Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật III Phục Sinh B

Tin mừng LC 24: 35-48: Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Chúa Giêsu hiện ra lần thứ ba với các tông đồ tại nhà Tiệc ly . Lần này Chúa Giêsu muốn tỏ ra cho các tông đồ phải xác tín về sự phục sinh của Người để các tông đồ sẽ phải làm chứng về điều đó .

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

NGÀY 15 THÁNG 04 NĂM 2018

CHÚA NHẬT III PHỤC SINH B


 
Cv 3,13-15.17-19 ; 1Ga 2,1-5 ; Lc 24,35-48
 
Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải
 
CHÚA GIÊSU HIỆN RA CHO CÁC SỨ ĐỒ

 
CÂU HỎI GỢI Ý

1. Do đâu mà các môn đồ thiếu đức tin? Sự thiếu đức tin này có sâu xa không?

2. Đâu là vai trò của các dấu chỉ và các lần hiện ra đối với việc phát sinh đức tin của các môn đồ?

3. Theo chứng từ của Chúa Giêsu, thì nguồn gốc duy nhất lẽ ra phải khơi dậy đức tin của các môn đồ là gì ?

4. Vì lý do nào Chúa Giêsu vẫn tỏ mình ra cho các môn đồ? Phải chăng để an ủi họ? Nhưng sao lại hiện ra ngắn ngủi thế?

5. Mc 16, 13 quả quyết các sứ đồ đã không tin hai môn đồ Emmau, khi hai ông này kể rằng Chúa Giêsu đã hiện ra với họ trên đường. Lc 24,33-34 thì nói ngược lại. Ai có lý?

1. "Buổi sáng ngày thứ nhất", các môn đồ đã không tin vào Chúa Giêsu. Thật vậy, họ đã không tin đến nỗi chẳng nhận ra Người khi Người hiện ra cho họ. "Mắt họ bị che không nhận ra Người" (c.16): Nhận xét này đúng đối với các môn đồ tụ họp tại nhà Tiệc ly cũng như đối với hai người lữ khách Emmau. Dĩ nhiên đây không phải là một hành động lạ lùng của Thiên Chúa che mắt họ, nhưng chỉ vì đức tin họ thiếu. Các nét mặt chẳng còn giúp họ nhận ra được người Chúa Kitô nữa dù là trước đây họ đã từng quen thuộc, dù họ là các sứ đồ, các môn đồ khác hay Maria Mađalêna (x. Lc 24,16; 24,37t; Ga 20,14). Hai môn đồ emmau vẫn tiếp tục xem Chúa Giêsu thật là một ngôn sứ, một vị đại ngôn sứ nữa, ngang hàng với Môisen (c. 19), một ngôn sứ song chẳng có phải là Đấng Ngôn sứ (x Đnl 18,15). Như người Do thái vẫn bảo: "Abraham đã chết và các ngôn sứ cũng vậy" (Ga 8,52). Chúa Giêsu chỉ là một trong các vị đó mà thôi. Như Dacaria kia đã bị giết giữa bàn thờ và cung thánh (Lc 11,50-51), "Giêsu Nadarét" cũng đã bị người Do thái giết đi (24, 19-20). Thất vọng biết chẳng nào! khi xuất khỏi Ai cập, Môisen đã tỏ ra là một người "quyền năng trong việc làm và lời nói": ông dã giải phóng Israel khỏi nô lệ Chúa Giêsu, qua các "công việc (phép lạ) và giáo huấn đầy hứa hẹn của Người, hình như đã tỏ ra không thua gì Môisen; người ta vẫn hy vọng rằng đến lượt người, người sẽ giải thoát Israel (c.21) khỏi sự thống trị của ngoại bang, mà lần này là của người Rôma. Họ quả không biết đến sứ mệnh đích thực của Chúa Kitô (x. Lc 9,31). Vì vậy, cái chết của Người, cái chết cứu chuộc thế gian, bị xem như là một thất bại vô Phương cứu vãn. Vì nỗi mong chờ của các môn đồ không khác chi nỗi mong chờ của toàn dân Israel (cho đến cả lúc Thăng thiên ! x. Cv 1,6), nên niềm hy vọng của họ về một sự cứu thoát có tính cách trần tục và chính trị từ nay rõ ràng tiêu tan.

Họ rất buồn bã (c. 17). Khi Maria Mađalêna đứng khóc bên mồ, nguyên nhân sầu muộn của bà là tình yêu đối với Thầy dấu ái (Ga 20,11-15). Còn nguồn gốc sầu muộn của các môn đồ thì khác hẳn và đã bị Chúa Giêsu quở trách; "Hỡi những kẻ ngu độn và trí lòng chậm tin . . . Sao lại hoảng hốt? Sao lại có những mối nghi ngờ như thế nảy lên trong lòng các ngươi" (cc. 25.38) (Mt 28, 17 cũng như đoạn cuối Mc 16,14 có nghi lại những mối nghi ngờ này). Trước đó, trong suốt sứ vụ của Người, Chúa Giêsu dã từng quở trách họ thiếu đức tin, "chẳng hạn như lúc gặp bão trên hồ: "Sao các ngươi nhát đảm như vậy, quân yếu tin?" (Mt 8,26). Nguy cơ và việc Chúa Giêsu tỏ quyền năng Người lẽ ra đã cho họ bài học là: như ngày xưa Người đã ngủ trong thuyền thì bây giờ trên thập giá cũng thế, Người chỉ ngủ trong một vài giờ thôi. Người chỉ nghỉ ngơi trong mộ (x. Lc 23,46; 8,52; Ga 11,11) nhưng "Người đã thức dậy rồi" (Lc 24,6: động từ egeiro có nghĩa đầu tiên là "thức dậy" bởi đó mà ra nghĩa "phục sinh").

" Từ khi mai táng Chúa Kitô, các môn đồ không tin nữa.

Họ còn từ chối tin khi các phụ nữ đến báo tin là ngôi mộ trống trơn và các thiên thần đã hiện ra với các bà mà bảo rằng Người đang sống (c.23). Chỉ mình Phêrô (và Gioan theo Ga 20,2(t) xem ra hơi bị lung lạc và chạm đến mồ để đích thân kiểm chứng. Ông nhận thấy xác Chúa Giêsu không có đó nữa. Chỉ còn những khăn liệm. Nhưng Phêrô vẫn không vì đó là xác tín hẳn (c.12). Vì nói cho đúng, ngôi mộ trống chẳng phải là một bằng chứng Sống lại nhưng là một dấu chỉ mà thôi.

2. Các dấu chỉ không vô ích, trái lại đóng một vai trò quyết định trong việc khai sinh đức tin. Chúng cũng có vẻ rất cần thiết để nhận ra được Chúa Giêsu sau khi người sống lại. Nhưng tùy theo dữ kiện nội tâm của mỗi người mà các dấu chỉ sáng sủa nhiều hay ít. Đối với người nữ tội lỗi đầy lòng yêu mến, chỉ cần Chúa Giêsu gọi đích danh bà : "Maria" là đủ (Ga 20, 16). Đối với Gioan thì chỉ cần ngôi mộ trống (Ga 20,8) hay mẻ cá lạ lùng (Ga 21,4-7). Đối với hai môn đồ Emmau thì đó là lúc bẻ bánh, Luca bảo vậy. Nhưng chúng ta biết rằng ở đây đặc biệt phải giữ lại ý niệm dấu chỉ, chứ không cần nhấn mạnh tính chất của dấu chỉ được ban (Lc 24,30-35). Đối với các sứ đồ, phải có nhiều dấu chỉ rõ ràng hơn nữa: thấy các vết thương của Chúa Giêsu, động chamn đến thân xác Người, và ngay cả con cá mà Người ăn trước mặt họ (24,39-43).

Việc Chúa Giêsu đích thân xuất hiện đúng ra không được coi là cần thiết, và Người trách mắng các môn đồ là đã chẳng tin trước khi Người hiện ra. Nhưng các lần hiện ra này không loại trừ sự cần thiết của các dấu chỉ, đến nỗi theo một ý nghĩa nào đó, các dấu chỉ có vẻ thiết yếu hơn các cuộc hiện phúc cho những ai tin dù đã chẳng thấy", Chúa Giêsu nói cùng Tôma như vậy (Ga 20,29). Ngay từ trước Phục sinh, các dấu chỉ đã là đường lối thông thường của đức tin rồi (Ga 2,23; 30-31). Ai đứng trước dấu chỉ mà không chịu tin là tự lên án (Ga 12,37). Về điểm này, Tin mừng Gioan làm sáng tỏ điều ít được chứa đựng trong trình thuật Lc 24.

Sự cần thiết của các dấu chỉ bắt nguồn từ sự kiện : việc nhận ra Chúa Giêsu không phải như là việc nhận ra một người nào đó, song là một hành vi đức tin (cc. 34.41). Đây là một nhận thức chẳng dừng lại ở nhân tính của Chúa Kitô. Nếu điểm này đã đúng vào thời gian sứ vụ tại thế của Người thì lại càng đúng hơn nữa sau sự biến đổi của cái chết và của cuộc phục sinh (x. 2 Cr 5, 16).

3. Tuy nhiên, Chúa Giêsu không ngừng quở trách môn đồ mình cũng như người Do thái đã đòi hỏi hay cần các dấu chỉ Vậy thì đâu là mạch nguồn phát sinh đức tin? Luca nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại rõ ràng: chứng từ của Kinh thánh và khi từng ấy là đủ. Từ lâu Môisen, các ngôn sứ, các thánh vịnh ra đã loan báo tất cả những gì vừa được hoàn tất. Chính Chúa Giêsu cũng đã cắt nghĩa điều này cho các môn đồ, nhưng họ chẳng hiểu: "Hỡi những kẻ ngu độn và trí lòng chậm tin vì điều các ngôn sứ đã loan báo . . . Những lời này, Ta đã nói cùng các ngươi khi còn ở giữa các ngươi là phải nên trọn mọi điều đã viết về Ta trong luật Môisen, các ngôn sứ cùng thánh vịnh" (cc. 25.40; x. cc.6-7).

Ý tưởng cho rằng Môisen đã làm chứng về Chúa Kitô thuộc truyền thống Nhất lãm, như các trình thuật biến hình minh chứng. Tuy nhiên Mt và Mc chỉ kể lại rằng Môisen và Elia đã hiện ra, đàm đạo với Chúa Giêsu; trong khi Lc xác định rõ ràng: "Họ nói đến việc ra đi Người sắp hoàn tất tại Giêrusalem", ám chỉ rõ ràng về mầu nhiệm vượt qua (Lc 9,31 ; so sánh 24, 14 .20). Lc còn là người duy nhất đã lưu giữ một lời của Chúa Giêsu nói rằng chứng từ của Môisen và các ngôn sứ cũng có sức thuyết thục như chứng từ của một kẻ sống lại từ cõi chết: "Chúng đã có Môisen và các ngôn sứ, Abraham nói với người phú hộ độc ác của dụ ngôn, chúng hãy nghe các ngài" (Lc 16,27-31). Gioan cũng không kém nhấn mạnh đến tầm quan trọng của chứng từ Môisen về Chúa Giêsu: "Nếu các ngươi tin Môisen, Chúa Giêsu bảo người Do thái, các ngươi đã tin Ta, vì chính về Ta mà ông đã biết. Nhưng nếu chữ viết của ông các người không tin, làm sao các ngươi tin được lời Ta nói?" (Ga 5,46-47; 2 Cr 3, 15- 17): Tuy vậy, chỉ mình Luca là trở về lại chủ đề này trong trình thuật Phục sinh của ông.

Có lẽ vô ích khi muốn biết Chúa Giêsu đã trích dẫn bản văn nào lúc Người hiện ra. Luca chỉ tham chiếu cách tổng quát vào toàn thể Cựu ước theo nhtĩng phần lớn được phân biệt trong các bài đọc của Hội đường (24,44): luật, Môisen (séder), các ngôn sứ (haftara) và các thánh vịnh (mizmor). Song có thể thánh sử cũng nghĩ đến nhiều bản văn xác định nào đó. Cũng có lẽ ông đã có trong trí những bản văn mà sau này ông sẽ trích dẫn khi ghi lại lời rao giảng của các sứ đồ. Trong các diễn từ mà sách Công vụ đặt trên môi các sứ đồ, chúng ta có thể góp nhặt được cả một lô câu tham chiếu. Đặc biệt là những câu sau đây về sự Sống lại: Tv 16,8-11 (Cv 2,24-13,34-37); Tv 2,7 và Is 55,3 (Cv 13,32-34); Tv 118,22 (Cv 11) v..v

4. Thành thử lẽ ra Thánh kinh đã đủ cho các môn đồ như là nền tảng kiên cố của niềm tin họ vào Chúa Giêsu. Niềm tin của họ đã bị lung lay, Chúa Giêsu liền tỏ mình ra và đã mở trí cho họ hiểu Kinh thánh" (c.45), họ nhận ra Người. Lập tức Người biến mất (c.31). Người từ biệt họ (c.51). Chính trong đức tin mà từ nay họ sẽ phải sống. Sở dĩ Chúa Giêsu, đã hiện ra cho các môn đồ Người, đó không phải là để an ủi họ nhưng chỉ vì đó là điều cần thiết để họ tin. Vả lại niềm vui của giác quan trước sự hiện diện của Người chỉ kéo dài trong giây lát. Người đã biến đi rồi khi hai môn đồ nói cùng nhau: "Lòng chúng ta lại đã không cháy bừng bừng lúc dọc đàng Người ngỏ với ta và giải nghĩa Kinh thánh cho ta đó sao? (c 32; x. c.41).

Mỗi lần Chúa Kitô hiện ra trong vinh quang, thì bao giờ cũng rất ngắn ngủi, vừa đủ thời gian cho các chứng nhân nhận ra Người. Trong cuộc Biến hình, khi ba môn đồ ưu tiên vừa kịp nhận thấy Môisen và Elia bên cạnh Chúa Giêsu thì họ ngã ngay xuống đất vì quá sợ hãi, một nỗi sợ hãi linh thánh. Lúc chỗi dậy, họ chỉ còn thấy một mình Chúa Giêsu trong trạng thái bình thường của con người ( Mt 17,1-8 ss). Bên mồ trống, Maria Mađalêna dã muốn ôm chân Chúa Giêsu, nhưng Người chận lại và chấm dứt sự hiện diện của mình bằng cách sai bà mang cho các môn đồ Tin mừng Phục sinh (Mt 28,9-10 Ga 20, 17).

Vì đã gây ra việc mất đức tin, sự phân ly đã chỉ sinh buồn rầu và hoảng hốt (cc. 17.38). Sự phân ly này để người ta lại trong đức tin thì cũng để lại trong nỗi vui sướng (c.52) và bình an (c.36). Lúc vào nhà Tiệc ly và nói với các sứ đồ: "Bình an cho các con" Chúa Giêsu không ngỏ với họ lời chào shalom đơn giản của người Do thái, nhưng ban cho họ Bình an Thiên sai đã được các Ngôn sứ loan báo và Người đã hứa trước khi tử nạn (Ga 14,27). Đó là bình an tậu được với giá cái chết trên thập giá, là sự hòa giải nhân loại với Thiên Chúa trong máu Chúa Kitô (Rm 5, 1.10; 2 Cr 5, 18-19 v.v . . . )

5. Ta hãy chấm dứt các nhận xét về các giáo huấn thần học chất chứa trung đoạn văn này, bằng cách nhấn mạnh đến một ý tưởng Luca rất tha thiết, tha thiết đến nỗi ông cứ chèn nó vào trong bản văn, dầu phải làm mất sự mạch lạc, một điều hiếm thấy nơi một văn sĩ cẩn thận như ông. Ý tưởng đó chính là: sở dĩ Chúa Giêsu lần nữa để ban cho các sứ đồ rất nhiều bằng chứng về sự sống lại của người, là vì đức tin của mọi thế hệ mai sau sẽ phải dựa trên chúng từ của các sứ đồ, và đặc biệt của Phêrô. Ta hãy xem làm sao Luca đã đi đến chỗ phá tan sự mạch lạc của bản văn để gợi lên ý tưởng đó.

Được đọc lần đầu, chương 24 để lại một cảm giác tươi mát và duyên dáng. Đọc kỹ hơn, ta sẽ cảm thấy hơi khó chịu. Sự lúng túng càng tăng dần khi đem so sánh trình thuật Lc với bản tóm tắt mà Mc trình bày trong đoạn :kết. (Đoạn kết này Mc 16,9-20) mà ai cũng công nhận là không xác thực, hình như tóm lược lạc 24). Phản ứng của nhóm 11 thế nào khi hai môn đồ từ Emmau trở về Giêrusalem theo Mc 16,13: "họ cũng không tin hai ông này nữa", như đã chẳng tin vào lời chứng của các người đàn bà: "Nghe Maria Mađalêna nói Chúa Giêsu đang sống và bà đã thấy Người, họ cũng không tin" (Mc 16,10) Chúng ta hy vọng là thấy lại cùng phản ứng đó trong trình thuật Luca. Thế nhưng tất cả đều trái ngược: người ta có thể bảo hai môn đồ mới đến chưa kịp nói lên chứng từ của mình thì nhóm Mười một và bạn bè đã tin vào sự Sống lại và tuyên xưng niềm tin! (Lc 24,33). Tuy vậy, khi Chúa Giêsu Hiện ra với họ giây lát sau đó, họ lại không muốn tin, đến nỗi Người đã quở trách họ thậm tệ (cc.36-38). Quả là thiếu mạch lạc rõ ràng !

Sự lủng củng này là do Lc muốn thế và tương ứng với một chủ ý thần học. Thật vậy, giữa các sứ đồ, Phêrô rõ ràng chiếm một chỗ đứng riêng. Luca đã ghi lại cho chúng ta một lời Chúa Kitô tiên báo vai trò mà ông sẽ phải đóng sau thảm kịch Khổ nạn: "Simon, Simon, này Satan đã đòi cho được các ngươi để sàng cho một trận như sàng lúa; nhưng Ta đã cầu xin cho ngươi, ngõ hầu lòng tin của ngươi không bị tiêu diệt. Phần ngươi, một khi trở lại, hãy củng cố anh em ngươi (22,3.32).

Để chúng ta thấy lời tiên báo này của Chúa Giêsu đã được hoàn tất, Lc đã cố ý nhắc đến cuộc hiện ra cho Phêrô trước cuộc hiện ra tại nhà Tiệc ly, và đã cố ý trích dẫn một bản văn cho thấy đức tin của Phêrô là nguồn mạch đức tin của những người khác; dù phải chịu thiếu mạch lạc rõ ràng trong trình thuật của ông: "Hẳn thật, Chúa đã sống lại và đã hiện ra cho Simon" (c.34). Lời tuyên tín nói ra trước này không ăn khớp mấy với những lời quở trách sắp tiếp theo của Chúa Giêsu nhưng nó có cái lợi là cho thấy rằng: dù đức tin của các sứ đồ đã phát sinh lúc nào chăng nữa, thì rốt cuộc nó cũng dựa trên đức tin của Phêrô.

CHÚ GẢI CHI TIẾT

Họ Còn đaNg nói . . .": phần cuối này của Tin Mừng cho biết Chúa Giêsu làm thế nào để giúp nhóm Mươi một hiểu được hoàn toàn sứ điệp Phục sinh: Nơi cc.36-43, Chúa Giêsu chiến thắng sự cứng lòng tin của nhóm Mười một bằng cách ban cho họ nhiều dấu chỉ về thực tại của việc Người phục sinh (x. Cv 1,3) ; nơi cc.44-49, người mở trí cho họ hiểu linh thánh (x. cc.25-27) và xác định bổn phận của họ là làm chứng nhân về việc sống lại của Người; nơi cc.50~53, Luca kết thúc cuốn sách của ông bằng cách trình bày việc Chúa Giêsu tỏ uy quyền Chúa và được các môn đồ nhìn nhận.

"Bình an cho các ngươi ?: Những chữ này được rất nhiều thủ sao xác nhận là có, tuy nhiên lại thiếu nơi một vài chứng bản giá trị. Nhiều nhà phê bình cho rằng chúng được mượn từ Ga 20, 19.

"Vì mừng quá mà họ vẫn còn không tin được": Luca tìm được một lời bào chữa cho sự cứng lòng tin của Nhóm mười một. "Họ dâng cho Người một miếng cá nướng": ở đây cũng như trong Cv 10,40, Đấng Phục sinh ăn uống. Viết như vậy, Luca muốn cho thấy thực tại thể lý của sự Phục sinh, nhưng điều này lại gây khó khăn cho độc giả Hy lạp của ông (x Cv 17,32; 1Cr 15, 12).

"Môisen, các Ngôn sứ cùng Thánh vịnh": Việc gọi tên Thánh Kinh như thế này thật là độc đáo vì dành một chỗ cho các thánh vịnh (so sánh 24,27). Truyền thống Tin mừng đã nhiều lần sử dụng các thánh vịnh như những lời loan báo về cuộc Khổ nạn, và trong công vụ, Lc sẽ thường xuyên trích dẫn thánh vịnh như những lời tiên tri về Mầu nhiệm Chúa Kitô.

"Rồi Người nói với họ" (c.46): Các câu 46-48 trình bày hết mọi chủ đề của lời rao giảng sứ đồ như thấy xuất hiện trong sách Cv: việc sử dụng Thánh Kinh (Cv 2,23-32; 4,10-11; 13,28.29.33.37; 26,22-23), rao giảng sự hối cải và ơn tha thứ (2, 38; 3, 19; 5,31 ; 10,43 ; 15,38-39; 26, 18); vai trò chứng nhân được trao cho nhóm Mười hai (1,8; 2,32; 3,15; 5,32; 10,41; 13,31).

KẾT LUẬN

Niềm tin vào Chúa Giêsu chính là công trình của Đấng Sống lại; việc hiểu Thánh Kinh cũng thế. Thánh Kinh Cựu ước chỉ dẫn đến chỗ nhận ra Chúa Giêsu, nhận ra Cứu Chúa của Israel và của thế giới, nếu được hiểu trong ánh sáng Phục sinh. Sau cuộc Phục sinh, không biết Thánh Kinh là có lỗi (Cv 3,17-26). Đối với người Do thái cứng tin, Kinh Thánh sẽ là một lời buộc tội; đối với Giáo hội, kẻ giải thích Thánh Kinh trong đức tin vào sự Phục sinh, thì Thánh Kinh là ơn cứu thoát.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Chúa Kitô chết trên thập giá đã sống lại thật, trong xương thịt đàng hoàng. Các sứ đồ đã tưởng là ma (điều này, một cách nào đó có lợi cho chúng ta) : thành thử họ phải biết rõ thực hư về việc hiện ra này. Việc họ lúc đầu không tin là một bảo đảm cho sự vững chắc của đức tin chúng ta. Đức tin này không dựa trên chứng từ của những kẻ dễ tin, dễ bị ảnh hưởng bởi ngoại tại, nhưng dựa trên đức tin của những con người thực tế, tầm thường biết đòi hỏi các dấu chỉ và bằng chứng. Do đó, chứng từ của họ càng trở nên mạnh mẽ hơn, vì đây không phải là chứng từ của mê tín, mà của lòng cứng tin biết phê bình nhưng đã được thắng vượt.

2. Nhiều người thời nay phải chăng không giản lược Chúa Kitô phục sinh vào một loại ma quái, một vật nào đó hơn là một cứu người, một huyền thoại hơn là một Ngôi vị đang sống? Theo họ, cùng lắm thì Chúa Kitô là một kiểu mẫu cho cả cho nhân loại, cống hiến cho mọi người một học thuyết nữa những tấm gương đáng khen, nhưng Người không còn sống nữa, không "ngồi bên hữu Chúa Cha" trên trời, cũng chẳng hiện diện trong bánh rượu thánh hiến.

3. Chung chung, ở đây không phải là vấn đề cảm giác hay kinh nghiệm chủ quan cá nhân, nhưng là vấn đề đức tin, tin hết mọi điều Thiên Chúa mặc khải cho chúng ta, trên điểm này cũng như trên các điểm khác, qua thánh Kinh và truyền thống sứ đồ, tin điều Giáo hội đã, đang và sẽ dạy khắp nơi. Trong niềm tin vào Đấng sống lại, cũng không có vấn đề những gì các nhà thông thái suy tưởng và phát minh ra, vì đây đang phải là những suy luận thuần túy tự nhiên, nhưng là một nhận thức là một sự chắc chắn thuộc một trật tự cao siêu, quý giá hơn mọi cái trên đời hiện hữu. Tin vào Đấng Phục sinh, chinh là đón nhận chứng từ của lột nhóm sứ đồ và môn đồ của Chúa Giêsu, những kẻ đã lấy máu mình quả quyết trước thế gian và cho rằng họ đã thấy Thầy họ chết trên thập giárồi phục sinh trong một thân xác vinh hiển, vượt thắng những điều kiện thông thường của thời gian và không gian.

4. Đức tin có thể gặp nhiều vấn nạn, nhiều hiểu lầm, nhiều trở ngại và ngay cả nhiều khổ đau tinh thần nữa: như xét bên ngoài, nhiều Kitô hữu, vì hèn nhát, tỏ ra ích kỷ hơn, hà tiện hơn, kiêu căng hơn, dâm ô hơn hơn một số người ngoại giáo. Nhưng mọi Kitô hữu đều biết rằng Chúa Kitô phục sinh muốn họ hối cải : Người muốn tha thứ tất cả và làm cho họ trở nên những sứ đồ của người theo chân các sứ đồ tiên khởi : "Chính các con là những chứng nhân về những điều đó". đức tin bắt buộc chúng ta dấn thân cho Chúa Giêsu Kitô như chứng nhân của Người trước mặt thế gian.


Noel Quession - Chú Giải
Lc 24,35-48
 
Hôm nay chúng ta đọc một phần bản văn Lu-ca về "Trình thuật Phục sinh".

Theo Tin Mừng của ông, năm biến cố đã xảy ra trong ngày Phục sinh :

- Các phụ nữ đến viếng mộ vào buổi sáng và việc báo tin Chúa Phục sinh. . . (24, 1 -10).

- Phêrô cũng đến thăm mộ và thái độ bối rối của ông. . . (24, 1 1 -12).

- Chúa hiện ra với hai môn đệ làng Em-mau (24,.13-35).

- Chúa hiện ra với mười một môn đệ, cùng buổi chiều hôm đó. . . (24, 36-49).

- Đức Giêsu Thăng thiên và việc Người được tôn dương trên trời. . . (24, 50-53).

Còn hai ông thi thuật lại những việc đã xảy ra dọc đường, và chuyện mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh. Các ông còn đang nói thì Đức Giêsu hiện đến, đứng giữa các ông...

Từ ba ngày qua, biết bao là biến cố bi thảm đã xảy ra cho con người đáng thương này ? Bữa ăn cuối cùng của Đức Giêsu vào tối thứ năm. . . cuộc vây bắt tại vườn Ghét-sê-ma-ni . . . mọi người đều bỏ trốn . . . Phêrô chối Chúa . . . việc xét xử bêu nhục Chúa như kẻ phản đạo và phạm thượng. . . Cái chết của Chúa trên thấp giá ngoài cửa thành . . việc treo cổ tự sát của Giu-đa, một bạn hữu của họ. Nhóm Mười hai trở thành nhóm Mười một, do một người trong họ bỏ cuộc và đã chết !

Chính trong bối cảnh này mà cuộc "Phục sinh" xảy đến một cách bất ngờ và làm cho mọi người bàng hoàng sửng sốt.

Người nói với các ông : "Chúc anh em được bình an"

Đó là lời chào hỏi thông thường của Người Do Thái : "Shalom" !" có nghĩa là "Bình an".

Nhưng ta có thể nghĩ rằng, chiều hôm đó, lời chào chúc cổ truyền đó hẳn phải mang một ý nghĩa hoàn toàn đặc biệt : chính vào lúc vô cùng tuyệt vọng thì Chúa hiện đến trấn an các ông : "Anh em đừng sợ" . . . "Hãy an tâm " . Theo Thánh Gioan, trước khi bước vào cõi chết, hôm thứ năm vừa qua, Đức Giêsu đã hứa các tông đồ sẽ được bình an sau một 'thời gian khủng hoảng đớn đau : "Thầy để lại sự bình an cho anh em, thầy ban cho anh em phúc bình an của chính Thầy" (Ga. 14,27). "Anh em sẽ bị phân tán mỗi người mỗi ngả và để Thầy có đến. . . Thầy nói với anh em những điều ấy để nhờ kết hợp với Thầy, anh em được bình an. . . Anh em can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian rồi..." (Ga. 16,32-33). Hôm nay vào chiều tối Phục sinh, lời hứa đã được thực hiện.

Các ông sợ hết hồn hết vía, tưởng là thấy ma.

Rõ ràng, như các trình thuật khác đều đã nói cho ta. Nhóm "Mười Một" bắt đầu run sọ và nghi ngờ. Một lát nữa, Luca sẽ nhấn mạnh giúp ta lưu ý tới sự kiện Đức Giêsu phải "mở trí lòng" họ : họ còn không hiểu gì cả. Chỉ ngắm nhìn" thì chưa đủ... Còn phải "mở trí lòng" tới mầu nhiệm...

Nhưng Người nói : "việc gì mà hoảng hốt ? Sao lòng anh em còn ngờ vực ? ' Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà ! Cứ rờ xem, ma đâu có xương có thịt như Thầy đây ?"

Trong trình thuật tương song của Gioan, Đức Giêsu đã cho các tông đồ xem "tay và cạnh sườn" Người (Ga 20,20). Còn ở đây Lu-ca lại ghi, Người cho họ xem "chân tay" Người ? Ta biết rằng, đối với Thánh Gioan "cạnh sườn" rộng mở tượng trưng cho nguồn nước vọt ra từ đền thờ mới, theo lời tiên báo của ngôn sứ Ê-đê-ki-en.

Những điểm cốt yếu của trình thuật vẫn là chung, đó nhằm minh chứng rằng chính Đức Giêsu, Đấng bị đóng đinh, nay đã sống lại Đối với những người Sê-mít, này, là những người không có ý niệm phân biệt linh hồn và thể xác triết thuyết của Platon và Descartes, thì nếu Đức Giêsu đang sống động, chỉ có thể hiểu Người sống động với toàn diện con người mình. Đức Giêsu muốn quả quyết, Người không phải là một bóng ma... như thế, Người phải có một thân xác, sự sống lại không thể giản lược vào nguyên một tình trạng "linh hồn bất tử". Do đó, mọi chi tiết trên đây đều diễn tả cách cụ thể : "Cứ rờ vào Thầy... Hãy xem chân tay Thầy... Hãy cho Thầy ăn".

Tuy nhiên, chúng ta không nên ảo tưởng. Cần phải vượt qua vẻ vật chất của ngôn từ diễn tả, để hiểu ý nghĩa sâu xa của công cuộc Phục sinh. Nhằm đề cao chân lý đó, chính Thánh Phaolô sau này sẽ xác quyết : "Chúa là thần khí"(2 Cr 3,17-18). Ngài cũng nói về thân xác Phục sinh như một "thân - thể thuộc linh" (1 Cr 15,44).

Các ông vẫn chưa dám tin vì mừng quá, và còn đang ngỡ ngàng, thì Người hỏi : "Ở đây anh em có ăn gì không" Các ông đưa cho Người một khúc cá nướng, Người cầm lấy và ăn trước mặt các ông. 

Việc ám chỉ tới một bữa ăn như trên, gợi lại cử chỉ của Chúa tại làng Em-mau, sau này Phêrô cũng tuyên bố : chính chúng tôi đã được cùng ăn, "cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại" (Cv.10,41). Trong trình thuật của Lu-ca trên đây, không có gì ám chỉ cách công khai tới Thánh thể nhưng bầu không khí vẫn là khung cảnh của những "bữa tiệc thánh", mà ở đó các môn đệ sẽ nhận ra một sự hiện diện mới của Đấng Phục sinh.

Rồi Người bảo : "Anh em hãy nhớ lại những lời thầy đã nói, khi Thầy còn ở với anh em..."

Công cuộc Phục sinh không thể dược hiểu như một thứ hiện tượng cách biệt, một thứ hành động ma thuật. Đức Giêsu cố gắng giúp cho người ta "hiểu" và dồn "tâm trí" vào sự kiện đó. Và bước đường đầu tiên mà Người gợi lên cho các tông đồ đi tới hiểu biết, đó là vận dụng "ký ức" Người đã báo trước cái chết và sự phục sinh của Người. Người mong muốn chúng ta khám phá ra sự liên tục giữa Đức Giêsu trước Phục sinh" và "Đức Giêsu sau Phục sinh lịch sử và Đức Giêsu vượt qua lịch sử, Đức Giêsu cụ thể và Đức Giêsu của lòng tin.

Về vấn đề này, chúng ta nên ghi nhận kiểu nói kỳ lạ của Đức Giêsu : khi Thầy còn ở với anh em" thuộc về quá khư ! Nhưng, lạy Chúa Giêsu, lúc này Chúa đang hiện diện với chúng con mà ! Các môn đệ đã có thể đáp lại với Chúa như thế. Đúng vậy, nhưng Người đi đâu có hiện diện cũng một cách thức như trước nữa : Vẫn chính là Người, nhưng không phải y như trước. Đây luôn là mầu nhiệm đức tin.

Tất cả những gì sách Luật Mô-sê, các sách Ngôn sứ và các Thánh vịnh đã chép về Thầy đều phải được ứng nghiệm. Bấy giờ Người mở trì cho các ông hiểu Kinh Thánh.

Các Sách Thánh loại nào ? Đó là toàn bộ Cựu ước : Luật, Ngôn sứ và Thánh Vịnh. Đúng ra, Đức Giêsu là một người rất quen thuộc với Kinh thánh. Người đã đọc đi đọc lại cho riêng mình một số đoạn để ứng dụng vào số phận đời Người. "Kinh thánh đã nói về đời tôi !". Các bạn hãy đọc lại và sẽ thấy. Và chúng ta hình dung ra như Đức Giêsu, đang dạy một lớp giáo lý Kinh thánh, chú giải Kinh thánh . Công cuộc Canh tân Phụng vụ theo ý Công đồng Vatican II lại tạo điều kiện cho chúng ta đọc nhiều đoạn Kinh thánh hơn : mỗi Chúa nhật sẽ đọc ba bài đọc thay hai như cũ... và được phân bổ trong ba năm để cung cấp cho ta một toàn bộ các văn bản đầy đủ hơn... Ta cũng có thể nhận thấy, công việc đó đã đi đúng hướng biết bao, như ý Đức Giêsu mong muốn. Lạy Chúa, xin ban cho chúng con, các Kitô hữu, biết đói khát Kinh thánh. Xin giúp chúng con đừng tới dâng lễ "trễ muộn", bỏ qua phần phụng vụ lời Chúa, luôn vắng mặt trong phần đầu thánh lễ, thời gian mà "Chúa mở trí cho chúng con hiểu Kinh thánh".

Người bảo có lời Kinh thánh chép rằng : "Đấng Mê-si-a phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba sẽ từ bỏ cõi chết chỗi dậy".

Oi ! nếu như chúng ta có mặt ở đó thì thính biết bao, lúc mà Đức Giêsu bình luận lời ngôn sứ I-sai-a, Si-rắc người khôn ngoan và các Thánh Vịnh ! Nhờ sách Công vụ Tông đồ, ta biết được những bản văn 'đặc biệt mà trong đó, Đức Giêsu "tự nhận ra mình" và nhờ đó Người mới quả quyết người ta đã nói về mình" là những bản văn nào. Đó là những bản văn được trích dẫn Đệ nhị luật 1.8, 16-19 và 21,23. Hôsê 6,1, I-sai-a 52,13, Thánh Vịnh 2-22. Cựu ước hướng về Đức Giêsu. Mọi chương trình của Thiên Chúa, mọi công cuộc chuẩn bị.. . đều nhằm đến "việc hoàn tất" này : đó là sự hy sinh vinh quang của Đức Giêsu vì tình yêu cứu độ. Nhưng bài thơ về người tôi tớ và nhiều Thánh vịnh đặc biệt đã minh chứng rằng, "đau khổ của người công chính, không phải là uổng công vô ích, những luôn đạt tới một sự phong phú phi thường". Thực vậy người ta phải vượt qua giai đoạn đau khổ mới tới giây phút tạ ơn và thời gian loan truyền những kỳ công của Thiên Chúa cho mọi dân tộc "sứ vụ" truyền giáo cho khắp hoàn vũ như đã hiện diện trong các bản văn đó (I-sai-a 49-50).

Đấng Mê-si-a phải chịu khổ hình... sẽ từ cõi chết chỗi dậy...

Phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân... kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội . . .

Vâng, mối quan tâm truyền giáo đã tràn ngập tâm hồn Đức Giêsu. Người nhìn thấy trước hàng tỉ người nam nữ sẽ theo Người, sẽ yêu mến Người . Người nhìn thấy hàng tỉ tội nhân sẽ được tắm trong "nước tha thứ tội lỗi", sẽ được ghìm ngập trong tình yêu xót thương của Thiên Chúa, sẽ được thanh tẩy trong Thánh Thần, Đấng tha thứ và "ban sự sống". Thiên Chúa là tình yêu ! ở đây chúng ta gặp lại điều mà Thánh Gioan đã nói trong Chúa nhật vừa qua : "Đức Giêsu thổi hơi để tha thứ tội lỗi !" .

Và chúng ta đón nhận sứ điệp "Phục sinh" đó. Chúng ta có thể nói, Phục sinh mà làm gì ? Để loan báo sự thay đổi cuộc hoán cải, một "métanola" : Hãy đổi đời. Hãy phục sinh. Hãy sống động... Và cứ tiếp tục như thế ? Phục sinh là một động lực sống ! Nó luôn vận hành.

Phải rao giảng cho muôn dân, bắt đâu từ Giê-ru-sa-lem, kêu gọi họ sám hối. Chính anh em làm chứng về những điều này. 

"Sứ vụ của Giáo Hội" khởi sự từ công cuộc Phục sinh. Trong sức sống sinh động Phục sinh, cùng với "Đức Giêsu hằng sống" giữa cá nhân chứng của Người. . . từ một điểm trung tâm của hành tinh chúng ta : đó là Giê-ru-sa-lem ! Thực vậy, đó là nơi có một không hai, mà người ta đã đào lỗ dưới đất để dựng cây thập giá lên, và từ đó đã trở nên trục của thế giới . Thành phố duy nhất này, nơi mà nhờ đó hành tinh đáng thương của chúng ta, thay vì là nghĩa địa mênh mông chứa chôn kẻ chết, đã trở thành nơi có "ngôi mộ trống", nơi của sự sống hiển thắng.

Lạy Chúa, xin ban cho con "sức mạnh" từ trời ban xuống đó (Lc.24,49) để con trở nên nhân chứng cho Chúa : Veni Crearoe Spiritus... Lạy Thần khí Tác sinh, xin hãy ngự đến.


Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

 
" Đấng Kitô, chịu thương khó như vậy rồi mới được tôn vinh "

BÀI TIN MỪNG : Lc 24, 35 - 48 

I . Ý CHÍNH : 

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Chúa Giêsu hiện ra lần thứ ba với các tông đồ tại nhà Tiệc ly . Lần này Chúa Giêsu muốn tỏ ra cho các tông đồ phải xác tín về sự phục sinh của Người để các tông đồ sẽ phải làm chứng về điều đó .

II . SUY NIỆM : 

1 / " Hai môn đệ thuật lại các việc đã xẩy ra dọc đường "

+ Hai môn đệ nhận ra Chúa lúc bẻ bánh trên đường đi làng Emau . Hai ông trở về Giêrusalem gặp 11 tông đồ và các bạn khác đang họp nhau tại nhà Tiệc ly .

+ Hai ông được các tông đồ và các bạn kể lại việc Chúa đã sống lại và hiện ra với Simon . Đồng thời hai ông cũng thuật lại câu chuyện đã xẩy ra dọc đường . Đang lúc trao đổi câu chuyện như vậy thì bất ngờ Chúa Giêsu hiện ra đứng giữa họ .

2 / " Bình an cho các con " : ( Xem lại Chúa nhật 2 phục sinh ) 

+ Đừng sợ : sợ là thái độ biểu lộ tâm trạng yếu đuối hoặc yếu bóng vía của con người .

Ở đây biểu lộ thiếu lòng tin của các tông đồ về việc Chúa Giêsu sống lại .

+ Vì yếu lòng tin như vậy nên mới tưởng sự hiện diện của Chúa như là ma .

3 / " ... tại sao các con bối rối ... ? " : 

Chúa trách cứ các tông đồ lần này cũng như Chúa đã trách cứ Phêrô kém lòng tin khi Phê rô đi trên mặt biển đến với Chúa ( Mt 6, 26 ; 28, 17 ; Mc 16, 14 ) .

4 / " Hãy xem chân tay Thầy, chính Thầy đây " : 

+ Để củng cố niềm tin cho các tông đồ về việc phục sinh của mình . Chúa Giêsu đã đưa ra những bằng chứng cụ thể :

a / Hãy sờ mà xem : Chúa đưa ra bằng chứng có tính cách khả giác để nói lên con người của Người trước khi chịu chết và sau khi phục sinh có sự liên tục và vì vậy Người đã sống lại thực sự .

b / Người ăn trước mặt các ông : Chúa đưa ra bằng chứng qua hành vi ăn, một hành động của thể xác để chứng tỏ sự sống sau khi phục sinh của Người .

c/ Đúng như lời Thầy đã nói với các con : Chúa đưa bằng chứng những lời nói của Người đã được ứng nghiệm để nói lên tính cách xác thực của sự phục sinh của Người .

d/ Rồi Người mở trí cho các ông am hiểu Kinh Thánh : Chúa đưa bằng chứng của Thánh Kinh bằng cách mở trí cho các ông am hiểu Thánh Kinh gồm có hai loại Môisen, các sách Tiên tri và các thánh vịnh vì tất cả Thánh Kinh đều làm chứng về Người : Người chịu đau khổ, chịu chết và sống lại đúng như lời Thánh Kinh .

5 / " Rồi phải nhân danh Người rao giảng sự thống hối " : 

Sở dĩ Chúa Giêsu lấu nhiều bằng chứng về sự sống lại của Người là vì đức tin của mọi thế hệ mai sau sẽ phải đưa trên chứng từ của các Sứ đồ và đặc biệt của Phêrô . Vì thế, Chúa có ý nhấn mạnh : Sự phục sinh của Người là nền tảng cho việc tông đồ của các Tông đồ và do đó, của Giáo Hội sau này "Các con sẽ làm chứng về những điều ấy " .

III. ÁP DỤNG : 

A / Áp dụng theo Tin Mừng : 

1 / Giáo Hội muốn dùng bài Tin Mừng hôm nay với những bằng chứng về sự phục sinh của Chúa Giêsu, để khơi dậy niềm xác tín của chúng ta về niềm vui phục sinh, nhờ đó chúng ta càng vui mừng và hy vọng vào sự phục sinh của bản thân mình .

2 / Diễn tiến của những lần Chúa phục sinh hiện ra với các tông đồ là mẫu mực diễn tiến đời sống đức tin của chúng ta .

+ Chúa hiện ra cách bất chợt và các tông đồ chưa nhận ra ngay : ơn Chúa đến với chúng ta cách bất chợt qua các biến cố, chúng ta khó nhận ra ngay : như khi gặp thử thách cũng như khi được may mắn .

+ Các tông đồ nhận ra Chúa qua các bằng chứng : chúng ta nhận ra ơn Chúa qua các bằng chứng của Thánh Kinh, qua các lời giáo huấn của Giáo Hội ... nhờ đó ta dần dần sống thân mật với Chúa hơn .

+ Các tông đồ nhận lãnh sứ mạng loan Tin Mừng làm chứng về Chúa Kitô sống lại . Sứ điệp của bài Tin Mừng hôm nay là sứ điệp rao giảng Tin Mừng và làm chứng về Chúa Kitô, là một lời mời gọi có tính cách thu hút mỗi người chúng ta theo hoàn cảnh riêng của mình .

B/ Áp dụng thực hành : 

1 / Nhìn vào Chúa Giêsu : 

a / Này Thầy đây, đừng sợ : Chúa Giêsu đã dùng nhiều bằng chứng để các tông đồ đừng sợ và tin vào Người . Chúng ta đến với ai là muốn gây niềm tin tưởng và để tránh sự ghi ngờ thì chúng ta cũng có những bằng chứng .

b/ Chúa cho xem tay chân : chúng ta tỏ tư cách bên ngoài . Chúa ứng nghiệm lời Người nói : chúng ta có việc làm đi theo lời mình nói .

+ Chúa mở trí cho các ông am hiểu Kinh Thánh :

Chúng ta tỏ bầy cho người ta hiểu biết chứ đừng úp mở mà sinh ra ghi kỵ . Chúng ta đọc Thánh Kinh, muốn hiểu Thánh Kinh thì phải cầu nguyện xin Chúa soi sáng mở trí lòng cho chúng ta .

2 / Nhìn vào các tông đồ : 

+ Mọi người còn bàn chuyện thì Chúa Giêsu hiện ra : khi chúng ta nói về Chúa, rao giảng về Chúa thì chính Chúa sẽ đến bằng ơn thánh của Người để nâng đỡ chúng ta và làm cho việc tông đồ của người ta có hiệu quả .

+ Mọi người bối rối tưởng mình thấy ma : sự chậm tin của các tông đồ nói lên các ngài không dễ tin và dễ bị ảnh hưởng khả giác, nhưng các ngài đòi thêm bằng chứng : chúng ta đừng nhẹ dạ dễ tin nhưng phải tìm hiểu thêm .



Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng - Bài Giảng Lễ

 
Chúa Giêsu, Đấng hoàn tất Kinh thánh

Đức Kitô đã sống lại ! Phục sinh có nghĩa là không chết nữa. Tin và đón nhận mầu nhiệm Phục sinh là đón nhận và tin theo Người để bản thân được sống lại với Người nhưng đồng thời cũng mang sự sống lại của Người đến cho con người và thế giới chúng ta đang sống. Đó chính là sứ điệp Tin mừng Chúa nhật II Phục sinh.

I. Khám Phá Sứ Điệp Tin Mừng : Lc 24,35-48.

Chúa Giêsu Phục Sinh không phải là một ai khác, mà chính là Đấng bị đóng đinh. Người đến để thực thi trọn vẹn những lời Kinh thánh đã nói về Người.

1. Sự cứng lòng của các môn đệ : Các môn đệ đã không tin vào Thầy của mình thực sự sống lại. Họ không tin đến nỗi khi Người hiện ra lại tưởng là ma. Từ khi mai táng Chúa Giêsu, các môn đệ xem ra không còn tin nữa, nên đã rơi vào tâm trạng chán nản, thất vọng, buồn sầu và sợ hãi. Chúng ta dễ dàng thấy điều này trong các trình thuật của Tin mừng sau biến cố Chúa Giêsu chịu chết : các môn đệ tụ họp trong phòng đóng kín cửa vì sợ người Do Thái, hai môn đệ trên đường Emmaus thất vọng trước cái chết của Thầy. Và trong trình thuật Tin mừng này, khi Chúa hiện ra các ông sợ hãi, bối rối vì tưởng là ma. Chúa Giêsu đã trấn an các ông và làm một loạt các hành động : cho xem tay chân, cạnh sườn ; ăn uống trước mặt các ông để cho các ông thấy Người đang sống thực sự ; "rồi Người mở trí cho các ông am hiểu Kinh thánh". Với Chúa Giêsu tất cả những hành động này chỉ là dấu chỉ để nhận ra Người mà thôi, điều quan trọng là phải tin vào lời Kinh thánh. Kinh thánh đã nói tất cả về Người, Người đến để thực hiện trọn vẹn những gì Kinh thánh đã loan báo.

2. Chúa Giêsu hoàn tất mạc khải Kinh thánh : "Cần phải ứng nghiệm hết mọi lời đã ghi chép về Thầy trong luật Môsê, trong sách Tiên tri và Thánh vịnh". R. Meynet chú giải : "Trọn bộ Kinh thánh nói về Đức Giêsu. Kinh thánh loan báo về những việc Người sẽ làm và những việc các môn đệ sẽ làm nhân danh Người. Đức Giêsu chẳng nói điều gì ngoài những điều Kinh thánh đã nói nhưng Người nói không như những luật sĩ thường làm. Người hành xử Kinh thánh. Người thực hiện Kinh thánh. Người hoàn tất Kinh thánh. Chính vì Người hoàn tất Kinh thánh nên Người có thể giải thích cho người ta hiểu". (R.Meynet, Tin mừng theo Thánh Luca, Phân tích từ ngữ, Chú giải, Cerf, trang 238). Như vậy, với nền tảng Kinh thánh có lẽ đã đủ để các môn đệ củng cố niềm tin vào Chúa Giêsu Phục Sinh. Thế nhưng, các môn đệ vẫn chưa tin trọn vẹn, niềm tin của các ông đã bị lung lay trước cái chết của Thầy mình. Chính khi ấy, Chúa Giêsu tỏ mình và đã "mở trí cho các ông hiểu Kinh thánh". Thánh kinh Cựu ước dẫn đến chỗ nhận ra Chúa Giêsu Phục Sinh là Cứu Chúa của nhân loại. Sau cuộc Phục sinh không biết Kinh thánh là có lỗi. Đối với Giáo hội, có trách nhiệm giải thích Kinh thánh trong đức tin vào sự phục sinh thì Kinh thánh là ơn giải thoát.

II. Chiêm Ngắm Chúa Giêsu : 

Bản văn Tin mừng này đưa chúng ta đến với Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh, Đấng hoàn tất mạc khải Kinh thánh. Từ việc giải thích Kinh thánh cho các môn đệ hiểu, đến việc sai các ông đi nhân danh Người rao giảng sự thống hối ăn năn để lãnh nhận ơn cứu độ nhờ cuộc Thương khó, Tử nạn và Phục sinh của Người tất cả đều phác lại chân dung Chúa Giêsu Kitô, Đấng đến để thực hiện trọn vẹn lời Chúa. Kinh thánh nói về Người như Thánh Giêrônimô khẳng định : "Ai không biết Kinh thánh là không biết Đức Kitô". Trước khi Lời được viết thành văn thì Lời chính là Con Người sống động Giêsu Kitô. Chiêm ngưỡng Chúa Giêsu Phục Sinh, Đấng hoàn tất Kinh thánh, chúng ta thêm yêu mến tin tưởng để sống thực thi lời Chúa, để cuộc đời mỗi người cũng sẽ là những trang Tin mừng, trang lời Chúa nói với con người và thế giới hôm nay về tình yêu cứu độ của Thiên Chúa. Đấy cũng là sứ mạng mà Chúa Giêsu đã ủy thác cho Giáo hội và cho mỗi Kitô hữu.

III. Gợi Ý Bài Giảng :

1. Từ sự cứng lòng của các Tông đồ đến đức tin của Kitô hữu hôm nay trước mầu nhiệm Vượt qua : 

Chúa Giêsu chết trên thập giá nhưng đã sống lại thật có xương thịt đàng hoàng thế mà các môn đệ lại tưởng là ma. Xét cho cùng, việc các ông chưa tin cũng là điều dễ hiểu đối với nhận thức của con người. Từ xưa đến nay con người có kinh nghiệm dồi dào về cái chết nhưng hoàn toàn chưa hiểu biết và có kinh nghiệm gì về sự sống lại. Chết là hết, cho dẫu có tin rằng sau cái chết vẫn còn ẩn chứa một đời sống khác đi nữa thì vẫn là một đời sống khác hẳn và tách rời khỏi những thực tại dương thế. Nơi đời sống ấy con người không thể với tới được ngoại trừ khi đã chết đi. Do đó, việc các tông đồ khi thấy Thầy mình đã chết xuất hiện đột ngột chắc hẳn tâm lý sẽ sợ hãi và ngạc nhiên, không thể tin được là chuyện đương nhiên. Điều này cách nào đó cũng có lợi cho niềm tin của Kitô hữu sau này : Các ông đã từng không tin nhưng sau đó đã tin và sẵn sàng chết để bảo vệ niềm tin này cho thấy Chúa Giêsu đã chết và phục sinh là thực. Đức tin này không dựa vào chứng từ của những kẻ dễ tin, dễ bị ảnh hưởng bởi những yếu tố kỳ bí lôi kéo sự tò mò của con người, nhưng dựa trên đức tin của những người thực tế biết đòi hỏi các dấu chỉ và bằng chứng. Chứng từ của các Tông đồ không phải là chứng từ của sự mê tín, nhưng là chứng từ của những người cứng lòng tin biết phê bình, nhận xét và đón nhận sự thật. Dựa trên chứng từ của các Tông đồ, Kitô hữu hôm nay cũng sẽ sống niềm tin của mình cách trưởng thành, biết dựa trên nền tảng lời Chúa, biết sống thể hiện đức tin và làm chứng cho Tin mừng Phục sinh.

2. Từ niềm tin đến việc lên đường thực thi sứ mạng : 

Sau khi đã mở trí cho các môn đệ am hiểu Kinh thánh, Chúa Giêsu trao phó sứ mạng cho các ông lên đường rao giảng về cuộc Thương khó và Phục sinh của Người để kêu gọi mọi người thống hối, ăn năn đón nhận ơn cứu độ. Tin không dừng lại ở việc nhận biết hay chấp nhận một thực tại cao vời vượt quá trí hiểu. Tin cũng không chỉ đơn thuần là việc của ý chí và lý trí nhìn nhận sự hiện diện của Đấng Phục Sinh. Nhưng tin đòi hỏi phải thể hiện niềm tin ấy bằng cuộc sống lên đường loan báo về những gì mình đã tin. Tin vào Chúa Giêsu Phục Sinh để đón nhận ơn cứu độ của Người, đồng thời, cũng là lãnh nhận sứ mạng lên đường để đưa ơn cứu độ của Người đến cho anh chị em chung quanh. Muốn thực thi sứ mạng này đòi hỏi mỗi Kitô hữu phải gắn bó mình với chính Chúa Giêsu Phục Sinh. Lời ủy thác sứ mênh của Chúa Giêsu : làm chứng về cuộc Tử nạn và Phục sinh của Người, nhân danh Người mà rao giảng cũng chính là lời mời gọi Kitô hữu muốn làm chứng nhân cho Người trước hết phải gắn bó với Người, phải sống với Người.

IV. Lời Cầu Chung :

Mở đầu : Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thập giá, Người đã chết và đã thực sự sống lại để ban ơn cứu độ cho nhân loại chúng ta. Trong niềm tin vào mầu nhiệm Phục sinh, chúng ta cùng dâng lời cầu nguyện.

1. "Người mở trí cho các ông am hiểu Kinh thánh". Chúng ta cùng cầu nguyện cho Giáo hội được Chúa ủy thác bảo vệ, giải thích và loan báo kho tàng Kinh thánh, luôn biết nỗ lực thực thi sứ vụ Chúa trao bằng đời sống yêu mến thực thi lời Chúa, để kho tàng Kinh thánh được bảo vệ tinh tuyền ngõ hầu mọi dân nước được đón nhận đúng đắn, hiệu quả Tin mừng của Chúa.

2. "Bình an cho các con, Thầy đây đừng sợ". Chúng ta cùng cầu nguyện cho con người và thế giới hôm nay đang sống trong sự bất an của chiến tranh hận thù khắp nơi ; trong bất ổn của nền kinh tế gia tăng hố sâu phân hóa giàu nghèo, xin cho bình an của Chúa Giêsu Phục Sinh thực sự ngự chiếm tâm hồn mọi người, nhờ đó thế giới ngày càng có hòa bình, tự do và hạnh phúc.

3. "Các con hãy làm chứng về những điều ấy". Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta biết sống thể hiện niềm tin của mình vào Chúa Giêsu Phục Sinh bằng niềm hy vọng, lạc quan và bình an của mình.

Lời kết
: Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh. Chúng con cảm tạ Chúa đã yêu thương chấp nhận chết và phục sinh để ban ơn cứu độ cho chúng con. Xin cho chúng con được tràn đầy Thần Khí Phục Sinh của Chúa để chúng con thắp sáng niềm tin Phục sinh cho môi trường chúng con hôm nay. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
 
Hành Trang Mục Vụ - Khoá 10 ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn