Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật IV Mùa Chay B

Tin mừng Ga 3,14-21: "Như Môisen đã giương cao con rắn trong sa mạc, con Người cũng phải bị giương cao như thế, để tất cả những ai tin vào Người thì được sự sống đời đời" 
CHÚ GIẢI TIN MỪNG

NGÀY 11 THÁNG 03 NĂM 2018

CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG B


Tin mừng Ga 3,14-21
 

Học viện Piô Giáo hoàng  - Chú Giải

ĐÀM THOẠI VỚI NICÔĐÊMÔ (GA 3,14-21)


CÂU HỎI GỢI Ý

1 Đoạn văn này được đặt như thế nào trong văn mạch chung và văn mạch gần của nó?

2. Gioan gán ý nghĩa nào cho việc giương cao Chúa Giêsu trên thập giá?

3. Gioan quan niệm thế nào về lịch sử cứu rỗi trong c.16-17? 4. Sứ vụ công khai của Chúa Kitô là một "cuộc cánh chung đã được thực hiện", là một "cuộc phán xét nhân loại" theo nghĩa nào?

1 . Để hiểu đoạn này cách sâu xa và đầy đủ, cần phải đặt nó vào lại trong văn mạch tổng quát của các chương đầu Tin mừng thứ tư (Ga 1,19-3,36) và vào văn mạch trực tiếp của cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu với Nicôđêmô ( Ga 3, 1-21).

Sau chứng từ của Gioan Tẩy Giả công bố người là "Chiên Thiên Chúa" (1, 19-31), Chúa Giêsu bắt đầu u quy tụ các môn đồ đầu tiên, những kẻ đã nhận ra tư cách thiên sai của Người (1 ,35-41 ). phép lạ cana (2, 1-11), dấu chỉ đầu tiên của Chúa Giêsu, đã đưa toàn bộ sứ vụ Người vào trong nhiệm cục cứu rỗi mới (rượu nho của giao ước mới) vốn sẽ thay thế nhiệm cục cứu rỗi cũ nước quán tẩy của người Do thái) và sẽ đạt tối cao điểm là Giờ của Chúa Giêsu, giờ đau khổ-tử nạn tôn vinh".

Việc đuổi quân buôn bán ra khỏi Đền thờ, một cử chỉ đặc biệt của ngôn sứ (2, l3-22) đã cho thấy toàn bộ hệ thống hy tế cũ của Do thái giáo sẽ được thay bằng hy tế cứu chuộc đích thực là cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu. Rồi một nhận xét cho l:ằng nhiều người Do thái ở Giêrusalem đã tin vào danh Người chỉ vì được chứng kiến các phép lạ người ban" (2,23-25) đã đưa ra ánh sáng một thái độ đặc biệt hồ đồ mà một số người trong họ sắp có đối với Chúa Giêsu.

Tóm lại, nơi ch.2, đó là vấn đề thay đổi tôn giáo xét trong toàn bộ và trong phụng tự của nó. Hây giờ ch.3 đề cập đến việc canh tân toàn diện con nguờỉ, điều kiện căn bản để được đưa vào trật tự mới. Cuộc tái tạo này đã đtiợc loan báo ờ 1,12-13.

Thành thử không phải vô cớ mà ngay sau lời nhận xét về những người Do thái tín hữu nửa vời ở Giêrusalem, Gioan đã tường thuật cuộc đàm thoại giữa Chúa Giêsu và Nicôđêmô (3, 1-21), "một trong những đầu mục Do thái" (3,l), kẻ tiêu biểu "tín" người mau mắn tin vào danh Chúa Giêsu vì hoa mắt trước phép lạ Người làm, nhưng chưa thể hoàn toàn tin Người như Đấng Messia và như Con Thiên Chúa. "Thật gần nhưng cũng hãy còn xa", đấy có lẽ là tiêu đề thích hợp với câu chuyện Nicôđêlnô cũng như với câu chuyện "chàng thanh niên giàu có,, (Mc 10,17tt), vì Gioan cho ta thấy một người Do thái, dù là "bậc thầy của Israel" (3,10), cũng phải khó khăn lắm mới hiểu biết cách thâm sâu sứ vụ của Chúa Giêsu và mầu nhiệm Người.

Bây giờ hãy xét đến văn mạch trực tiếp của đoạn văn chúng ta. Bản văn này (3,14-21) là phần cuối của cuộc đàm thoại giữa Chúa Giêsu với Nicôđêmô (3,1-21), một trình thuật vốn đã đặt ra cho các nhà chú giải không ít khó khăn về phương diện phê bình văn chương lẫn lịch sử. Dầu sao, theo ý kiến chung, phải nhìn nhận trình thuật này có hai phần riêng phần đầu (3,1-12) ghi lại chính cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và Nicôđêmô về sự cần thiết phải tái sinh bởi Thần khí để thấy được Nước Thiên Chúa, nghĩa là để cảm nghiệm, chiếm hữu Thiên Chúa, hay đúng hơn để được Thiên Chúa Chúa chiếm đoạt, bắt lấy mình. Việc tái sinh "bởi trên" xảy ra khi một người được biến đổi - như thánh Phaolô nói - nhờ một cuộc "sáng tạo mới", một cuộc sáng tạo giúp người ấy đủ khả năng nhận ra, trong con người xương thịt và lịch sử của Chúa Giêsu Nadarét, Lời Thiên Chúa nhập thể, Con Thiên Chúa được gởi đến trong trần gian để mặc khải và thông ban cho loài người những phong phú mầu nhiệm của sự sống Thiên Chúa. Một sự hiểu biết như vậy không thể phát xuất từ một kinh nghiệm thuần túy con người, dù có sự hỗ trợ của khôn ngoan Thánh kinh. Chỉ Thần khí Thiên Chúa mới sinh ra được con cái của Vương quốc : ai sinh bởi Thiên Chúa thì có mầm  giống của Thiên Chúa trong mình (1Ga 3,9).
Túc từ thứ hai của hành động tái sinh: "bởi nước" (c.5) được đa số các nhà chú giải cho là đã do trường phái Gioan thêm vào sau, vì muốn quy hướng một cách hợp lý chủ đề "tái sinh bởi trên" hay là bởi Thần khí" về phép rửa Kitô giáo là bí tích làm cho người tín hữu được tháp nhập vào Chúa Kitô và trở nên dương tử của Thiên Chúa.

Phần hai (3,13-21) lấy lại chủ đề đi trước bằng cách xác quyết chỉ có Con Người từ trời xuống mới Có thể mặc khải chương trình bí nhiệm của Cha, chương trình hệ tại việc tái sinh con người bằng cái chết và sự sống lại của Chúa Kitô (cc 13-17), nhờ niềm tin vào danh Con Một, cái niềm tin tuyệt đối cần thiết để hưởng ơn Thần khí (cc. 16-21).

Chính phần hai này gây nhiều khó khăn hơn cả. Trước đó nơi c. 11 . Chúa Giêsu đã diễn tả ở số nhiều ("chúng tôi có biết, chúng tôi mới nói . . .") như thể là một cộng đoàn đang nói, như thể là vừa ngỏ lời với Nicôđêmô ("Quả thật, quả thật, tôi bảo ông"), Chúa Giêsu vừa nhắm đến những người Do thái trong bản thân vị đầu mục (". . . nhưng các ông không nhận chứng của chúng tôi"'). Ngoài ra, cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và Nicôđê mô (cc. 1-l2) biến thành độc thoại (cc. 13-21),  một cuộc độc thoại trong ấy Chúa Giêsu không còn nói ở ngôi thứ nhất nữa mà là ngôi thớ ba. Người ta còn nhận thấy một vài chủ đề trong cc. 13-21, đặc biệt chủ đề "giương cao Con Người" (c.14) hình như vượt quá hoàn cảnh cụ thể của cuộc đối thoại với Nicôđêmô. Sau cùng, người ta không thể không chú ý tới sự song đối chặt chẽ về chủ đề và từ ngữ giữa Ga 3,11-19 và Ga 3,31-36, đoạn kết thúc chương 3 sau chứng từ cuối cùng của Gioan Tẩy giả (3,22-30).

Những khó khăn vừa nêu đã khiến một số nhà chú giải xem phần hai này (cc.13-21) liên kết với cc.31-36 như một bài huấn dụ hay một bài giảng có tính cách thuyết giáo mà chính thánh sử đã soạn (Schnackenburg v.v. . .). Tuy nhiên, cho dù đó là một bản văn là thánh sử đã sửa chữa bằng cách thay đổi các viễn tượng của nó và bằng cách khai triển các chủ đề mới mẻ, thì trong thực tế vẫn không thể quả quyết câu nào là của Chúa Giêsu và câu nào là của thánh sử. Vì dẫu mọi lời Chúa Giêsu nói đều đã được Gioan chuyển lại cho ta qua lăng kính hiểu biết và suy tư của ông, điều đó vẫn không cấm ta đặc biệt là ở đây, đặt chúng lên môi của chính Thầy. 2. Trong Tin mừng thứ tư, chủ đề "giương cao Con Người" có một ý nghĩa thần học rất lớn. Ta gặp nó, luôn luôn trên môi miệng Chúa Giêsu, trong ba đoạn (3,14; 8,28; 12,32.34) tương ứng vài ba lần tiên báo về cuộc Khổ nạn trong Tin mừng Nhất lãm.

Khi nói đến việc "giương cao Con người", Gioan không quy chiếu trực tiếp về biến cố Thăng thiên, nhưng về việc Chúa Giêsu bị treo trên thập giá, việc mà ông quan niệm như một lễ đăng quang, một cuộc hiển linh của Chúa Kitô Vua. Tin mừng thứ tư nhận ra Vua-Messia trong Chúa Kitô bị đóng đinh, và xem việc Người bị giương cao lên thập giá (13,32) có một động lực vô thiên thu hút cả vũ hoàn, như lời tiên báo của tấm biển Philatô cho đóng trên thập giá ("Giêsu Nadarét, Vua dân Do thái"), cái tấm biển bị người Do thái coi rẻ .

"Như Môisen đã giương cao con rắn trong sa mạc, con Người cũng phải bị giương cao như thế, để tất cả những ai tin vào Người thì được sự sống đời đời" (cc. 14-15). Việc đối chiếu điển hình luận với con rắn đồng Môisen đã treo lên trong sa mạc (Ds 21,8-9) thật đầy ý nghĩa. Con rắn đồng đã cứu dân Hy bá với điều kiện họ "nhìn lên nó", không phải cách nào cũng được nhưng với niềm tin, để nhận ra nó là dấu chỉ của lòng nhân hậu và quyền năng của Thiên Chúa. Thật vậy, sách Khôn ngoan (16,6) đã thấy trong con rắn này "một dấu chỉ ơn cứu độ, cũng thế, Con Người bị giương cao trên thập giá là dấu chỉ ơn cứu rỗi và sự sống cho loài người, nhưng với điều kiện là lòng tin của họ phải thành thật: "để những ai tin vào Người thì được sự sống đời đời". Vương quyền của Đấng chịu đóng đinh thật phổ quát, nhưng để có thể lôi kéo mọi người và thông ban cho họ ơn cứu rỗi, vương quyền đó phải được thừa nhận với con mắt đức tin: "Họ sẽ nhìn xem (hạn từ diễn tả niềm tin trong Gioan) Đấng họ đã đâm thâu (19,37). Chúa Giêsu bị đóng đinh là Vua-Cứu Chúa của tất cả những ai tin Người.

Trong Tin mừng Gioan, ơn cứu rỗi được diễn tả bằng tiếng "sự sống đời đời", một từ ngữ không chỉ sự sống tương lai như Tin mừng Nhất lãm (Mt 19,16.29; Mc 10,17.30; Lc 18,30) và Phaolô (Rm 6,22-23; Gl 6,8) cho bằng chỉ một khả hữu và một thực tại đang hiện có cho những ai tin: "Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi: ai nghe lời Ta và tin vào Đấng đã sai Ta thì có sự sống đời đời và khỏi đến tòa phán xét, nhưng đã ngang qua sự chết mà vào sự sống" (Ga 5,24; 3,36; 6,47; 1Ga 5,13).

Thành thử hình như Chúa Giêsu muốn nói với Nicôđêmô và với mọi người Do thái rằng: dù đang sống trong "đất hứa", họ vẫn còn trong "sa mạc", bị cái chết ngăm đe. Họ cần phải được sinh.lại. Và giờ đây cái được ban cho họ không còn là một "dấu chỉ ơn rỗi", nhưng là ơn cứu rỗi thực sự : con người, vào giờ tử nạn, sẽ "phó thác Thần khí" (Ga 19,30b) và chính Thần khí Người có khả năng tái sinh họ.

3. Gioan thường có ý tưởng này là: công trình cứu rỗi của Chúa Kitô phát sinh từ tình yêu Thiên Chúa, nên do đó biểu lộ tình yêu ấy ra ( 1Ga 3, 16; 4,9- 10.16).
"Vâng, Thiên Chúa đã yêu mến thế gian đến nỗi đã ban Con Một Ngài, để tất cả những ai tin vào Người thì khỏi phải hư vong, nhưng được sống đời đời" (c.16). Cũng như  c.15, c 16 phải được đọc trong viễn tượng của các chủ đề và các hình ảnh Cựu ước. Thật vậy, hậu cảnh của câu này là chuyện Abraham đã không tha Isaac, đứa con một dấu yêu, nhưng đã hiến dâng cho Thiên Chúa (St 22,1-12; x.Rm 8,32). Rồi chi tiết "thế gian" - theo nghĩa chúng ta sẽ giải thích cũng phù hợp hoàn toàn với bối cảnh của lịch sử vì tổ phụ: đức vâng phục và lòng quảng đại của ông đã khiến ông được Thiên Chúa hứa cho trở nên nguồn mạch phúc lành cho mọi dân tộc trên trái đất (St 22, 18).

Sự song đối tiềm ẩn về việc hy sinh vừa nói hình như cũng phù hợp với nhận xét xác đáng của một vài nhà chú giải về động từ Edôken ("Ngài đã ban") mà Gioan dùng ở đây. Tiếng này không có nghĩa phó nộp cho tử thần" (nếu thế thì phải dùng động từ paredôken mà truyền thống tiền Gioan vẫn sử dụng để nói lên sự hy sinh của Chúa Giêsu trên thập giá), nhưng có nghĩa đơn sơ là trao ban. Nói cách khác, theo Gioan, chính con người Chúa Con là "ơn Chúa Cha ban tặng". Việc ban ơn này trước tiên biểu lộ qua việc sai Chúa Con đến trong thế gian (c. 17) bằng chính việc Nhập thể, và nguyên việc Nhập thể này cũng đủ lấp đầy hố sâu ngăn cách Thiên Chúa với thế gian và cho thấy rõ ràng sự cao cả của tình yêu Thiên Chúa. Nhưng dầu sao, như mọi nhà chú giải đều công nhận, việc ban ơn này cũng tỏ hiên qua việc giương cao Chúa Con trên thập giá, việc mà c. 14 cho thấy là có liên hệ với ý định tất yếu và không thể đảo ngược của Chúa Cha ("Con Người cũng phải . . ."). hơn nữa, đó chính là nơi mà việc ban ơn của Thiên Chúa đạt đến cực điểm.

Tình yêu Thiên Chúa, tỏ hiện qua việc trao ban Chúa Con, có đối tượng là thế gian, nghĩa là tất cả thế giới tạo vật và đặc biệt là thế giới con người (về sự tương đương giữa "thế gian" và "loài người" xin xem Ga 1,3.4.9. 10; 3,19). Do đó, đối với Gioan, thế gian tự nó không xấu như chủ trương của nhị nguyên thuyết; nó chỉ trở nên xấu vì tự ý muốn vậy, khi từ chối ánh sáng và không chịu tin vào Chúa Kitô (Ga 12,46-48;
16,8-9). Thành thử sứ vụ của Chúa Giêsu càng tiến tới bao nhiêu, nhất là kể từ Ga 13, thì hạn từ "thế gian" càng mang ý nghĩa một sự chống đối mạnh mẽ bấy nhiêu và thường đồng hóa với những người đã từ chối Chúa Kitô để theo Satan lãnh tụ. Nhưng trong quan điểm của Thiên Chúa và của Chúa Kitô, thì chương trình cứu rỗi chỉ có thể là phổ quát, dầu phải cần đến sự đáp trả của con người khi được thực hiện: "Để hết thảy những ai tin vào Người thì không phải hư vong nhưng được sự sống đời đời".

"Vì Thiên Chúa không sai Con đến trong thế gian để xử án thế gian, nhưng để thế gian nhờ Người mà được cứu (c.l7). Ở đây, Gioan nhắc lại hơi quá rằng toàn hộ sứ mệnh của Chúa Con chỉ nhắm tới việc cứu rỗi loài người, rằng án phạt không xuất phát từ hành động hay từ sáng kiến của Thiên Chúa, nhưng do con người lựa chọn (cc. 18tt). hình như ngày nay chúng ta nên nhấn mạnh lời xác quyết tất nhiên này của Gioan: Sứ mệnh của Chúa Kitô chỉ nhằm cứu rỗi con người, chứ không nhằm kết án họ (c. 12,47). Chúa Kitô, một cách nào đó, như bí mật đồng ý với Chúa Cha để tạm gác vai trò thẩm phán lại vào ngày cánh chung; bao lâu còn sống giữa loài người, Người chỉ chú tâm cứu rỗi họ. Giáo hội cũng không thể có thái độ nào khác vì Giáo hội là Chúa Kitô nối dài qua thời gian: bởi luôn luôn hướng về sự cứu rỗi con người, Giáo hội sẽ phải bắt các định chế có tính cách pháp lý và không thể bỏ qua của mình tùy thuộc vào sứ mệnh cứu rỗi mà Chúa Kitô đã trao cho Giáo hội và thuộc riêng về Giáo hội.

4. Tuy nhiên, không phải vì thế mà Chúa Kitô, theo Gioan, bảo rằng chẳng có một cuộc phán xét và kết án nào trong suốt thời gian chúng ta sống tại thế đâu. Một trong những đặc điểm của thần học Gioan là cho rằng cánh chung đã được thực hiện (ít nhất một phần). Cuộc phán xét mà các Tin mừng Nhất lãm trình bày như là một thực tại cánh chung sẽ chỉ xảy ra vào ngày quang lâm của Con Người (Mt 25,31-46), thì Tin Mừng thứ tư coi là đã được thực hiện trong chính việc đối chất giữa loài người với Chúa Kitô ngay từ khi người bắt đầu tự tỏ lộ. Gioan xem cuộc đời Chúa Giêsu như một vụ án dài, gây nên do việc Người mặc khải niệm tiến bằng hành động với lời nói. Vì đặt diễn viên và khán giả trong tình trạng báo động và phản chứng, nên việc mặc khải này đưa đến sự phân rẽ (krima) và kết án (krisis). Đối với Gioan, sự kiện lịch sử có một giá trị thần học: những kẻ đồng thời với Chúa Giêsu đại diện cho tất cả loài người thuộc mọi thời đại, những con người mà trong nội tâm luôn luôn xảy ra tấn thảm kịch như vừa bảo. Lời Chúa Kitô không để một ai yên hàn sống như trước, nhưng bắt buộc mỗi người phải để lộ khuôn mặt đích thực của mình bằng cách thúc giục họ chọn lựa. Hoặc con người chấp nhận những giá trị hiện thân trong Ngôi Lời (ánh sáng, chân lý, sự sống), hoặc từ chối Chúa Kitô để bấy giờ đi sâu vào hận thù, dối trá, tối tăm, chết chóc, và như thế là đã bị xét xử . Tuy nhiên, dầu vẫn đặt nặng tư tưởng "cuộc cánh chung đã được thực hiện", Tin mừng thứ tư vẫn bảo có một cuộc phán xét sau cùng. Việc phán xét này được nói rõ ví dụ trong 12,46-48 là bản văn, dù có nhiều điểm song song với đoạn văn chương ta (3,15-19), vẫn nói ngược ở chỗ nhấn mạnh tới khía cạnh chung cục, chứ không tới khía cạnh được thực hiện rồi của cuộc phán xét Thiên Chúa. Có lẽ đây là hai truyền thống khác biệt, dựa trên cùng những lời nói của Chúa Giêsu; những lời này đã được giải thích trong cộng đoàn Gioan theo chiều hướng khác nhau nhưng bổ túc cho nhau. "Kẻ tin vào Người thì không bị án xử, còn ai không tin thì đã bị án xử rồi, vì đã không tin vào danh Con Một Thiên Chúa" (c.18). Câu này chẳng bảo là tín hữu sẽ mãi mãi không bị án xử nữa: vẫn có thể bị trừ phi luôn bền vững trong đức tin. Nhưng cũng có một điều không kém chắc chắn là đức tin tự nó đã loại bỏ sự luận phạt và không thể dẫu đến đó. Ngược lại, từ chối tin vào Chúa Giêsu là đã bị luận phạt thực sự rồi. Tuy nhiên, đây không phải là một án phạt do một quan tòa ra để trừng trị một tội phạm, sáng là một tình trường xuất phát từ sự lựa chọn của con người khi đối diện với hồng ân Thiên Chúa. Chẳng phải Thiên chúa tuyên án và bà con người phải hư  vong, song chính con người tự kết án lấy họ. "án xử là thế này: ánh sáng đã đến trong thế gian và người ta đã yêu tối tăm hơn ánh sáng, vì hành động của họ xấu xa" (c. 19). Gioan giải thích cho ta như  vậy về lý do của án phạt đánh vào quyết định tiêu cực của con người, đánh vào sự cứng lòng tin của họ đối với Chúa Kitô. Từ khi Thiên Chúa, dưới sự thúc đẩy của tình yêu phổ quát của Ngài (c. 16), ban tặng nhưng không cho mọi người hồng ân sự sống, thì việc xét xử đã được thiết lập trong lịch sử và còn được thi hành hôm nay. Nếu có ai hỏi tại sao con người đã thích tối tăm hơn Chúa Kitô, ánh sáng đến trong thế gian (x. Ga 1, 10-11), thật có thể trả lời: "Vì hành động của họ xấu xa". chính sự hung ác của con người làm nên cát bền tối tăm và tội lỗi cho lòng cứng tin của họ. Thật vậy, ai làm sự dữ thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng vì sợ công việc của họ bị lột trần" (c.20): Cuộc tranh chấp giữa ánh sáng và tối tăm-hình ảnh Tin mừng thứ tư năng dùng để diễn tả tấm thảm kịch xảy ra do việc Ngôi Lời sự sống đến trong thế gian - có chiến địa là tâm hồn mỗi người. Và Gioan, với một sự sắc bén gần bằng tâm lý học hiện tại, nhận xét cách tinh tế rằng tội nhân ghét ánh sáng vì sợ bị vạch trần và sợ tội lỗi bị phát giác: họ đã chọn lựa sự dữ một cách sâu xa vậy.

"Nhưng ai hành động trong sự thật thì đến cùng ánh sáng, để được thấy rạng tỏ là các việc của họ đã được làm trong Thiên Chúa" (c.21). Kẻ hành động trong chân lý, nghĩa là người lương thiện cùng ngay chính, thực lòng tìm kiếm sự thật và quyết tâm đi theo ánh sáng, sẽ đạt đến Chúa Kitô ánh áng và sự sống.

Ta có thể dùng một bản vău Qumrân để minh giải c.20-21 này: "Cho đến bây giờ trong tâm hồn mỗi người luôn có cuộc giao chiến giữa Thần khí sự thật và thần khí gian trá: án người bước đi trong sự Khôn ngoan và Điên dại. Nếu chân lý và sự Công chính có trong họ thì họ sẽ ghét Gian tà, nhược bằng trong họ chỉ có Gian tà và vô đạo thì họ sẽ ghê tởm Chân lý" quy luật Cộng đoàn IV,24; bản dịch của A.Dupont-sommer).

Rõ ràng là trong đoạn vừa trích cũng như trong nhiều đoạn khác của văn chương Qumrân, phảng phất một định mệnh thuyết nào đó. Trong Gioan thì không thấy như  vậy. Nếu khi đối diện với Chúa Giêsu, phản ứng tin hay không tin cũng đều rõ ràng trong Tin mừng thứ tư, ta vẫn phải nhấn mạnh lần nữa rằng một phản ứng như vậy tùy thuộc vào sự chọn lựa cá nhân của con người, bằng sự chọn lựa này chịu ảnh hưởng của cách họ sống gian tà hoặc phù hợp với thánh ý Thiên Chúa.

Hễ ai tiến về ánh sáng, đến gặp Chúa Kitô thì lập tức bản chất của họ, giá trị đích thực của đời sống họ, sẽ tỏ lộ rạng ngời. Cuộc phán xét (krisis) là hệ tại ở chỗ đó: ánh sáng chói chang của Chúa Kitô sẽ phân loại loài người khi tiết lộ bản chất sâu xa nhất của mỗi một cá nhân.

KẾT LUẬN

Đầu chương 3, ta xem thấy Nicôdêmô đã đến gặp Chúa Giêsu "ban đêm" (3,2); trong phần kết luận (3,20-21) ta đọc thấy: loài người phải từ bỏ tối tăm để tiến về ánh sáng. Lối đóng khung này có một ý nghĩa trong hệ thống biểu tượng của Tin mừng thứ tư. Đến gặp Chúa Giêsu "ban đêm". Nicôđêmô đi vào "trong ánh sáng" một lúc, rồi biến mất như đã đến và "đêm tối" lại bao phủ lấy ông. Với niềm tin bất toàn chỉ dựa trên các "dấu chỉ", ông hiện thân cho nhóm Biệt phái và đại diện cách cởi mở nhất. Nhưng ông vẫn không thể bước một bước quan trọng: nhưng điều quá mới mẻ luôn luôn phong tỏa hạng người quá nệ thể chế, hình thức. Hình như Nicôđêmô có nhớ lại câu nói của Giêrêmia: "Một người Ethiopia há đổi được màu da mình ? hoặc con báo có thể thay đổi bộ lông của nó?" (13,23). Chắc chắn cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu đã làm cho ông ta nhận thức được điều gì đó. Một ngày kia, tại Công nghị, ông sẽ bênh vực Chúa Giêsu (7,48-50) và sẽ đem đến một trăm cân mộc dược để liệm xác Người (19,39). Thật gần nhưng cũng hãy còn xa: hôm nay cũng như hôm qua, đây là thảm trạng của những kẻ tìm gặp chân lý nhưng rồi đã rút lui ngay khi cần phải mạo hiểm và dấn thân cả con người.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Thánh Gioan viết cuốn Tin mừng của ông khoảng 60 năm sau khi Chúa Giêsu về trời. Trí nhớ của tuổi già, thường rất chính xác khi gợi lại những kỷ niệm thời thanh xuân, đã giúp ông nhớ lại một vài cảnh đặc sắc trong đời Chúa Giêsu và nhiều giáo huấn đặc biệt của Thầy. Đoạn Tin mừng hôm nay tiếp tục câu chuyện Nicôđêmô đến đàm thoại với Chúa Giêsu về đề tài đức tin và sự tái sinh thiêng liêng. Sau khi tường thuật, vị thánh sử gộp lại trong suy tư riêng một lô giáo huấn Chúa Giêsu đã ban hay đã gợi ý mà ông đã thâu thập và đào sâu. Ông trình bày chúng dưới ánh sáng của Chúa Giêsu phục sinh cùng trong lối văn riêng của mình, là nhớ thế đã cho chúng ta một vài phản ảnh sống động về một đức tin được trực tiếp nuôi dưỡng tận nguồn (Gioan dã biết Chúa Giêsu) cùng được suy niệm cách sâu xa (Gioan đã sống đức tin với tư cách môn đồ hết mực trung tín).

2. Ở đây thánh Gioan đưa ra ánh sáng điều mà thánh Phaolô vẫn luôn gói trong các thư của ông là "mầu nhiệm" cứu rỗi do Thiên Chúa đem đến để ta tin: Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa xuống trần để cứu rỗi thế gian. Những ai được hưởng ơn rỗi là kẻ, khi gặp Chúa Kitô, đã tin vào Người.

3. Từ ngữ "Con Người" xuất phát từ ngôn sứ Đanien (7,13). Một cách chung chung, tước hiệu được Tin mừng Gioan áp dụng cho Chúa Giêsu để biểu thị vai trò cứu thế của Người qua việc Nhập thể, Tử nạn và Phục sinh, nên có thể hiểu như là "Con Thiên Chúa làm người". Như vậy ta thấy Chúa Giêsu là Đấng thể hiện được kiểu mẫu hoàn hảo của con người tự hoàn thành lấy mình vì đã tự vượt thắng mình trong Thiên Chúa. Thánh Gioan còn ghi lại: "Con Người đã bị giương cao". Đây là việc treo lên thập giá. Lời này ám chỉ đến câu chuyện Môisen treo con rắn đồng được sách Dân số kể lại (Ds 21,6-8) Sách kể rằng: khi đang ở trong một vùng nầy rắn rít lúc đi qua sa mạc, người Hy bá đã được kháng nhiễm một cách lạ lùng khỏl nọc độc của chúng bằng cách nhìn lên một con rắn đồng  Môisen treo lên nơi cao. Câu chuyện này được thánh sử gợi lại như biểu tượng cho thực tại thiêng liêng của ơn cứu độ được ban cho hết những ai nhìn về thập giá Chúa Kitô vui lòng tin.

4. "Ai tin vào Người thì không bị án xử, kẻ không tin vào Người thì đã bị án xử rồi". Cách nói này cho thấy niềm tin vào Chúa Giêsu-Kitô bao hàm sự dấn thân dứt khoát và sau cùng sẽ đem lại công hiệu. Nghĩa là đức tin của tôi hôm nay (mà tôi luôn giữ vững) sẽ cứu tôi trong ngày tôi chết và trong ngày cánh chung. Giữa cái hôm nay và ngày sau hết của đời tôi, có thể xảy ra nhiều thăng trầm. Nhưng đức tin hiện tại của tôi đã đặt tôi vào vị thế khỏi bị kết án, nghĩa là đặt tôi trong ơn tha thứ của Thiên Chúa, trong sự tiếp đón và trong tình bằng hữu của Ngài. Điều này giải thích cho thấy sự nồng nhiệt của đức tin tôi hôm nay có một tầm quan trọng rất lên đối với cuộc gặp gỡ sau cùng của tôi với Thiên Chúa; mỗi ngày hiện tại chuẩn bị ngày cuối cùng đời tôi. Song nhờ niềm tin vào Chúa Giêsu, hồng ân lạ lùng là tình bằng hữu của Thiên Chúa cũng đến ngay bây giờ trong tôi và biến đổi tôi rồi. Niềm tin này lôi kéo tôi sống trong ánh sáng, nghĩa là trong sự thẳng thắn trung thành với Tin mừng. "Ai hành động trong sự thật thì đến cùng ánh sáng".

5. Sự tự do hành động mà Nicôđêmô được hướng cũng là một dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa, Đấng để con người bước đi theo ý họ, ngay cả trên đường nẻo gian tà, thù hận và chết chóc. Thiên Chúa chỉ muốn làm một điều là ban Con Một, sai Người đến giữa nhân loại để chịu đau khổ và chết chóc hầu cứu rỗi họ. Cả Chúa Cha lẫn chúa Con đều không muốn ép con người yêu, nhưng chỉ kêu mời họ yêu từ đỉnh thập giá. Hai Đấng cũng tránh không phán xét hay kết án con người ngay ở đời này. Chính con người và chỉ mình họ tự làm quan tòa cho mình, tùy như họ cởi mở đón nhận hay từ chối ánh sáng.

6. Như thế con người của Chúa Kitô, qua hành động và lời nói, tỏ hiện ra như là nơi gặp gỡ hay chia rẽ của nhân loại. Theo Tin mừng Gioan, mọi người đều phải đối chất với Chúa  Kitô, dù chỉ là một cách mặc nhiên, khi họ thông đồng với sự ác, hay khi họ khát vọng chân lý, sự thiện. Từ khi Ađam ẩn núp khỏi mặt Thiên Chúa, con người luôn luôn có khuynh hướng trốn tránh Thiên Chúa, tha nhân và chính mình, để khỏi lộ tẩy các hành vi xấu xa của mình, nhất là những hành vi bên ngoài có vẻ tốt hảo. Ai cố ý quay lưng lại với chân lý dầu  chân lý ra sao - thì liều mình chết trong sự mù quáng tội lỗi. Ngược lại, ai tỏ ra trung thành trong thực tế với chân tý mà mình đã thoáng thấy - dầu chân lý đó hạn hẹp mặc lòng – thì cũng được Chúa Kitô hứa cho sống và dược thông hiệp với Thiên Chúa Cha.


 

Noel Quession - Chú Giải

Ga 3: 15-21

Như ông Môsê đã gương cao con rắn trong sa mạc...

Tin Mừng hôm nay bắt đầu bằng một lời mời gọi ta “nhìn ngắm", "đưa mắt" hướng lên một hình ảnh. Thánh Gioan sử dụng một hồi tưởng Kinh thánh trong suốt "bốn mươi" năm hành trình trong sa mạc, ngời Do Thái đã bị một kẻ thù đáng sợ tấn công, đó là loài rắn lửa (Ds 21,6-9). Môsê đã phải làm "một dấu hiệu chữa trị", một con rắn đồng cứu chữa được treo lên một cây gậy. Đó là hình ảnh có tính thần thoại mà các y sĩ ngày nay vẫn tiếp tục sử dụng như là biểu tượng. Kẻ nào quay lại nhìn thì được cứu không phải nhờ điều nó thấy nương nhờ Người, là Đấng cứu chữa mọi người" (Kn 16,7).

Qua sự giải thích trên của sách khôn ngoan, ta đã có thể ghi nhận rằng, đó không phải là một cử chỉ ma thuật, có tính tụ động. Cái "nhìn" tự nó không chữa. lành được ai, như một thứ bùa hộ mạng, một vật mang lại may mắn, một cử chỉ dị đoan. Nhưng đó là dấu chỉ "Đức tin", nghĩa là nhờ một cử chỉ bên ngoài, nó cho ta thấy rõ rằng, con người đang "quay về" với Thiên Chúa.

Con người cũng sẽ phải được gương cao như vậy để ai tin vào Người, thì được sống muôn đời.

Vâng, thánh Gioan đang mời gọi ta nhìn lên thập giá.
Cần phải dám ngắm nhìn "Đấng chịu đóng đinh" đó, Đấng được "giương cao" trước mắt chúng ta, Gioan đã sử dụng từ được giường cao" ("upsothènai" trong tiếng Hy Lạp) để nói lên, Đức Giêsu vừa được "giương cao) trên thập giá, vừa được "đưa lên" ngự bên hữu Chúa Cha nhờ cuộc phục sinh và lên trời (Ga 3,14 - 8,28 - 12,32-34).

Vâng, thánh Gioan không bao giờ có thể quên được ngày đó, cũng như cảnh tượng đó, mà chúng ta như đã quá quen thuộc. Vả lại , Gioan là người duy nhất trong số mười hai Tông đồ đã hiện diện tại đó, vào chiều thứ sáu, dưới chân thập giá. Kể từ lúc đó, trong suốt hơn 70 năm, ông đã suy gẫm "hình ảnh” này, và đây là kết quả của cuộc suy tư lâu dài và sâu sắc mà ông cống hiến cho ta. Đối với Gioan, "Thập giá" và "Phục sinh" thuộc cùng một mầu nhiệm mà ông đã diễn tả bằng một từ mang hai ý Nghĩa : "Đức Giêsu được đưa lên cao khỏi đất". Bị đóng kinh : Cũng có nghĩa là được tôn dương. Đối với Gioan, Thăng thiên đã bắt đầu ngay từ ngày thứ sáu tuần thánh. Còn chúng ta, chúng ta vẫn tiếp tục mong chờ Thiên Chúa biểu lộ "vinh quang" của Người cho ta trong cử chỉ hiển thắng rạng ngời nào đó. Còn Gioan, ông đã chứng kiến cảnh tượng, thì thập giá chính là Vinh quang Thiên Chúa

Ngay khi Giu-đa vừa ra khỏi phòng tiệc ly, Đức Giêsu đã nói : "Giờ đây, Con Người được tôn vinh" (Ga 13,31). Bốn ngày trước đó, vào buổi chiều ngày dân chúng rước lá tôn vinh Người, Đức Giêsu đã nói : "'Đã đến giờ Con Người được  tôn vinh... nếu hạt lúa gieo vào lòng đất chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. . . phần tôi , một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi" (Ga 12,23-32).

Vậy khi đến lượt mình, chúng ta cũng phải chướng mắt nhìn lên Đấng đã được "gương cao" giữa trời và đất, để cầu nguyện. Cái chết tự nguyện này sẽ mãi mãi là "đỉnh cao của tình yêu” : Đỉnh cao của tình yêu Người Con đối với Người Cha và đỉnh cao của tình yêu của Người Anh hoàn vũ đối với những đứa em tội lỗi. Cây thập giá to lớn bằng gỗ đó, đang đeo mang một thân xác con người bị tra tấn đến ứa máu, chính là một "chóp đỉnh của đau đớn" và chết chóc", nhưng cũng là một đỉnh cao của mạc khải Thiên Chúa. Về chưng diện thể lý, ta cần phải mở to đôi mắt để chiêm ngắm hình ảnh này. Nhưng cũng cần phải nhắm mắt lại để "thấy" những gì chưa có thể thấy được, mà cảnh tượng trên mới chỉ là "dấu chỉ" : Tình yêu tuyệt đối đang thiêu đốt tâm hồn con người đó, Đức Giêsu "không ai có tình thương lên hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho hạn hữu (Ga 15,13). Nhưng tình yêu tuyệt đối đã thiêu đốt con người Giêsu, cũng chính là "dấu chỉ” của một tình yêu tuyệt đối khác, tình yêu của Chúa Cha : "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người" (Ga 3,16).

Vì thế, các nghệ sĩ thường muốn trình bày Đức Giêsu trên thập giá với một thứ "vinh quang" nào đó. Hai cánh tay và thân xác của Người, thay vì bị co quắp trong đau đớn khổ hình, lại được trình bày trong tư thế hết sức mềm mại và thoải mái : Tư thế của người cầu nguyện, tư thế của linh mục cầu nguyện và dâng lễ vật nới bàn thờ, tư thế của đôi bàn tay nâng lên để đọc kinh "Lạy Cha".

Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi ban Con Một mình.

Thời đại chúng ta, nhiều người bị thử thách trước một nhận xét đầy bi quan : "Thế gian thật là thối nát. . . không thể làm gì để cứu vãn được . . . '" chúng ta cũng dễ hiểu sự chán nản, . vẻ khó chịu của những người thức thời đứng trước bao cảnh trớ trêu : Bạo lực, bắt cóc các con tin, ích kỷ có tính tập thể và cá nhân, đê tiện đủ loại, cảnh người bóc lột người, sa đọa luân lý, mất lương tâm nghề nghiệp, lạm đụng việc dối trá trong việc phổ biến ý thức hệ hay quảng cáo, đàn áp dư luận quần chúng, tình trạng vỡ mộng... chính Thiên Chúa cũng biết tất cả những sự việc đó ? Tuy thế, Người vẫn yêu mến thế gian này. Người không chịu để sự xấu ác của nó lộng hành. Người muốn cứu độ nó. Thiên Chúa thương đi ngược lại chúng ta. Đối với chúng ta, thế gian này xem ra rất tồi tệ và xấu ác, thế mà Thiên Chúa vẫn yêu thương nó. Thiên Chúa như say mê trước công cuộc tạo dựng chưa hoàn tất của mình, mà Người đang hướng đến nó sự hoàn hảo. Thế gian không thể phi lý. Nếu chúng ta chấp nhận cách nhìn của Thiên Chúa, một "cái nhìn ' yêu thương", thì lúc đó, thay vì tiếp tục rên rỉ kêu than, chúng ta sẽ hiến mạng sống cho anh em.

Người đã ban cho Con Một mình.

Hai động từ diễn tả thái độ của Thiên Chúa : "Yêu và cho" ! Ta hãy cầu nguyện dựa vào những tác động mà hai từ đó gợi lên .
Ta cũng nên lưu ý tĩnh từ được áp dụng cho Đức Giêsu : “ Một" hay "độc nhất" (tiếng Hy Lạp là Monogénes). Từ này chỉ có thánh Gioan sử dụng. Nó được đưa vào trong kinh Tin kính : "Tôi tin Chúa Giêsu Kitô, con một Thiên Chúa" . Tiếng này làm cho chúng ta vượt qua khỏi nhưng vẻ bề ngoài tràn gian, tiến sâu vào các thế giới bên kia : Đức Giêsu là đối tượng tử hệ tuyệt đối độc nhất của Thiên Chúa. Đàng khác, tiếng này cũng nhắc lại một hồi tưởng Kinh thánh. Trong ký ức của ít-ra-en người ta luôn nhớ đến một người ' "con độc nhất khác, được Cha hết sức yêu quý thế mà người cha đầy tình yêu thương này lại chấp nhận một cách kỳ diệu "hy sinh", "ban tặng" đứa con đó : Thánh Gioan nhớ rất rõ câu chuyện Ap-ra-ham và đứa con trai của ông I-sa-ác (St 22,2-16).

Tình yêu của Thiên Chúa đối với thế gian, khiến Người ban tặng "Con Một" người, Gioan sẽ diễn tả tình yêu đó bằng năm kiểu nói... để không ai còn tó thể nghĩ ngược lại được : Thiên Chúa không muốn con người phải hư mất..." Người đã tạo dựng mọi sự để tất cả được tồn tại (Kn 1,13).

  • Thiên Chúa Pluốn Cho con người được sống đời đời...đó là một "sự sống từ Trời" được ban tặng (Ga 3,3).

  • Thiên Chúa không muốn kết án thế gian... nghĩa là toàn thể nhân loại.

Thiên Chúa muốn cứu độ thế gian... thánh ý của Thiên Chúa là mọi người đều được cứu độ.
- Công trình của con người cũng là "công trình của Thiên Chúa" (1 Tm 2,4).

Ai tin vào con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.

Thiên Chúa là "Đấng hằng sống" tuyệt vời, sự sống là của quý giá nhất mà con người có thể chiếm hữu. Thiên Chúa đã quyết định thông truyền sự sống của Ngưòỉ, cho người con sự sống thần thiêng và vĩnh cửu ý định "cứu độ phổ quát" của Thiên Chúa thật rõ ràng : Nhưng để công cuộc cứu độ được thành tựu, con người còn phải chấp nhận "ân huệ" đó. Hiển nhiên không thể tương tượng được rằng, một người nhất định khước từ Thiên Chúa, lại bị cưỡng chế và áp lực phải sống bên cạnh Người , bất chấp ý muốn của họ. Làm như thế, thì thật sự là tạo một thứ "hỏa ngục". Thiên Chúa luôn luôn tôn trọng tự do của con người : Kẻ nào không muốn "sự sống" mà Thiên Chúa tặng ban cho mọi người, kẻ đó sẽ ở trong sự chết ? Liệu có một người nào đó khăng khăng chối từ như thế ? Đó là bí mật đáng sợ của cái chết, vào giây phút mà con người được giải thoát khỏi cảnh u tối trần gian, thực sự "đối diện với Thiên Chúa".

Vì Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian. Nhưng là để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ. Ai tin vào Con của Người thì không bị lên án, nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào Danh của Con Một Thiên Chúa. Và đây là bản án : ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa.

Trích đoạn trên làm cho chúng ta khá choáng váng.
Đoạn văn quả quyết hai điều :
- Một là : Thiên Chúa không lên án ai. Người muốn cứu độ tất cả vì Người yêu thương hết mọi người.
- Hai là : Chính con người tự xét xử và lên án mình, khi nó cố chấp khước từ Thiên Chúa.

Như thế, việc "lên án" không phải là một hành vi ở bên ngoài con người. Nhưng trớ trêu thay, nó lại là sự việc của chính con người đó, khi họ có thái độ khước từ tình yêu Thiên Chúa, được biểu lộ trong việc "Con Một của Người hiến thân" cho đến hy sinh thập giá. Chính Thiên Chúa làm mọi sự. Người đã đi đến cùng sự cứu độ. Mọi sự diễn tiến như thể việc "lên án" không thuộc về thế giới Thiên Chúa, nhưng đó là một thực tại ở bên ngoài Vương Quốc : Những kẻ khước từ ánh sáng "diện kiến" tự kết án mình trở thành một thế giới "ở bên ngoài " Thiên Chúa . . . một thế giới chết chóc, một thế giới không có sự sống đời đời.

Chúng ta cần ghi nhận rằng, "bi kịch của thái độ vô tin" không chỉ là một vấn đề hiện tại. Nó xuất hiện ngay giữa Tin Mừng. Nếu ta muốn kéo dài sứ vụ của Đức Giêsu, thì chúng ta không được phép lên án ai, mà phải ước muốn cứu giúp mọi anh em minh, phải làm tất cả để đạt được điều đó. Ai xét xử anh em mình, thì làm điều trái ngược Thiên Chúa. . . kẻ đó tự đặt mình ra ngoài thế giới của Thiên Chúa "Đấng không đến để xét xử".

Nhưng kẻ sống theo sự thật, thì đến cùng ánh sáng, để thiên hạ thấy rõ : "Mọi việc họ làm đều hợp ý Thiên Chúa".

Sau hết, niềm vui của "tín hữu' là hưởng trước những gì sẽ là niềm vui vĩnh cửu được diện kiến với Thiên Chúa. Đối với họ, sự sống đời đời đã khởi sự. Họ đã nhận biết tình yêu Thiên Chúa đối với mọi người Họ sống tình yêu đó mỗi ngày. Họ không ngừng tạ ơn tình yêu đó... và "sự sống vĩnh cửu này đã khởi sự, đó là một sự sống đầy sinh động. Các Kitô hữu từ lâu đã thường nói đến sự sống vĩnh cửu nhờ một thứ ngôn ngữ và những hình ảnh gần với Niết bàn (nirvầna) của Phật giáo hơn là quan niệm của thánh Gioan : Đó là một "sự nghỉ ngơi đời đời ?". Đối với Tin Mừng thứ tư, đó là một "sự sống vinh cửu”, tràn đầy sinh động và niềm vui. Chớ không phải là một sự nghỉ ngơi tẻ nhạt. Ở đấy, theo văn bản Hy Lạp, Gioan đã nói : "Kẻ nào hành động theo sự thật, thì đến cùng ánh sáng" . Sống là “hành động" ! Đó là những "hành động", những "việc làm"; những "công trình". Và đây là điều làm ta ngỡ ngàng : Lúc đó, những "việc làm của con người" cũng được công nhận như nhưng "việc làm của Thiên Chúa”. Đó là cuộc sống vĩnh cửu.

 

Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

" Thiên Chúa đã sai Con Ngài đến
để thế gian nhờ Con Ngài mà được cứu độ "


BÀI TIN MỪNG : Ga 3, 14 - 21

I . Ý CHÍNH :

    Bài Tin Mừng hôm nay thánh Gioan kể lại những lời giải thích về ơn tái sinh cho Nicôđêmô là người Biệt phái có thiện cảm với Chúa Giêsu . Ơn tái sinh là tin vào Chúa Giêsu Kitô để được ơn cứu độ .

II . SUY NIỆM :

    Trong cuộc đàm đạo giữa Chúa Giêsu và Nicôđêmô ( Ga 3, 1 - 21 ) . Chúa Giêsu đã giải thích về ơn tái sinh và về ơn cứu chuộc, thánh sử Ga 3, 14 - 21 ghi lại những giáo lý Chúa Giêsu đã nói trong cuộc đàm đạo đó .

    1 / " Như Môisen đã treo con rắn lên ..." :

        + Việc xảy ra trong Cựu ước thường là biểu hiện cho Tân ước . Xưa kia trong sa mạc Môisen treo con rắn đồng lên và hễ ai bị rắn cắn mà nhìn vào con rắn đồng ấy thì được khỏi chết ( Ds 21, 8 - 9 ) .

        + Nay, thời Tân ước, những ai nhìn lên Chúa Giêsu chịu đóng đinh, và tin vào Người, thì cũng khỏi chết phần hồn và được sống đời đời .

    2 / " Vì Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi ... " :

        Chúng ta nhận ra rằng :

             + Nguồn gốc phắt sinh ơn cứu độ là tình thương yêu của Thiên Chúa . Tình thương yêu này được biểu lộ qua việc trao ban Chúa Con cho thế gian .

             + Điều kiện đón nhận ơn cứu độ là tin vào Chúa Giêsu Kitô, Con của Chúa Cha .

             + Như vậy đối tượng tình thương yêu của Chúa là thế gian, thế gian được hiểu là tất cả thế giới thụ tạo và nhất là thế giới con người .

    3 / " Vì Thiên Chúa không sai Con của Người giáng trần để luận phạt ... " :

        + Chúa Giêsu có quyền xét sử thế gian ( Mt 15, 31 - 40 ; Ga 5, 22 - 27 ) : nhưng mục đích của Người được sai đến thế gian là để thế gian nhờ Người mà được cứu độ .

        + Nhờ Con Người : nhờ ai thì phải lệ thuộc vào điều kiện của người đó . Điều kiện để nhờ người là tin vào Người .

    4 / " Ai tin Người Con ấy thì không bị luận phạt " :

        + Tin có nghĩa là sống theo Chúa trong tình trạng ơn thánh sủng, hay nói cách khác là sống trong ơn nghĩa Chúa, thì sẽ không bị luận phạt, không chết trong tình trạng của tội .

        + Ai không tin thì đã luận phạt rồi :
             Không tin là từ chối Chúa, không sống trong ơn nghĩa Chúa thì đã bị luận phạt rồi .

             Điều này cho chúng ta thấy rằng đây không phải là một án phạt do một quan toà xét xử để trừng trị một tội phạm, nhưng là một tình trạng xuất phát từ sự lựa chọn của con người khi đối diện với hồng ân của Thiên Chúa . Chẳng phải Thiên Chúa tuyên án và bắt con người phải hư vong, nhưng là chính con người tự kết án mình khi con người từ chối Chúa .

    5 / " Án phạt là : sự sáng đã đến thế gian ..." :

        Chúa Giêsu là ánh sáng, là chân lý, là sự sống đã đến thế gian .

        + Người đời yêu sự tối tăm hơn sự sáng : con người yêu chiều sống theo tội lỗi hơn là sống theo Chúa Kitô .

        + Vì hành động của họ xấu xa : lý do vì con người sống theo những hành động xấu xa của ma quỷ, hận thù, dối trá ... điều này cho ta thấy những nết xấu và tội lỗi của con người đã làm cho con người ra chai đá cứng lòng tin .

    6 / " Ai hành động xấu xa thì ghét sự sáng " :

        Bóng tối không thể tồn tại khi có ánh sáng, vì thế người yêu thích những hành động xấu của tội lỗi thì ghét bỏ ánh sáng là đường lối của Chúa không dám đến với Chúa, không ưa sống theo luật lệ và tinh thần của Chúa .

        + Sợ việc làm của mình bị khiển trách : lý do tội nhân không trở lại với Chúa vì họ sợ bị vạch trần và sợ tội lỗi bị phát giác : con người nhận số phận theo sự chọn lựa của mình .

        + Ai hành động trong sự thật thì đến cùng sự ánh sáng . Những người sống trong chân lý nghĩa là sống lương thiện cùng ngay chính thật lòng tìm kiếm sự thật và quyết tâm đi theo ánh sáng tức là đường lối của Chúa thì sẽ đạt đến Đức Kitô là ánh sáng là sự sống .

III . ÁP DỤNG THỰC HÀNH :

    Bài Tin Mừng này giúp chúng ta sống tinh thần mùa chay bằng cách tin và sống theo Chúa Kitô .

        + Tin vào tình yêu thương của Chúa muốn cứu rỗi ta .

        + Sống theo Chúa Kitô chịu chết, chết cho con người tội lỗi, nết xấu, bất toàn của mình . Sống theo Chúa Kitô phục sinh, sống hoà thuận trong tình yêu mến Chúa và yêu tha nhân .

        + Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi dã ban Con Một mình để tất cả những ai tin thì không hư mất, nhưng được sống đời đời : tình yêu của ta đối với tha nhân cũng phải được chứng thực bằng việc làm cụ thể, sẵn sàng ban phát ý riêng, tài năng, sức khoẻ, vật chất, để đem hạnh phúc cho tha nhân .

        + Thiên Chúa không sai Con của Ngài giáng trần để luận phạt ... chúng ta không nên sử dụng những gì Chúa ban như sức khẻo, tài năng, vật chất, địa vị, để gây hại cho tha nhân, nhưng để phục vụ và thăng tiến cho tha nhân  .

        + Ai hành động trong sự thật thì đến cùng sự sống . Khi nào chúng ta thao thức và quyết tâm sống theo tinh thần của Chúa Kitô thì chúng ta cảm thấy yêu mến và cố gắng tìm gặp Chúa, học hỏi về Chúa và sống Lời Chúa mỗi ngày .


 

Lm Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc - Bài Giảng Lễ

Tình yêu lớn nhất

2St 36,14-16.19-22 ; Eph 2,4-10 ; Ga 3,14-21

Có rất nhiều giai thoại kể về những tượng thánh giá cổ xưa… Tại một nhà thờ bên Tây Ban Nha, có một tượng thánh giá cổ rất đặc biệt. Cánh tay trái của Chúa Giêsu vẫn còn đóng vào gỗ giá, nhưng cánh tay mặt thì rời ra và đưa lên phía trước trong tư thế ban phép lành.

Người Tây Ban Nha kể về nguồn gốc của tượng thánh giá này như sau : Một hôm có một tội nhân đến xưng tội với vị linh mục chính xứ ngay dưới cây thánh giá này. Như thường lệ, mỗi khi giải tội cho một tội nhân có quá nhiều tội nặng, vị linh mục này thường tỏ ra rất nghiêm khắc. Ngài ra việc đền tội thật nặng cũng như ngăm đe nhiều điều. Tội nhân ra về lòng cảm thấy nhẹ nhàng. Nhưng tính nào tật nấy, không bao lâu, người đó lại sa ngã. Lần này, sau khi tội nhân xưng thú tội lỗi, vị linh mục lại đe dọa : Đây là lần cuối cùng tôi giải tội cho anh !”

Nhiều tháng trôi qua, tội nhân lại đến quỳ dưới chân linh mục cũng bên cây thánh giá và lại xin ơn tha thứ một lần nữa. Nhưng lần này, vị linh mục đã dứt khoát. Ngài lên giọng : “Anh đừng có đùa với Chúa. Tôi không thể ban phép giải tội cho anh nữa !”. Nhưng lạ lùng thay, khi vị linh mục vừa khước từ tội nhân sám hối, thì Ngài bỗng nghe một tiếng thì thầm từ bên thánh giá. Bàn tay phải của Chúa Giêsu bỗng được rút ra khỏi thánh giá và ban phép lành cho hối nhân. Và vị linh mục nghe được tiếng thì thầm ấy nói : “Chính Ta là người đã đổ máu ra cho người này chứ không phải ngươi”.

Từ đó, bàn tay của Chúa Giêsu cứ ở mãi trong tư thế ban phép lành, như không ngừng mời gọi con người đến để ban ơn tha thứ. Du khách đến viếng, nhìn lên thánh giá đều có cảm tưởng như ánh mắt của Chúa Giêsu nhìn mình và nghe như có tiếng thì thầm : “Ta không hề kết án con”.

Anh chị em thân mến,

Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta nhìn lên thập giá của Đức Kitô. Nhìn lên thập giá để thấy được tình yêu bao la của Chúa. Ngài luôn tha thứ chứ không kết án. “Ta không muốn tội nhân phải chết, nhưng muốn nó bỏ đường tội lỗi, quay trở lại để được sống” (Ed 33,11). “Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Ngài đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con của Ngài mà được cứu độ”. “Cũng như Môsê treo con rắn đồng trong sa mạc thế nào, thì Con Người cũng sẽ bị treo lên như vậy, để tất cả những ai tin ở Ngài sẽ không phải chết, nhưng được sống đời đời”. Thập giá đã trở thành dấu chỉ ơn cứu độ và Đấng bị treo lên thập giá đã trở thành nguồn ơn cứu độ cho những ai tin vào Ngài, tương tự như con rắn đồng đã được Môsê giương cao trong sa mạc thuở xưa, để những ai bị rắn lửa cắn, nhìn lên con rắn đồng ấy đều được cứu sống.

Thánh Gioan còn nói tiếp : “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Ngài thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”. Thiên Chúa một lần nữa lại biểu lộ tất cả tình thương của Ngài đối với chúng ta trong Con Một của Ngài là Đức Giêsu Kitô. Tất cả bắt nguồn từ Thiên-Chúa-Tình-Yêu. Tình yêu của Ngài không ở trên mây trên gió, nhưng được thể hiện qua hành vi “trao ban”. Điều quí nhất của Người Cha là Người Con. Thế mà Thiên Chúa đã muốn trao ban cho nhân loại chính Con Một dấu yêu của Ngài. Ngài đã cho chúng ta tất cả. Đức Giêsu chính là quà tặng lớn nhất Thiên Chúa Cha đã trao ban cho nhân loại. Việc trao ban này trước tiên được biểu lộ qua việc Ngài sai Con Một yêu quí đến trong trần gian, mang lấy thân phận con người và cuối cùng qua việc trao nộp Con Một cho loài người treo lên Thập giá. Đó là lúc Thiên Chúa trao ban Con Một của Ngài cho loài người một cách trọn vẹn nhất, dứt khoát nhất. Bởi vậy, chính lúc đó là lúc Thiên Chúa đặt Con của Ngài làm Đấng ban sự sống cho loài người, để ai tin vào Người Con ấy thì được sống đời đời. Vì Con của Ngài đến không phải để kết án luận phạt, nhưng để cứu loài người khỏi chết và cho thông phần vào cuộc phục sinh vinh quang của Ngài.

Thưa anh chị em,

Đứng trước Thập giá Đức Kitô, chúng ta phải có thái độ nào ? Tin vào tình yêu Thiên Chúa hay chối từ tình yêu của Ngài ? Chính thái độ đó sẽ định đoạt số phận của chúng ta. Vì thế, tin hay không tin là một chọn lựa sống chết. Mỗi người có đủ tự do tiếp nhận hay từ chối Ánh Sáng. Ai tin là đón nhận ánh sáng, là bước vào cõi sống. Ai không tin là từ chối ánh sáng và tự đầy đọa mình trong tăm tối, trong cõi chết. Thiên Chúa không cần kết án luận phạt nữa.

Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài”, đó là chân lý cơ bản nhất của kitô giáo. Tất cả cuộc đời của Chúa Giêsu, cái chết của Ngài trên Thập giá, là ngôn ngữ Chúa muốn sử dụng để nói với chúng ta rằng Ngài yêu thương chúng ta, yêu thương đến nỗi sẵn sàng để cho Người Con Một yêu quí của Ngài chết thay cho chúng ta.

Hãy nhìn lên Thập giá để thấy được tình yêu bao la của Chúa. Phải, bên kia sự ác độc của tội lỗi, Chúa Giêsu chỉ muốn chúng ta nhìn thấy được tình yêu của Thiên Chúa : một tình yêu không ngừng tha thứ, một tình yêu vượt lên trên mọi tư tưởng, mọi tiêu chuẩn phán đoán, mọi khát vọng của chúng ta.

Nhìn lên Thập giá Chúa Kitô không phải để thất vọng vì gánh nặng của tội lỗi, trái lại để cảm nghiệm được hồng ân bao la của Chúa, để cho tâm hồn được phấn khởi, tin yêu hơn.

Nhìn lên Thập giá Chúa Kitô để cảm nghiệm được ơn tha thứ của Ngài, để chúng ta cũng biết cảm thông và tha thứ cho anh em chúng ta. Càng nhận ra được tình yêu tha thứ của Chúa, chúng ta càng được mời gọi yêu thương tha thứ cho anh em nhiều hơn. Thiên Chúa không kết án luận phạt chúng ta, sao ta lại kết án luận phạt anh em mình ? “Hãy tha thứ để được Chúa thứ tha. Đừng xét đoán để khỏi bị Chúa xét đoán” (Lc 6,36-37). Hãy yêu thương như Chúa đã yêu thương ta.

Một lần nữa, hãy ngước nhìn lên Thập giá Chúa Kitô :

Hãy xem đó thì biết phép công thẳng của Chúa là thế nào !

Hãy xem đó thì biết tội nặng nề gớm ghiếc là chừng nào !

Hãy xem đó thì rõ biết lòng Chúa quá yêu thương ta là dường nào !

(Đàng Thánh Giá, chặng 13)


 

Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng - Bài Giảng Lễ


Chúa Giêsu,

Quà tặng Chúa Cha ban cho nhân loại

Chúa nhật IV mùa Chay này như được ví von là môt Chúa nhật hồng giữa mùa tím vì các bản văn phụng vụ cho thấy lòng nhân hậu từ bi của Thiên Chúa. Dân Chúa bất trung, chống đối lại Ngài bằng việc làm ô uế đền thờ, nhạo báng lại các sứ giả Chúa gửi đến, nhưng Ngài vẫn tỏ lòng từ bi với họ khi giải phóng họ khỏi lưu đày (Bài đọc I). Ngài nhân hậu từ bi đến độ, tội lỗi làm cho con người phải chết, nhưng Ngài đã cứu sống nhờ Con Một của Ngài là Đức Giêsu Kitô (Bài đọc II). Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban tặng Con Một của Ngài là Đức Giêsu Kitô, để những ai tin vào người Con ấy thì được sống đời đời. Nhờ lòng từ bi nhân hậu của Thiên Chúa, con người được cứu rỗi cho dẫu có tội lỗi đến đâu đi nữa. Phụng vụ Chúa nhật IV này mang lại một niềm vui, niềm hy vọng.

I. Khám Phá Sứ Điệp Tin Mừng : Ga 3,14-21

Bản văn này là phần cuối cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu với Nicôđêmô (Ga 3,1-21). Qua cuộc đối thoại này, Chúa Giêsu mạc khải Người là Ánh Sáng từ trời đến, Người được Thiên Chúa Cha ban tặng cho nhân loại để đem đến cho nhân loại ơn cứu độ bằng việc Người bị treo trên thập giá. Muốn đón nhận ơn cứu độ, nghĩa là được tái sinh thì phải tin vào Người.

Trình thuật cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và Nicôđêmô gồm hai phần : Phần đầu (3,1-12) cho thấy sự cần thiết phải được “tái sinh bởi Thần Khí” để thấy Nước Trời, thuộc về Nước Trời. Phần hai (3,13-21) lấy lại chủ đề trước bằng cách xác quyết chỉ có Con Người từ trời xuống mới có thể làm cho nhân loại này được tái sinh. Con người được tái sinh là nhờ sự chết và sống lại của Con Một Thiên Chúa là  Đức Giêsu Kitô (cc. 13-15) ; nhờ niềm tin vào danh Con Một Chúa mà người ta được ơn tái sinh bởi Thần Khí (cc. 16-21).

1. “Như Môsê treo con rắn đồng trong sa mạc thế nào, thì con người cũng sẽ phải bị treo lên như vậy” :

Từ ngữ “treo lên” hay “giương cao lên”, “được giương cao lên” (hupsôo / hupsothenai) có hai nghĩa nói về Chúa Giêsu hoặc là bị treo trên thập giá hoặc là được nâng lên từ cõi chết để sống lại. Với Tin mừng thứ tư thì qui chiếu trực tiếp đến việc Chúa Giêsu bị treo trên thập giá. Việc so sánh với con rắn được Môsê treo lên trong sa mạc rất ý nghĩa : Không phải con rắn đồng cứu dân khỏi thảm họa rắn cắn, nhưng chính vì tin vào lòng thương xót của Thiên Chúa được biểu lộ bằng việc nhìn lên con rắn đồng được treo lên. Con rắn được treo lên là dấu hiệu của tình yêu và quyền năng của Thiên Chúa. Thập giá Chúa Giêsu cũng phơi bày trọn vẹn tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại.

2. “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Người” :

Tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại lớn lao không thể nào diễn tả nỗi. Ngài yêu đến độ ban tặng món quà cao quý vô song là chính Chúa Giêsu, Người Con chí ái. Một tình yêu cao vời đến độ Gioan khi cảm nghiệm điều này đã định nghĩa Thiên Chúa là Tình Yêu. Đây là một tình yêu trao hiến, trao hiến hoàn toàn, trao hiến những gì quý giá nhất, trao hiến chính mình. Chúa Giêsu cũng đã thực hiện trọn vẹn món quà trao hiến này bằng việc tự hiến trên thập giá để cứu độ trần gian. Thập giá Chúa Giêsu diễn tả cao cả nhất tình yêu của Thiên Chúa, cho nên thập giá là nguồn sống của nhân loại. Nơi thập giá, Chúa Cha và Chúa Con thông hiệp trong cùng một tình yêu ban tặng sự sống cứu rỗi cho nhân loại.

3. “Những ai tin vào Con Ngài thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời” :

Tình yêu của Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu là vô điều kiện mời gọi lời đáp trả của con người. Lời đáp trả từ con người là thái độ tin vào Chúa Giêsu Kitô, bước theo Người. Tin đòi hỏi mỗi người phải chọn lựa hoặc đón nhận Chúa Giêsu hoặc từ chối Người. Đón nhận Người thì được sống, từ chối Người thì phải chết. Vì Người là sự sống, ngoài Người là sự dữ, là ma quỷ, là sự chết.

II. Chiêm Ngắm Chúa Giêsu :

Bản văn Tin mừng này gợi lên hình ảnh Chúa Giêsu là quà tặng của Chúa Cha tặng ban cho nhân loại. “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban tặng Con Một của Ngài”. Chúa Giêsu là quà tặng Chúa Cha tặng. Đây là một món quà vô giá, vô giá trước hết do đến từ Thiên Chúa, Chúa Tể trời đất, vô giá do bởi chính giá trị của món quà là Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ. Thiên Chúa không cho con người sự giàu sang quyền quý của Ngài, không cho con người quyền năng vô biên của Ngài, không cho con người sự khôn ngoan tuyệt đỉnh của Ngài. Vì tất cả những thứ đó không thể nào sánh bằng món quà vô giá là Đức Giêsu Kitô. Người chính là nguồn mạch sự sống, khôn ngoan và hạnh phúc. Thiên Chúa cho chính nguồn mạch. Hạnh phúc thay được đón nhận món quà Giêsu từ tay Thiên Chúa Cha ! Yêu mến lắng nghe lời Chúa, yêu mến tôn sùng và đón rước Mình Máu Thánh Chúa là thái độ biết yêu thương, trân trọng đón nhận món quà Giêsu cao quý.

III. Gợi Ý Bài Giảng :

1. Chúa Giêsu - quà tặng biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa :

Khi yêu, người ta có nhiều cách thế biểu lộ tình yêu cho người mình yêu. Thiên Chúa cũng có cách biểu lộ tình yêu của Ngài cho nhân loại. Cách thế thông thường là trao tặng cho nhau những món quà thật ý nghĩa nói lên được tấm lòng dành cho nhau. Thiên Chúa đã nói lên tình yêu của mình nơi món quà tặng là Con Một của Ngài. Ngài đã yêu thương, yêu thương đến cùng, tặng ban những gì cao quý nhất Ngài có, đó là Người Con yêu dấu, làm đẹp lòng Ngài mọi đàng. Ai thấy Con là thấy Cha, Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, Chúa Giêsu và Chúa Cha là một. Vì thế, tặng ban Chúa Giêsu cũng chính là tặng ban chính Ngài. Ngay nơi con người và cuộc đời Chúa Giêsu cũng biểu lộ trọn vẹn tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Người yêu thương đến nỗi chết cho người mình yêu. Người đã hiến dâng chính mình làm của lễ mang lại ơn cứu độ cho nhân loại. Thập giá, án phạt mang tất cả nỗi ô nhục, Người đã biến đổi nó thành biểu tượng cao quý cho tình yêu của Thiên Chúa ở giữa nhân loại.

Thiên Chúa yêu thương tặng ban chính Chúa Giêsu cho nhân loại chúng ta. Chúa Giêsu yêu thương cũng tặng ban chính Người cho chúng ta, đến lượt Kitô hữu cũng phải biết sống để trở nên món quà trao tặng cho nhau, cho anh chị em chung quanh, cho thế giới và con người hôm nay.

2. Tin và đón nhận Chúa Giêsu minh chứng tình yêu dành cho Thiên Chúa :

Xét trên bình diện công bằng và mối tương quan của con người trong xã hội thì việc nhận một món quà của ai đó tặng mình chỉ có thể nói lên thái độ tôn trọng người tặng, và quà tặng nếu xuất phát từ một tấm lòng thành thì thường mang lại niềm vui cho người nhận. Còn việc nhận món quà khó nói lên được tình cảm của người nhận dành cho người tặng. Cho dầu việc nhận quà cũng mang lại niềm vui cho người tặng. Trong mối tương quan với Thiên Chúa thì xem ra có vẻ khác. Thái độ tin và đón nhận Chúa Giêsu không thể nào là một thái độ như khi nhạn một món quà của ai đó gửi tặng, chỉ biết giơ tay nhận lãnh, cám ơn rồi thôi. Nhưng tin và theo Chúa Giêsu đòi hỏi cả một nỗ lực không ngừng sống và thực thi lời Người. Tin và đón nhận Người đòi hỏi mỗi người phải dùng hết cả tâm trí, sức lực, trọn vẹn con người và cuộc sống của mình để đón nhận. Điều này chỉ có thể thực hiện bằng tình yêu dành cho Người. Tin và đón nhận Chúa Giêsu là một sự chọn lựa dứt khoát theo ánh sáng lời Người để tìm về miền ánh sáng, sự sống và hạnh phúc đích thực ; là một sự từ chối dứt khoát với tất cả những tính hư tật xấu, với tội lỗi, với những quyến rũ bất chính của ma quỷ. Sự chọn lựa ấy chỉ có thể thực hiện được bằng tình yêu dành cho Thiên Chúa. Mỗi Kitô hữu, qua lời Chúa hôm nay, cần phải tự hỏi lại thái độ của mình khi đứng trước món quà tặng Giêsu mà Thiên Chúa Cha tặng ban. Đón nhận hay từ chối ?

IV. Lời Cầu Chung :

Mở đầu : Anh chị em thân mến. Thiên Chúa yêu thương đến độ ban tặng Chúa Giêsu đến cứu độ chúng ta. Tin tưởng vào tình yêu ấy của Thiên Chúa, chúng ta cùng dâng lời nguyện xin.

1. Giáo hội được sinh ra từ tình yêu của Chúa Giêsu dành cho nhân loại. Chúng ta cùng cầu nguyện cho Giáo hội luôn nhiệt thành quảng đại trao ban món quà Chúa Giêsu cho con người và thế giới hôm nay bằng công trình loan báo Tin mừng, bằng sự hy sinh phục vụ sự sống, hòa bình, công lý ; và bằng chính lòng sốt mến cử hành các phụng vụ bí tích.

2. Ngày nay biết bao nhiêu người đang khao khát tìm kiếm Chúa, tìm kiếm chân lý. Chúng ta cùng cầu nguyện cho những anh chị em ấy được thỏa mãn khao khát, nhờ được gặp Chúa trong cuộc sống, qua sự hiện diện của các Kitô hữu.

3. Ai tin vào Con Một Chúa thì không phải hư mất nhưng được sống đời đời. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta luôn được dồi dào ơn Chúa để hết lòng tin tưởng sống và thực thi lời Chúa ; luôn siêng năng đến với Chúa Giêsu Thánh Thể để canh tân hoán cải cuộc sống mỗi ngày nên thánh thiện hơn.

Lời kết : Lạy Thiên Chúa giàu lòng thưong xót. Chúng con cảm tạ Chúa đã yêu thương cứu độ và giải thoát chúng con khỏi ách nô lệ của tội lỗi, ma quỷ và sự chết. Xin cho chúng con khi nỗ lực sống Tin mừng, cũng trở nên những món quà trao ban cho anh chị em chung quanh bằng đời sống yêu thương quảng đại của mình. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.



Hành Trang Mục Vụ - Khoá 10 ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn