Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật IV Mùa Chay A

Ga 9:1- 38  Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại câu chuyện Chúa chữa lành một người mù từ khi mới sinh, để diễn tả ý nghĩa Chúa là ánh sáng thế gian .
CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY NĂM A

Ga 9: 1- 41



Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải
 
CHỮA LÀNH NGƯỜI MÙ TỪ THUỞ MỚI SINH

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Đâu là tầm quan trọng và văn thể của trình thuật này ?

2. Trong bối cảnh tổng quát nào mà Chúa Giêsu tự mặc khải như là ánh sáng trần gian (c.5) ?

3. Tại sao xức với bùn (c.6) ?

4. Đâu là ý nghĩa đặc biệt mà Gioan gán cho ao nước Siloê trong tương quan với sứ mệ nh Chú a Giêsu ?

5. Phép lạ này soi sáng thế nào việc phát sinh sự cứng lòng và niềm tin trong tâm hồn con người ?

1. Việc chữa lành người mù từ thuở mới sinh ở ao Siloê là một trong những "dấu chỉ" lớn được Gioan giữ và ghi lại "để anh em tin Chúa Giê-su là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và bởi tin, anh em có sự sống nhờ danh Người" (20, 31). Trình thuật chiếm một chỗ quan trọng trong bố cục chung của Tin Mừng thứ tư. Được đặt ở trung tâm cuốn sách, nó nổi bật như một tổng hợp sống động về sứ mệnh làm ánh sáng được Chúa Giêsu hoàn tất trong thế gian này và về cuộc xung đột dữ đội giữa ánh sáng và tối tăm qua bản thân Chúa Giêsu và người Do thái.

Xét về văn thể, trình thuật này thuộc về số các cuộc tranh luận vĩ đại của Tin Mừng thứ tư chung quanh con người và chung quanh các "dấu chỉ" của Chúa Giêsu. Tuy nhiên, điều làm cho nó có nét khác biệt là cuộc tranh luận, dù đề cập đến con người Chúa Giêsu, vẫn không trực tiếp đặt Người đối chọi với địch thủ.Vụ án của Người chỉ được đến hành qua việc kết án anh mù. Chúa Giêsu chỉ xuất hiện lúc đầu để hoàn tất "dấu chỉ" cùng xác định ý nghĩa của nó, và lúc cuối, để long trọng tuyên bố bản án giữa thời gian ấy, Người đứng trong hậu trường; ta chỉ còn thấy những biến động do lời nói và hành vi của Người gây ra, cùng những phản ứng của thế nhân, tùy theo khuynh hướng khác nhau của họ.

2. Tấn bi kịch đã được chuẩn bị trong hai chương trước. Sau khi bọn thủ hạ được sai đi bắt Chúa Giêsu trở về, các người Biệt phái đã la lên: "Lũ dân quèn không biết lề luật ấy, thật là đồ chúc dữ" (7,49). Lời đó như khai mào cho cơn giận của họ đối với anh mù, một kẻ "tội lỗi từ lúc mới sinh"' mà đã có gan bày vẻ cho các "môn đồ của Môisen (9,28-34). Rồi giai thoại người đàn bà ngoại tình (một bản văn mới được đưa vào sau này) lại đặt người nữ tội lỏi đối diện với nhóm ký lục và biệt phái tố cáo bà; Chúa Giêsu đã tước khí giới của họ bằng những lời như sau: "Ai trong các người vô tội, hãy ném đá trước" (8,7). Liền đó, Người khuyến cáo dân Do thái: "Các ngươi sẽ chết trong tội các ngươi" (8,21); "Vâng, nếu các ngươi không tin Ta, các ngươi sẽ chết trong tội của các ngươi" (8,24). Những kẻ tự xưng là con cái tự do của Abraham kỳ thực chỉ là những tội nhân, nô lệ, con ma quỷ; khi âm mưu giết Chúa Giêsu, họ hoàn tất ước muốn và công việc của cha ông họ (8, 35- 44). Còn Chúa Giêsu là Đấng vô tội; Người trung thành chu toàn sứ mệnh; Người nói sự thật; Người truyền đạt cho thế gian Lời của Thiên Chúa; Người thi hành ý muốn của Đấng đã sai Người. Thành ra Người có thể vững tâm tuyên bố: "Ai trong các ngươi bắt lỗi Ta được về tội gì?" (8,46). Dù sao, dân Do thái vẫn nhặt đá ném Người như một tên phạm thượng (8, 59). Chính lúc đó, xảy ra việc các môn đồ chất vấn, việc Người trả lời và chữa lành kẻ tàn tật. Chúng ta đang ớ giữa lòng vụ án truy tố Chúa Giêsu, và Người sẽ bị coi như tội nhân, bị kết án, bị khai trừ, vì chính công việc sẽ biểu lộ sứ mệnh và lòng tuân phục của Người đối với Chúa Cha.

Thành ra chính trong một bối cảnh bi thảm mà Chúa Giêsu mặc khải mình là ánh sáng trần gian. Ngay từ đầu Tin Mừng đã chuẩn llị cho mặc khải này rồi. Bài Tựa đã công bố: "Ngôi Lời là Sự Sống và ánh sáng cho mọi người; và ánh sáng chiếu trong u tối, nhưng u tối đã không triệt được ánh sáng" (1, 4- 5). Khi tới giờ, Gioan Tẩy giả "đã đến như ... chứng nhân của ánh sáng" (1, 7- 9), ông là "cây đèn được thắp lên và chiếu sáng" (5,35): Với nhận lời còn đầy bí nhiệm hơn, Chúa Giêsu đã giải thích cho Nicôđêmô biết ánh sáng đã đến trong thế gian mà loài người vẫn yêu tối tăm hơn ánh sáng, vì công việc họ làm xấu xa" (3, 19).

Nhưng chính trong dịp lễ Lều Trại mà Chúa Giêsu lần đầu tiên tuyên bố rõ ràng: "Ta là ánh sáng thế gian" (8, 12). Rồi, lấy lại hình ảnh đám mây chiếu sáng đi trước dân Hy bá và dẫn đưa họ trong sa mạc, Người phán thêm: sai theo Ta, sẽ không đi trong tối tăm, nhưng được ánh sáng ban sự sống". Chúa Giêsu là Đấng dẫn dắt dân Thiên Chúa đến sự sống; người là đích điểm sáng ngời cho cuộc lữ hành của họ. Việc chữa lành người mù từ thuở mới sinh không có mục đích nào khác là làm cho mặc khải đó thêm rõ ràng minh bạch. Cũng như việc chữa lành người bất toại ở Bezatha và việc hóa bánh ra nhiều minh chứng "Con có sự sống" (5,26), rằng Người là "bánh hằng sống từ trời xuống" (6, 50- 51), người "ban sự sống cho ai Người muốn" (5, 21) ; cũng thế, việc chữa lành anh mù từ thuở mới sinh minh chứng cho mọi người biết Người "đã đến trong trần gian như ánh sáng" (12,46), để lôi kéo mọi người khỏi cảnh tù hãm tối tăm và biến đổi họ thành con cái sự sáng" (12,36).

3. Có hai hành động khác nhau đi trước phép lạ: a) Chúa Giêsu lấy bùn hòa với nước miếng xức mắt kẻ tàn tật; b) Người bảo anh ta''đến rửa tại ao Siloê. Ta không buộc phải xem bùn như là yếu tố chữa lành. Tự nhiên mà nói thì xức bùn như thế dễ làm bệnh nặng hơn. Còn về phía Chúa Giêsu, phải chăng đó là một dấu chỉ biểu tượng, tương tự như những dấu chỉ mà các ngôn sứ thường dùng? Các tác giả xưa cách chung đều nghĩ như thế. Theo họ, hành vi đó tượng trưng việc tạo dựng con người (Irên.ê, Théodore thành Mopsueste; Cyrille thành Alexandrie, Théophile), hay việc nhập thể của Ngôi Lời (Augustin, bè de), hay hơn nữa việc ơn thánh xâm nhập trong cuộc sống xác thể chúng ta (Grégoire). Nhưng khi xức bùn làm bệnh nhân như mù thêm, phải chăng Chúa Giêsu chỉ muốn thử thách lòng tin của anh? Nếu thế thì cử chỉ đó của người bấy giờ là một lời mời gọi anh ta nhắm mắt tín thác vào Người (Erasme, Lagrange).

Thật ra, có lẽ nên tìm một lối giải thích đơn sơ hơn về việc xức bùn này. Người xưa xem nước miếng như là một liều thuốc chữa mắt và chữa cả các phần khác của thân thể (Mc 7,33; 8,23). Chính Tacite cũng đã đề cập đến điều này (Historiae IV, 81). Hình như giá trị chữa bệnh của nó sẽ tăng lên nếu được trộn thêm với đất thường hoặc đất sét. Thế mà việc bôi nước miếng và nhồi bùn (9, 14) là hai hành vi bị cấm chỉ trong ngày hưu lễ nhưng chúng ta biết là Chúa Giêsu không cho rằng mình bị trói buộc bởi những thêm thắt vào Lề luật cũng như bởi luật ngày hưu lễ (5, 17 ; 7, 22). Hiển nhiên là Người dùng các phương dược bình dân ấy, chẳng phải vì chúng cần thiết để thực hiện phép lạ, song để tạo nên một rắc rối đối với người Biệt phái.

4. Ao Siloê, mà ngày nay ta còn thấy, nằm ở phía đông bắc Giêrusalem, đầu mút thung lũng Tyropéon. Nó được suối Gihôn cung cấp nước cho nhờ con lạch mà vua Edêkia đã đào xuyên qua lớp đá (2V 20, 20 ; 2 Sk 32, 30; Hc 48, 17), và nó mang tên chính con lạch này. Silôê có nghĩa: người gởi (nước) tới. Thánh Gioan dùng chữ đó, nhưng đã dịch ra như một tiếng ở thể thụ động: kẻ được gọi đi (c.7). Rõ ràng là ông có chủ ý biểu tượng. Trong Tin Mừng thứ tư. Chúa Giêsu hơn bốn mươi lần được gọi là Đấng được sai đi", và người vừa mới bảo các môn đồ rằng mình phải thi hành các công việc của Đấng đã sai mình (c.4). Thánh Gioan do đó muốn nói ao Siloê, cũng như Đền thờ, như lễ vượt qua, như ngày hưu lễ, như tất cả trong Israel, đều qui hàng về Chúa Giêsu và chỉ nhờ Người mà được ý nghĩa đích thực và dứt khoát. Tên của ao cũng loan báo Đấng Messia sẽ đến múc nước trong nó và sẽ ban cho nước ấy một năng lực thần thiêng. 

Ao Siloê cũng đã tt.ông được đề cao trong Cựu ước. Isaia (8,6) đã lấy hình ảnh "nước Siloê, chảy êm dịu" duỗi chân đồi Đền thờ, làm biểu tượng cho cuộc đời thư thái của Israel dưới sự che chở của Thiên Chúa, những ngôn sứ nhân danh Giavê, khóc than rằng dân đã từ chối nước Siloê". Có lẽ thánh Gioan thấy việc Israel cũ từ chối nước Siloê như là lời tiên báo sự cứng lòng của người Do thái đương thời với Chúa Giêsu.

Ngoài ra, nước ao còn được dùng vào việc phụng tự. Trong suốt dịp lễ Lều trại, ngày nào cũng có đoàn kiệu đi đến ao. Một thầy tư tế long trọng múc nước và khi trở về Đền thờ thì vừa để nước lên bàn thờ vừa đọc các kinh theo nghi thức nài xin Thiên Chúa đổ mưa cho vụ mùa sắp đến; các bài đọc Thánh Kinh cũng nhắc lại phép lạ nước vọt lên từ tảng đá trong sa mạc và loan báo việc canh cải thiêng liêng của Sion trong thời thiên sai. Các liên hệ giữa giai thoại người mù bẩm sinh và các biến cố của lễ Lều trại trong Tin Mừng thứ 4 (ch.7 và 8) mời ta đối chiếu phép lạ này với nghi lễ vừa nói. Việc đối chiếu này càng chính đáng hơn nữa, vì Lễ Lều, một lễ mừng nước, cũng là lễ mừng ánh sáng. Mọi đêm, đèn chưng sáng trong khắp Đền thờ. Dacaria, khi mô tả Ngày của Giavê như phần khai mào cho việc muôn dân cừ hành trọng thể lễ Lều, đã thốt lên: "Đây là ngày tuyệt diệu - có Giavê biết – ngày không còn ngày và đêm : vì ngay lúc chiều tà trời vẫn sáng" (Dcr 14,7). Thành ra, không một khung cảnh nào phù hợp hơn với lời Chúa Giêsu công bố: "Ta là ánh sáng thế gian" (8, 12 ; 9, 5) và với "dấu chỉ" người mù bẩm sinh cho bằng lễ ánh sáng này, lễ của những cuộc rảy nước ao Siloê, lễ của niềm hy vọng Đấng Thiên sai tới.

Các liên hệ phụng vụ này đồng thời cũng soi chiếu ý nghĩa của biểu tượng "Giêsu-ánh sáng thế gian", lẫn ý nghĩa của "dấu chỉ" đang diễn tả biểu tượng đó. Ơn phúc lành và ơn Thần khí, được tượng trưng trong lễ Lều trại bằng nước ao Siloê đã được Chúa Giêsu ban cho thế gian: trong tay người "nước Siloê chảy êm dịu" chất chứa đầm đìa ánh sáng và sự sống. Biểu tượng ánh sáng nơi Gioan trước tiên được giải thích bằng truyền thống Thánh Kinh. Nó hên hệ với các sấm ngôn loan báo ơn cứu độ thiên sai xuất hiện như một ánh sáng chiếu soi cho mọi dân chìm trong u tối (Is 19, 1 ; 42, 6 ; 49, 6 ; 60, 1- 3 ; 60, 19- 20 ; 62, 1); nó cũng liên hê với các sách khôn ngoan, những sách coi Lời Thiên Chúa, Sự Khôn ngoan, Lề luật như là ánh sáng cứu rỗi và dẫn dắt Israel trên đường sự sống (Br 4, 1- 4; Cn 6, 23 ; Tv 19, 105). Nơi Chúa Giêsu, các sấm ngôn thiên sai này được thực hiện: người mù xem thấy, mắt họ mở sáng ra" (Is 29, 18- 19 ; 35, 5). Trong Người, bừng lên ánh sáng, thứ ánh sáng soi chiếu rõ ràng hơn cả Lề luật, giải phóng con người khỏi tối tăm chết chóc của tội lỗi, đưa họ "đi" trong "con đường thánh ý " Thiên Chúa và đem họ đến sự sống vĩnh cửu. Trong Người, Chúa Cha mặc khải tình yêu của Ngài; trong lời người vang dội lời Chúa Cha; trong các "công việc" của Người, Chúa Cha "làm việc" (5,17); ai thấy Người là thấy Chúa Cha (12, 45 ; 14, 7. 9). Thế gian rạng ngời ánh vinh quang của lòng Người vâng phục mệnh lệnh Chúa Cha, rạng ngời sự hiện diện của Chúa Cha trong Chúa Con và sự hiệp nhất của các Ngài trong tình yêu mến.

5. Đứng trước "dấu chỉ" đang mặc khải cho thế gian Chúa Giêsu-ánh sáng, các phản ứng của loài người lần lượt bày tỏ. Thánh Gioan đã mô tả chúng trong một vài cảnh đầy châm biếm sâu sắc. ánh sáng chiếu soi và cứu độ xuất hiện ở đây như là ánh sáng phân chia và phán xử. Nơi đây ta chứng kiến những tranh chấp trong tâm hồn con người trước việc phải lựa chọn hay chống lại ánh sáng đó; nơi đây ta thấy phát hiện cách bi thảm sự cứng lòng cũng như niềm tin.

Suốt cuộc đối chất bi hùng giữa Chúa Giêsu và người rnù, ta thấy kẻ tàn tật, như người đàn bà xứ Samari, đã dần dần tiến tới sự hiểu biết cách thiêng hùng hơn về ý nghĩa biến cố rnà anh ta là kẻ thụ ích, và về con người của Đấng thi ân cho mình. Lúc đầu, đối với anh? Chúa Giêsu chỉ là "một người tên Giêsu" và việc anh lành bệnh chỉ là một cuộc phiêu lưu khó hiểu chưa từng thấy, một cuộc phiêu lưu mà anh chỉ biết một cách lờ mờ: ông đã trộn bùn, xức mắt tôi rồi bảo tôi: Hãy đi Siloê mà rửa. Vậy tôi đi rửa và được sáng mắt" (c.11). ông Giêsu ấy ở đâu, anh mù chằng biết (c. 12).

Nhưng rồi, khi thấy người Biệt phái chia rẽ nhau, anh bắt đầu hiểu sự kiện đó có một ý nghĩa tôn giáo và, trực tiếp nhảy vào cuộc, anh không ngần ngại tuyên bố Chúa Giêsu là "một ngôn sứ " (c. 17) và do đó việc anh được chữa lành là một phép lạ, một "dấu chỉ". Sau cùng, khi người Do thái cương quyết giữ vững lập trường và nhất định cho Chúa Giêsu là một tội nhân, thì anh mù càng kiên vững trong niềm xác tín của mình: Chúa Giêsu là một người thờ Chúa?, "tuân theo thánh ý Ngài", và được ngài nhận lời cầu xin", nên do đó phép lạ làm sáng mắt là một ân huệ của Thiên Chúa, được ban cho nhờ lời cầu xin của ông ấy. Hơn nữa, "nếu ông ấy đã không bởi Thiên Chúa mà đến, thì đã chẳng làm gì được " (c.33): ông đã được Thiên Chúa sai đến để chữa anh lành.

Người mù chỉ biết tới chừng đó khi Chúa Giêsu "gặp anh" (c.35). Anh đang đứng trước ngưỡng cửa đức tin. Để đạt đến ánh sáng toàn diện, anh phải có cuộc gặp go này và Chúa Giêsu đã không thì chối buổi hội ngộ ấy gặp anh, Người bảo: Còn người, người có tin vào Con Người không? Anh đáp: Ai vậy thưa Ngài, ngõ hầu tôi tin vào Người?". Kẻ mù đã sẵn sàng tin. Chúa Giê-su nói với anh : "Ngươi đã thấy Người, chính kẻ đang nói cùng ngươi". Anh liền thưa : Lạy Ngài, tôi tin, và anh sấp mình bái lạy Người (c. 35- 38).

Kẻ mù chấp nhận không đắn đo chứng tá của Chúa Giêsu, nên lập tức mắt anh mở ra; anh "thấy" Chúa Giêsu, không chỉ bằng con mắt xác thịt mới mẻ, nhưng còn bằng đôi mắt đức tin vừa phát sinh của mình. Anh thấy Người là Con Người, là Đấng Thiên sai, là Quan án và là Đấng Cứu thế. Anh nhận ra kẻ đã cho anh được thấy. Đây mới là khởi điểm đích thực của phép lạ. Vậy là người hành khất, mù lòa bẩm sinh, kẻ bị coi là tội lỗi và chỉ là tội lỗi từ lúc sinh ra, đã trở nên "dấu chỉ" sống động của con người được Chúa Giêsu soi sáng và tái sinh. Anh quả là chứng nhân của Chúa Giêsu-ánh sáng vậy.

Ngược lại, các đầu mục Do thái, những kẻ chối bỏ "dấu chỉ" và hơn nữa cho đó là tội lỗi, thì đắm chìm trong tăm tối triền miên. Giam mình trong nỗi tự mãn, họ bảo: Chúng ta biết (cc. 24.29). "Chúng ta thấy" (x.41 ; x.c.39). "Dễ chừng chúng ta đui mù cả sao" (c.40). Do đó ánh sáng, thay vì chiếu soi và giải thoát họ, đã làm họ ra đui mù và kết án họ luôn. Đối với họ, Ngày của Chúa Kitô, ngày ánh sáng, đã trở nên ngày tối tăm (Am 5, 18- 20). Ngày ấy, vốn là Ngày cứu rỗi, đã trở nên ngày phán xét. Bởi đó mà Chúa Giêsu tuyên án: "Chính để phán xét mà Ta đã đến trong thế gian, ngõ hầu kẻ không thấy thì được thấy và người thấy lại hóa ra đui mù " (c.39). Ta nhận ra đây chủ đề đui mù "của các ngôn sứ" (Đnl 29, 4 ; Is 6, 9 ; Gr 5,21 ; Ed 12, 2 v.v...) và lời Chúa Giêsu nói cùng Nicôđêmô: "An xử là thế này: ánh sáng đã đến trong thế gian mà loài người đã yêu mến tối tăm hơn ánh sáng, vì công việc họ làm xấu xa. Thật vậy, ai làm điều dữ thì ghét ánh sáng, vì sợ công việc của họ bị lột trần; nhưng ai làm sự thật, thì đến với ánh sáng để cho thấy là các việc của mình đã được làm trong Thiên Chúa" (3, 19- 21).

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

"Ai dã phạm tội để nó phải sinh ra mù lòa như vậy ?". Theo một quan niệm khá phổ biến trong thế giới cổ thời, thì có mọi liên hệ mật thiết giữa tội lỗi và bệnh tật thể lý (Xh 9, 1- 12; Tv 38, 2- 6 ; Ed 18, 20). Trong trường hợp các kẻ tàn tật bẩm sinh, một số giáo sĩ Do thái cho rằng là tại cha mẹ, kẻ khác bảo do chính đứa bé mà chứng tật đã phát sinh trong thời kỳ mang thai (Strack-bill. t.II, tr.528).

"Ta là ánh sáng thế gian": ở đây còn rõ ràng hơn ở 8,12. "ánh sáng" không phải là một định nghĩa siêu hình về con người Chúa Giêsu, nhưng là một cách mô tả ảnh hướng của Người trên vũ trụ; Người là ánh sáng tạo nên cuộc phán xét và cứu rối trần gian.

"Người Do thái đồng lòng trục xuất anh ta khỏi hội đường". Vào thời biên soạn Tin mừng, chắc chắn biện pháp trục xuất còn được thi hành trong dân Do thái. Có 3 loại. Nhẹ nhất là khiển trách (nozlpha) và phạm nhân bị tách biệt khoảng một tuần, hay hơn nữa là một tháng. Bậc thứ hai là loại trừ (nddui): trong vòng một tháng, phạm nhân phải ngồi bệt dưới đất mặc tang chế, để râu tóc mọc dài, không tắm rứa, đứng "ở nơi riêng biệt trong giờ cầu nguyện chung. Bậc thứ ba là trục xuất (herem), hình phạt đáng sợ nhất: nó kéo dài vô hạn định; đương sự có thể bị tịch thu tài sản; mọi liên lạc, dù là riêng tư, với tội nhân đều bất hợp pháp (Strack-bill. IV, 292-333). Hình như các đầu mục nhân dân đã áp đụng hình phạt này đối với những người theo Chúa Giêsu.

"Chúng ta biết Thiên Chúa không nhậm lời kẻ tội lỗi". Đó là một chân lý phổ thông trong thế giới Thánh kinh (Is 1,15; Tv 66, 18; 109, 7 ; Cn 15, 29 ; G 7,9; 5, 13; Ga 16,23-27; 1Ga 3,21 -22).

"Để kẻ thấy được lại đui mù" : Dù ý nghĩa văn phạm của phân từ được dùng ở đây là thế nào chăng nữa (ngay cả người Hy lạp, đặc biệt thánh Gioan Kim khẩu, cũng thú nhận trong: chữ hin không luôn luôn chỉ mục đích, mà thỉnh thoảng chỉ một hậu quả), thì sự đui mù của các kẻ cứng lòng tm không phải là mục đích Thiên Chúa muốn trong mầu nhiệm tiền định, nhưng chỉ là một trong các hậu kết của thái độ họ đối với Chúa Kitô.


KẾT LUẬN

Trường hợp anh mù soi chiếu một cách sỗ sàng cảnh ngộ cụ thể của đức tin trong thế gian này: một cảnh ngộ bi đát. Việc nhìn nhận Chúa Giêsu Kitô và lòng trung thành với ánh sáng đòi hỏi người đó một sự đoạn tuyệt anh hùng; anh phải vượt thắng tất cả các áp lực và sợ hãi. Đức tin của anh bị thế gian truy nã, vì đức tin là chọn lựa theo Con Người trong cuộc chiến giữa ánh sáng và tối tăm. Nhưng trong cuộc tranh chấp này, đức tin là chiến thắng của sự sống.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Cầu chuyện người mù chiếu dọi một luồng sáng gay gắt trên hành trình của ánh sáng trong thẳm sâu tâm hồn con người, trên các chướng ngại vật mà ánh sáng gặp phải và trên cuộc tranh chấp của nó với quyền lực tối tăm. Con người vừa là ánh sáng vừa là bóng tối. Họ mang trong mình khả năng trở thành mù lòa, khả năng tự viện ra nhiều lý do chính đáng để khỏi nhìn xem, khả năng tự tạo cho mình nhiều xác tín sai lạc, khả năng từ chối mở mắt khi bảo mình trông thấy. Nhưng ánh sáng trong họ cũng không kém đòi hỏi. Nó bắt buộc phải xét lại biết bao vấn đề, phải từ bỏ biết bao thói quen, phải đoạn tuyệt đôi khi với môi trường sống. Vì những thứ ấy dễ làm cho cái nhìn của con người bị sai lạc. Con người phải tìm lại cho được lòng trong trắng của tuổi ấu thơ vậy. Đó là tất cả những gì mà câu chuyện người mừ bẩm sinh muốn nói. Câu chuyện ấy đã diễn tả thành bi kịch lời Chúa Giêsu sau đây: đèn của thân thể là con mắt. Nếu mắt người lành lặn thì toàn thân người sẽ sáng láng. Nhưng nếu mắt người đau yếu, toàn thân ngươi sẽ ở trong tối tăm. Vậy nếu ánh sáng trong ngươi trở nên tối tăm, thì sẽ tối tăm biết mấy" (Mt 6, 22- 23).

2. Câu chuyện người mù từ thuở mới sinh cho thấy cảnh ngộ của người tín hữu có thể bi thảm đau chừng nào (ngược với ý kiến của một số nhà hiện sinh vô thần xem đức tin như là một sự đào thoát an thân). Đức tin có thể đòi buộc ta phải đoạn vệ dữ dội với thế gian và phải anh hùng tuyên xưng chân lý. Việc nhìn nhận Chúa Giêsu như là Đấng được Thiên Chúa sai đã khiến anh mù bị khai trừ ra khỏi cộng đoàn. Người ta đuổi anh như đuổi một tội nhân. Ngay cả cha mẹ anh cũng từ chối bênh vực anh nữa. Đức tin bấy giờ có vẻ cô đơn. Nó bị tầm nã. Nhưng nó cần phải lượt thắng sự sợ hãi, lòng kính trọng của thế nhân, nỗi lo âu về dư luận người đời và phải cố gắng độc lập để đạt đến sự tự do đích thực, dù phải chịu muôn ngàn đau đớn.

3. Cử chỉ chúa Giêsu lấy bùn hòa với nước miếng xem ra kỳ dị; tuy nhiên có thể đoan chắc rằng người không để sự gì xảy ra cách ngẫu nhiên. Trước tiên, việc đó gợi cho ta nhớ đến câu chuyện trong Sáng thế thư mô tả Thiên Chúa lấy bùn đất tạo dựng con người đầu tiên (St 2, 7). Khi bảo anh chàng kia bị mù là để công việc Thiên Chúa được tỏ hiện trong anh nhờ trung gian Đấng Ngài sai đến, Chúa Glêsu muốn tự giới thiệu mình như là kẻ có sứ mệnh tiếp tục công việc tạo dựng đã khởi đầu song chưa hoàn tất. Ngay từ những câu đầu tiên, Người tỏ ra như là Đấng được Tạo hóa sai đến, làm lại cũng một cử chỉ để chữa lành con ngưòl mà tật nguyền là dấu chỉ của một sự thiếu thốn sâu xa hơn.

4. Giữa loài người chúng ta, có những kẻ không nhìn xem được; họ biết điều đó nhưng cảm thấy không thể chữa mình lành. Người mù bẩm sinh trong Tin Mừng là biểu tượng, tà đại diện của họ: Và cũng như Chúa Giêsu đã làm cho bệnh nhân đó được lại mọi quan năn.. của con người, thì Người cũng mang đến cho những ai ý thức rõ sự ngu dốt và tối tăm của mình, ánh sáng nội tâm để làm tri thức đích thực; Người ban cho họ khả năng hiểu biết, phân biệt cái gì là thật và cái gì chỉ được bộ mã bên ngoài. Ngược lại, có nhiều kẻ chẳng ý thức tý nào về sự đui mù của mình; họ tự mãn về điều họ biết và không ao ước gì khác nữa. Những người đó bị đóng kín trong sự hiểu biết riêng tư, họ sẽ chẳng bao giờ đi xa hơn, và sẽ không tài nào đón nhận được những gì mà Chúa có thể cho họ khám phá một ngày nào đó.

5. Tại sao có nhiều đau khổ trong trần gian, mà ta không biết được nguyên do, mục đích. Đừng vội kết luận rằng những kẻ bất hạnh đang gánh chịu chúng là nạn nhân của một định mệnh mù quáng nào đó. Sớm muộn gì rồi Thiên Chúa cũng sẽ làm rạng rỡ nơi họ sức mạnh va lòng nhân ái của Ngài (Rm 8,28). Chính vì mục đích áy mà Tobia đã bị đui mù, Gióp rơi vào cảnh cùng khốn và Ladarô phải bị chôn vùi trong nấm mộ. 


Noel Quession - Chú Giải

Ga 9: 1-41

Khi đi ra khỏi Đến Thờ, đi ngang qua, Đức Giêsu nhìn thấy một người mù tử thuở mới sinh.

Khác với nhiều phép lạ, phép lạ này được làm không phải do một lời cầu xin. Chính Đức Giêsu chủ động đưa ra sáng kiến : "Đức Giêsu trông thấy một người mù". Tôi có thể cầu nguyện từ chuyện đó. Đức Giêsu trông thấy một người mù". Tôi có thể cầu nguyện từ chuyện đó. Đức Giêsu trông thấy những thử thách của tôi.

Các môn đệ hỏi Người : "Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này khi sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta ?". Đức Giêsu trả lời : "Không phải anh ta cũng không phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh. Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy khi trời còn sáng ; đêm đến không ai có thể làm được. Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là áng sáng thế gian".

câu hỏi của các môn đệ cũng là của chúng ta. Của tất cả mọi thời đại. Trước cái xấu, chúng ta tìm một giải đáp và chúng ta muốn tìm một người phạm tội. Những người xưa chỉ bằng lòng với một lý thuyết cổ xưa hơi quá đơn sơ một chút ; sự xấu do bởi một tội lỗi. Nhưng chính Đức Giêsu lại không đặt vấn đề như vậy. Hơn nữa người không đề ra một giải đáp nào : cái xấu vẫn không chấp nhận được, không thể biện minh được. Chỉ có một phản ứng bình thường, có tính nhân bản nhất về nền tảng, đó là cố mà loại bỏ cái xấu xa này chẳng nào chúng ta có thể làm được. Và cuộc chiến đấu chống lại đau khổ không phải vô ích, hay cuối cùng chịu thất bại, bởi vì Đức Giêsu tỏ cho chúng ta biết rằng đấy là cuộc chiến đấu của chính Thiên Chúa : hành động rõ rệt mà vì thế Đức Giêsu tự xưng mình "là người được sai đi". Được sai đi ? Bởi ai ? Thế thì, Đức Giêsu này. Người từ đâu mà đến ?

Vấn đề về nguồn gốc của Người này lại còn quan trọng hơn thế, vì hẳn là người trông thấy toàn bộ việc thế gian chấm hết : Người biết Người sắp chết, đêm đã tới, và Người phải hành động bao lâu Người còn ở thế gian.

Cái chết mà Người thấy trước qua nỗi thù hận của các đối phương của Người (Ga 7,19-32-44 - 8,59), đó sẽ là chiến thắng bề ngoài của sự xấu, chiến thắng của bóng đêm (Ga 13,30).

Nhưng bóng tối không chặn được ánh sáng" (Ga I.5-9). Cám ơn Người, lạy Đức Giêsu. Vinh quang thuộc về Người, vì Người đã soi chiếu đêm tối của chúng con !

Nói xong. Đức Giêsu nhổ nước miếng xuống đất trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, rồi bảo anh ta : "Anh hãy đến hồ Si-lô-ê mà rửa" (Si-lô-ê có nghĩa là người được sai phái). Vậy anh ta đến hồ rửa, và khi về thì nhìn thấy được.

Một mô tả cụ thể để lộ người chứng tận mắt, Gioan. Nước bọt của một số người, theo những người xưa, có một giá trị dược liệu. Nhưng nhất là, chúng ta khám phá ở đó, thêm một lân nữa, cái thiên tài của Gioan, nhà thần học biểu tượng chủ nghĩa... và nhà thần học nhiệm tích... Vâng, người đàn ông mù từ thuở mới sinh này, bên kia trượng hợp cá nhân đầy xúc cảm, thực sự là một biếu tượng của nhân loại bị nhận chìm trong đêm tối, khi họ không biết Đức Giêsu, khi những đau khổ của loài người có vẻ như không có ý nghĩa. Và cái giếng Si-lo-ê này, bên kia vùng nước có thật của nó trong khu vực thấp trũng của Giêrusalem, thực sự là một biểu tượng của phép rửa thanh tẩy và chiếu sáng.

Điều làm cho Gioan, nhà thần học, chú ý, đó trước hết không phải là con người kỳ diệu lạ lùng, được kể ngắn gọn chỉ bằng ba dòng, đó chính là dấu hiệu biểu trưng mà Đức Giêsu đưa ra về chính mình và được biểu lộ qua cái tên huyền nhiệm của cái giếng "Si-lô-ê có nghĩa trong tiếng Do Thái là "Shilloah" Người được sai đi". Được sai đi ? Do ai ?

Cái bản vị Giêsu, Đấng được sai đi, nêu ra nhiều vấn đề hoài nghi xác định lập trường, tranh cãi, Người là ai ? Không người nào đã từng bao giờ đặt nhiều câu hỏi như thế. Tại sao ? Định mệnh của Người là gì ? Phép lạ của người mù được chữa khỏi mới xong khi Đức Giêsu dường như vừa đi khỏi hiện trường. Nhưng vấn đề chính là về Người trong quá trình một vụ án kỳ lạ tập tục, thông qua bản thân của người đã được hưởng lòng tốt của Đức Giêsu. Chúng ta sắp dự vào bốn cuộc hỏi cung liên tiếp, ngày càng bắt nhân. Nhưng cuối cùng, chính Đức Giêsu can thiệp lại để kiện lại những đối phương của Người.

VỤ KIỆN I : Các người láng giềng và những kẻ trước kia thường thấy anh ta ăn xin mới nói : "Hắn không phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao ?" có người nói : "Chính hắn đó !". Kẻ khác lại rằng : 'không phải đâu ! Nhưng là một đứa nào giồng hắn đó thôi !". Còn anh ta thì quả quyết : "Chính tôi đây !". Người ta liền hỏi : "Vậy, làm sao mắt anh lại mở ra được như thế ?". Anh ta trả lời : "Người tên là Giêsu đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi rồi bảo : "Anh hãy đến hồ Si-lô-ê mà rửa". Tôi đã đi, và sau khi rửa tôi nhìn thấy được" Họ lại hỏi anh : "ông ấy ở đâu ?". Anh ta đáp : "Tôi không biết".

Đó là những người làng xóm đã làm cuộc điều tra ưu tiên : Cái gì đã diễn ra ? Nó đã diễn ra như thế nào ? ai đã làm chuyện đó ? Lúc này chúng ta chỉ nghĩ tới một động tác tự nhiên vì có thiện cảm nên tò mò. Ngày nay vẫn còn. Có một số đông người cùng thời với chúng ta chỉ chú ý đến Đức Giêsu tới chỗ đó : người ta nhận xét một sự kiện... nhưng người ta không muốn rắc rối cuộc đời và người ta không đi xa hơn. Còn về anh mù được chữa lành, chính anh ta trở về từ rất xa. Chúng ta lưu ý là anh ta chưa biết gì về Đức Giêsu cả, anh ta chỉ biết người ta gọi ông ấy là Giêsu.

VỤ KIỆN II : Họ dẫn kẻ trước đây bị mù đến với những người Pha-ri-sêu. Nhưng ngày Đức Giêsu trộn chút bùn và làm cho mắt anh ta mở ra lại là ngày Sa-bát... Trong nhóm Pha-ri-sêu, người thì nó : "ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày Sa-bát ; kẻ thì bảo : "Một người tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy ?". Thế là họ đâm ra chia rẽ. Họ lại hỏi người mù : "Còn anh, anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh ? Anh đáp : "Người lạ một vị ngôn sứ !".

Đứng trước Đức Giêsu, ý kiến bị phân rẽ : người này thì ủng hộ... người kia thì chống đối... Người, con người có thiện chí, bắt đầu từ từ mà tiến lên. Ngoài ra đó là những điều phiền nhiễu của những người điều tra muốn đây anh ta đi xa hơn. Bây giờ anh ta khẳng định : Đó là một ngôn sứ. Lạy Chúa. xin giúp chúng con tiến đi trong đức tin.

VỤ KIỆN III : Người Do Thái không tin là trước đây anh bị mù mà nay nhìn thấy được, nên đã gọi cha mẹ anh ta đến... Cha mẹ anh ta đáp : "Chúng lôi biết nó là con chúng tôi nó bị mù từ khi mới sinh. Còn bây giờ làm sao nó thấy được, chúng tôi không biết. Hoặc có ai đã mớ mắt cho nó, chúng tôi cũng chẳng hay... Xin các ông cứ hỏi nó , nó đã khôn lớn rồi, tự nó, nó nói về mình được". Cha mẹ anh nói thế vì sợ người Do Thái. Thật vậy, người Do Thái đã động lòng trục xuất khỏi hội đường kẻ nào dám tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô.

Thế là một thái độ khác đối diện với Đức Giêsu đó là một sự trốn chạy. Nhưng người ta chối từ, không muốn tự đặt cho mình một số vấn đề có thể gây ra liên lụy. Không thể tôi thường thuộc vào loại này ư ? Người ta có thể đừng nên làm gì để khỏi có nhiều chuyện !

VỤ KIỆN IV : Một lần nữa, họ gọi người trước đây bị mù đến và bảo : "Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa, chúng ta đây, chúng ta biết ông ấy là người tội lỗi". Anh ta đáp : "ông ấy có phải là người tội lỗi không, tôi không biết. Tôi chỉ biết có một điều : trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được ?"... Họ liền mắng nhiếc anh : "Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với Môsê. nhưng chúng ta không ; biết ông ấy bởi đâu mà đến". Anh đáp : "Kể cũng lạ thật ! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt tôi !". Chúng ta biết : "Thiên Chúa không nhậm lời nhưng kẻ tội lỗi... Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù tứ lúc mới sinh. Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì". Họ đối lại : "Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư ?". Rồi họ trục xuất anh. 

Những người Pha-ri-sêu, bị lún sâu vào trong hệ thống của họ : Họ "biết" ! Đó tà tiếng họ lặp lại và tỏ rõ lòng tự mãn của họ. Họ chối từ, biến đổi, trong khi dựa vào truyền thống. Chấp nhận cái mới của một người vi phạm. Ngày Sa-bát sẽ làm cho hệ thống giáo điều của họ lâm nguy. Như vậy họ chối từ bằng chứng hiển nhiên. Và như thế họ phạm tội duy nhất có trong Tin Mừng theo Thánh Gioan : chối từ lòng tin... muốn là một người không tin...bịt mắt trước huyền nhiệm Đức Giêsu. Ta hãy chú ý đến cách sử dụng tinh vi của động từ "biết" nhờ đó, người ta thấy rõ các cửa mở vào đức tin hay lối chặn cho sự không tin. 1. Cha mẹ "biết" đó chính là con trai họ... nhưng họ không muốn "biết" ai đã mở mắt cho con họ, để không bị liên lụy (9,20-21). 2. Những người Pha-ri-sêu "biết" Đức Giêsu đã từ đâu đến (9,24-29). 3. Anh mù chính anh ta không "biết" Đức Giêsu đi đâu, không "biết" đó có phải là một người tội lỗi không... nhưng anh ta "biết rằng anh ta đã được chữa khỏi và "biết" rằng Thiên Chúa không đoái nghe những người tội lỗi (9,12-25-31). Còn chúng ta, chúng ta có đi tìm chân lý không ? Chúng ta có bị chặn trước những hiểu biết của chúng ta không ? Chúng ta có ham hiểu biết nhiều hơn không, mở con mắt đui mù của chúng ta ra không ?

Đức Giêsu nghe nói họ định trục xuất anh. Khi gặp lại anh, Người hỏi : "Anh có tin vào Con Người không ?". Anh đáp : 'Thưa Ngài Đấng ấy là ai để tôi tin ". Đức Giêsu trả lời : "Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây! Anh nói : "Thưa Ngài, tôi tin. Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người".

Trong khi những người Pha-ri-sêu bị giam hãm trong sự vô tín của họ, thì anh mù, chính anh lại không ngừng tiến lên trong lòng tin, và chúng ta chú ý là lòng tin này chỉ đạt tới đỉnh cao theo sáng kiến và vấn đề bản vị của chính Đức Giêsu. Tất cả những câu hỏi mà các đối thủ đặt ra cho anh ta, đâu làm cho anh tiến lên, nhưng sự tuyên xưng đức tin của anh ta chỉ thành tựu nhờ cuộc gặp gỡ bản thân của Đức Giêsu. Còn chúng ta, đức tin cửa chúng ta có tiến lên, theo gương của người mù này, người dần dần mở mắt trước huyền nhiệm, một cách tiệm tiến không ? ban đầu người ta chỉ đứng trước "người mà người ta gọi là Giêsu (9,11). Và rồi người ta phát hiện "một ngôn sứ "(9,17)... một người nào đến từ "Thiên Chúa" (9,88)... và sau cùng "Con Người" (9,35) và "Chúa (9,38). Đây là sự trả miếng của Thiên Chúa. Người bất hạnh đáng thương đã tìm thấy hạnh phúc đích thực duy nhất. Mù từ thuở mới sinh, không được những người hàng xóm giúp đỡ nhiều lắm, không được cha mẹ nâng đỡ bị đuổi ra khỏi giáo đường như một tên bị bệnh ôn dịch... Nhưng mềm vui tin tưởng to lớn biết bao !

Đức Giêsu nói : "Tôi đến thế gian này chính là để xét xử họ : để người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù !". Những người Pha-ri-sêu đang ở đó với Đức Giêsu nghe vậy, liền lên tiếng : 'Thế ra cả chúng tôi cũng đui hay sao . Đức Giêsu bảo họ :Nếu các ông đui mù, thì các ông đã không có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng : Chúng tôi thấy, nên tội các ông vẫn còn".

Đó là sự lật ngược hoàn hoàn các tình huống : "tội lỗi không ở chỗ những người Pha-ri-sêu đã đặt nó, chính họ là những người khinh miệt người tội lỗi bẩn thỉu này bị đánh dấu từ thuở mới sinh... và coi sự đui mù đích thực không hề ở chỗ mà họ đặt ra. Chính họ là những người mù, chỉ mình họ chối từ, không trông thấy cái đập thẳng vào mắt họ.

Ta hãy chú ý đến điều Đức Giêsu khẳng định : không phải Thiên Chúa lên án họ theo bề ngoài,… chính họ là những người tự lên án mình.
Cuộc Phán xét chỉ đến chuẩn nhận cái mà người ta đã quyết đinh một cách tự do. Đó chính là sự phi lý tự sát của việc chối bỏ đức tin. Với Ni-cô-đê-mô, Đức Giêsu đã nói : Ai chối bỏ lòng tin thì đã bị lên án rồi... phán đoán là như thế này đây : những người ưa thích bóng tối hơn là ánh sáng (Ga 8,18-19). Bản thân Đức Giêsu buộc phải có một chọn lựa : phải chọn lựa ! Trong Thánh Gian, có một tác dụng thường xuyên giữa hai động từ "thấy" và "tin"...Người ta trông thấy những dấu chỉ muốn mời gọi tin tưởng (Ga 1,50 - 3,86 - 4,48 – 6,26-36-40 - 9,39-41 - 11,45 – 20,8 - 20,29). Và Chúa Giêsu, ở đây, khẳng định mạnh mẽ rằng những người Pha-ri-sêu không thể dung tha vì không tin, bởi vì họ đã trông thấy dấu chỉ, bởi vì các ông trông thấy... tội các ông vẫn còn.


Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

 
" Hãy đi rửa, rồi trở lại trông thấy rõ"
Ga 9, 1 - 41

I / Ý CHÍNH : 

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại câu chuyện Chúa chữa lành một người mù từ khi mới sinh, để diễn tả ý nghĩa Chúa là ánh sáng thế gian .

II / SUY NIỆM : 

1 / " Chúa đi qua thấy một người mù từ khi mới sinh" :

" Thấy" ở đây bao hàm ý nghĩa nhận biết và cảm thương :

+ Chúa nhận biết sự đau khổ của người mù này nơi phần xác như là dấu chỉ quyền năng của Satan trên con người .

+ Chúa cảm thương người mù bằng cách chữa lành cho anh để quyền năng của Thiên Chúa trên Satan được thể hiện đúng như lời Isaia 29, 18 " Trong ngày ấy ... mắt kẻ đui sẽ thấy ..." .

2 / " Ai đã phạm tội y hay cha mẹ y..." :

Dân Do thái cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới cổ truyền, vẫn cho tai nạn, bệnh tật, đau khổ là do hình phạt bởi tội lỗi, hoặc do tội lỗi của đương sự ( Ed 13, 20 ) hoặc do tội của cha mẹ ( Xh 20, 5 ) . Chính Chúa Giêsu có lần liên kết bệnh tật với tội lỗi : " Này ngươi đã lành, đừng phạm tội nữa, kẻo lại mắc hoạ khốn hơn" ( Ga 5, 14 ) ( Xh 9, 12 . 34, 7 ; Tv 38, 26 ; Ed 18, 20 ) .

3 / " Không phải y cũng chẳng phải cha mẹ y phạm" :

Chúa không giải thích bệnh tật theo quan niệm Cựu ước nói trên ( ga 9, 2 ...) Người chỉ nhìn bệnh tật như một tai hoạ mà con người phải gánh chịu, như một dấu chỉ của quyền lực Satan trói buộc con người mà Người đến giải thoát để chứng tỏ quyền năng Thiên Chúa vượt trên Satan .

4 / " Bao lâu còn ban ngày ..." :

Đời sống là ban ngày . Sự chết là đêm tối, Chúa và mọi người đều có sứ mệnh phải làm trong khi còn ban ngày, tức là suốt đời, cho tới khi sự chết chấm dứt công việc .

" Những việc của Đấng đã sai Ta" : chính là con người trình cứu chuộc trần gian, mà việc Người sắp chữa lành cho người mù được khỏi như một dấu chỉ .

- " Bao lâu Ta còn ở thế gian, Ta là sự sáng thế gian " ánh sáng ở đây được mô tả như là ảnh hưởng của Chúa Giêsu đối với thế gian, Người là ánh sáng tạo nên cuộc phán xét và cứu rỗi thế gian . Vì thế công việc của Người là soi sáng : soi sáng phần xác ( chữa lành mắt ) cũng như soi sáng phần thiêng liêng ( ban đức tin ) .

5 / " Người nhổ xuống đất lấy nước miếng trộn thành bùn ..." :

Nước bọt có tính sát trùng, nên cũng có công dụng chữa bệnh nhẹ, khi làm phép lạ, đôi khi Chúa Giêsu cũng làm cách này như một cử chỉ quen thuộc với dân chúng ( Mc 7, 33 . 8, 23 ) . Thực ra Chúa không nhờ vào sức chữa của nước bọt, nhưng đã dùng sức thần thiêng của Người tượng trưng bằng việc đặt tay ( Mc 8, 22 - 25 ) hoặc bằng việc xoa trên mắt như ở đây. Trong câu này, chi tiết lấy nước bọt trộn thành bùn có ý nghĩa gì ? xét về phương diện vệ sinh thì bùn chỉ gây thêm bệnh cho mắt thôi. Nhưng xét theo phương diện biểu tượng thì có thể hiểu.

- Chúa làm như vậy có thể là để thử đức tin người mù, để nhờ đó họ hoàn toàn tin vào quyền năng của Thiên Chúa ( Cha Lagrange).

- Một số giáo phụ ( Irênêe, Cirillô thành Alexandria, Thêophilê ) cho rằng Chúa có ý ám chỉ đến việc tạo dựng con người từ bùn đát ( St 2, 7 ) hoặc việc nhập thể của Ngôi Lời ( Thiên thần. Augustin).

6 / " Ngươi hãy đến hồ Silôê mà rửa " :

Hồ Silôê ở giữa hồ Sion, nằm về phía Đông Bắc Giêrusalem ( 2V20, 20 ; Hc 48, 17 ) . Silôê có nghĩa là " được sai đến " rõ ràng ở đây thánh sử Gioan có chủ ý biểu tượng rằng : cũng như nước ở hồ " Được sai đến " có thể đem lại sự sáng cho mắt, thì Đấng thiên sai đem lại ánh sáng mạc khải . Việc rửa trong hồ Silôê khỏi mắt, cũng có thể là hình ảnh của phép rửa tội ( Ga 3, 5 ) .

7 / " Những người láng giềng ..." :

Phép lạ người mù được sáng mắt tại hồ Silôê này được điều tra kỹ lưỡng do những người láng giềng và Biệt phái . Việc điều tra như vậy lại càng làm nổi bật sự thật và ý nghĩa của phép lạ .

Những người láng giềng và những kẻ xưa kia đã từng thấy người ăn xin, sau khi đã tranh cãi với nhau và nhất là sau khi đã tra vấn chính người mù, đã nhận thức người mù này đã được sáng mắt cách lạ thường . Nhưng không biết nguyên nhân bởi tại ai ? và tại sao ? vì thế họ phải nại đến những người Biệt phái là những người có quyền giám định việc này .

8 / " Lý do tại Chúa Giêsu hoà bùn và chữa mắt ..." :

Đối với nhóm Biệt phái là những người giữ luật ngày hưu lễ cách tỉ mỷ, thì việc bôi nước bọt và nhồi bùn là hai hành vi bị bị cấm chỉ trong ngày hưu lễ . Vì thế họ nại vào lý do này để tra vấn người mù . Trong cuộc tra vấn này, hai lập luận trái ngược nhau :
Biệt phái : người lỗi luật sa bát không thể là người được Thiên Chúa sai đến .
Người mù : người tội lỗi không thể làm được phép lạ như thế .

9 / " Họ hỏi hai ông bà ..." :

Vì không tin lời khai sự thật của người mù và cố chấp từ chối sự kiện khỏi mắt nên những người Biệt phái tra vấn thêm cha mẹ người mù .

10 / " Cha mẹ y thưa rằng ..." :

Vì sợ phiền hà, nguy hiểm, có thể bị trục xuất ra khỏi hội đường, nên cha mẹ người mù trả lời để thoái thác rằng : " Nó khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó" .

11 / " Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa " :

Đây là một hình thức thề, đòi người đối thoại không được nói dối .

12 / " Mày sinh ra trong tội mà mày dám dậy chúng ta ư" :

Ơ đây những người Biệt phái có ý nói lên quan niệm rằng bệnh mù này là do hình phạt tội của cha mẹ người mù, vì đây là trường hợp nù từ lúc mới sinh . Đồng thời ở đây cũng nói lên sinh ra trong tội thì biết gì mà dậy người khác .

13 / " Ngươi có tin Con Thiên Chúa không ? " :

Sau khi mở mắt xác thịt : mù thấy được, Chúa Giêsu muốn mở mắt đức tin cho người mù này . Vì thế ở đây Chúa Giêsu đặt câu hỏi này là muốn khơi dậy niềm tin của người mù đối với Người . Cách Chúa Giêsu tỏ mình ở đây cũng tương tự như trong câu chuyện người đàn bà Samaria ( Ga 4, 26 ) .

14 / " Lạy Thầy, tôi tin " :

Suốt cuộc gặp gỡ đối thoại giữa Chúa Giêsu và người mù, ta thấy người mù này đã dần dần tiến tới sự hiểu biết cách siêu nhiên hơn về ý nghĩa biến cố anh được sáng mắt và về con người của Đấng chữa mắt cho anh .

Lúc đầu, đói với anh, Chúa Giêsu chỉ là một người " Tên là Giêsu " và việc anh được mở mắt sáng chỉ là một việc khó hiểu và là thường thôi .
Nhưng rồi khi thấy các Biệt phái chia rẽ nhau điều tra anh cách cạnh kẽ, anh ba8st đầu hiểu biến cố đó có một ý nghĩa tôn giáo và anh không ngần ngại tuyên bố Chúa Giêsu là " một Tiên tri " . Sau cùng khi các Biệt phái nhất quyết gắn cho Chúa Giêsu là một tội nhân, thì anh lại càng kiên vững trong niềm xác tín rằng Chúa Giêsu là Đấng bởi Thiên Chúa mà đến .

Khi được Chúa Giêsu chữa lành mắt, người mù này mới chỉ ở giai đoạn đầu của đức tin . Để đạt tơi đức tin toàn vẹn, anh được gặp gỡ Chúa Giêsu lần nữa, và lần này anh được Chúa Giêsu tự mạc khải rằng : " Ngươi đang thấy người và chính Người đang nói với ngươi" . Từ đó anh chấp nhận và không đắn đo rằng : " Lạy Thầy, tôi tin" . Phải, anh tin và anh đã được mở con mắt đức tin để nhìn thấy Chúa Giêsu là Con Người, là Đấng Thiên Sai, và " Anh đã xấp mình thờ lạy người " một cử chỉ biểu lộ lòng tôn thờ Thiên Chúa .

15 / " Chính vì để luận xét mà Ta đã đến thế gian " :

Ơ đây được hiểu rằng : " Chính vì để có sự phận biệt mà Ta đã đến thế gian " . Vì thế ở đây muốn nói : do sự hiện diện và giáo lý của Chúa Giêsu trong thế gian, mà mỗi người sẽ tự động bị phán xét ( Ga 3, 18 ...) . Vì thế đã có lần Chúa Giêsu phán : " Vì Thiên Chúa không sai Con mình xuống thế để lên án thế gian, nhưng là để thế gian được Người cứu độ " ( Ga 3, 17 . 8, 15 ) .

Vậy sự luận xét nói đây, không phải là một lời tuyên án của Chúa cho bằng sự bày tỏ cho biết những điều thầm kín trong lòng con người ( Ga 3, 17 - 21 ) . Ngày phán xét cánh chung, cũng sẽ chỉ là lúc công khai hóa sự phân loại đã được thực hiện ngay từ bây giờ trong thâm tâm con người .

+ " Hầu những kẻ không xem thấy ..." những người không xem thấy, tức là những người mù về phần xác, khiêm tốn tìm ánh sáng thì sẽ xem thấy .

+ " Những kẻ xem thấy sẽ trở nên mù" còn những ai tự phụ vào các nhìn của mình và cứ tưởng mình đang xem thấy, thì lại chẳng thấy gì cả . Đó là một sự đảo ngược các vai trò mà Chúa Giêsu đã nói rõ khi Người đề cập đến những người bé mọn ( Mt11, 25 ) .

Ơ đây có ý nói đến người mù nhận biết Chúa Giêsu và tin vào Người, còn những người Biệt phái tự cho mình rằng : " Chúng ta biết chúng ta xem thấy", thì lại chẳng thấy gì, tức là họ đã không nhận biết Chúa Giêsu là ai .

16 / " Nếu các ngươi mù thì các ngươi đã không mắc tội" :

Nếu những người Biệt phái đó mù như người mù này, nghĩa là nếu họ đã không chứng kiến phép lạ Chúa làm, thì họ đã không mắc tội . Nhưng nếu họ đã chứng kiến " Chúng tôi đã xem thấy" mà vẫn không tin, thì họ mắc tội . Đây là tội khép kín cố chấp .

III / ÁP DỤNG : 

A / Áp dụng theo Tin Mừng : 

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Giáo Hội muốn chỉ dẫn cho ta thấy rằng việc chữa lành bệnh nhân là một biểu tượng cho sự chữa bệnh thiêng liêng mà Thiên Chúa thực hiện nơi con người . Vì thế qua những ơn phần xác, ta nhớ đến những ơn phần hồn Chúa ban để cảm tạ và tôn vinh Thiên Chúa .

B/ Áp dụng thực hành : 

1 / Nhìn vào Chúa Giêsu :

a/ Xem việc Người làm :

+ Chúa Giêsu thấy người mù từ khi mới sinh . noi gương Chúa chúng ta phải biết nhìn thấy những người đau khổ chung quanh chúng ta bằng sự nhận biết thực sự để cảm thương họ qua hành vi cử chỉ nâng đỡ, ủi an, và xoa dịu họ .

+ Chúa Giêsu nhổ xuống đất, lấy nước miếng trộn thành bùn ... . Noi gương Chúa chúng ta cũng phải dựa vào những phương tiện bên ngoài như một trung gian để an ủi nâng đỡ những người đau khổ . Đừng nói xuông những chứng tỏ bằng việc làm để giúp đỡ nhau . 

b/ Nghe lời Người nói :

+ " Nhưng để công việc Chúa tỏ ra nơi y" : có những bệnh tật, đau khổ ta chịu là để vinh danh Thiên Chúa, để đem lại đức tin cho ta, cho dù ta không được chữa lành bệnh theo kiểu người mù trong bài Tin Mừng hôm nay .

+ " Bao lâu còn ban ngày, Ta phải làm những việc của Đấng đã sai Ta" . Bao lâu còn sống ta phải lo chu toàn bổn phận Chúa trao phó là lo thánh hóa bản thân mình để thánh hoá tha nhân nữa, đừng đợi đến đêm là giờ chết đến, ta chẳng làm được việc gì nữa .

+ " Ngươi hãy đến hồ Silôê mà rửa " : Chúa thường dùng những dấu chỉ bên ngoài để khơi dậy niềm tin của chúng ta vào Thiên Chúa quyền năng, thương xót, quan phòng ... Vì vậy chúng ta cần phải dựa vào các biến cố hữu hình như bệnh tật, sức khoẻ, may mắn, thành công, thất bại, những sự vật và biến cốchung quanh nơi tha nhân, ngoài xã hộ và vạn vật ... để nhận biết và tin tưởng vào Thiên Chúa hơn .

2 / Nhìn vào người mù :

a/ " Hắn đi và rửa ..." noi gương người mù biết nghe Lời Chúa và đem ra thực hành thì sẽ được hiệu quả phần rỗi .

b/ " Anh ta nói ..." : đứng trước sự điều tra của người chung quanh, đứng trước sự đe doạ của Biệt phái, người mù can đảm tuyên xưng danh Chúa . Chúng ta phải biết tuyên xưng danh Chúa trước những sự cản trở, khủng bố của người chung quanh, chịu đựng sự ruồng bỏ của người đời, vì Chúa .

HTMV Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn