Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật IV Mùa Chay C

Tin mừng Lc 15: 1-3.11-32: Bài Tin-Mừng hôm nay thuật lại dụ ngôn người con trai hoang đàng trở về và được người cha ân cần đón nhận, để diễn tả lòng nhân từ thương xót của Thiên-Chúa đối với tội nhân biết sám hối trở về với Chúa.
CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY - NĂM C




Gs 5,9a.10-12 ; 2 Cr 5,17-21 ; Lc 15,1-3.11-32
 
Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải
 
BA DỤ NGÔN VỀ LÒNG THƯƠNG XÓT (Lc 15,1-32) 

1. Nhập đề của ba dụ ngôn đã phóng đại rằng: tất cả những kẻ thu thuế và những người tội lỗi thường lui tới bên Chúa Giêsu để nghe Ngài. Việc thêm thắt chữ "tất cả" vào trong nhập đề này có ý chỉ phương thức căn bản của sứ mệnh và thái độ của Chúa Giêsu: Ngài đến để kiếm tìm và cứu vớt những gì đã hư đi (x.L 19,10), nghĩa là tất cả. Điều này, do đó, cũng có giá trị cho hai hạng người thu thuế và tội lỗi nữa. Họ cần phải đến với Ngài và nghe lời Ngài, bởi vì họ không thể tìm được nơi nào khác lời hy vọng và sự tiếp đón nhưng không đó. Điều đó đã làm cho các biệt phái và ký lục phàn nàn kêu trách: "Ông này tiếp đón những người tội lỗi và cùng ngồi ăn với họ" (c.2). Lời kêu trách này cũng giống như giai thoại ông Lêvi và đối đáp với các ký lục Biệt phái nơi phúc âm Mc (2,12-17). Nơi Lc, lời kêu trách nhắm hai điểm: Ngài tiếp đón những kẻ tội lỗi và cùng ngồi ăn với họ. Điểm trách cứ thứ nhất cho thấy rằng những người thu thuế và tội lỗi không phải là thành phần của cộng đoàn tôn giáo và xã hội Israel; ít ra theo giáo thuyết các giáo sĩ Do thái; giáo thuyết này đã có câu châm ngôn như sau: TC yêu thương những người công chính và gớm ghét người tội lỗi. Bởi vì TC gớm ghét người tội lỗi nên Israel cũng phải làm như thế. Nhưng Chúa Giêsu làm ngược lại. Ngài tiếp đón các tội nhân.

Điểm kêu trách thứ hai còn nặng nề hơn: "Ông ta cùng ngồi ăn với chúng". Tiếp đón những người tội lỗi chưa đủ, Chúa Giêsu còn đi xa hơn: cùng ngồi ăn với họ. Trong cổ thời, bữa ăn có nghĩa là liên minh, thân hữu, liên đới giữa con người với nhau và giữa con người với TC. không cần nói, mà chỉ bằng thái độ, Chúa Giêsu cho thấy rằng TC rõ ràng muốn hiệp thông với kính những người tội lỗi.

Nhập đề này gán cho những dụ ngôn tiếp theo một tính cách biện hộ, bênh vực thái độ của Chúa Giêsu đối với những người tội lỗi. Nhưng trong câu cho thấy, thái độ của Chúa Giêsu đối với những người tội lỗi chắc chắn không có nghĩa là họ được công chính hóa vì là tội nhân. Tội nhân cũng cần tự mình hoán cải. Nhưng điểm mới mẻ là ở chỗ: sự cải hóa của họ không phải là điều kiện tiên quyết để được TC ân cần tiếp đó (như thần học các giáo sĩ Do thái chủ trương): ngược lại, sự hoán cải này trước tiên được TC thực hiện. Chính người mục tử lên đường tìm kiếm con chiên lạc, ông không ngồi đợi con chiên trở về. Điều phải làm trước tiên là chứng tỏ tình yêu đối với người khác; chính nơi TC mà ta tìm thấy khởi điểm của việc con người trở về.

2. Đâu là điểm chính yếu của chương này. Ta hãy thử tóm tắt: ở đây, không có sự từ chối hoàn toàn giáo thuyết biệt phái, nhưng là một thái độ rất hòa hoãn trước lời tố cáo của địch thủ Chúa Giêsu, một lời mời gọi thực sự nói qua dụ ngôn, mời gọi bắt chước cách thế hành động của chính TC. TC đã kinh nghiệm được một niềm vui khôn tả khi một tội nhân đi vào nước trời; hơn nữa Ngài đã kêu mời mọi người chung vui với Ngài vì tội nhân trở lại; tội nhân ngày xưa đã lạc mất và hiện tìm thấy, trước đây đã chết và nay sống lại. Suốt cả chương mời gọi ấy cứ vang mãi cho đến lúc bừng lên ở đoạn cuối. Chính Người mục tử mời gọi bạn bè và láng giềng đến chia vui với ông; chính người đàn bà đã làm như vậy, và chính người cha cũng mời gọi tôi trai tớ gái của ông đến chung ly rượu vui mừng. Đặc biệt nhất là lời mời gọi khẩn thiết, van nài vối với người con cả. Niềm vui tột đỉnh của TC là không loại trừ một người nào. Ngài mong ước cho chúng ta được niềm hân hoan phát sinh từ sự thay đổi sâu xa tận đáy tâm hồn.
Ngay cả từ ngữ cũng hướng ta về ý nghĩa ấy: các diễn tả niềm vui dầy đặc cả trong văn bản. Trước hết có thể kể chữ "tiếp đón" (prosdechetai), như nhiều tác giả đã nghĩ; rồi chắc chắn là chữ "mừng rỡ" (c.5), "chia vui" (c.6), "vui mừng" (c.7), "chia vui" (c.9), "vui mừng" (c.10), "ta hãy ăn khao" (c.23), "đàn ca múa hát" (c.25), "phải ăn khao mà mừng chớ" (c.32). Đó là niềm vui phải cùng chung với những người khác: người mục tử và người đàn bà với bạn bè (xin xem các động từ kép sugkalsin, sugchairein), TC với các thiên thần, người cha với tôi tớ và nhất là với con cả. Ta còn có thể kể thêm ý tưởng "tìm lại được", một tiếng diễn tả niềm vui vỡ bờ của kẻ đã từng kinh nghiệm điều đó.

Nhưng trong văn mạch, lời mời gọi chung vui này mang một khía cạnh Kitô học rất đặc biệt: đó là một lời mời gọi khó lòng đón nhận nếu không có một thay đổi não trạng tận gốc, chính Chúa Giêsu đã phát biểu như vậy; chính thái độ của Ngài đã phản ảnh tinh thần và niềm vui của TC khi Ngài tiếp đón tội nhân; chính Ngài đã muốn rằng mọi người phải chung vui với Ngài. Kẻ nhìn thấy Chúa Giêsu cũng nhìn thấy TC và không chê bai lối hành động của Ngài. Con người của Chúa Giêsu không phải là một cái gì được thêm vào cho sứ điệp tin mừng và cho lời rao giảng Nước Trời. Ngược lại Ngài chính là sự mới mẻ chủ yếu của sứ điệp đó.

Các dụ ngôn đây hoàn toàn không phải là một sự lặp đi lặp lại cách vô ích ơn tha thứ mà TC dành cho người tội lỗi như trong lời rao giảng của các ngôn sứ đâu. Nếu các dụ ngôn nói cho chúng ta về niềm vui của TC, thì Chúa Giêsu đã miêu tả cho chúng ta thấy phương thế hành động riêng của Ngài. Điều đó có thể được vì giữa hành động của TC và hành động của Chúa Giêsu có một sự đồng hóa âm thầm nhưng thực sự. Trong phúc âm của thánh Lc, Chúa Giêsu mời gọi ta bắt chước TC: "Hãy biết xót thương như Cha các ngươi là Đấng thương xót" (6,36). Nhưng ở đây còn hơn nữa: trong sứ mạng của Người, Chúa Giêsu là Đấng qua đó TC bày tỏ cho chúng ta niềm vui và sự thương xót của Ngài. Bởi thế, phàn nàn chống đối Chúa Giêsu, cuối cùng là phàn nàn chống đối TC, vì Chúa Giêsu lôi kéo tội nhân về với TC. Hầu như có thể giải thích cách thần học câu: "họ lui tới bên Ngài" thế này: Chúa Giêsu là người đầu tiên mời gọi chúng ta đến với nguồn vui ấy, nguồn vui ơn cứu rỗi ta.

3. Có một điều khiến các nhà chú giải phải lưu tâm ngay là: trong cặp dụ ngôn người mục tử, là có phúc âm thánh Mt (18,12-24); hai bản văn thuật lại dụ ngôn này dầu song song, vẫn khác biệt nhau: nơi Mt, hoàn cảnh không phải là sự tiếp đón các tội nhân, nhưng là sự săn sóc mà cộng đoàn phải chu toàn đối với những "kẻ bé nhất"; vì thế, kết luận cũng hoàn toàn khác biệt trong hình thức (phủ định nơi Mt) cũng như trong nội dung. Có thể tóm lược những dị biệt này như sau: Mt nhấn mạnh việc tìm kiếm, Lc nhấn mạnh niềm vui tìm gặp; trong Mt, Chúa Giêsu mời gọi những kẻ mạnh hay các mục tử hãy dẫn dắt kẻ yếu đuối về, trong khi Lc làm nổi bật niềm vui tha thứ của TC; Mt nhấn mạnh đến bổn phận phải chu toàn, Lc lại đi sâu vào con tim TC; Mt cho các tông đồ một qui luật, Lc lại mô tả sự nhân lành của Đấng cứu thế đối với tội nhân.

4. Tong hai dụ ngôn đầu của chương 15 này, người ta thấy có sự đồng nhất cơ cấu đặc biệt đến nỗi có thể gọi chúng là hai dụ ngôn "sinh đôi"

(người đàn ông)                                          (người đàn bà) 

Ai trong các ông                                          Bà nào

giả sử có một trăm con chiên                     có mười đồng bạc

và lạc mất một con                                     nếu rủi mất một đồng

há người ấy lại không bỏ                            há bà ấy lại không chong đèn…

cho đến khi tìm ra con chiên                      cho đến khi tìm được đồng bạc

lạc đó ư ?                                                    đó ư ?

Tìm được rồi…                                          Tìm được rồi…

lại không gọi bạn bè hàng xóm                  lại không gọi bạn bè hàng xóm

và phân phố với họ thế này sao:                và phân phố thế này sao:

"bà con hãy chia vui với tôi                        "bà con hãy chia vui với tôi

tôi đã may mắn tìm thấy con chiên            tôi đã tìm thấy đồng bạc tôi

lạc của tôi                                                   đánh mất

Cũng vậy, tôi bảo các ông,                         Cũng vậy, tôi bảo các ông,

… sẽ có cui mừng                                      vui mừng ắt run lên…

vì một người tội lỗi hối cải                          vì một người tội lỗi hối cải

hơn là vì 99 người công chính                 những kẻ không cần ăn năn.

Sự song đối thật quá hiển nhiên: câu hỏi ban đầu, hình thức lời nói, từ ngữ, ý tưởng... Với phương cách đặc biệt, vịêc lặp đi lặp lại các ý niệm và các từ ngữ đều gợi lên niềm vui và mời gọi chúng ta đến chia sẻ.

Bố cục theo một lược đồ đồng nhất, hai dụ ngôn này vì thế đề ra cùng một giáo huấn. Rất là thanh nhã, Chúa Giêsu lần lượt đưa vào một người đàn ông và một người đàn bà, một mục tử mất chiên và một nội trợ mất tiền. Các con số ở đây không quan trọng lắm. Có chặng là chính đơn vị bị mất mát, được tìm kiếm, và gây nên nỗi vui mừng cúc tìm thấy: một con chiên (trong cả đàn chiên), một đồng bạc (tiền công của một ngày làm việc) trong cả chút gia sản nhỏ bé, và (trong áp dụng) một tội nhân ăn năn, một linh hồn được cứu; điều đó đáng làm người ta chú ý.

a. Hình ảnh người mục tử tìm được con chiên mình (cc.3-6): 

Nhận thấy thiếu mất một con chiên trong đàn, người mục tử để 99 con chiên ngoan ngoãn gặm cỏ nơi hoang vắng (phải hiểu là để lại trong an toàn, nơi đồng cỏ vùng cao), để đi tìm con chiên lạc. Kể từ đây, trình thuật tập trung vào việc làm sáng tỏ thái độ của mục tử đối với con chiên duy nhất này. Ông đi tìm, ông gặp được nó, ông vui mừng, nỗi vui mừng phát biểu qua hai cách: ông vác con chiên lên vai như một giải khăn quàng sống động để cảm thấy nó thật gần gũi với mình; ông kêu mời bạn bè hàng xóm đến chia sẻ hạnh phúc của ông: niềm vui của ông tỏa rộng và lây sang người khác.

Hình ảnh này có lẽ hơi phóng đại (nhất là trong cách biểu lộ sự vui mừng) vì muốn ghi khắc bài học vào tâm trí. Nhưng nếu xét thực tế một chút, người ta thấy cử tọa dễ dàng và tự nhiên đồng ý với người thuật truyện và đi vào trong: "Ai trong các ông lại không làm như thế" (c.4). Được vuốt nhẹ một chút, thính giả chấp nhận ngay liền.

b. Hình ảnh bà nội trợ tìm lại được đồng bạc (cc.89) 

Đây là cảnh xảy ra bên trong nhà người dân Palestine: một căn phòng bằng đất nện, với vài chiếc chiếu, hay một ít đồ đạc lỉnh kỉnh. Ánh sáng không có bao nhiêu và chỉ đi lọt qua cửa chính vì nếu mở cửa sổ, nóng sẽ hắt vào. Ngay giữa ban ngày, cũng cần một ngọn đèn nhỏ để soi các xó góc. Câu chuyện được diễn tả chỉ trong vài tiếng: đồng tiền bị mất, người đàn bà gia công tìm kiếm (soi đèn và quét tước khắp nơi) tìm được rồi lòng ngập mừng vui. Đồng tiền thế nào cũng được cất lại một nơi chắc chắn, và niềm vui nói mãi không cùng với bạn bè hàng xóm, những người được réo gọi và chạy sang với một sự hiếu kỳ đầy thiện cảm.

c. Giáo huấn của hai dụ ngôn cc. 7 và 10)

Chúa Giêsu không bắt chúng ta khám phá giáo huấn đó. Ngài đã cắt nghĩa rõ ràng: đó là niềm vui của TC: "Trên trời sẽ vui mừng" (c.7), "vui mừng ắt vang lên giữa các thiên thần của TC" (c.10); hình thức chuyển từ kiểu Do thái này là để tránh đề cập trực tiếp đến TC. Nhưng toàn văn mạch chỉ rằng niềm vui đó là niềm vui của Ngài và của triều thần thiên quốc), niềm vui được mô tả một cách như nhân để những thực tại của TC dễ thấu đạt chúng ta.

Đối tượng của niềm vui vỡ bờ này là sự thu hồi tội nhân: một sự thu hồi do TC, một kết quả của lòng người lo lắng cho kẻ đã lạc mất (xem các chi tiết của hai dụ ngôn); sự thu hồi đó giả thiết tội nhân đã để TC bắt lấy (như con chiên và đồng bạc) cho nên sự hối lỗi, sự trở lại của anh ta không gì khác hơn là sự đáp ứng lại những bước đầu tìm kiếm của Ngài.

Nhưng cần nhắc lại rằng hai dụ ngôn không phải là lời mời gọi hoán cải. Chúng trực tiếp diễn tả niềm vui của TC. Đấng đã sung sướng trong sự chiến thắng của tình thương xót Ngài, sau khi đã động viên toàn lực để dẫn đưa kẻ lầm lạc trở về.

5. Dụ ngôn người cha của đứa con hoang đàng hẳn là một trong những trang phúc âm lôi cuốn nhất. Không cần mất thì giờ dừng lại trên những phân tích tâm lý tinh vi, trên nghệ thuật trình bày tài tình. Nhưng phải giới hạn lại, và ở đây tốt hơn, nên chú ý nhiều đến giáo huấn tôn giáo mà dụ ngôn muốn ghi khắc vào tâm trí.

Có một tương quan chặt chẽ nối kết dụ ngôn này với hai dụ ngôn trước trong chương 15 của phúc âm Lc. Trước hết ai cũng nhận thấy các kết luận đều giống nhau trong suốt cả chương âm vang như một điệp khúc: "hãy vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên lạc" (c.6), "Hãy vui mừng với tôi vì tôi đã tìm được đồng tiền đánh rơi: (c.9), "Ta hãy ăn mừng vì con Ta đây đã chết mà nay được sống, đã lạc mất mà nay lại tìm thấy" (c.32). Toàn chương như một bài ca tán tụng hạnh phúc của người tìm lại được cái mình đã mất đi.

Tính cách duy nhất đó được biện minh cho cách thức Lc dẫn nhập vào dụ ngôn bằng hai câu ông đã đặt ở đầu chương. Kẻ tỉ mỉ sẽ nhận xét rằng nhập đề này chỉ liên hệ trực tiếp đến dụ ngôn đầu mà thôi. Thật ra nó liên hệ đến cả hai dụ ngôn kia nữa vì cả ba ăn khớp với nhau. Và lại ta sẽ thấy rằng, nhập đề ấy hoàn toàn phù hợp với nội dung của dụ ngôn sau cùng: Chúa Giêsu sở dĩ đưa ra dụ ngôn này là vì các người biệt phái và ký lục đã công phẫn trước thái độ ân cần chiếu cố của Ngài đối với những người tội lỗi.

Dụ ngôn rõ ràng chia làm hai phần, phân ra nhờ điệp khúc ngắn rõ ràng của câu 24. Phần đầu diễn tả thái độ của người cha đối với đứa con hoang đàng, phần sau nói lên khó khăn của ông đối với người con cả. Hai đứa con hiện diện ở đó là để ông cha có cơ hội biểu lộ tình cảm của mình (cho nên vị anh hùng đích thực của dụ ngôn không phải là thằng con hoang đàng, song là cha của y). Nhưng những chi tiết về hai người con cũng soi cho ta thấy đâu là hoàn cảnh của dụ ngôn, đâu là vấn đề chính yếu khiến Chúa Giêsu muốn ban ra một giáo huấn. Giáo huấn này chắc chắn nằm trong những lời nói của người cha. Do đó, thay vì lần lượt xem xét hai phần của trình thuật, có lẽ nên xác định đâu là hoàn ảnh của dụ ngôn bằng cách trước hết chú ý chân dung của hai người con. Chân dung của người con cả đơn giản hơn hết, nên ta sẽ bắt đầu nói về anh trước sau đó đến người con thứ, rồi người cha và cuối cùng đề cập đến giáo huấn mà Chúa Giêsu muốn đưa ra qua trung gian ông già này.

1. Người con cả 

Khi đứa con thứ trở về, anh ta đang làm việc ngoài đồng. Chiều đến, sau một ngày lam lũ trở về nhà, không hay biết gì hết. Trong nhà cuộc vui đã tới hồi náo nhiệt với ca nhạc và nhảy múa. Anh con cả kêu người giúp việc, hỏi về chuyện đang xảy ra. Câu trả lời thật khó nghe: "Ấy, em cậu vừa về, nên cha cậu đã cho hạ bò tơ béo, bởi vì cụ đã được lại con an lành mạnh khỏe" c.27). Nghe vậy, anh ta giận dữ vô cùng. Cách thức nhận tin cho thấy phản ứng của anh. nhưng phải biết rằng: bản văn không muốn tô vẻ người con đầu lố bịch. Bản văn chỉ cho thấy anh ta đang giận dữ, Và giận dữ không phải không có lý do.

Vì anh từ chối vào nhà, nên ông cha phải đích thân ra van nài anh vào. Sẵn cơn tức giận, người con cả trút hết nỗi uất ức chất chứa trong lòng bấy lâu: "Này biết bao năm trời, tôi làm tôi ông cùng chưa hề cãi lệnh ông, thế mà có bao giờ ông cho tôi được một con dê để ăn mừng với chúng bạn. Còn khi thằng con của ông kia đã ngốn xong cả sản nghiệp của ông với đàn đĩ mà về, thì ông lại hạ bò tơ béo mừng nó" (cc.29-30)

Anh ta đã thốt lên một cách cứng cỏi, nếu không nói là thô lỗ; nhưng xét cho cùng, thực đúng như vậy. Anh ta nghĩ rằng cha mình đã xử sự không đúng, và phải công nhận anh có lý. Lời kêu trách của anh nhắc ta nhớ lại lời kêu trách của những người thợ giờ thứ nhất khi họ phản đối thái độ của ông chủ vườn nho: "hạng cuối hết này (những người thợ tới làm việc lúc 11 giờ) đã chỉ làm một giờ thôi, thế mà ông lại kể ngang hàng với chúng tôi, là những kẻ đã vác nặng cả một ngày trường với nắng nôi thiêu cháy" (Mt 20,12). Qua những lời kêu trách của người con cả và những người thợ thứ nhất, có thể nhận ra được cảm nghĩ của những người mà Chúa Giêsu đã hướng dụ ngôn tới. Dẫu bằng cách khác, họ cũng nghĩ rằng, quyền lợi của họ đã bị thiệt thòi. Một cái gì đó đã xảy ra khiến họ phải bảo: "Như thế là không công bình". Trước khi trả lời họ, Chúa Giêsu cho thấy những thông cảm với những khó khăn của họ. Bản trình thuật đã khéo sắp xếp để cho đối tượng của dụ ngôn nhận ra mình trong người con cả và thấy anh ta là phát ngôn cho mình.

Người con cả trước hết nói về chính bản thân anh: "Này đã biết bao năm trời tôi làm tôi ông, cùng chưa hề trái lệnh ông. Các từ ngữ anh ta xử dụng để diễn tả lòng trung thành của mình đối với Cha chính là từ ngữ đã xác định lý tưởng tôn giáo của các ký lục và biệt phái: bền tâm làm tôi TC, ra sức lo lắng để đừng bao giờ "trái lệnh" của Ngài.

Sau đó, người con cả còn nói với người con thứ bằng một giọng vô cùng khinh bỉ. Anh ta tránh gọi là "em con" nhưng nói "thằng con của ông kia". Thật đúng như người biệt phái của dụ ngôn Lc 18,10-14 đã gọi "tên thu thuế kia" vậy. Cũng thái độ khinh miệt ấy tỏ lộ qua những từ ngữ khiếm nhã lên án hạnh kiểm của đứa con hoang đàng.

Như thế đã đủ để cho ta thấy rõ hạng người mà dụ ngôn muốn nhắm đến. Chúa Giêsu ngỏ lời với những kẻ tự cho mình là tôi trung của TC, những kẻ đã cố giữ để đừng bao giờ vi phạm giới răn Ngài. Họ nghĩ rằng một lòng đạo đức như thế cho họ được quyền, và họ phẫn uất trước những gì xem ra bất công đối với họ. Không pgải là họ phẫn uất trước kẻ tội lỗi, những người này chỉ làm cho họ khinh bỉ. Sự phẫn uất, khó chịu của họ, chúng ta đã thấy rồi là do thái độ của TC đối với các tội nhân: nếu TC cũng nhân lành với kẻ tội lỗi như thế, thì người công chính nào có hơn gì không ? Lòng thương xót của TC đối với người tôi lỗi há không làm lung lay nền tảng của một tôn giáo chủ trương trung thành vâng lời TC sao ? Nếu các kẻ tội lỗi là những người được TC ưu đãi, thì cần gì phải mất công giữ giới răn của Ngài ?

2. Người con thứ 

Ta đã thấy dụ ngôn cố sức làm nổi bật sự bắt bẻ của người con cả, nhưng không nhận chìm nhân vật mà qua đó, các đối tượng phải nhận ra chính mình. Bây giờ là chân dung của người con thứ; anh ta không được tô điểm chút nào và phù hợp với hình ảnh mà người biệt phái có thể có về một người tội lỗi chính danh.

Sau khi đã thu được phần gia tài, đứa con thứ trẩy đi xa (dĩ nhiên là vùng lương dân) ở đó anh ta phung phí của cải bằng một đời sống phóng đãng (mà chỉ bọn ngoại giáo mới sống). Cuối chặng đường phiêu lưu đó, anh chàng làm nghề chăn heo. Đối với người Do thái, đấy là tồi tệ hết chỗ nói. Ta có thể đoán được khi nghe đến đây, người biệt phái ắt bỉu môi, kinh tởm.

Sau cùng, đã đến lúc suy nghĩ lại. Nhưng hãy xem anh chàng ăn chơi suy nghĩ gì nào ? Hối tiếc thái độ của mình ? Hối hận vì đã gây buồn khổ cho cha ? Không có đâu, anh ta đã tự trách đã dại dột để mình chết đói đang khi gia nhân của cha có bánh ăn no đầy. Tại sao không lợi dụng điều đó và đi về xin làm gia nhân của cha ? Để hoàn thành kế hoạch, anh ta dọn trước một câu thật hay: "Thưa cha, con đã trót phạm tội nghịch với trời, và trước mặt cha, con không đáng gọi là con cha nữa, xin xử với con như một người làm công của cha thôi" (cc-19). Câu này thật hay, nhưng anh quá biết đấy là một mánh khóe hết sức tầm thường. Cái làm cho thằng con lo lắng là không có gì mà "tống cho đầy bụng" (c.16). Hắn trở về nhà là để được ăn thả cửa. Những lời lẽ hối hận của hắn không phù hợp với cảm nghĩ đích thật của hắn. Những lời đó chỉ có mục đích làm động lòng người cha đang tức giận một cách chính đáng, hắn chỉ cần khêu gợi lòng thương cảm của cha với hy vọng ông sẽ không tìm cách soi thấu lòng dạ của của hắn mà thôi.

Không ! Trình thuật này không có lý tưởng hóa tội nhân. Chân dung vẽ ra là đúng như lòng mong đợi của biệt phái mà Chúa Giêsu đang ngỏ lời. Khi muốn sửa chữa chân dung đó để biến đứa con hoang đàng thành mẫu gương thống hối, ta sẽ bỏ qua giáo huấn mà Chúa Giêsu muốn đề ra cho thính giả Ngài. Từ lâu trong Israel, người ta biết rõ là TC thích tha thứ cho những kẻ tội lỗi ăn năn trở về. Nếu Chúa Giêsu chỉ muốn nói thế, thì người biệt phái không có lý do gì để phẫn nộ cả.

3. Người cha 

Người cha và đứa con thứ: phải đọc lại đoạn mô tả xúc động về thái độ của người cha khi đứa con hoang trở về ở câu 20-24. Làm thế nào để chú giải một đoạn văn như vậy mà không làm mất đi tính cách sống động của nó ? Ta thấy người cha xúc động khi nhận ra con mình từ đàng xa. Động từ có nghĩa là: người cha bồi hồi cảm xúc và chạnh lòng thương xót. Mối xúc động bên trong này tức khắc biểu lộ ra bằng những cử chỉ cuồng nhiệt: người ta ngạc nhiên thấy ông già đương phương đường bệ này chạy bổ vào đứa con, thằng con bắt đầu tụng lên câu dọn sẵn, nhưng nó không đọc hết được, vì cha nó đã hối hả kêu gia nhân: "Mau mau. Đem áo thượng hạng mà mặc cho nó, hãy xỏ nhẫn vào tay nó, và giày vào chân nó, rồi đem con bò tơ béo mà hạ đi, ta phải ăn khao mới được. Mau lên.

Tất cả sự náo nhiệt này được hiểu như là một sự bùng vỡ niềm vui. Nỗi sung sướng của người cha thật tràn trề đến nỗi ông chạy lăng xăng khắp nhà. Câu 24 kết thúc đoản văn bằng cách đưa ra lý do sâu xa của niềm vui này: "Vì con ta đây: nó đã chết mà lại hoàn sinh, đã mất đi mà lại tìm thấy được". Dù tội lỗi đến đâu, tên hoang đàng vẫn là đứa con của cha nó. Đối với ông cha, chỉ điều ấy là đáng kể. Ông đã không bao giờ ngừng yêu mến con ông. Đã một thời đi xa, đứa con như mất đi, bây giờ tìm lại được nó. Kể chi đến quá khứ, chỉ biết bây giờ nó đã trở về. Người cha dào dạt niềm vui, bởi vì ông đã yêu con như bất cứ người cha nào.

Người cha và đứa con cả: người cha đã không muốn nghe hết lời thú tội của thằng con thứ, nay tránh cắt ngang lời trách móc của đứa con cả. Ông lắng nghe hết câu than vãn đó. Và lúc ấy, ông mới trả lời, bằng một giọng âu yếm trái hẳn với giọng điệu hằn học của đứa con.

Trước hết, người con cả nói về mình, về hạnh kiểm gương mẫu của mình mà anh ta nghĩ rằng đã bị cha đối xử bất công. Người cha bắt đầu trả lời những trách cứ của anh: "này con, con hằng ở luôn với cha thì tất cả của cải của cha đều là của con" (c.31). Chúng ta không cần nghe nói đến con dê bị khước từ nữa: "Tất cả những gì là của cha đều là của con". Thật thế, người con cả không thể phàn nàn rằng anh ta đã bị xử bất công.

Câu trả lời này nhắc ta nhớ lại rằng mình đang đứng trước một dụ ngôn. Cho nên không có vấn đề đi tìm một ý nghĩa mầu nhiệm nào đó trong các từ ngữ được xử dụng. Ta sẽ lạc đề hoàn toàn chẳng hạn như muốn áp dụng những từ ngữ của câu trả lời về liên hệ giữa người cha và người con này vào mối liên hệ giữa TC và những người biệt phái. Điều đúng trên phương diệm là TC không bất công đối với người biệt phái cũng như người cha đã không bất công với đứa con cả vậy.

Phần thứ nhất của câu trả lời bác lại một bắt bẻ, phần thứ hai đi xa hơn và đưa ra một giáo huấn tích cực. Dĩ nhiên nơi đó mới là điểm quan trọng. Câu trả lời lấy lại điệp khúc đã kết thúc phần thứ nhất của trình thuật (c.24), nhưng biến đổi rất có ý nghĩa. Thay vì nói "con ta đây, nó đã chết..." để đổi lại từ ngữ đứa con cả dùng: "thằng con của ông kia đã về sau khi đã ngốn xong sản nghiệp của ông" người cha đã sửa lại một cách tế nhị: "Em con đó", "phải ăn khao mà mừng chớ, vì em con đó nó đã chết mà lại sống, đã mất mà lại tìm thấy được" (c.32). Nếu người cha đã vô cùng hạnh phúc khi tìm lại được đứa con, thì người anh sao lại không hoan hỉ lúc tái ngộ em mình ?

Trình thuật chấm dứt với lời kêu gọi của người cha. Cuối phần nhất, điệp khúc được tiếp liền bằng một câu kết vắn tắt: "Và người ta mở tiệc ăn mừng" (c.24). Ta có thể tưởng tượng một câu kết luận như thế cho cả trình thuật để bảo rằng đứa con cả đã hoàn toàn được thuyết phục. Nhưng trình thuật vẫn cố ý bỏ ngõ, vì chính thính giả phải tự nói là họ có đáp trả lời kêu gọi này của dụ ngôn hay không. Kết luận của trình thuật tùy thuộc vào thái độ của họ. Họ chịu để thuyết phục không ? Họ có chấp nhận chia sẻ không ? Họ có chấp nhận chia sẻ niềm vui của TC khi một tội nhân trở về không ? Họ có đủ sức thông hiệp vào tình yêu mà TC không ngừng mang lại cho những người anh em tội lỗi không ? Chỉ có họ mới trả lời được.
c. Mạc khải về lòng thương xót của TC: trong dụ ngôn này, Chúa Giêsu vạch trần cạm bẫy mà trong đó thường rơi vào những kẻ đạo đức xét theo lề luật và những kẻ thỏa mãn với sự công chính riêng của mình, họ đòi hỏi TC phải công nhận vì họ "công chính" sờ sờ ra đó. Nhưng sự công chính này, mà họ tưởng có thể dựa vào, lại lôi họ đến chỗ tiêu diệt . Họ bị hiểm nguy vì họ quên rằng họ là những người con và vẫn là con ngay cả trong sự trầm luân. Quả thực, TC Cha đã đến gặp họ trước khi họ lên đường tìm về với Ngài.

Ngay trước khi đứa con hoang đàng xưng thú tội lỗi mình, người cha đã ôm nó vào lòng mà hôn. Cái hôn trên má dành thường dành cho người ngang hàng. Chúa Giêsu diễn tả sự phục hồi tư cách, địa vị làm con của đứa em bằng cách nói: người ta đem lại cho gã cái áo đẹp nhất, xỏ nhẫn vào tay và mang giày vào chân gã. Việc mặc áo ngày lễ chúng tỏ : người cha không những tha thứ hết mọi tội lỗi thằng con mà còn ngầm báo nó đừng sợ, cha không phạt đâu. Tuy nhiên việc chú giải dụ ngôn còn cho một kết luận khác nữa: việc TC tha thứ không phải chỉ là cất hình phạt, song còn là một hành động sáng tạo. Nếu tội lỗi của con người là dấu hiệu khuất phục sự chết, thì sự tha thứ nhân danh Chúa Giêsu và nhân danh TC không phải chỉ là chết đi tội lỗi, nhưng còn băn khoăn một thực thể mới, thay đổi con người toàn diện.

KẾT LUẬN 

Hai dụ ngôn của chương này kết thúc một cách vui vẻ, nhưng dụ ngôn thứ ba thì được "bỏ ngỏ": người con trưởng có chấp nhận lời mời không ? Đó không phải là câu hỏi để kết thúc. Sau khi đã hiểu được niềm vui khôn tả của TC, câu hỏi đích thực liên hệ đến chúng ta: chúng ta có thực lòng chung vui với TC và Chúa Kitô, khi thấy người anh em tội lỗi vào nước trời ? Nếu thực lòng chung vui, chúng ta đang đi vào tâm tình của Chúa Kitô, và nhờ người, được liên kết với Chúa Cha, là đấng yêu thương hết thảy mọi người.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG 

1. TC muốn cứu độ mọi người (1Tim 2,4), không phải chỉ cách tổng quát và tập thể, nhưng còn là một cách cá biệt. Ngài không muốn một số kẻ được chọn nào đó, Ngài muốn cứu vớt tất cả. Cho dù chỉ có một linh hồn cần được đưa về với Ngài (một con chiên trong số 100 con) Ngài cũng lo liệu tìm mọi cách để đưa kẻ ấy trở về.

2. Chúa Kitô là mục tử tốt lành, biết tên từng con chiên một (Ga 10,3). Sứ mệnh của Ngài là đưa những con chiên lạc nhà Israel trở về đàn (Mt 15,24). Cũng như Chúa Kitô, Kitô hữu không được bỏ rơi kẻ nào trong những tương giao nhân loại hay tôn giáo của mình, nhưng phải sẵn sàng tiếp nhận mọi thiện chí, sẵn sàng tiếp xúc một cách chân thành hữu ích. Không phải môi trường rộng lớn mới là quan trọng. Thánh Francois de Sales có nói: "Một linh hồn đã là một địa phận khá lớn cho một giám mục rồi"

3. Cho dù tội lỗi đến đâu, chúng ta đừng bao giờ thất vọng. Tình yêu của TC và của Chúa Kitô luôn đeo đuổi chúng ta (Rm 8,37-39). TC rình chờ chúng ta, để vác chúng ta lên đôi vai khi cần (Is 40,11) và đưa chúng ta về lại ràng. Chúng ta hãy tin tưởng vào sự âu yếm của TC chúng ta. Hãy thưa với Ngài rằng chúng ta là con chiên lạc lối và hãy xin

Ngài đến tìm kiếm ta cho mau (Tv 119,176) để từ đây săn sóc ta như con chiên thân thuộc (Tv 95,7) trong tình yêu thắm thiết của Ngài.

1. Hôm nay, ngày Chúa Nhật, TC vui mừng biết bao được tụ họp đoàn dân Ngài trong giáo hội để nhờ Chúa Kitô dâng lên hy lễ thờ phượng. Trong đoàn dân này, Ngài nhận ra những con chiên trung thành của Ngài và có lẽ cũng nhận ra một vài tâm hồn Ngài đã dùng ân sủng đánh động riêng, đã trở về cuộc sống thờ phượng: đó là những con chiên tìm thấy những đồng bạc thu hồi, những tâm hồn đã được đưa về để tôn thờ TC đích thật hầu được cứu rỗi.

2, Chúng ta tìm thấy được dụ ngôn người cha của đứa con hoang đàng một mạc khải về sự âu yếm khôn lường của TC đối với những người tội lỗi. Tình âu yếm đó đã được Chúa Giêsu tỏ ra cho loài người trong việc Ngài chăm lo cho các tội nhân suốt sứ vụ tại thế, và nhất là trong viêc hy sinh mạng sống Ngài để chuộc tội cho họ. Việc khám phá ra một tình yêu như vậy không thể làm cho ta tràn đầy tin tưởng vào Đấng đã yêu thương chúng ta. Chúng ta quá biết mình là những tội nhân; nhưng chúng ta từ nay không được quên rằng thân phận khốn nạn đó không làm TC ghét bỏ chúng ta, trái lại càng khiến Ngài yêu chúng ta hơn. Vì vậy chúng ta vững tin cho chính mình, và cũng vững tin cho những kẻ khác. Chúng ta cũng đang sống giữa những người tội lỗi. Khi thấy các anh em ấy gặp khốn khó hay lầm lạc, chúng ta hãy nhớ lại rằng họ vẫn được TC yêu, và tình yêu đó đủ mạnh để cứu rỗi họ.

3. Không thể thật sự khám phá ra tình yêu của TC mà không thấy sự đòi buộc của tình yêu đó đối với chúng ta. Người con cả của dụ ngôn, vì không hiểu tình yêu của Cha, cũng không hiểu được lời mời gọi phát xuất từ tình yêu đó: anh ta chỉ thực sự là người con hiếu thảo của cha khi biết chia sẻ tình yêu của cha, biết thương mến đứa em. Việc đề phòng mà dụ ngôn muốn nhắc nhở cho người người biệt phái không phải là không liên hệ đến Kitô hữu. Dụ ngôn nhắc cho họ nhớ rằng người ta không thể phục vụ TC đúng ý Ngài nếu không yêu Ngài và không thông hiệp vào tình yêu của Ngài đối với anh em, cho dù những người này là tội nhân. Thái độ của Chúa Giêsu hoàn toàn trái ngược với con tim lạnh lùng kiêu căng của người biệt phái, kẻ tưởng mình đang sống an toàn vì đã thi hành tỉ mỉ những giới luật. Làm sao có thể xưng mình là môn đệ của Chúa Giêsu nếu ta khinh bỉ xa tránh những kẻ đang gặp hoạn nạn khó khăn do tội lỗi. Tình yêu TC kêu mời chúng ta yêu mến anh em. "Anh em thân mến, nếu TC đã yêu mến ta như thế, thì ta cũng phải yêu mến nhau" (1Ga 4,11)



Noel Quession - Chú Giải

 
CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY

Lc 15,1-3 –11-32

 
Tất cả những người thu thuế vậ những người tội lỗi thường đến gần Đức Giêsu và nghe Người. Còn những người thuộc phái Pharisêu và các kinh sư thì lẩm bẩm : "ông này đón tiếp phường tội lối và ăn uống với chúng : Đức Giêsu mới kể cho họ dụ ngôn này".

Những câu này dẫn nhập cho "ba dụ ngôn về lòng thương xót". Con chiên lạc được tìm thấy, đồng tiền mất lại tìm được, đứa con mất được gặp lại. Như thế, ba câu chuyện này đã được Đức Giêsu kể ra để biện hộ. Vậy tôi bắt đầu nhìn ngắm Đức Giêsu giữa các người tội lỗi, đang đồng bàn với họ - ôi ! Chiếc "bàn" kỳ diệu biết bao...

Những người tội lỗi đang ngồi ở đó với Đức Giêsu. Lạy Chúa, Chúa đã nói gì với họ, để lôi cuốn họ, khiến những kẻ khác phải lẩm bẩm ?

Một người kia có hai con trai...

Chúng ta có tập quán không hay chỉ nghe phần đầu của dụ ngôn, phần nói về người con trai thứ nhất, đứa con hoang đàng. Nhưng người cha mới là nhân vật chính : "Một người kia có hai đứa con trai". Đó là dụ ngôn "người cha hoang phí" mà ta sắp nghe. Dụ ngôn là một bi kịch, gồm hai hồi : Cuộc xung đột giữa một người cha và hai đứa con của ông thương yêu đồng đều và nồng nàn nhất. Đó là một câu chuyện thường được sống lại trong nhiều gia đình. Hỡi các người cha và các bà mẹ trên thế gian, đó chính là bi kịch của Thiên Chúa mà các ông bà đang sống. Vậy các ông bà hãy lắng nghe câu chuyện tình yêu đẹp nhất hình ảnh đẹp nhất của Thiên Chúa !

1. Hồi thứ nhất : Thái độ của nguời cha với người "con út".

Người con thứ nhất nói với cha rằng : "Thưa cha, xin cho con phần tài sản con được hưởng". Và người cha đã chia của cải cho hai con.

Người con này chỉ là một kẻ hưởng thụ : Anh ta đòi hỏi tiền, yêu sách thật nhiều tiền. Anh ta chỉ nghĩ đến mình. Anh ta nhận được tất cả từ cha mình, nhưng không biết điều đó. Anh ta chỉ biết làm có một việc : đòi hỏi, yêu sách, áp lực - khiếu nại…

Người cha có thái độ hoàn toàn ngược lại với anh ta. Ong chỉ cho không, luôn chia sẻ, cho cách vô vị lợi, tôn trọng tự đo kẻ khác. Ong là chính tình yêu ! Qua hình ảnh người cha này, Đức Giêsu nói với ta về Thiên Chúa. Chúng ta có hình dung Thiên Chúa như thế không ?

Ít ngày sau, người con thứ góp tất cả, rồi trẩy đi phương xa. Ở đó anh ta sống phóng đãng, phung phí tài sản của mình. Khi anh ta đã ăn tiêu hết sạch thì lại xảy ra trong vùng ấy một nạn đói khủng khiếp. Và anh ta bắt đầu lâm cảnh túng thiều, nên phải đi ở cho một người dân trong vùng, người này sai anh ta ra đồng chăn heo. Anh ta ao ước lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho. Bấy giờ anh ta hồi tâm tự nhủ : Biết bao nhiêu người' làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta ở đây lại chết đói ? Thôi ta đứng lên đi vế cùng cha và thưa với người. Thưa cha con thật đắc tôi với trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa, xin coi con như một người làm công cho cha vậy: Thế rồi anh ta đứng lên đi về cùng cha...

Người con út này là hình ảnh của người tội lỗi, mà người Pharisêu thường hình dung ra.

a) Đó là người con nổi loạn, đòi độc lập, tượng trưng cho khuynh hướng vô thần thuộc mọi thời đại : thụ hưởng "của cải" của Thiên Chúa mà không nhìn nhận Người, lìa xa Thiên Chúa, muốn gì làm đó mà không cần kiểm soát : "'Đâu biết đến Thiên Chúa, đâu biết đến chủ tể nào". Thái độ này không phải ngày nay mới có.

b) Hơn nữa với người Pharisêu, người con Ít-ra-en này đã sa xuống vực thẳm của đê tiện. Anh ta tự bán mình làm nô lệ cho một người dân ngoại, như vậy anh không còn tôn trọng ngày Sabát nữa, đâu còn giữ nghi thức ăn uống theo luật nữa : Anh ta chăn heo loại thú dơ bẩn, bị cấm và đầy ghê tởm.

c) Ngoài ra chỉ nhìn theo quan điểm thuần túy con người, thì sống như vậy cũng không có luân lý : Đó là một con người hư hỏng, không còn bản chất người, bị xuống cấp tụt xuống hạng thú. Chính anh ta cũng sống như một thứ heo : tiền bạc, ăn uống, dục tính, chỉ biết cái tôi và cái tôi.

Người- ta tăng cường sự trang điểm cho anh, vì cảm phục anh trở về . Nhưng anh ta vẫn lấy lợi ích riêng của mình làm chúa tể : "Nhét cho đầy bụng" . Sự trở về nhà của anh ta, dù có nói hay thế nào đi nữa cũng chỉ là một sự tinh toán bủn xỉn để tìm được chỗ ăn chỗ ở. Anh ta đau bụng hơn đau lòng. Đó là đứa con thật tội nghiệp, nạn nhân của bản năng mình, của bạn bè mình : Nó đã mất thói quen thương yêu. Nó chỉ còn biết nghĩ đến mình.

Lạy Chúa đó cũng là hình ảnh của con ! Than ôi, con vẫn thường sống như thế đó :

Anh ta còn ở đằng xa thì người cha đã trông thấy ông chanh lòng thương, chay ra ôm cổ anh và hôn lấy hôn để .

Chúng ta cần ghi nhận, không cần người con mở miệng thưa gởi, thì người cha đã làm tất cả rồi. Ong thể hiện bốn cử chỉ : "ông thấy anh ta đằng xa", "ông chanh lòng thưng", "ông chay đến, ông ôm hôn". Có lẽ việc "chay đến" là cử chỉ mạnh nhất trong dụ ngôn này. Thông thường không khi nào một bề trên lại chay tới một bề dưới, nhất là khi kẻ dưới lại có một thái độ bất bình với họ.

Vâng, người ta làm sai hoàn toàn ý nghĩa dụ ngôn của Đức Giêsu khi trình bày cuộc trở về của người con này, như một gương "hoán cải". Nếu Đức Giêsu chỉ mô tả thái độ "ăn năn" của một người tội lỗi, thì giáo huấn đó có thể đã không làm cho người Pharisêu bất bình. Vì từ lâu tại ít-ra-en, như toàn bộ Kinh Thánh minh chứng, người ta đều biết rằng, Chúa luôn tha thứ cho người tội lỗi biết ăn năn. Nhưng ở đây, cách đối xử của người cha này đi quá xa. Ong không cần biết đến con ông có biểu lộ chút ăn năn thực sự nào không. Vừa thấy con từ đằng xa, ông đã chay đến gặp nó. Đức Giêsu không muốn nhấn mạnh đến thái độ của đứa con hoang đàng, những việc làm sám hối đền tội của nó; nhưng Người chỉ muốn nhấn mạnh về tình yêu nhưng không của người cha, một người cha đã tha thứ trước khi con ông thú tội, không đặt một điều kiện nào hết ! Đức Giêsu nói với chúng ta làm con là như thế nào : Trước tiên đó không phải là cần có một thái độ nào đối với cha mẹ mình, nhưng là được cha mẹ mình thương yêu, dù xứng đáng hay bất xứng. Đó là điều đã được mạc khải trong ngôn sứ Hôsê : "Chúa vẫn trung thành tiếp tục thương yêu người bất trung" (Hs 2-3,1 - 11,1 - 9,14,5-9). Lạy Chúa, Chúa thương yêu chúng con với một tình yêu vô bờ.

Các bạn tự cho mình là vô thần, hay thực tế sống như những người vô thần, các bạn là những người tội lỗi, đang xa cách Thiên Chúa, đang né tránh người, Đức Giêsu muốn nói với các bạn : "Dù các bạn không tin nơi Chúa, không yêu Chúa, thì Chúa không bao giờ ngừng tin các bạn và thương yêu các bạn !" Như vậy, chúng ta mới hiểu những người tội lỗi đã chay theo Đức Giêsu !

Bấy giờ người con nói rắng : "Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa"...

Nhưng người cha bảo các đầy tớ rằng : "Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép, vào chân cậu, rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng".

Người' cha không để cho người con nói hết câu mà anh ta đã chuẩn bị trước. Ong ban cho con mình quá sự mong muốn. Đó là một lễ cưới thực sự : áo đẹp, nhẫn đeo, giày dép, bữa tiệc, âm nhạc. ..

Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy. Và họ bắt đầu ăn mừng.

Đây là điệp khúc kết thúc hồi thứ nhất của bi kịch. Trong chốc lát, chúng ta sẽ thấy điệp khúc này có hai từ thay đổi : "con ta" thành "em con". Chết - sống lại -bắt tìm thấy. Đối với Đức Giêsu, đây là cái chết như thế nào ?

Oi đây là mạc khải bi thảm mà Đức Giêsu muốn rọi chiếu vào vùng vô thức của ta : Xa cách Chúa, là phải chết. Con thực sự hiện hữu trong tương quan với Thiên Chúa. Chỉ có đức tin mới cho ta thấy thực tại đích thực. Ta có thể tưởng mình đang sống mà thực ra đã chết.

"Tiệc mừng" của Thiên Chúa ! "Niềm vui, của Người ! Hoán cải, đó chỉ là bước vào niềm vui của Thiên Chúa. Thế mà rõ ràng, đó là điều mà người anh cả sắp từ chối.

2. Hồi thứ hai : Thái độ của người cha đối với người "con Cả".

Lúc ấy người con cả của ông đang ở ngoài đồng. Khi anh ta về gần đến nhà, nghe thấy tiếng đàn ca múa, liền gọi một người đầy tớ ra hỏi xem có chuyện gì. Người ấy trả lời : "Em cậu đã về, và cha cậu đã làm thịt con bê béo, vì được lại cậu ấy mạnh khoẻ". Người anh cả liền nổi giận và không chịu vào nhà. Nhưng cha cậu ra năn nỉ.

Đối với người con cả, người cha này cũng biểu lộ cùng một tấm lòng nhân hậu : "ông bước ra năn nỉ". Kinh Thánh thường trở lại đề tài : Những hồng ân Thiên Chúa được ban tặng cách tuyệt đối nhưng không, qua đề tài người con út giành chỗ người con cả (St 2,36,2 ; Mcb 4,26 ; Cn 30,23 ; Hs 12,4). Như vậy, người Pharisêụ có thể nhớ tới trường hợp GiaCóp đã chiếm chỗ của Esau, nhận gia tài mà đúng ra ông không được hưởng. Cũng vậy, "những người thợ giờ chót" sẽ thay chỗ những người đầu tiên "làm vườn nho" (Mt 20,18). Cũng như thế, "người hàng chót sẽ lên hàng đầu (Lc 13,30,1 ; Cr 15,18). Y như vậy "dân ngoại sẽ thay thế cho dân được tuyển chọn : Đó là quyền tuyệt đối và tình yêu nhưng không của Thiên Chúa (Rn 9,30). Trước thái độ của Thiên Chúa như thế, không thể nói bất công được ! Chúa thương yêu tất cả mọi người. "Chẳng lẽ vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức sao ?" (Mt 20,15). Lạy Chúa Cha, con sẽ tạ ơn Chúa không biết mỏi mệt vì phổ quát của Chúa. Con thường tự hỏi xem, con yêu Chúa thực sự không, nhưng con vẫn biết thương yêu con.

Câu trả lời cha : "Cha coi, con đã bao nhiêu năm trời hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao giờ cha cho lấy được một con dê con để con ăn mừng với bạn bè . Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, trở về thì cha lại giết bê béo ăn mừng". 

Nhít vậy, người con cả cho chúng ta thấy chính mũi nhọn của dụ ngôn này : Anh ta không nhận thấy trọn vẹn Tình yêu mà anh ta đang thừa hưởng. . . Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con.

Qua dụ ngôn hai hồi này, chúng ta được mời gọi bước vào trong Tình yêu của Thiên Chúa, vào trong niềm vui của Người, khi thấy kẻ tội lỗi trở lại. Đó là lời loan báo cuộc trở lại của các dân ngoại, dân mới của Thiên Chúa. Một ngày kia, Luca sẽ đặt vào môi miệng Phêrô những lời sau đây, khi Phêrô nhận thấy ân sủng được ban cho viên đại đội trưởng ngoại giáo Conêliô : "Vậy Thiên Chúa đã ban cho họ cùng một ân huệ như Người đã ban cho chúng ta, vì chúng ta tin vào Chúa Giêsu - Kitô, thì tôi là ai mà dám ngăn cản Thiên Chúa" (Cv 11,17). "Không dành đặc ân, cho ai cả". Mọi người đều được thương yêu.

Và dụ ngôn người con bị mất lại tìm thấy, được kết thúc bằng một điệp khúc vui vẻ, cũng như hai dụ ngôn trên (đọc vào Chúa nhật thường niên XXIV).

Con chiên bị mất (Lc 15,6). Đồng bạc b.ì định mắt (Lc 15,.9).

Xin chung vui với tôi, vì tôi Xin chung vui với tôi

đã tìm được con chiên của vì tôi đã tìm được đồng quan tôi con chiên đã bị mất đó… tôi đã đánh mất...

Người con thứ (Lc 15,24). Nói với người con cả (Lc 15,31)

Chúng ta mở tiệc ăn mừng Phải ăn mừng và hoan hỉ

vì con ta đây vì em con

đã chết mà nay sống lại đã chết, nay lại sống

đã mất mà nay lại tìm thấy. đã mắt nay lại tìm thấy.

Chỉ có một từ thay đổi trong hai câu kết luận : Chữ "con" được thay bằng chữ "em" . Thiên Chúa là Cha, đúng vậy : Người thương yêu tất cả con cái của Người. Nhưng con người có coi nhau là anh em không ? Người con cả có để cho người cha thuyết phục và bước vào "hưởng niềm vui với người cha không ?

+ Dụ ngôn này chưa hoàn tất, chúng ta cần cho nó một kết luận : "Bước vào dự tiệc vui mừng với Thiên Chúa".

Giáo phận Nha Trang - Chú Giải


 
CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY

"Em con đã chết nay sống lại"

BÀI TIN MỪNG (Lc 15,1-3 . 11-32).

I. Ý CHÍNH :

Bài Tin-Mừng hôm nay thuật lại dụ ngôn người con trai hoang đàng trở về và được người cha ân cần đón nhận, để diễn tả lòng nhân từ thương xót của Thiên-Chúa đối với tội nhân biết sám hối trở về với Chúa.

II. SUY NIỆM :

1. "Những người thu thuế và tội lỗi đến gần Chúa" :

Theo giáo thuyết của các giáo sĩ Do Thái thì những người thu thuế và tội lỗi bị tách ra khỏi cộng đoàn tôn giáo và xã hội Do Thái. Nhưng ở đây những người này lại đến gần Chúa GiêSu để nghe người giảng. Điều này muốn nói lên rằng: Chúa GiêSu, với tư cách là Đấng Cứu Thế, Người có thể cứu giúp những người tội lỗi và chính Người là nơi nương tựa cho những kẻ bị bỏ rơi.

2. "Thấy vậy, biệt phái và luật sĩ lẩm bẩm":

thấy thái độ Chuá GiêSu đón tiếp những người thu thuế và tội lỗi trái với giáo thuyết của Do Thái, nên biệt phái và luật sĩ là những người chủ trương giữ luật rất khắc khe đã kêu trách Chúa Giêsu. Lời kêu trách của họ nhằm hai điểm. 

a ,"Ông này đón tiếp những kẻ tội lỗi".Điều này muốn nói lên rằng những người thu thuế và tội lỗi không là thành phần của cộng đoàn tôn giáo và xã hội Do Thái, ít ra theo giáo thuyết các giáo sĩ Do Thái. Giáo thuyết này đã có câu châm ngôn như sau: Thiên Chúa yêu thương những người công chính và gớm gét những người tội lỗi nên dân Do Thái cũng phải làm thế. Nhưng ở đây Chúa Giêsu làm ngược lại :Người tiếp đón các tội nhân. 
b,Và cùng ngồi ăn với chúng: không những tiếp đón những người tội lỗimà Chúa Giêsu còn đi xa hơn: là cùng ngồi ăn với họ. Thông thường bữa ăn diễn tả thân hữu liên đới giữa con người với nhau. Vì thế ở đây với thái độ"Cùng ngồi ăn với họ"ChúaGiêsu cho thấy rằng Người muốn hiệp thông với chính những người tội lỗi. 

3."Bây giờ Người phán bảo họ dụ ngôn này":

Để minh chứng lòng nhân từ thương xót của Thiên Chúa đối với tội nhân, Chúa Giêsu đã dùng ba dụ ngôn sau đây:

-Dụ ngôn con chiên lạc (Lc 15,4-7).

-Dụ ngôn đồng bạc bị mất (Lc 15,8-10).

-Và dụ ngôn tình phụ tử (Lc 15,11-32).

Phụng vụ hôm nay không ghi lại hai dụ ngôn trên mà chỉ ghi lại dụ ngôn thứ ba về tình phụ tử, tức là dụ ngôn người con hoang đàng trở về.

4."Người kia có hai người con trai": 

Những nhân vật nêu ra ở đây có tính cách ám chỉ:

-Người kia tức là người cha: Am chỉ Thiên Chúa.

-Người con cả :ám chỉ dân Do Thái, cách riêng các luật sĩ và biệt phái.

-Người con thứ: ám chỉ người có tội.

Chúa Giêsu dùng dụ ngôn này để nhấn mạnh về tình phụ tử,tức là lòng nhân từ thương xót của thiên Chúa. Người yêu thương mọi người , cả kẻ có tội ,và vì vậy Người đòi hỏi dân DoThái, thời bấy giờ nói riêng và chúng ta ngày nay nói chung, phải biết đối xử với nhau theo cách thế cuả Người đã đối xử với chúng ta là những người có tội.

5. "Thưa Cha, xin cha cho con phần gia tài…": 

-Việc người con thứ xin chia gia tài trong lúc người cha còn sống là một thái độ bất trung bất hiếu, vì khi còn sống người cha không buộc chia gia tài cho con.

6."Người cha liền chia gia tài cho con": 

Tuy rằng không buộc chia gia tài cho con lúc còn sống, nhưng ở đây người cha chia ngay, không do dự, không ngăn cản khi người con xin: Điều này chứng tỏ người cha tôn trọng sự tự do vì thương con. Điều này muốn diễn tả Thiên Chúa tôn trọng tự do của con người ngay khi con người bất trung với Người vì Người luôn trung thành với tình yêu thương.

7. "It ngày sau, người con thu nhặt tất cả…":

Ở đây muốn nói lên thái độ bất trung của người con vì lợi dụng tình thương của người cha để thỏa mãn ý riêng của mình và đồng thời làm mất đi cái hiệu qủa của tình thương ấy qua cử chỉ tiêu sài phung phí hết tiền của. Câu này muốn ám chỉ những hành vi xấu sa của kẽ có tội là làm mất những ơn Chúa ban.

1. "Khi nó tiêu sài hết tiền của…":

Ơ đây muốn nói đến những khổ cực hiệu quả của chính sự bất trung bỏ nhà ra đi.

-Chăn heo: Đối với người Do Thái chăn heo là một điều sấu hổ, mất phẩm giá vì heo là một con vật ô uế (Đnl 14,8). Ơ đây muốn nói kẻ tội lỗi làm nô kệ cho ma quỷ thì không còn phẩm giá của con cái Thiên-Chúa nữa.

2. "Bây giờ nó hồi tâm lại…":

Đây là tâm trạng của một người ý thức lại về chính bản thân mình.

Nhớ đến sự xung túc khi còn sống ở trong nhà cha mình, ám chỉ đến người tội lỗi ý thức được hạnh phúc trong sự chăm sóc đầy tình thương của Thiên-Chúa.

Sự tưởng nhớ này đánh động ý muốn quay trở về nhà cha mình. Ơ đây muốn nói: Chính sự nhận biết lòng nhân lành thương xót của Thiên-Chúa mà tôi nhân được thúc đẩy ăn năn thống hối trở về với Thiên-Chúa.

3. " Thưa Cha con đã lỗi phạm đến Trời, đến Cha":

Tội nhân nhận ra sự xấu xa của tội lỗi là xúc phạm đến Thiên-Chúa và con người.

. "Con không đáng được gọi là con Cha nữa"

III. ÁP DỤNG :

A. Ap dụng theo Tin-Mừng :

Trong tâm tình mùa, Giáo Hội muốn dùng bài Tin-Mừng này như là lời khích lệ, và mời gọi chúng ta tin nhận vào lòng nhân từ thương xót của Thiên-Chúa, để thực hành ăn năn sám hối và biến cải cuộc sống mỗi ngày cho phù hợp với danh nghĩa người kitô hữu, con cái của Thiên-Chúa.

B. Ap dụng thực hành :

1. Nhìn vào Chúa Giê-su :

Xem việc Người làm :


Chúa Giê-su đón tiếp những người thu thuế và tội lỗi là những hạng người mà người Do Thái từ chối, hất hủi và kỳ thị. Noi gương Chúa, chúng ta lấy tinh thần quảng đại, tha thứ để đón tiếp những người xấu số , những người bị bỏ rơi, và cả những người đang khó sống với mình nữa.

Chúa Giê-su cùng ngồi ăn uống với người tội lỗi : chúng ta cần có thái độ hoà đồng, cộng tác và liên đới với những người "xem ra" có tội với mình, để tạo bầu khí hoà giải, thương yêu và thăng tiến tha nhân.

Chúa Giê-su đã lấy dụ ngôn người con hoang đàng trở về để dạy ta có lòng nhân từ thương xót đối với tha nhân.

+Người cha chia gia tài cho con : tôn trọng tự do của tha nhân , dù họ là người xấu xa đến đâu đi chăng nữa.

+ Người cha chờ đợi con trở về : có ý hướng ngay lành muốn thăng tiến tha nhân.

+Người cha hôn và ôm con :quảng đại tha thứ và đón nhận tha nhân.

+Người cha đón tiếp con : nhìn nhận tha nhân như người đáng mến đáng thương để sống hoà đồng với họ.

+Người cha mở tiệc ăn mừng : bớt thù thêm bạn, đó là niềm vui vì đó là nơi nương tựa trên đường đời.

b.Nghe lời Chúa nói:

Chúa nói với ta qua thái độ của người cha đối với người con thứ và con cả :

Chúng ta ăn mừng vì con ta đây đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy ; lời này khích lệ an ủi và đánh động ta phải mau mắn ăn năn và sám hối, biến đổi đời sống mỗi ngày.

"hỡi con, con luôn ở với cha và mọi sự của cha đều là của con" : lời này có tính cách thức tỉnh chúng ta ý thức sự hiện diện của Chúa, ơn Chúa quan phòng và những phương tiện Chúa ban cho ta qua Giáo Hội, để ta an tâm phấn khởi và hạnh phúc trong Chúa.

2. Nhìn vào người con hoang là hình ảnh kẻ có tội :

- xin chia gia tài : chúng ta lãnh ơn Chúa nhưng rồi tiêu xài phung phí vì không biết dùng ơn đó để sinh lời cho phần rỗi tức là thánh hóa đời sống.

- "Nó hồi tâm và tự nhủ":khi xa Chúa vì sự khô khan và sa ngã vì yếu niềm tin…chúng ta được tiếng lương tâm thúc đẩy làm ta nhớ lại tình thương của Chúa và nhận biết sự tác hại của tội để sám hối ăn năn.

- Con đã phạm đến trời và đến Cha: ý thức được lỗi lầm, khuyết điểm và tội lỗi của mình là xúc phạm đến Chúa và tha nhân.

- Vậy nó ra đi và trở về với cha nó : sám hối trong tâm tình được biểu lộ bằng hành động ; thú tội và biến cải đời sống.

Nhìn vào người con cả :

Anh liền nổi giận và quyết không trở về nhà. Lòng ganh tỵ ghen ghét ,buồnbực với tha nhân làm sa sút tinh thần đạo đức. Vì do lòng hận thù ghen ghét, buồn bực với tha nhân mà bỏ bê những việc đạo đức "không đi nhà thờ nữa".

Cha anh ra xin anh vào : Dù đang ở trong tình trạng có vẻ đạo đức như chu toàn mọi giới răn Chúa và Giáo Hội, nhưng Chúa vẫn kêu mời ta thánh hóa bản thân mỗi ngày một hơn,chứ không được tự mãn với một số việc đạo đức tầm thường bên ngoài.

Chúng ta đừng cậy dựa vào những danh nghĩa mình đang có như :Có đạo,đạo gốc, người tông đồ, tu sĩ, giáo sĩ …để rồi đòi hỏi Chúa ban đặc ân hơn những người khác, áp dụng vào lời :

c. "Đã bao năn con hầu hạ cha,không trái lệh cha một lần nào".


HTMV Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn