Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật III Thường Niên C

Tin mừng Lc 1:1-4 và 4:14-21  Qua bài Tin-Mừng hôm nay, Giáo Hội muốn mời gọi chúng ta tin tưởng vào sự xác thực của Tin-Mừng để nhờ đó chúng ta biết đón nhận ơn cứu độ của Chúa, bằng cách thực thi lời Chúa rao giảng đã được ghi chép lại trong Tin-Mừng.

CHÚ GIẢI TIN MỪNG


CHÚA NHẬT III – MÙA THƯỜNG NIÊN - NĂM C

(Lc 1:1-4 và 4:14-21)

 


Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải
 

CHÚA GIÊSU TẠI NAZARET


1. Sách bài đọc của phụng vụ mới đã tổng hợp làm thành một bài đọc 2 đoạn phúc âm cách nhau đến 3 chương trong phúc âm thánh Lc. Thực khó tìm thấy được ý hướng xếp đặt này; một cách đơn giản có lẽ phụng vụ muốn ráp nối 2 đoạn văn khai mạc: một đoạn của phần nhập đề phúc âm Lc và đoạn kia nói đến việc CGS bắt đầu giảng dạy tại Nazaret. Dù sao, giả thiết phần nhập đề của phúc âm không đặt ra vấn đề gì đặc biệt trong việc chú giải, chúng ta chỉ cần chú giải ở đây phần thứ hai của bài đọc phụng vụ, nghĩa là sự rao giảng của CGS tại Nazaret.

2. Cả 3 phúc âm nhất lãm đều phù hợp nhau khi kể lại rằng, sau khi được thanh tẩy và bị cám dỗ, CGS trở về Galilêa để bắt đầu rao giảng ở đó (Mc 1,14; Mt 4,12; Lc 4,14). Lời rao giảng công khai của Đấng thiên sai đi liền theo sau các giai thoại siêu nhiên được thực hiện cách âm thầm.

Theo Mc 1,15 và mt 4,17, Ngài rao giảng nước TC đã gần đến và cần phải thống hối ăn năn để thông dự vào nước ấy (Mc xác định đó là Tin mừng và phải lãnh nhận Tin mừng ấy bằng đức tin). Lc không phải là không biết đến những đề tài này trong lần rao giảng đầu tiên của CGS (4,43; 5,32). Nhưng thay vì tóm lược lời rao giảng ấy trong một câu thì tác giả lại trình bày nó trong một khung cảnh rộng rãi, khung cảnh ấy phác họa những đường hướng hướng căn bản khai mào cho sứ mệnh trần thế của CGS. Đó là một khai mào trọng thể được Thánh Thần hướng dẫn (4,14.18), là Đấng đã tuôn tràn trên CGS từ ngày thanh tẩy (3,22; 4,1).

3. Trình thuật tiếp theo một đoạn tóm lược lời rao giảng của CGS tại Galilêa: Ngài giảng dạy trong các hội đường, gây sự chú ý và lòng nhiệt thành khắp cả vùng (4,14-15). Rồi "trở lại Nazaret là nơi Ngài đã sinh trưởng, và theo thói quen, thì ngày nghĩ lễ, Ngài vào trong hội đường, đứng dậy đọc sách" (c.16), Lc vắn tắt nhắc lại điều ông đã kể về thời thơ ấu của CGS ở Nazaret (2,39-40.51-52). Chỉ lần này tác giả gọi thành nhỏ này bằng tiếng Aram Nazara (như trình thuật tương tự của Mt 4,13) nhưng tác giả không gọi thành đó là "quê hương" của CGS (như Mc 6,1 và Mt 13,54 đã gọi): có lẽ vì CGS không sinh ra ở đó (2,4-7), và nhất là vì đối với Lc thì "quê hương" của CGS là tất cả vùng đất Israel (x.các chương 24-27).

Phúc âm của ông đã cho thấy cha mẹ CGS nhiệt thành tuân giữ lề luật (2,21.22-34.39.41-42), tác giả sẽ còn kể nhiều lần CGS vào trong các hội đường ngày hưu lễ (4,31-33; 6,6; 13,10). Nhưng đây là ngày hưu lễ đầu tiên mà CGS lên tiếng công khai trong buổi cầu nguyện ở hội đường. Do đó, theo phong tục thời bấy giờ, Ngài đứng dậy sau khi nghe sách luật và ra mắt quần chúng bằng một bài đọc sách các tiên tri.

4. Cách chung người ta thừa nhận rằng vào thời CGS thì việc đọc các sách tiên tri trong hội đường ngày hưu lễ không theo một lịch trình rõ ràng, nghĩa là không theo một chu kỳ gồm những bài đọc dọn sẵn như phụng vụ chúng ta ngày nay (ít ra đó là ý kiến của phần đông các nhà chú giải phúc âm Lc. Lập trường của Strack-Billerbeck trong cuốn Commenter zum Neuen Testament, IV Minchen năm 1928, trang 169-170, dầu vậy lập trường này cũng bị chống đối: xem Guilding, The Fourth Gospel and Jewish Waship, Oxford, 1960, tr. 7-10, 21-22, 125-126; vấn đề hình như cũng chưa được giải quyết ổn thỏa). Điều này rất phù hợp với trình thuật của Lc, CGS "gặp ngay" bản văn (chắc chắn sau khi đã tìm kiếm: CGS là người biết rõ kinh thánh, có thể dễ dàng tìm được một đoạn nói về Đấng Messia trong hầu hết các sách tiên tri; khi tỏ ý cho người chủ nhà hội mời Ngài giải thích đoạn văn Isaia, chắc chắn Ngài có thể chọn một trong nhiều đoạn văn loan báo về Đấng Messia) có thể giúp Ngài giải thích sứ mạnh của mình.

Bản văn CGS đọc là Is 61,1-2. Lc trích dẫn theo bản văn LXX với một vài thay đổi: nơi câu một của tiên tri, tác giả bỏ sót câu "chữa lành những tâm hồn tan nát" và ngắt câu hai trước những chữ "và ngày báo thù"; tác giả thêm vào câu 1: "trả tự do cho những kẻ bị áp bức", chắc hẳn là do Is 58,6; từ đầu câu 2, tác giả thay tiếng: "rao" (appeler) bằng "công bố" (proclamer) đã có sẵn ở câu trước.

Đối với thính giả CGS, bản văn này là lời của một tiên tri và họ có thể đồng hóa vị tiên tri ấy với người tôi-tớ- Giavê mà những lời sấm của người tôi tớ ấy được tìm thấy ngay trong chính sách này (nhất là 42,1-7 có những tương quan chặt chẽ với 61,1). Bản văn loan báo một năm hồng ân tương đương với định chế của năm toàn xá theo luật Môisen (Lv 25,8-17). Nhưng mọi người đều hiểu rõ rằng, đối với Isai, điều quan hệ ở đây không phải chỉ đơn giản nói đến những tính toán giữa con người với nhau: chính TC sắp can thiệp bằng ân sủng của Ngài, và sự tự do mà Ngài loan báo hoàn toàn vượt lên trên sự tha nợ giữa những Do thái; đó là sự cứu độ lạ lùng của thời cánh chung và có thể đồng hóa với nước TC, mà người ta sẽ sôi nổi chờ đợi.

5. "Bấy giờ Ngài bắt đầu nói với họ: "hôm nay ứng nghiệm đoạn kinh thánh mà tai các ngươi vừa nghe". Trong câu đầu tiên này CGS đưa ra tất cả ý hướng bài giảng. Ngài sắp thực hiện nơi Ngài lời sấm ngôn tiên tri mà chính Ngài vừa đọc. Làm như vậy, Ngài xử sự như một tiên tri.

Tiếng đầu tiên của CGS thật quyết liệt. "Hôm nay" xuất hiện nhiều lần nơi Lc, và chỉ Lc mà thôi, trong những đoạn khác nhau nói đến ơn cứu độ được thực hiện trong suốt cuộc đời CGS: ngày sinh nhật (2,11), chịu thanh tẩy (3,22), chữa lành người bất toại (5,26), những phép lạ và cuộc tiến lên Giêrusalem (13,32-33), tha thứ cho ông Giâkêu (19,5-9), lời hứa tha tội người trộm lành (23,43). Tiếng này ám chỉ sự hiện diện của CGS tạo nên một giai thoại thoại đặc sắc trong thời cứu độ. Lc không xem đây là thời thế mạt, vì ông biết Giáo hội đang nối tiếp cuộc đời CGS và ông trông đợi ngày Chúa trở lại (12,40; 17.22-37; 18,8; 21,27). Nhưng ông cũng nhìn thấy trong sứ điệp của CGS, một thời kỳ đặc biệt của lịch sử, một thời đại ân sủng giữa những sửa soạn của CƯ và thời bành trướng của Giáo hội, "trung tâm thời gian", thành ngữ danh tiếng của Conzelmann.

CGS áp dụng cho chính Ngài sấm ngôn của Is 61. Khi chịu phép rửa Ngài đã nhận lãnh Thánh Thần như một xức dầu ban cho Ngài một phận vụ thánh mà Lc diễn tả như là phận vụ của Messia (hoặc do việc trông đợi Đức Kitô trong 3,15 hoặc do lời Chúa Cha trong 3,22 lấy lại lời sấm phong vương cổ xưa của thánh vịnh 2,7). Nhưng CGS là Đấng Messia khác xa các vua trần gian mà các người đương thời mong đợi. Để tránh hiểu lầm Ngài không công khai minh định mình là Đấng Messia (x.4,11) và chỉ mạc khải điều đó cho nhóm tông đồ này, sau này khi họ đủ khả năng lãnh hội mạc khải đó (9,18-21). Còn bây giờ, lúc mới bắt đầu sứ vụ Ngài thích tự xưng là tiên tri mang tin mừng cứu độ. Có lẽ bản văn Is cho thấy Ngài là chân dung người tôi tớ Giavê, và nói lên các đề mục chính yếu của Tin mừng Ngài rao giảng là: người nghèo được ưu đãi, kẻ tù đày bị áp bức được giải phóng tự do, người mù được xem thấy. Những điều đó rõ ràng nói lên lòng ưu ái Ngài dành cho những kẻ khiêm nhu và các phép lạ Ngài sắp làm để thắng bệnh tật thể xác. Đồng thời các lời đó còn đưa ra các yêu sách và ân huệ của Ngài: lời mời gọi có tâm hồn nghèo khó, lời hứa giải phóng tội nhân đắm chìm trong giận dữ, cho người tin được xem thấy (khi chú giải "xem thấy" này, CGS theo sát tư tưởng của Is 29,18-19 và 35,5-6).

Trong Is 61,2 tiên tri vừa loan báo một năm hồng phúc vừa loan báo một ngày báo oán; như thế ông trình bày đề tài cựu truyền về ngày của Giavê, vừa là ngày phán xét vừa là ngày cứu độ. Ở đây CGS không nói đến việc phán xét: không phải là Ngài loại bỏ chủ đề Ngài thường đề cập trong Tin mừng (Lc 6,20-26; 10,12-15; 11,30-32; 12,8-9; 12,35-48.49-59; 13,23-30; 16,1-8; 17,22-37; 18,8; 19,11-27), nhưng trong diễn từ này Ngài chỉ nhắm đến "trung tâm thời gian" là lúc mà ơn cứu độ được ban cho Israel; chính là thời gian mà Ngài gọi là năm hồng phúc của Chúa, là dịp thuận tiện mà dân Ngài phải lợi dụng (thật bạo gan khi muốn tìm ở đây một chỉ dẫn về thời hạn sứ vụ của CGS; bản văn Is nói là rao giảng trong một năm, nhưng CGS ở đây không nói chi đến thời gian hoạt động của Ngài).

Tóm lại, theo LC, tư tưởng CGS ở đây giống như tư tưởng trong lời loan báo: Nước TC đã gần đến, mà Lc 1,15 và Mt 4,17 đã ghi lại vì lời loan báo này cho thấy bây giờ người ta có thể vào nước TC nhờ sứ mệnh của CGS. Nhưng cách diễn tả của Lc chính xác hơn: phân biệt thời gian CGS hoạt động với thời gian hoàn tất có ý nghĩa cánh chung Lc cũng xác định đúng vai trò, hồng ân và các yêu sách của CGS.

6. Giai thoại này bộc lộ các ý hướng chính của Lc. Ông biết giai thoại Nazaret này nằm sau một chuỗi hoạt động của CGS. Ông nói câu đó trong hai câu đi trước đoản văn này (4,14-15) và gián tiếp ám chỉ ở 4,23. Ông đặt giai thoại này vào lúc CGS bắt đầu sứ vụ rao giảng. Hiển nhiên ông muốn chính CGS xác định sứ mạng ngay từ đầu phúc âm. Ý hướng này cũng có ở đầu sách Cvsđ (Ccsđ 1,8), là câu ghi lời CGS loan báo sứ mệnh truyền giáo của các tông đồ, và cho thấy lược đồ cuốn sách.

Cũng như trong Mc và Mt, khung cảnh câu chuyện là hội đường. Đây là một trong những phương pháp của CGS (4,15.33-34; 6,6; 13,10). Đây cũng là cách các nhà truyền giáo (mà Lc được tháp tùng) thường làm; tại mỗi thành, các Ngài bắt đầu rao giảng tại hội đường (Cvsđ 9,20; 13,5.14.44; 14,1; 17,1.10; 18,4.7.19; 19,8). Qua đó tác giả muốn nhấn mạnh sứ điệp cứu rỗi được ban cho Israel trước hết bắt đầu từ thánh kinh và phụng tự; giao ước mới hoàn tất giao ước cũ.

Mc 1,15 và Mt 4,17 tóm tắt sứ điệp đầu tiên của CGS là: công bố nước TC gần đến. Lc làm sáng tỏ điều đó hơn nữa khi trích Is 61 là đoạn mà chắc chắn CGS đã tự áp dụng cho mình. Trong cảnh ở Nazaret, bản văn cho thấy đấng Messia, được giới thiệu khi chịu phép rửa, đã ra mắt công chúng như là vị tiên tri được Thánh Thần tấn phong; Ngài sắp đặc biệt lưu tâm đến các người nghèo khó, đau khổ, bị áp bức (đây là tư tưởng của riêng Lc); Ngài đến giải thoát họ và cho họ nhìn thấy chương trình của TC. Sứ mệnh tại thế của CGS tạo nên thời đại ân sủng cho Israel, mà họ phải biết lợi dụng ngay từ hôm nay.

KÉT LUẬN

Màn khai diễn là một điểm rất quan trọng để hiểu những chương phúc âm kế tiếp. Một cách nào đó CGS trình bày giáo huấn của Ngài. Trước hết Ngài đem đến ơn cứu độ, giải phóng, ánh sáng, ủi an: tất cả những thứ đó đều dành cho những người nghèo khó và bị áp bức. Thực sự đã bắt đầu một năm mới toàn xá. Nhưng lần này không phải chỉ có con người mới tha nợ và trao trả quyền công dân, tự do. Trong ngôi vị được xức dầu, chính Giavê đến tha nợ cho con người và giải thoát con người khỏi nô lệ sự dữ.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Kiến thức về CGS mà chúng ta có được, kiến thức mà các vị thủ lãnh giáo hội, cha mẹ và những nhà giáo dục truyền lại cho ta từ đời nọ sang đời kia, bắt nguồn từ các sách phúc âm. Những sách phúc âm này, như tác giả phúc âm Lc cho biết trong những câu đầu của phúc âm ta vừa đọc, đã được viết bởi các nhân chứng đã chứng kiến các biến cố, hay bởi những người cẩn thận, như Lc, đã sưu tầm cách chắc chắn trước khi xuất bản. Như vậy có nghĩa là đức tin của chúng ta không phải được dựa trên những dụ ngôn hay thần thoại do trí tưởng tượng bày ra. Đức tin của chúng ta đặt cơ sở trên những sự kiện lịch sử được nhiều người thà đổ máu để làm chứng hơn là chối bỏ những sự kiện này. Điều này mang lại cho Kitô giáo một bộ mặt đặc biệt, độc nhất trong lịch sử nhân loại. Sự kiện Kitô giáo được đặt trên cơ sở chính yếu là sự can thiệp của TC trong lịch sử, phân biệt Kitô giáo với các tôn giáo cũng như với mọi hệ thống tư tưởng khác. TC chúng ta là Chúa tể mọi sự kiện,mọi hành động có thực, không phải là ngẫu tượng hay thuần tư tưởng. Và TC ấy lưu tâm đến lịch sử cụ thể của con người, chính TC ấy ngày nay còn kêu gọi ta qua trung gian CGS, con người cụ thể ở Nazaret.

2. Khi rao giảng một trong những sứ điệp của mình cách công khai tại Nazaret là "nơi mình đã sinh trưởng" (c.16), CGS cho thấy rõ sự tế nhị của tâm hồn Ngài. Là người có tiếng tăm khắp vùng Galiles (c.14-15), Ngài không quên nơi mình đã lớn lên. Ngài muốn thông truyền cho người láng giềng, bà con, người đồng hương Tin mừng cứu độ, "năm hồng phúc" mà TC ban cho dân Israel và thế giới qua Ngài. Cho dầu là Con TC, được sinh ra nơi Thánh Thần, CGS cũng không từ chối những tương quan nhân loại nối kết Ngài với thành Nazaret. Ân sủng không đến để phá hủy nhưng để hoàn hảo những gì tự nhiên: để sống đời Kitô hữu trọn vẹn thay vì làm cho chúng ta tách rời khỏi người đồng hương lại làm cho chúng ta xích lại gần họ hơn và khích lệ ta yêu mến họ một cách trung kiên và tế nhị hơn.

3. Cho dầu là Đấng Cứu thế, Con TC, CGS cũng tiếp tục lui tới hội đường "theo thói quen của Người: (c.16). "Ngài tự đặt mình dưới lề luật" (Gal 4,4) như trình thuật về thời thơ ấu đã cho thấy điều đó. Ngài không đến để phá bỏ lề luật, nhưng thục thi và kiện toàn Lề luật. Là môn đệ của Ngài, chúng ta phải chọn con đường là vâng lời và tuân theo thánh ý Chúa Cha được bộc lộ trong luật Chúa và luật giáo hội.

4. CGS đã đến trước hết là để cứu vớt những người nghèo, bị áp bức đui mù. Sứ vụ công khai của Ngài thấy Ngài luôn quan tâm nâng đỡ những người đau khổ Ngài gặp trên đường. Nhưng trước hết Ngài chú ý đến những người đau khổ trong tâm hồn. Vì những người đau khổ phần xác chỉ là hậu quả và dấu chỉ của đau khổ phần hồn. Vì vậy, chính khi chữa lành bệnh nhân, cho kẻ chết sống lại, hóa bánh ra nhiều, trước tiên ngài nhằm giải thoát những tâm hồn tội lỗi, xua đuổi ma quỉ, mở mắt đức tin. Công việc từ bi của Ngài luôn được tiếp tục trong giáo hội và qua giáo hội. Nhờ các nhiệm tích, CGS tiếp tục giải thoát các tín hữu nô lệ tội lỗi, nuôi dưỡng họ bằng bánh Thánh Thể, ban cho họ sức mạnh ân sủng. Nhờ lời giáo huấn của giáo hội, CGS tiếp tục thông truyền ánh sáng Ngài cho những ai đang ngồi trong tối tăm. Và mỗi người chúng ta, trong hoàn cảnh của mình, đã được thụ hưởng hồng ân cao cả ấy của Chúa Kitô, thì đến lượt mình cũng phải làm cho những người mình gặp cũng được hưởng ân huệ ấy như mình. Mỗi người phải tiếp nối công việc của Chúa Kitô quanh mình, bằng cách tuôn tràn niềm vui và ánh sáng, nâng đỡ người đau khổ thể xác và tinh thần, tẩy trừ sợ hãi, giải thoát người dốt nát, xoa dịu các oán hờn, an ủi kẻ cô đơn, biểu lộ sự hiện diện tích cực của Chúa bằng tất cả nhân phẩm của mình. Nếu chúng ta trung thành thực thi nhiệm vụ môn đồ Chúa Kitô như thế, thì lời tiên tri Isaia hôm nay được hoàn tất, năm hồng ân của Chúa hôm nay được công bố, và nước TC sẽ hiện diện giữa chúng ta ngay từ bây giờ.


Noel Quession - Chú Giải


Thưa ngài Thêôphilô đáng kính, có nhiều người đã ra công biên soạn bản tường thuật những điều đã được thực hiện giữa chúng ta…

Luca khi viết Tin Mừng đã có những người đi trước ngoài. Lúc đó Máccô đã viết Tín Mừng của mình và Luca đã có biết bởi vì ngài đã sử dụng và đôi khi theo khá sát Tin Mừng của Máccô.

Nhưng rõ ràng là có nhiều cách để soạn thảo về cùng một đề tài . Vả lại , không phê phán những người đã viết trước mình, Luca đề ra cho mình cách viết khác, theo phương thức và với những điểm nhấn mạnh của riêng ngài.

Họ viết theo những điều mà các người đã được chứng kiến ngay từ đầu và đã phục vụ lời Chúa truyền lại cho chúng ta.

Do đó, như chúng ta, Luca thú nhận mình là một người đã không "thấy" Đức Giêsu : Ngài là một Kitô hữu thuộc "thế hệ thứ hai". Nhưng vì sống rất gần với các biến cố của Đức Giêsu nên ngài đã điều tra . . . và nhận trách nhiệm truyền đạt lại (đó là Truyền thống) những gì chính ngài đã nhận được. Phần tôi, có phải tôi cũng là một mắt xích truyền đạt Đức Giêsu từ thời này qua thời khác không ?

Tôi cũng vậy, sau khi đã cẩn thận tra cứu đầu đuôi mọi sự, thì thiết tưởng cũng nên tuần tự viết ra để kính tặng ngài, mong ngài sẽ nhận thức được rằng giáo huấn ngài đã học hỏi thật là vững chắc…

Luca thừa nhận ý định dạy giáo lý của mình một cách rõ ràng : Người muốn làm cho đức tin của người đọc được vững chắc. Tin Mừng không phải là một điều hư cấu, một huyền thoại. Tin Mừng rất nghiệm túc. Theo gương của Thánh Phaolô, thầy mình, và nhắn đến dân ngoại cải giáo (không phải là người Do Thái), Luca sẽ đề cao một số khía cạnh và giảm nhẹ một số khía cạnh đặc thù của người Do Thái Tác phẩm của ngài được linh hứng. Nhưng sự Linh hứng của Thiên Chúa không loại trừ vai trò bình thường của các khả năng con người, của các tài năng, của việc tìm tòi của tác giả. Tin Mừng của Thánh Luca là một Tin Mừng độc đáo Chúng ta hãy tiếp nhận nó như thế.

Được quyền năng Thần Khí thúc đẩy, Đức Giêsu trở về miền Galilê, và tiếng tăm Người đồn ra khắp vùng lân cận.

Suối nguồn nội tâm của Đức Giêsu chính là Chúa Thánh Thần. Luca sẽ không ngừng lặp lại điều đó : Được thụ thai bởi Chúa Thánh 'Thần (Lc 1,35)... mặc lấy Thần Khí của phép rửa tội (Lc 3,22)... được Thần khí dẫn đưa (Lc 4,l-4,14-4,18)... Nói theo cách của con người, người ta có thể tưởng tượng Đức Giêsu trong sự kết hiệp không ngừng với Đấng vô hình bằng một thứ cầu nguyện liên tục : Người không làm điều gì bởi chính Người. Người sẽ nói như thế (Ga 8,28). Trong Người, về một Hơi Thở là hơi thở của chính Chúa Cha. Trong Người, có một "người nhắc" nói với Người mọi việc Người làm trong sự tự do tuyệt đối. Tôi cũng thế, tôi hãy để cho Thần Khí dần đưa tôi 1

Người giảng dạy trong hội trường của họ, và được mọi người tôn vinh. 

Hơn các thánh sử khác, Luca thường cho biết rằng Đức Giêsu "giảng dạy trong các hội đường" (Lc 4,15 - 16,31- 6,6 - 13,10) hoặc trong Đền thờ (Lc 19,47-20,l-2l,37). Giảng dạy trong hội trường trước hết có nghĩa là chú giải Cựu Ước. Đôi khi chúng ta tự hỏi nội dung các bài giảng của Đức Giêsu là gì . Người mở rộng, đi vào chi tiết, chú giải Kinh Thánh. Tin Mừng của Đức Giêsu, trong sự lưới mẻ của Người, dựa vào các lời hứa: của Kinh Thánh một cách sâu xa. Việc Công Đồng đưa Cựu ước vào bài đọc thứ nhất mỗi chủ nhật là một sự đổi mới tìm về một truyền thống cổ xưa ! Nhờ có Công Đồng, chúng ta thực hiện lại điều Đức Giêsu đã làm.

Rồi Đức Giêsu đến Nadarét, là nơi Người sinh trưởng. Người vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày Sabát, là đứng lên đọc Sách Thánh. Họ trao cho Người cuốn sách ngôn sứ Isaia, Người mở ra...

Là Đấng Mêsia của những người nghèo khó, Đức Giêsu không-lập dị. Người đến rao giảng không phải ở Giêrusalem,

thành phố của các vua và các Thượng Tế; nhưng trong một tỉnh xa xôi và bị coi thường "vùng Galilê của dân ngoại" (Mt 4,15), vùng đất của những người phận nhỏ và nghèo khó. Là Đấng Mêsia và là tư tế, Đức Giêsu không lên Đền Thánh để cử hành các nghi thức thờ phượng, các hy tế, nhưng Người vào trong một Hội đường ở làng quê, nơi khiêm tốn để cầu nguyện và lắng nghe lời Chúa, mà tất cả lời Chúa đều tập trung trên sách thánh . Như thế, Người biểu lộ chức tư tế của Người trước hết thuộc bình diện ngôn sứ. Ngày nay cũng thế, trước tiên chúng ta hiệp thông với Đức Giêsu trong phần đầu tiên này của thánh lễ mà người ta gọi là "phụng vụ Lời Chúa". Đó không phải là một phần nhập đề phụ thuộc và tùy thích. Thánh lễ đã bắt đầu. Đức Giêsu đã "thánh hiến" một lần duy nhất trong cuộc đời Người vào ngày Thứ Năm Tuần Thánh. Nhưng Người đã dùng lời" nhiều lần : "Đó là chức tư tế của Người. Thánh Phaolô đã hiểu rõ điều ấy khi ngài được Đức Giêsu Kitô ban ân sủng làm người phục vụ Đức Giêsu Kitô lo việc tế tự là rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa (Rm 15,16). Cuốn sách mà Đức Giêsu, ngày hôm đó mang theo, mở ra và đọc luôn trường tồn. Tôi có cuốn sách ấy trong nhà tôi không ? Tôi có dành thời gian để đọc không ? Kinh Thánh có là một phẩm đặc biệt trong việc đọc sách của tôi không ? Gặp đoạn chép rằng : "Thần Khí Chúa ngự trên tôi". Vì thế Đức Giêsu đã xác định sứ mạng của Người là một sứ mạng của ngôn sứ. Trong ngôn ngữ của ít-ra-en, những lời ấy có nghĩa : Tôi là ngôn sứ, tôi được Thiên Chúa gọi đến để nói nhân danh Người, để nói sứ điệp của Người. Và Đức Giêsu đặt mình dưới sự bảo trợ của ngôn sứ lớn nhất Isaia. Qua thủ bản Qumram, người ta biết được rằng ngôn sứ Isaia là một ngôn sứ được sử dụng nhiều nhất vào thời . Đức Giêsu : Thủ bản cổ thất thế giới rõ ràng là các cuộn da, đã được tìm thấy trong một : hang động cách nay vài năm và được bảo quản trong Viện Bảo Tàng Kinh Thánh, ở Gìêrusalem, và trên đó là toàn bộ bản viết tay sách Isaia. Như một sự tình cờ, một tài liệu duy nhất thuộc loại này trong toàn bộ văn chương thế giới đến được với chúng ta vào giữa thời kỳ hiện đại. Phải chăng chỉ do sự tình cờ ? Chúng ta xúc động nhận rằng Đức Giêsu đọc sách Isaia đó.

Vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi.

Chúng ta hãy nhận xét thêm một lần nữa từ "xức dầu" được gọi là "chrisma" trong tiếng Hy Lạp, và Đấng được xức dầu được gọi là "chnstos" do đó mới có danh hiệu Đức Giêsu Kitô. Đức Giêsu là Đấng được Thần Khí: Thiên Chúa xức dầu, thâm nhập và thấm nhuần như dầu thấm vào cơ thể. Nơi người, tất cả sự viên mãn của thần tính hiện diện một cách cụ thể" (Côlôsê 2,9).

Để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn.

Những từ "loan báo Tin Mừng" dịch từ một động từ Hy Lạp : euaggehsasthai có nghĩa là "truyền bá phúc âm". Isaia đã viết ra từ ấy, mang đến niềm hy - vọng bao la gởi cho những. người bị lưu đầy ở Babylon để loan báo Tin Mừng họ được giải phóng (Is 52,7-61,1). Tin Mừng chính là sự' "giải phóng" . . . và sự "phục hưng" Giêrusalem. Nhưng một thất vọng to lớn sẽ tiếp nối những loan báo mang tính ngôn sứ của Isaia. Những người "nghèo hèn" tiếp tục bị đàn áp, và bất hạnh. Dần dần, từ "nghèo hèn" trong Kinh Thánh bắt đầu gợi ra không chỉ một điều kiện khó khăn về kinh tế hoặc xã hội, những còn là thái độ nội tâm của người nào còn tìm được chỗ dựa nơi con người khi đối diện với những kẻ quyền thế của thế gian nên phải quay về Thiên Chúa. Luca đặc biệt thích nhấn mạnh đến chủ đề này : Thiên Chúa đã đặc biệt thi ái "những kẻ nghèo hèn "…

Còn bạn là anh chị em tôi, bạn cảm thấy mình bị loại khỏi hạnh phúc theo kiểu của thế gian, bạn là người mà Lời Đức Giêsu nhắm đến trước tiên . Có một hạnh phúc khả dĩ dành cho bạn : Bạn hãy tìm hạnh phúc đó bên cạnh Thiên Chúa.

Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hoàng ân của Chúa.

Tùy theo tính khí, người ta sẽ còn tiếp tục giải thích bản văn này theo hai hướng trái ngược nhau, nếu như người ta không chịu chấp nhận cả hai : Vấn đề là sự giải phóng vật chất, chính trị và nhân bản... kẻ bị giậm cầm, người mù và người bị áp bức ?.. . hay vấn đề là một sự giải phóng tâm linh hơn ?

Chắc chắn rằng Đức Giêsu đã không mở cửa tất cả các nhà tù, không chữa lành mọi người mù và bệnh tật, đã không từ bỏ mọi áp bức khỏi hành tinh chúng ta. Hỡi ôi như thế chẳng hóa ra là một lời hứa vô ích, lừa phỉnh sao ? Tuy nhiên trước hết người nghèo hèn động ở hàng đầu tiên để chờ đợi sự giải phóng về vật chất cho họ. Có lẽ chính chúng ta, những môn đệ của Đức Giêsu sẽ có tội nếu chúng ta không "thực hiện" lời tiên tri ấy. Chúng ta phải làm gì để giải phóng anh em chúng ta ? Để làm giảm nhẹ những người bệnh tật ? Nhưng cũng chắc chắn rằng sự áp bức tệ hại nhất là sự nô lệ nội tâm mà tội lỗi tạo ra trong chúng ta. Từ được dịch ra ở đây bằng từ "giải phóng" hay trả lại tự do chính là từ "aphésis" cũng có nghĩa là "tha thứ" (Lc 1,77-3,3-24,47 ; Cv 2,38,5,31 v.v...) Vâng, lạy Chúa, xin giải phóng chúng con xin tha thứ chúng con ! ôi ! trong tầm hồn con, có sự nô lệ khủng khiếp đó, khi con trở nên tù nhân của xác thịt con, của thù hận, tiền bạc, tiện nghi, khoái cảm ! Sự giải phóng mà Đức Giêsu đã hứa cũng dành cho chính con.

Đức Giêsu cuộn sách lại, trả cho người giúp việc hội đường rồi ngồi xuống. Ai nấy trong hội đường đều chăm chú nhìn Người. Người bắt đầu nói. Với họ :. "Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe".

Ngày nay ở thế kỷ XXI,.. điều đó có hên quan gì với tôi ? Thánh Luca sử dụng mười hai lần tiếng"hôm nay" mầu nhiệm và trang nghiêm ấy, trong Tin Mừng của Ngài, tứ "Hôm nay" đã sinh ra cho anh em một Cứu Chúa" trong ngoài Giáng sinh...cho đến "Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng" lúc Người bị treo trên thập giá (Lc 2,11 - 3,22 - 4,21 - 5,26 -12,28 - 13,32 -13,33 -19,5 -19,9 - 22,34 - 22,61 -23,43).


Giáo phận Nha Trang - Chú Giải


 

"Hôm nay ứng nghiệm đoạn Kinh Thánh này".

BÀI TIN-MỪNG : (Lc 1,1-4; 4,14-21)

I. Ý CHÍNH :

Bài Tin-Mừng hôm nay được trích từ hai đoạn khác nhau trong Tin-Mừng thánh Luca, nhưng cùng có chung một tính cách là khai mạc :

- 1,1-4 là phần nhập đề.

- 4,14-21 là phần nói đến việc Chúa Giê-su bắt đầu giảng dạy tại Nagiarét.

II. SUY NIỆM :

1. "Vì có nhiều người khởi công chép lại …" :

Đây là mấy câu mở đầu thay lời tựa của Tin-Mừng thánh Luca. Với mấy câu này Luca muốn nói cho thính giả hiểu biết về tính cách lịch sự và minh giáo của Tin-Mừng ông viết :

Về tính cách lịch sử : thánh Luca ghi lại những sự việc và biến cố đã xảy ra thực sự và có tính cách công khai, đồng thời ông cũng căn cứ vào những sử liệu đích đáng do nhiều người đã được chứng kiến và phục vụ lời Chúa đã ghi chép hoặc kể lại (Các Tông Đồ và Thánh Mẫu Maria).

Về tính cách minh giáo : viết Tin-Mừng này, Luca có ý tặng ông Thêôphilê và các độc giả khác, để họ nhận chân các điều ông nói về Chúa Giê-su là Đấng Cứu Thế và là Con Thiên-Chúa.

2. "Bấy giờ Chúa Giê-su trở về Galilê …" :

Sau khi được thanh tẩy và bị cám dỗ, Chúa Giê-su trở về Galilê để bắt đầi rao giảng ở đó (Mc1,14; Mt 4,12; Lc 4,14).

"Trong quyền lực Thánh Thần …" : Khi chịu phép rửa Chúa Giê-su đã nhận lãnh Thánh Thần, khi đi rao giảng Người cũng rao giảng trong quyền lực của Chúa Thánh Thần.

"Danh tiếng Người lan tràn khắp cả miền …" : Câu này nói đến sự trỗi vượt của Chúa Giê-su về lời Người nói cũng như việc Người làm, khiến cho nhiều người ngạc nhiên và cảm phục.

3. "Người giảng dạy trong các hội đường …" :

Hội đường là nơi dân Chúa đến tụ họp để cầu nguyện và nghe giáo huấn. Trong mọi buổi họp, sau phần cầu nguyện, ông chủ hội đường thường chỉ đạo một người có tiếng về đạo đức và học thức, hoặc mời người khách không thạo Kinh Thánh chú giải một đoạn sách Luật hay các tiên tri. Chúa Giê-su thường được mời giảng tại các hội đường, và khi giảng Người tỏ ra khôn ngoan thông thái và có uy quyền, khiến cho mọi người cảm phục và ca tụng.

4. "Người đến Nagiarét nơi Người sinh trưởng …" :

Chúa Giê-su trở về Nagiarét, quê hương của Người hai lần, và đây là lần thứ nhất. Hôm đó nhằm ngày lễ nghỉ, theo thói quen, Người vào hội đường như mọi người khác để cầu nguyện và nghe đọc Kinh Thánh.

Từ khi Người bỏ quê hương Người đến nay người ta đồn thổi về Người rất nhiều vì "Danh tiếng Người lan tràn khắp cả những miền chung quanh". Nay thấy Người trở lại thăm quê hương, mọi người đều muốn nghe và muốn biết về Người. Viên chủ hội đường có lòng quý mến, coi Người như một bậc diễn giả khả kính nên đã trao sách Thánh cho Người đọc và chú giải.

5. "Mở sách ra Người gặp ngay đoạn chép rằng …" :

Chúa Giê-su mở sách ra, gặp ngay đoạn sách Isaia nói về Đấng Cứu Thế (Is 61,1-2).

6. "Mọi người trong hội đường đều chăm chú nhìn Người" :

Câu này diễn tả tính cách ham thích của những người đồng hương muốn biết sự thật về danh tiếng của Chúa Giê-su và vì thế "Họ chăm chú nhìn Người". Đồng thời thái độ chăm chú của thính giả cũng nói lên tính cách đặc biệt của Chúa Giê-su : Người giảng dậy không như các diễn giả khác vì Người giảng như người có quyền.

7. "Hôm nay ứng nghiệm đoạn Kinh Thánh …" :

Tiếng đầu tiên của Chúa Giê-su thật quyết liệt "Hôm nay".

+ "Hôm nay" xuất hiện nhiều lần nơi Tin-Mừng Luca, và chỉ Luca mà thôi, trong những đoạn khác nhau nói đến ơn cứu độ được thực hiện trong suốt cuộc đời Chúa Giê-su : Ngày sinh nhật (2,11), chịu thanh tẩy (3,22), chữa lành người bất toại (5,26), những phép lạ và cuộc tiến lên Giêrusalem (13,32-33) tha thứ cho Giakêu (19,5-9), lời hứa tha tội cho người trộm lành (23,43). Tiếng này ám chỉ sự hiện của Chúa Giê-su là thời gian cứu độ.

Chúa Giê-su áp dụng cho chính Người Sấm ngôn này của Isaia. Khi chịu phép rửa, Người đã nhận lãnh Thánh Thần như một sự xức dầu ban cho Người một sứ mệnh Thánh mà Luca diễn tả như là sứ mệnh của Đấng Cứu Thế, mà ở đây Người tự xưng là tiên tri mang Tin-Mừng Đấng Cứu Độ : người nghèo được ưu đãi, kẻ tù đầy được giải phóng, người mù được xem thấy.

Những điều này rõ ràng nói lên lòng ưu ái của Người dành cho những kẻ khiêm nhu và các phép lạ Người sắp làm để thắng bệnh tật thể xác. Đồng thời các lời này còn đưa ra các ân sách và ân huệ của Người : đó là lời mời gọi các tâm hồn nghèo khó, lời hứa giải phóng các tội nhân đang đắm chìm trong sự dữ và cho những người tin được xem thấy (x. Isaia 29,18-19 và 35,5-6).

"Một năm hồng ân và ngày khen thưởng" :

+ "Một năm hồng ân" ám chỉ năm toàn xá được định sẵn mỗi mười năm một lần theo luật Môisen (Lv 35,10-13). Chúa Giê-su trình bày sự xuất hiện của Người như là sự khai nguyên cho thời kỳ hồng ân đã được các tiên tri loan báo.

* "Ngày khen thưởng" : Có ý ám chỉ đến việc phán xét trong ngày quang lâm, nhưng trong hiện tại, thời gian cứu độ con người đòi hỏi phải có thái độ lựa chọn dứt khoát trong việc đón nhận ơn cứu độ của Người.

III. ÁP DỤNG :

A. Ap dụng theo Tin-Mừng :


Qua bài Tin-Mừng hôm nay, Giáo Hội muốn mời gọi chúng ta tin tưởng vào sự xác thực của Tin-Mừng để nhờ đó chúng ta biết đón nhận ơn cứu độ của Chúa, bằng cách thực thi lời Chúa rao giảng đã được ghi chép lại trong Tin-Mừng.

B. Ap dụng thực hành :

1. Nhìn vào Chúa Giê-su :


Chúa Giê-su trở về Galilê trong quyền lực của Chúa Thánh Thần. Qua bí tích Rửa Tội và Thêm Sức, chúng ta được nhận lãnh Chúa Thánh Thần, vì thế chúng ta cũng được sống trong quyền lực của Người. Chúng ta chỉ được vang danh tức là được thánh hóa khi chúng ta sống theo quyền lực ấy.
"Người đến Nagiarét, nơi sinh trưởng" : Chúa Giê-su không từ chối những tương quan nhân loại nối kết Người với quê hương mình. An sủng không đến để phá hủy những gì hoàn mỹ nhưng để hoàn hảo những gì tự nhiên : để sống đời Ki-tô hữu trọn vẹn, thay vì làm cho chúng ta tách rời khỏi những người đồng hương và lân cận lại làm cho chúng ta xích lại gần họ hơn và khích lệ ta yêu mến một cách chân thành và tế nhị hơn.

"Theo thói quen của Người" : cho dù là Đấng Cứu Thế, Con Thiên-Chúa, Chúa Giê-su cũng tiếp tục lui tới hội đường : "Người tự đặt mình dưới lề luật" (GI 4,4). Là môn đệ của Chúa, chúng ta phải tỏ ra vâng phục và tuân theo thánh ý Chúa được bộc lộ qua luật Chúa, luật Giáo Hội và các quy luật có mục đích giúp ta nên hoàn thiện.

"Hôm nay ứng nghiệm đoạn Kinh Thánh" : Công việc cứu độ của Chúa được tiếp tục trong Giáo Hội và qua Giáo Hội. Nhờ các nhiệm tích, Chúa Giê-su tiếp tục giải thoát chúng ta khỏi ách nô lệ tội lỗi, nuôi dưỡng ta bằng Thánh Thể, ban cho ta sức mạnh ân sủng. Nhờ lời rao giảng và giáo huấn của Giáo Hội, Chúa Giê-su tiếp tục thông truyền ánh sáng Người cho những ai đang ngồi trong tối tăm. Mỗi người chúng ta nhận lãnh hồng ân cứu độ của Chúa, chúng ta phải tiếp tục đem ơn cứu độ ấy cho người khác qua đời sống gương sáng, chứng tích và nhất là đời sống bác ái.

2. Nhìn những người xung quanh :

a) Người giảng dạy trong các hội đường và được mọi người ca tụng. Tại hội đường, dân chúng ca tụng Chúa khi nghe Người giảng. Tại nhà thờ mỗi khi đi tham dự thánh lễ, chúng ta có biết ca tụng Chúa khi nghe đọc hoặc suy niệm Sách Tháng không ?

b) "Mọi người trong hội đường đều chăm chú nhìn Người". Mỗi lần nghe đọc lời Chúa, chúng ta có chăm chú lắng nghe, chăm chú trong tư thế như im lặng, thái độ nghiêm trang, chăm chú trong nội tâm : chú ý lắng nghe và suy niệm trong lòng để tìm hiểu ý Chúa và đem ra thực hành.


HTMV Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn