêsu không quan tâm đến việc làm cho các môn đệ này, là những người không phải là những chứng nhân chính thức của cuộc phục sinh của Chúa, xác tín về tính cách thể lý của sự sống lại cho bằng đoán chắc với họ rằng cuộc tử nạn của Chúa Giêsu chẳng làm họ vắng bóng Người đâu. Người hiện diện đích thực cùng đi với họ, nhưng họ chưa nhận ra là vì họ chưa có niềm tin vào cuộc phục sinh của Người đó thôi, chứ thực ra Người vẫn hiện diện với họ, như là sự hiện diện có tính cách vô hình mà từ nay trở đi không thể nhận ra bằng khả giác, nhưng chỉ nhận ra bằng đức tin mà thôi.

4 / " Các ông có chuyện gì vừa đi vừa trao đỏi...":

Qua câu hỏi này Chúa Giêsu phục sinh một đàng muốn tìm cách bắt chuyện với hai ông, dàng khác muốn hai hướng biến cố mà các ông đang bận tâm cách buồn bã về Người để Người hướng dẫn và soi đường cho.

5 / " Có lẽ ông là khách hành hương duy nhất...":

Ơ đây hai môn đệ coi Chúa Giêsu như là khách hành hương đến Giêrusalem trong dịp lễ vừa qua, và một người khách có vẻ lãnh đạnh đối với biến cố vừa mới xảy ra trong thành mấy ngày nay.

6 / " Người là vị Tiên tri có quyền lực...":

Cho đến lúc này chứng tỏ các môn đệ vẫn coi Chúa Giêsu như một vị Tiên tri thôi, nhưng là một vị Tiên tri có quyền lực trong hành động là các phép lạ Người làm, và trong ngôn ngữ là những lời Người giảng như kẻ có uy quyền.

7 / " Chúng tôi vẫn hy vọng Người cứu Israel...":

Hai môn đệ Đấng Cứu Thế theo nghĩa thế gian riêng cho Israel, trong khi Chúa cứu chuộc muôn dân. Vì hy vọng hão huyền như vậy nên chưa thấy Chúa thực hiện như kiểu họ muốn.

8 / " Các việc ấy xảy ra đã đến ngày thứ ba":

Ơ đây biểu lộ tâm trạng thất vọng và hoang mang lo sợ của hai môn đệ.

- Thất vọng vì Chúa Giêsu bị nhà cầm quyền Israel kết án tử hình Thập giá và vì đã ba ngày sau vụ đóng đinh rồi mà Thiên Chúa chẳng can thiệp gì để cứu giúp vị Tiên tri.

- Hoang mang lo sợ vì cho dù các phụ nữ và các tông đồ đã chứng kiến mồ trống và cho dù Thiên thần có hiện ra bảo rằng " Người đang sống" thì cũng chưa nhận thấy Người phục sinh.

9 / " Ôi kẻ khờ dại chậm tin các điều Tiên tri đã nói ":

Qua lời nói có vẻ cứng rắn nhưng kỳ thực đầy tình âu yếm này, Chúa Giêsu muốn gợi lên cho hai môn đệ nhớ lại Kinh Thánh về những điều mà các Tiên tri đã nói về thân phận Đấng Cứu Thế.

10 / " Chớ thì Đấng Cứu Thế Kitô chẳng chịu đau khổ":

Ở đây Chúa Giêsu nhắc lại lời Người đã loan báo trước đây về số phận Đấng Cứu Thế: " Con Người sẽ phải đau khổ nhiều, sẽ bị các trưởng lão và các văn sĩ chê chối, sẽ bị giết nhưng ngày thứ ba sẽ sống lại"(Lc9, 22 xem thêm Lc17, 25).

11 / " Đoạn Người bắt đầu từ Maisen đến ":

Ở đây Chúa Giêsu giải thích cho hai ông về Đấng Cứu Thế: Người nêu tên ông Maisen là có ý chỉ lề luật. Lề luật và các Tiên tri làm thành những phần chính yếu của Kinh Thánh ( Lc16, 16. 29 - 32; 24, 44; Cv 24, 14; 28, 32 ). Đó là các phần Kinh Thánh thường được đọc ở hội đường ( Cv 13, 15. Đnl 18, 15 ) được trích dẫn trong Công vụ 3, 22 và Is53 nói về người tôi tớ đau khổ. Mục đích việc giải thích Kinh Thánh ở đây là để làm chứng về cuộc tử khổ nạn và phục sinh của Chúa Giêsu Kitô.

12 / " Người giả vờ đi xa hơn nữa":

Đây là cử chỉ có tính cách đề nghị và mời gọi hai môn đệ đón nhận Người. Đức tin do Thiên Chúa khởi xứng, nhưng con người tự do đáp trả của lòng ao ước nài xin và tin nhận.

13 / " Nhưng hai môn đệ nài ép Người ở lại...":

+ Đây là cách đãi khách theo kiểu người Palestin, cũng như người Á Đông ta ( Nhưng người Âu Châu không thích nài ép như vậy ). Đồng thời thêm lý do nữa là vì các ông nghe giải thích Kinh Thánh đang thích thú nên muốn mời Người về nhà để được tiếp tục nghe thêm.

+ " Trời đã về chiều và ngày sắp tàn"
:
Đây là cách nói cho có văn hoá để lấy cớ mời khách, chứ thực ra lúc đó trời còn sớm vì sau bữa ăn ngay chiều hôm đó và trước khi trời tối, các ông còn đủ thời giờ trở lại Giêrusalem để tường thuật sự việc cho các Tông Đồ

14/ "Đang khi cùng các ông ngồi bàn…".:

+ Ở đây thánh sử Luca có ý dùng kiểu nói về phụng vụ Thánh Thể (Lc 22,19.9.16) và vì thế ta có thể nghĩ rằng: Chúa Giêsu muốn diễn lại buổi Tiệc ly để ta nhận thấy chính nhờ việc bẻ bánh (Cv 2.46; 20,7.11) tức là Thánh Lễ, mà các môn đệ đã gặp được Chúa phục sinh, như trường hợp các môn đệ đi Emmau ở đây.

+ "Mắt họ sáng ra và nhận ra Người":

Đây là kiểu nói có ý diễn tả chính Chúa Giêsu đã mở mắt đức tin cho các ông tương tự như trường hợp trong Cv 16,14. Thiên Chúa mở lòng Lyđia cho bà chú ý vào các điều Phaolô giảng dạy và sau đó bà đã được rửa tội. Và như vậy cả trình thuật này (Lc 24,13-15) phác hoạ tất cả tiến trình của những tâm hồn đi từ trạng thái hoài nghi đến đức tin và từ đức tin đến các Bí Tích.

15/ "Đoạn Người biến mất":

"Biến mất" ở đây theo nghĩa khả giác. Chính sự "biến mất" này khiến cho hai môn đệ nhận thức rằng Chúa Giêsu không những hiện diện chắc chắn với hai ông cho dù từ này về sau sự hiện diện ấy sẽ thường mang tính cách vô hình, mà còn hiện diện với họ từ đây trong chính Bí Tích Thánh Thể nữa.

16/ "Phải chăng lòng chúng ta đã chẳng sốt sắng":

Ở đây muốn diễn tả rằng nhờ việc nghe giải thích Kinh Thánh, hiểu được ý nghĩa cái chết của Thầy mình nên đang thất vọng và hoang mang lo sợ, các ông bỗng cảm thấy lòng mình phấn khởi, an tâm và vui mừng.

17 / " Ngay lúc ấy họ chỗi dạy trở về Giêrusalem ":

Việc nhận ra Chúa Giêsu phục sinh đã làm cho hai môn đệ biến đổi từ chỗ thất vọng sang hy vọng, từ chỗ hoang mang lo sợ sang vui mừng phấn khỏi, khiến hai ông mau mắn trở về Giêrusalem trên quãng đường dài 30km để báo tin cho các tông đồ và các môn đệ khác.

18 / " Họ bảo hai ông... hai ông cũng thuật lại...":

Ở đây Luca thuật lại việc trao đổi về việc Chúa Giêsu phục sinh, giữa nhóm 11 tông đồ đang họp cùng với các bạn khác, với hai môn đệ làng Emmau, để nói lên hoạt động của Thiên Chúa rất gần gũi với con người, kể cả hoạt động quan trọng nhất là sự phục sinh của Chúa Giêsu Kitô.

III / ÁP DỤNG:

A/ Áp dụng theo Tin Mừng:

Qua bài Tin Mừng hôm nay Giáo Hội nhắc nhủ chúng ta về sự hiện diện của Chúa nơi Thánh Kinh và Bí tích Thánh Thể, đòi hỏi chúng ta phải nhận ra Người bằng đức tin vì Người hiện diện cách vô hình khiến khả giác chúng ta bất lực trong việc nhận ra Người.

B/ Áp dụng thực hành:

1 ) Nhìn vào Chúa Giêsu:

+ Chúa Giêsu cùng đi với hai môn đệ thế mà các ông không nhận ra Người chỉ vì các ông chưa tin nhận Chúa phục sinh. Niềm tin vào Chúa phục sinh giứp chúng ta xác tín rằng Chúa Giêsu tuy khuất mắt xác thịt chúng ta, nhưng Người hành động giữa chúng ta và chỉ nhờ đức tin sống động thực sự chúng ta mới khám phá ra sự hiện diện vô hình của Chúa. Đức tin cần được nuôi dưỡng bằng các Bí tích, việc học hỏi, suy gẫm và cầu nguyện.

+ Chúa Giêsu cùng đi với các môn đệ trên đường Emmau là mẫu gương cho sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời lữ hành về quê trời của mỗi người chúng ta. Chúng ta phải biết lắng nghe lời, Chúa bằng cách học hỏi, tìm hiểu và suy niệm Kinh Thánh đốt nóng tâm hồn và mở mắt đức tin để nhận ra Chúa bẻ bánh tức là Thánh Thể.

+ Chúa Giêsu muốn giả vờ đi xa hơn nữa là có ý kích thích lòng ao ước của hai môn đệ Người. Chúa Giêsu muốn gặp gỡ những ai biết xin, mời gọi và tiếp đón Ngài. Vì thế muốn được gặp Chúa chúng ta phải hết lòng, hết sức tìm kiếm, ước ao và kêu mời người ta trong kinh nguyện, trong suy niệm và trong hoạt động tông đồ.

2 ) Nhìn vào hai môn đệ đi Emmau:

+ Cuộc gặp gỡ giữa hai môn đệ và Chúa Giêsu trên đường đi Emmau là hình ảnh của một cuộc tĩnh tâm: trong đó chính Chúa Giêsu là vị giảng thuyết đã từ từ làm biến đổi hai môn đệ theo ba giai đoạn:

* Lúc chưa nhận ra Chúa: họ trao đoỏi với nhau trong sự buồn bã.

* Lúc tin: họ hận ra Chúa bẻ bánh.

* Sống niềm tin: chỗi dạy đi về gặp các tông đồ.

+ Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và hai môn đệ ở đây là biểu hiện của một thánh lễ.

+ Phần phụng vụ Lời Chúa: hai môn đệ thảo luận với nhau và Chúa Giêsu giải thích Thánh Kinh cho họ nghe. Họ như những người dự tòng lãnh nhận huấn dụ đầu tiên và mở rộng lòng đón lấy đức tin.

+ Phần phụng vụ Thánh Thể: khi tâm hồn đã được bài giáo lý Kinh Thánh đầu thánh lễ chuẩn bị, họ tham dự việc bẻ bánh, Chúa Giêsu trở nên hiện diện và mắt họ mở ra. Họ rước lễ thiêng liêng vì đã gặp được Chúa.


 
Lm Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc - Bài Giảng Lễ

Người bạn đồng hành


Nói đến những người không nhà không cửa, người ta thường nhắc đến cha Henri Groués quen được gọi tắt là cha Pierre, người đã sáng lập cộng đoàn Emmau giúp những người bần cùng tự tay xây dựng cuộc sống của ho.

Phong trào cộng đoàn Emmau khởi sự bằng một căn nhà đổ nát ở vòng đai của thành phố Paris vào hồi đệ nhị thế chiến. Những người khách đầu tiên của tổ ấm nàylà các thanh thiếu niên bụi đời, những người khong nhà không cửa, hoặc các tù nhân vừa được phóng thích.

Câu nói đầu tiên của cha Pierre với những người mới đặt chân đến cộng đoàn là: "Bạn không được may mắn, nhưng tôi cần bạn để giúp đỡ những người khác…" Dù khổ sở dến đâu, ai cũng muốn người khác nhìn nhận giá trị của mình, ai cũng muốn trở thành hữu ích cho người khác. Đó là niềm tin mà cha Pierre luôn khơi dậy nơi những người đã mất tất cả hy vọng.

Cha Pierre đặt tên Emmau cho cộng đoàn của cha là dể nhớ lại câu chuyện hai môn đệ của Chúa Giêsu trong buổi chiều Phục sinh. Cũng như hai môn đệ này,giữ lúc họ tưởng như mất tất cả, Chúa Giêsu đã hiện đến mang lại niềm tin cho họ. Cũng thế, cha Pierre và những người bạn đầu tiên của ngài đã tìm gặp được hứng khởi, niềm tin yêu giữa những mất mát ê chề của cuộc sống.

"Tạo lại niềm hy vọng vào cuộc sống", đó là khẩu lệnh của Cha Pierre, và xây dựng lại niềm hy vọng đó từ những đổ nát, mát mát. Chính vì thế mà cộng đoàn Emmau chủ truong đi thu nhặt lại các đồ phế thải, các vật dụng cũ kỹ- giấy rác, ve chai, bao bì nylon, lông hộp v.v… để chế biến và bán lại như một sản phẩm do chính tay minh làm nên.

Hiện nay phong trào Emmau đã có mặt tại 50 quốc gia trên thế giới với khoảng 290 cộng đoàn. Tất cả những người trong cộng đoàn đều sống với niền hy vọng từ những đổ nát và mất mát trong cuộc sống.

Anh chị em thân mến,

Tin mừng của Thánh Luca hôm nay thuật lại rằng, buổi chiều hôm đó có hai môn đệ của Chúa Giêsu lên đường đi Emmau trở về làng cũ của họ. Cái chết của Chúa Giêsu là một chầm hết đối với họ:hết mong "công hầu khanh tuóng", hết giấc mơ của một nước Israel thịnh vượng, hết mong hy vọng. Trở về làng cũ tức là trở về với thất vọng ê chề. Nhưng cũng chính lúc đó, chúa Giêsu đã hiện ra với họ, cái chết mang một ý nghĩa mới, mất mát đã trở thành khởi đầu của lợi lộc, thất bại đã trở thành khởi điểm của thành công,buồn phiền đã biến thầnh viu mừng hân hoan. Ánh sáng Phục sinh của Chúa Giêsu đã mặc cho mọi biến cố của cuộc sống một ý nghĩa mới. Tin tưởng lạc quan để trở thành nhân đúc cơ bản của đời Kytô.

Ở bất cứ nơi đâu và ở bất cứ thời đại nào, sau một lần đổ nát, người ta thường hát lên điệp khúc: " Hãy xây dựng lại từ đổ nát!".Đó là niềm tin mà hơn bát cứ lúc nào chúng ta cần phải bám lấy… Bạn đang sầu khổ vì những mất mát ê chề trong cuộc sống ư? Bạn đang cảm thấy mình ở dưới vực thẳm của tội lỗi ư? Chúa Giêsu của làng Emmau đang nói với bạn:Đừng thất vọng! Ngái đang đồng hành với bạn, và với Ngài , bạn có thể xây dựng được một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Thưa anh chị em,

Nếu ngày xưa, hai môn đệ Emmau đã nhận ra Chúa khi Ngài ngồi vào bán ăn bẻ bánh trao cho hai ông, thì hôm nay nơi Bàn Tiệc thánh này, Ngài cũng làm lại cử chỉ đó để chúng ta nhận ra Ngài đang sống và hiện diện giữa chúng ta, với chúng ta, trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời. Và sau khi vui mừng nhận ra Chúa đã sống lại, hai ông đã vội vã ra đi gặp anh em để thông đặt niềm vui và niềm tin yêu nơi họ. Cũng vậy, sau khi hiệp lễ, chúng ta được sai phái ra đi đem Tin Mừng Chúa sống lại, đem niềm vui Phục sinh đến các anh em đang đau khổ, buồn sầu, chán nản, thất vọng, để mọi người cùng chia sẻ niềm tin Thiên Chúa vẫn là người bạn đồng hành của con người, Ngài vẫn cảm thông những ưu tư,đau khổ của con người, Ngài đang hoạt động với con người. Chỉ có con người không nhận ra Ngài, không biét lắng nghe Lời Ngài và không giữ Ngài ở lại với mình khi ngày đã xế bóng và màn đêm tăm tối đang bao phủ mặt đất, che khuất ánh mặt trời. Vì trong đêm tối, người ta khó tin có mặt trời, nhưng sự thực mặt trời vẫn luôn có đó. Trong đau khổ, người ta khó tin có Thiên Chúa, nhưng sự thực Thiên Chúa vẫn luôn có đó, vì Chúa Kitô đã ssống lại và đang sống ben cạnh chúng ta giữa những đêm tối, giữa những khổ đau, mặc dầu chúng ta không trông thấy Ngài.

Anh chị em,

Hãy nhận ra sự gần gũi thân thương của Chúa Giêsu trong Lời Chúa vầ Thánh Thể chúng ta chia sẻ cho nhau mỗi lần họp mặt mừng Chúa sống lại. Và cùng với Ngài, chúng ta ra đi đem Tin Mừng phục sinh, niềm vui và hy vọng làm nền cho cả cuộc đời của mọi người kitô hữu./.

 
Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng - Bài Giảng Lễ

TRÊN ĐƯỜNG ĐỜI
T
rong Chúa nhật III Phục sinh này, chúng ta được mời gọi đi cùng hai môn đệ trên đường Emmau để cũng như họ, chúng ta lột bỏ đi sự mù lòa đức tin hầu nhận ra Chúa Giêsu Phục sinh đang đồng hành với mình trên đường đời. Trên đường đời hôm nay nhiều người cũng giống như hai môn đệ khi xưa bước đi với đôi chân trĩu nặng, tâm hồn chán nản, ý chí thất vọng, để rồi không thấy được Chúa đang đồng hành với mình. Tất cả là do kém đức tin.

Chúng ta cầu nguyện cho bản thân, cho mọi người biết nhận ra Chúa trên đường đời của mình.

I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

1. Bài đọc I: Cv 2,14.22-33

Bài giảng của Thánh Phêrô sáng ngày Lễ Ngũ tuần

Bản văn tuyên đọc được trích từ bài giảng của Thánh Phêrô vào sáng ngày Lễ Ngũ tuần. Thánh nhân đã minh chứng cho người Do Thái tụ tập trước nhà tiệc ly thấy rằng Chúa Giêsu chính là Đấng Messia mà Thiên Chúa đã hứa với tổ tiên họ. Trong cái chết của mình, Chúa Giêsu đã thực hiện công trình cứu độ nhân loại của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã phục sinh và ban tặng vinh quang cho Người.

a. Các thính giả nghe Phêrô hầu hết là người Do Thái, nắm rõ thế nào là tiên tri và hiểu thế nào là Đấng Messia.

b. Nhưng chắc chắn họ không hiểu nổi mầu nhiệm nơi Đức Kitô Phục sinh. Phêrô nói cho họ ý nghĩa chính xác bằng cách giải thích một Thánh vịnh của Đavít (Tv 16,8-11).

c. Tin vào Đức Kitô Phục sinh sẽ trổ sinh hoa trái niềm vui, niềm hy vọng ngay trong thử thách và đau khổ.

2. Bài đọc II: 1Pr 1,17-21

Được cứu chuộc nhờ Đức Kitô

Trong phần đầu của lá thư, Thánh Phêrô giải thích rằng Kitô hữu phải mạnh mẽ can đảm sống thánh thiện vì đã được trả bằng giá máu của Chúa Kitô.

a. Kitô hữu được giải phóng khỏi ách nô lệ của tội lỗi, của quyền lực ma quỉ và của sự chết không phải bằng vàng bạc hay châu báu vật chất như các nô lệ dùng để mua lại sự tự do, nhưng được giải phóng bằng chính Máu của Đức Kitô.

b. Thánh Phêrô kết luận với việc áp dụng: "Sống trong sự kính sợ Thiên Chúa". Sợ ở đây không theo nghĩa là kinh hãi Thiên Chúa giáng phạt, nhưng theo nghĩa phải bạn tâm lo lắng sợ mất đi tình thân hữu với Thiên Chúa.

c. Nhờ Đức Kitô Phục sinh, chúng ta tin vào Thiên Chúa, hy vọng phó thác tất cả cuộc sống nơi tay Ngài. Đó là tất cả lẽ sống của Kitô hữu.

3. Tin mừng: Lc 24,13-35

Hai môn đệ trên đường Emmau

Đây là một trình thuật tuyệt vời về sự hiện ra của Đức Kitô Phục sinh với các môn đệ đang thất vọng, ưu sầu và khổ đau vì cái chết của Thầy mình. Người hiện ra đã mở trí, mở lòng, mở mắt để các ông hiểu Kinh thánh, hiểu Bí tích Thánh thể.

a. Việc Chúa Giêsu hiện ra với hai môn đệ trên đường Emmau không nhằm mục đích cho họ xác tín về tính cách thể lý của sự phục sinh nhưng là bảo đảm rằng tử nạn không làm vắng bóng Người. Và từ đây Người sẽ có cách thế hiện diện khác, sự hiện diện vô hình. Chính vì thế, điểm nhấn của câu chuyện ở chỗ: khi đi cùng thì các ông không nhận ra Người, nhưng khi đã nhận ra Người thì Người biến mất.

b. Việc Chúa Giêsu cầm lấy bánh không chắc là Người tái diễn bữa tiệc ly. Nhưng ở đây Thánh Luca dùng từ ngữ có tính cách thánh thể (x.22,19) để cho mọi người thấy rằng chính việc bẻ bánh giúp nhận ra Đấng Phục sinh.

c. Sự hiện diện của Chúa Giêsu Phục sinh với Giáo hội, với các môn đệ của Người ngày nay chính là nơi Lời của Người và nơi Bí tích Thánh thể. Đó chính là các cách thế hiện diện mới của Đấng Phục sinh thay cho sự hiện diện thể lý xác thịt.

II. GỢI Ý BÀI GIẢNG

1. Chuyện trên đường Emmau, chuyện của Kitô hữu hôm nay:

Hai môn đệ trên đường Emmau mang nặng một tâm trạng buồn phiền thất vọng. Bao nhiêu hy vọng nơi Thầy của mình đã tan theo mây khói với cái chết tức tưởi nhục nhã của Thầy trên thập giá. Tâm trạng đó cũng không có gì là lạ với kiểu cách suy nghĩ của người trần tục. Nhưng với Thiên Chúa thì hoàn toàn khác, bởi thế Chúa Giêsu đã hiện ra đi đường đàm đạo với các ông. Người đã dùng lời Kinh thánh để điểm nhãn cho các ông hiểu vấn đề theo cách nhìn của Thiên Chúa trước các sự kiện. Khi nghe Chúa giải thích Kinh thánh, lòng các ông đã bừng cháy lên để rồi đã nhận ra Chúa và lấy lại tinh thần, lấy lại niềm hy vọng khi Người bẻ bánh. Người đã cho thấy Đấng Messia đã phải chịu đau khổ, chịu chết như thế nào rồi mới đi đến vinh quang.

Cuộc đời đức tin của mỗi Kitô hữu cũng giống như hai môn đệ trên đường Emmau, sẽ có những lúc, những giai đoạn trong cuộc sống gặp khó khăn thử thách sẽ buồn bã thất vọng, thậm chí oán trách Thiên Chúa nữa vì đã làm cho mình phải ra nông nỗi thế. Cần phải trau dồi học hỏi lời Chúa để hiểu được ý nghĩa, giá trị của đau khổ chứ đừng vội bi quan chán nản. Cần phải gắn bó với Chúa Giêsu Thánh thể để nhận ra trong mọi biến cố của cuộc sống, trên mọi nẻo đường chúng ta đi, Người luôn luôn hiện diện và đồng hành cùng mình.

2. Sự hiện diện nhiệm mầu của Chúa Giêsu Phục sinh:

Điều thú vị trong trình thuật hai môn đệ trên đường Emmau ở chỗ: khi Chúa đồng hành đàm đạo với mình thì hai ông không nhận ra Chúa; còn khi đã nhận ra Người thì Người lại biến mất. Sự kiện này giúp các ông lấy lại niềm tin và hy vọng; niềm vui và bình an để quay lại Giêrusalem tìm các Tông đồ cho dù không thấy Chúa nữa nhưng các ông vẫn thấy Người đang hiện diện với mình. Đôi mắt đức tin của các ông đã sáng lên. Giờ đây họ nhận thấy Chúa hiện diện cách nhiệm mầu và rất thực không phải là điều hão huyền. Trong cuộc sống đức tin của Kitô hữu chúng ta cần phải dùng con mắt đức tin để nhận ra sự hiện diện nhiệm mầu của Thiên Chúa. Thiên Chúa như vừa xa lại vừa gần. Xa vì con mắt xác thịt không thể thấy; gần vì con mắt đức tin lại thấy rất rõ Người đang đồng hành, đang ở trong chính mình và tha nhân. Chính những lúc tưởng như rất gần Chúa, như các môn đệ: lòng chúng ta chẳng bừng cháy lên đó sao khi nghe Người giải thích Kinh thánh, lại là lúc con người xa Thiên Chúa vì không nhận ra Người. Không hiếm những lần đọc kinh, đi lễ rất sốt sắng, rất nhiệt thành đạo đức, nhưng rồi sau đó lại thấy khô khan, nguội lạnh, lại thấy chán nản ưu sầu.

Thế nhưng, nếu có niềm tin tưởng thì cho dù có khó khăn thử thách đến đâu vẫn luôn trọn một niềm cậy trông phó thác, một niềm tin tưởng vững vàng, vẫn tìm được niềm lạc quan hy vọng vì biết rằng Chúa đang ở với mình. Chúng ta có cảm nghiệm được điều này không?

3. Tìm kiếm Thiên Chúa theo cách thế của Thiên Chúa:

Nhờ được Chúa Giêsu giải thích Kinh thánh, hai môn đệ trên đường Emmau đã có một não trạng khác, đã nhận ra Người để rồi thay đổi cách sống, thay đổi cuộc đời của mình. Họ đã loại bỏ đi não trạng đau buồn, thất vọng của mình để thay bằng quan điểm của Thiên Chúa. Muốn tin, muốn tìm kiếm Chúa Giêsu Phục sinh trong cuộc đời của mình phải chấp nhận từ bỏ nếp suy nghĩ, kiểu lý luận của con người để đi vào cách thế của Thiên Chúa. Phải đi vào trong kế hoạch của Thiên Chúa, phải để Ngài hướng dẫn. Khi ấy mọi sự sẽ trở nên dễ dàng, sẽ thành niềm vui khám phá sâu xa và sẽ là một cuộc đổi đời, lên đời ngoạn mục trong cuộc sống đức tin.

Học hỏi Kinh thánh được giải thích đúng đắn theo sứ điệp Vượt qua; năng đón nhận Mình Máu Thánh Chúa là những cách thế mà Thiên Chúa dùng để giúp con người khám phá và gặp gỡ Đấng Phục sinh trong đời thường.

III. LỜI NGUYỆN TÍN HỮU:

Mở đầu: Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu Phục sinh vẫn đang hiện diện sống động với chúng ta nơi lời của Người và nơi Bí tích Thánh thể. Trong niềm tin tưởng cậy trông, chúng ta cùng dâng lời cầu nguyện.

1. Giáo hội, nhiệm thể của Chúa Giêsu là một trong những cách thế hiện diện sống động của Chúa Giêsu Phục sinh với nhân loại. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi thành phần trong Giáo hội luôn sống đúng với phẩm giá Tin mừng, để qua đó, con người và thế giới hôm nay nhận ra tình thương cứu độ của Thiên Chúa.

2. Ngày nay biết bao người đang rơi vào thảm trạng bi quan, thất vọng, không tìm được ý nghĩa cuộc đời. Chúng ta cùng cầu nguyện cho tất cả gặp được ánh sáng của Chúa soi chiếu nơi Giáo hội, nơi Kitô hữu chung quanh và nơi các biến cố trong đời, để ai nấy tìm được niềm an vui, hy vọng và can đảm.

3. Kitô hữu chúng ta có lời Chúa, có Thánh thể và Giáo hội là những cách thế để nhận ra và đón Chúa. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta biết nhìn nhận ra thánh ý Chúa nơi các biến cố trong cuộc sống theo ánh sáng của Tin mừng, để mau mắn thi hành.

Lời kết: Lạy Chúa Giêsu, Đấng Phục sinh, chúng con vui mừng cảm tạ Chúa đã luôn hiện diện và đồng hành cùng chúng con trong cuộc lữ hành trần thế. Xin soi lòng mở trí chúng con để tất cả biết sống đúng theo lời Chúa. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.

 
Hành Trang Mục Vụ - Khoá 10 ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn