Clock-Time

Chú giải Tin mừng - Chúa Nhật IV Phục Sinh

Tin mừng Ga 10, 27-30: Khác với các phúc âm nhất lãm (Lc 22,66-71 và song song), Gioan không tường thuật vụ án Chúa Giêsu trước công nghị Do thái trong cuộc khổ nạn...

CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH – NĂM C

 

 

Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

 

CHÚA GIÊSU BAN SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI CHO CÁC CHIÊN CỦA NGÀI (Ga 10,27-30)

 

1. Khác với các phúc âm nhất lãm (Lc 22,66-71 và song song), Gioan không tường thuật vụ án Chúa Giêsu trước công nghị Do thái trong cuộc khổ nạn. Vì theo ông, vụ án thực sự đã diễn ra trước khi Chúa Giêsu bị bắt, trong những lần tranh luận với người Do thái, đặc biệt trong cuộc tranh luận hôm nay. Lúc này cũng như trong vụ án chính thức theo pháp luật về sau. Chúa Giêsu bị ép buộc trả lời rõ ràng
 

Người có phải là Đấng Messia không (c.24) và cuối cùng Ngài tự xưng mình là Con TC (x.Lc 22,70) bằng cách tuyên bố rằng Cha Ngài và Ngài ở trong Cha, trong sự hiệp thông trọn vẹn đời sống và việc làm.
 

Tuy nhiên trước khi tuyên bố dứt khoát điều đó, Chúa Giêsu cảm thấy phải cứ quả quyết không ngừng cho những kẻ đối thoại với Ngài. Đó là điều làm cho người Do thái và "chiên của Ngài" khác biệt nhau. Đối với người Do thái, những lời Ngài nói, phép lạ người làm không đủ thuyết phục họ, vì xét cho cùng họ có dã tâm và không muốn tin. Chính trong bối cảnh đó mà Chúa Giêsu nói đến chiên của Ngài, đối nghịch với sự ngoan ngoãn và ngay thẳng của đàn chiên với tính hiểm ác của người Do thái. Dĩ nhiên Ngài không cần nhiều dấu hiệu bên ngoài như vậy, vì chúng nghe và đi theo chủ chiên. Phần mục tử, Ngài biết chiên mình và đảm bảo cho chúng sự sống đời đời. Trong tay Ngài, đàn chiên được an bình không bị ai đánh cướp.
 

  1. Về câu 29, bản Hy lạp không được chắc chắn lắm. Các thủ bản ở đây chia làm nhiều nhóm. Ta có thể tóm gọn thành hai:

Nhóm thứ nhất chọn câu: ho pâtêr mou ho dedoken moi pântôn meizon estin, dịch từng chữ là "Cha Ta, điều Ngài ban cho Ta thì lớn lao hơn tất cả" (bản Vaticanus, Versions latines, Sinaiticus, Codex Freer và chung chung các giáo phụ Latinh). Câu này có thể hiểu được hai cách: điều mà Chúa Cha ban cho Chúa Con chính là bản tính của Người (Augustin, Thomas, Lnabenhauer...) hay quyền năng của Người (Schanz, Belser...) và đó là điều cao trọng hơn tất cả. Nhưng ai mà dám nghĩ đến việc cất bản tính và quyền năng của Chúa Con khỏi tay Chúa Cha? Cho nên lối giải thích thứ nhất này khó chấp nhận xét theo văn mạch. Văn mạch nói đến việc ban tặng là ban tặng các chiên (ý kiến chung), vì thế phải hiểu: "Điều mà Chúa Cha ban cho ta (các chiên) là quà tặng quí giá nhất", như thế ta hiểu đó là lý do khiến Chúa Con phải giữ gìn quà tặng đó, và một khi đã ban cho Con, Chúa Cha cũng luôn lưu tâm đến tặng vật này.
 

Nhóm thủ bản thứ hai (nhóm K, Codex Coridethi, codex Bezae, và các giáo phụ Hy lạp) chọn câu: ho pâtêr mou hos dedôken moi pantôn meizôn estin, có thể dịch: "Cha Ta, đấng đã ban cho chúng ta, thì lớn hơn tất cả mọi sự", nghĩa là : Cha Ta, Đấng đã ban cho Ta các chiên, là Đấng cao trọng hơn mọi loài và vì thế...Ngài đặt chúng trong tay Ta mà không ngừng giữ chúng trong tay Ngài. Ở đây, tay có nghĩa là quyền năng, quyền năng chung của hai Đấng. Câu này xem ra thích hợp hơn với văn mạch và đã được số đông tác giả theo (Louis, Bultmann, Barret, BJ, TOB...). Tuy nhiên nó bị chỉ trích là đã được sửa đổi để thêm phần sáng sủa. Nói rằng Chúa Cha lớn lao hơn hết mọi sự là điều hiển nhiên, cần gì nêu lên ở đây. Dầu vậy, câu (b) này ngày nay đã được hầu hết chấp nhận.
 

Dù sao, điều làm chúng ta chú ý chính là tay của Chúa Con, được đặt ngang hàng với tay Chúa Cha, hay đúng hơn cả hai tay cùng bảo vệ giữ gìn đàn chiên. Chúa Giêsu xem ra tự gán cho mình quyền ban sự sống cho các tâm hồn và giữ gìn chúng trong tay. Nhưng rồi theo thói quen (5,19tt; 6,37;7,16; 8,49; 10,18), Chúa Giêsu vội vàng liên kết Cha Ngài vào công trình của Ngài, vì Cha là nguồn mạch mọi ơn huệ: Chúa Cha giao cho Chúa Con một vật và gìn giữ bằng sức mạnh của mình, cũng như Chúa Con gìn giữ những gì nhận được từ Cha.
 

  1. Lời tuyên bố trong câu 30 ("Cha và Ta là một") về sự hiệp thông mật thiết của Chúa Giêsu với Cha Ngài là một mạc khải quan trọng rõ ràng nhất về thần tính của Ngài và mầu nhiệm sâu xa của TC. Chính trên đỉnh sáng ngời đó mà Chúa Giêsu chấm dứt tranh luận với người Do thái: Ngài có thể mạc khải thêm cho họ điều gì nữa ? Và đó là nghĩa mà người Do thái hiểu khi nghe Chúa Giêsu tuyên bố như thế, vì lập tức sau đó họ ném đá Ngài "bởi lẽ ông là một người phàm mà dám cho mình là TC".


Câu 30 này đã nổi tiếng trong lịch sử tranh luận với tà giáo Ariô. Chúa Giêsu không nói: "Ta và Cha Ta, chúng ta là một ngôi vị" (heis) nhưng bảo: "chúng ta là một sự (hen, chose), chúng ta đồng một bản tính và vì thế mà tay Ta (c.28) cũng quyền năng như tay Cha Ta" (c.29). Tất cả thần học gia chống Ariô, từ tertullien đến Augustin đã dùng câu 30 làm công thức thánh kinh nói về việc Chúa Cha và Chúa Con đồng bản tính nhưng khác ngôi vị.
 

KẾT LUẬN
 

Ân sủng thần linh cho chúng ta sức mạnh để vượt thắng mọi khó khăn bên ngoài (Rm 8,31-39) bất cứ từ đâu đến, nhưng ân sủng không ép buộc ai cả. Con người có thể từ chối không muốn được cứu rỗi: "TC chỉ từ bỏ những ai xa tránh Ngài trước" (công đồng Triđentinô, DS 1537). Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
 

1. "Người Do thái mới vây quanh Chúa Giêsu". Họ muốn chất vấn Ngài lần nữa vì Ngài làm họ khó chịu. Họ đột nhiên nói với Ngài: "Cho đến bao giờ nữa, ông còn để lòng trí chúng tôi phân vân lưỡng lự ? Nếu quả ông là Đức Kitô, xin nói trắng ra cho chúng tôi". Chúa Giêsu hẳn làm cho họ bối rối nhiều và có lẽ làm cho họ nghi ngờ. Họ muốn biết thực hư. Ai trong chúng ta không một lần chất vấn Chúa như thế: Ngài là ai đối với tôi hôm nay ? Tìm Ngài chỗ nào ? Trong mọi hỗn loạn thời đại, trong bao cuộc đặt lại vấn đề, Chúa ở đâu ? Đâu là sự thật ? Đúng hơn, khi một vấn đề đặt ra khiến phải chọn lựa chúng ta đã không từng muốn một câu trả lời rõ ràng đó sao ? Thảm kịch chính là chúng ta không biết gì nữa; khiến ngập tràn đến độ làm chúng ta không còn hiểu gì nữa. Đây là một nghịch lý đáng sợ : kiến thức càng tăng thì càng dẫn đến sự vô tri về chân lý. Như những người Do thái, chúng ta muốn biết ai là người kêu gọi chúng ta qua phúc âm, ai là người đảo lộn cuộc hiện hữu của chúng ta và đặt lại vấn đề đời sống chúng ta.


Chúa Giêsu xem ra không trả lời gì cả. Chính công việc Ngài đã thực hiện làm chứng cho Ngài; và nếu người ta không tin Ngài, đó là vì họ không thuộc đàn chiên Ngài, theo Ngài và thuộc về Ngài vì Chúa Cha đã ban họ cho Ngài. Và Ngài nói: "Cha ta và Ta là một". Phải nói là câu trả lời của Chúa Giêsu làm chúng ta hoang mang. Chúng ta vừa chấp nhận, vừa bất mãn, vừa nghi nan. Câu trả lời đó của Chúa Giêsu gợi lên những âm hưởng sâu xa, đánh động tâm hồn chúng ta. Tuy nhiên chúng ta không thỏa mãn vì câu ấy đặt ra nhiều vấn đề: làm sao trở thành chiên của Chúa. Đặt vấn nạn này là vì chúng ta không biết câu trả lời; thế mà hình như Chúa Giêsu nói rằng câu hỏi chỉ đặt ra cho những kẻ không thể hiểu câu trả lời. Những phản ứng của chúng ta vừa biểu lộ sự thỏa mãn cũng như bất mãn; điều đó chứng tỏ chúng ta vừa là chiên vừa là người Do thái, và chúng ta vẫn đặt câu hỏi mặc dầu một cách nào đó đã biết câu trả lời.
 

1. Nên lưu ý nghịch lý này là: những ai đặt câu hỏi thì không thể nghe được câu trả lời; còn những ai nghe được câu trả lời thì không cần đặt câu hỏi. Người Do thái đặt câu hỏi, chúng ta cũng vậy, một phần nào đó trong con người chúng ta chưa thuộc về Chúa cũng muốn hạch hỏi Người. Nếu người Do thái đã có khả năng lắng nghe, thì họ đã gặp được câu trả lời, đã sống câu ấy và không hỏi gì nữa.
 
Đặt vấn nạn như họ làm cho họ không nắm được câu đáp, vì họ chỉ chuẩn bị để phê bình, lượng giá câu trả lời theo các định kiến và hiểu biết của họ. Họ chỉ chấp nhận chân lý bao lâu họ thấy hòa hợp với những gì họ đã biết. Họ không thể chấp nhận Đức Kitô bởi không chịu được một giải đáp khác với giải đáp họ đã có sẵn.
2. Trái lại, các chiên không đặt câu hỏi, không phải vì đã biết được giải đáp, song vì điều đó không cần thiết. Chúng có một não trạng khác. Chúa Giêsu diễn tả chúng bằng hai tiếng: "Chúng nghe và theo"; Ngài nói tiếp: "Ta biết chúng" và "chúng biết ta". Đàn chiên không cần đặt vấn đề danh tánh Chúa Giêsu. Chúng thuộc về một giống đặc biệt. Cũng như chúng ta vừa thuộc não trạng người Do thái đang cật vấn Chúa, vừa thuộc dòng giống này. Chúa Giêsu diễn tả đàn chiên với vẻ âu yếm: Ngài biết chúng, ban cho chúng sự sống, bảo vệ chúng khỏi những kẻ ám hại. Đàn chiên không thể cắt nghĩa vì sao Ngài làm như vậy, nhưng chúng biết Ngài nên "chúng nghe và đi theo Ngài". Chúng sẵn sàng lắng nghe, đón nhận cái bí ẩn, đi đến nơi mà Chúa dẫn tới và chấp nhận mọi nghịch cảnh có thể xảy tới.

3.Hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta đừng quá ham chất vấn, luôn tìm cách phân tích cái mới lạ, giản lược nó thành tầm thường - đó là một cách tự đóng kín mình, làm mình mất khả năng tiến bộ, biến đổi. Hãy biết lắng nghe, biết mình ngu dốt, biết rằng đấng vô danh luôn luôn kỳ lạ, rằng một cách nào đó Chúa luôn là một đấng chúng ta không thể biết rõ, vì chúng ta không thể hiểu được cách tường tận bao lâu còn ở thế gian này. Nhưng để luôn luôn kết hợp mật thiết với Chúa, để sống hạnh phúc thật sự ở cõi trần này, chỉ có một con đường: nghe và theo Chúa.

 

 

Noel Quession - Chú Giải

CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH

Tin mừng Ga 10,27-30

Tôi là…

Cần phải đặc biệt chú ý tới hai từ trên mà Đức Giêsu đã không ngần ngại sử dụng nhiều lần trong Tin Mừng theo thánh Gioan (Ga 4,26 - 6,2ỏ '- 7,29 - 8,58 - 13,19 - 14,20 - 17,24 - 18,5 - 18~6:.) Ta cũng biết rằng, hai từ đó gợi lên kiểu viết "bốn chữ cái không phát âm được là "Tên mầu nhiệm" mà chính Thiên Chúa đã tự mạc khải cho Môsê trong sa mạc Sinai.
 

YHVH được chuyển dịch thành YaHVeH và đọc là "Adonai", "Đức Chúa".
 

Hơn nữa, qua nhiều câu trích dẫn như dưới đây, Tin Mừng theo thánh Gioan đã sử dụng tới ba mươi lần hai từ trên "Tôi là . . . ", kèm theo một phẩm tính : '
 

- "Tôi là Bánh hằng sống" (Ga 6,35-42,48-51).
 

- "Tôi là ánh sáng thế gian" (Ga 8.12-9,5).
 

- "Tôi là Sự sống lại và là sự Sống" (Ga 11.,25 ).
 

-"Tôi là Cây nho thật" (Ga 15,l-5).
 

-"Tôi là Cửa cho chiên ra vào" (Ga 10,7-9).
 

-"Tôi là Mục tử nhân lành" (Ga 10,11-14).
 

Theo các nhà chú giải Kinh Thánh đúng đắn, những kiểu nói trên muốn diễn tả hữu thể thần linh của Đức Giêsu. Thánh Gioan đã viết : "Ngôi Lời đã trở nên người phàm" (Ga l,14).
 

Tôi là Mục tử nhân lành (người chăn chiện đích thực).
 

Ở đây, Đức Giêsu không chỉ sử dụng một hình ảnh đẹp dân gian và đồng quê, nhưng trước hết đó là một kiểu nói Kinh Thánh vô cùng phong phú. Trong khắp vùng Đông Phương , cổ, các vua chúa thường tự coi mình như mục tử chăn dắt dân nước. Chính Giavê cũng đóng vai trò đó khi giải thoát dân riêng khỏi Ai Cập : "Người lùa dân Người đi ví thể đàn chiên, Người dẫn dắt chúng như đàn cừu ngang qua sa mạc" (Tv 78,52) Đavit, một trong những nhà lãnh, đạo chính trị đầu tiên của ít-ra-en, là một cậu chăn chiên tại Bêlem (1 S 17,34-35). Ong Vua lý tưởng của tương lai, Đức Miêxia, Đavit mới, cũng được loan báo như một "Mục tử" : "Ta sẽ chỗi dậy một mục tử duy nhất, Ngài sẽ chăn dắt chúng. Đó là Đavit, tôi tớ của Ta" (Ed 34,23).
 

Mọi thính giả của Đức Giêsu, cũng như chính Người, đều hiểu rõ những trích dẫn Kinh Thánh trên, đặc biệt là chương 34 nổi tiếng của ngôn sứ Ê-dê-ki-en, diễn tả khá dài những mục tử xấu ác (các vua thời đó) không quan tâm chăm sóc đoàn chiên của họ . . . trước khi quả quyết rằng, Thiên Chúa Giavê phán thế này : Chính Ta sẽ tìm kiếm chiên của Ta, và Ta sẽ chăm nom chúng... Ta sẽ kéo chúng ra khỏi mọi nơi chúng tán loạn... Ta sẽ chăn nuôi chúng nơi bãi cỏ tốt... Chính Ta sẽ chăn nuôi chiên của Ta, sấm của Đức Chúa Giavê. Chiên thất lạc, Ta sẽ tìm kiếm . . . " (Ed 34,1-31).
 

Như thế, rõ ràng của Đức Giêsu cũng không thể lầm về địa vị đó. Họ rất hiểu ý định của Chúa : "Nhiều người trong nhóm họ nói : ông ấy điên khùng rồi ? 'Kẻ khác bảo : ông nói phạm thượng, ông là người phàm mà lại tự cho mình, là Thiên Chúa" (Ga 10,20-33). Chính vì thế, họ lấy đá để ném Đức Giêsu.
 

Có lẽ chúng ta nên cầu nguyện lâu hơn dựa vào hình ảnh "Mục tử" biểu trưng này, chẳng hạn dùng Thánh Vịnh 22 : "Chúa là Mục tử chắn dắt tôi, Tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tưới, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi đến dòng nước trong lành, và bổ sức cho tôi…".
 

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đang dẫn con đi….Lạy Chúa Giêsu, Chúa đang chăm sóc. Lạy Chúa Giêsu, Chúa yêu mến con... Và cầu nguyện như thế, không phải là một kiểu cầu nguyện chủ quan, nặng tình cảm và trống rỗng: Chúng ta sẽ nhận ra, Đức Giêsu còn tiếp tục gọi lên cho ta nội dung cầu nguyện phong phú hơn.
 

Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi... Tôi biết chúng và chúng theo tôi.
 

Ngày nay, hình ảnh con cừu, hình ảnh đoàn vật dễ mang một nghĩa xấu : Đừng có u lì như lũ cừu ? Đừng có tinh thần. đoàn vật ? Thực sự, hình ảnh của Kinh Thánh mang ý nghĩa ngược lại. Ở đây, ba động từ được Đức Giêsu nói lên, là những động từ tác động rất phù hợp với con người : nghe, biết, theo.
 

"Nghe " : đó là một trong những thái độ cốt yếu, trong tương quan giữa hai người. Biết lắng nghe, là dấu chỉ của tình yêu đích thực. Biết bao lần, ngay trong một nhóm người, ngay lúc tụ họp chung quanh một bàn tròn, ngay trong một cuộc trao đổi mệnh danh là đối thoại, thế mà thực sự ta, chưa biết lắng nghe. Trong Kinh Thánh, các ngôn sứ không ngừng mời gọi ít-ra-en biết lắng nghe. "Hỡi ít-ra-en, hãy nghe đây ?" (Đnl 6,4 ; Am 3,1 ; Gí 7,2 ; Tv 29,3-9). Lắng nghe, đó là khởi sự của lòng tin. Thánh Gioan đã giới thiệu Đức Giêsu như Ngôi Lời, Lời Thiên Chúa mà Chúa Cha muốn ngỏ cùng thế gian. "Đây là Con yêu dấu của Ta. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người" (Mt 17,5).
 

"Theo" : đó là một hành động không có gì là thụ động cả, nhưng diễn tả một thái độ tự do : dính kết toàn thân một người nào đó vào thân phận một kẻ khác. Theo nghĩa là gắn bó với... Đức Giêsu mời gọi : "Hãy theo tôi" (Ga l,42).
 

"Biết" : trong Kinh Thánh, từ này trước hết không mang một ý nghĩa tri thức. Chính tình yêu mới làm cho ta nhận biết người nào đó một cách đích thực, đến nỗi đoán được cả tâm tính họ. Sự tin mật, - hiểu biết lẫn nhau, yêu mến sâu xa, hiệp thông tâm hồn, trí não, thân xác... là dấu chỉ của tình yêu vợ chồng (St 4,l).
 

Tôi ban cho chúng sự sống đời đời, không bao giờ chúng phải diệt vong, và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.
 

Đây đúng là một cộng đồng sinh mệnh giữa Mục tử và đoàn chiên, giữa Đức Giêsu và "những kẻ nghe tiếng Người và theo Người"'. Đúng là- một sự liên kết vĩnh viễn.
 

Lạy Chúa, khi cầu nguyện, con cố tưởng tượng ra, thực sự con đang ở trong "bàn tay Chúa". Bàn tay mà Chúa đã giơ ra cho người bệnh để cứu chữa họ. Bàn tay Chúa đã chìa ra cho Phêrô lúc ông chìm sâu dưới lòng biển. Bàn tay đã cầm Bánh hằng sống, vào chiều Thứ Năm Thánh. Bàn tay mà Chúa đã dang rộng trên thập giá tại đồi Gôngôtha. Bàn tay bị thương tích do đinh đâm thấu qua, mà Chúa đã minh chứng với Tôma. Trong bàn tay đó, Chúa đã nắm chặt lấy con và không ai có thể cướp được con ! Lạy Chúa Giêsu xin tạ ơn Chúa.
 

Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha.
 

Như thế, chúng ta. được cả "hai bàn. tay" giữ gìn.
 

Như một bé thơ được cả cha mẹ giữ gìn, và hướng dẫn trong an toàn tuyệt đối, hình ảnh đó đẹp biết bao!
 

Lạy Chúa, con muốn dùng hình ảnh trên để cầu nguyện cùng Chúa. 'Lạy Chúa Giêsu và Chúa Cha, xin giữ gìn những người con thương mến trong bàn tay của Chúa.
 

Tuy nhiên, chúng ta cũng nhận ra rằng, đó không phải là cảnh sắc màu mè diễn tả những "mục tử hiền lành" và các chú cừu con lông xoăn". Người mục tử Đông phương là một người du mục đáng gườm, một thứ lính chiến, có khả năng bảo vệ đoàn vật mình khỏi thú dữ... gấu hay sư tử đến để cướp đoạt một con chiên khỏi đàn (1 S 17,34-35).
 

Đức Giêsu, khi Người nói những lời đó, đã nghĩ đến cuộc giao chiến khốc liệt mà Người sẽ phải đường đầu trong cuộc
 

Thụ khổ để đối phương "không cướp được" một chiên nào khỏi tay Người. Khác với kẻ chăn thuê, thường chạy trốn trước sói dữ, Đức Giêsu sẽ phó nộp và đành mất mạng sống mình vì chiên của Người (Ga 10,12-15).
 

Cùng với Đức Giêsu, tôi có khả năng, chiến đấu để cứu sống anh em tôi không?
 

Không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. Không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.
 

Thế nhung, lạy Chúa , làm sao giải thích được những hiện tượng bỏ hàng ngủ, bất trung thường thấy chung quanh chúng con, hay ngay trong đời sống chúng con?
 

Đó là mầu nhiệm của tự do! Nhưng một điều chúng ta cần biết, đó là không khi nào Chúa buông bỏ ! Chỉ có con người rời bỏ bàn tay Chúa. Và ngay khi con người rời bỏ, Thiên Chúa vẫn tiếp tục tìm liên hệ lại. "Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất?" (Lc 15,4-7). Vậy chúng ta đã tự tạo hình ảnh sai lầm nào về Thiên Chúa, để nghĩ rằng Người có thể kết án những tội nhân ? Chớ gì chúng ta cần cố gắng ít phạm tội đối với Thiên Chúa yêu thương!
 

Tôi và Chúa Cha là một.
 

Các chiên của Đức Giêsu, Người nói chúng đã được Chúa Cha, Thiên Chúa trao phó cho Người. Nhưng chúng vẫn luôn ở trong bàn tay của Thiên Chúa.

 

Những kiểu nói như trên đã dẫn chúng ta bước vào một vực thẳm choáng váng, khi đứng trước con người Giêsu Nadarét : trong con người thực sự đổ, được sinh ra từ một phụ nữ, đã lớn lên, sắp phải đổ máu và bị giết đi... lại chính là Thiên Chúa đã hiện diện, nói năng và hành động. Đức Giêsu, chính là Thiên Chúa tự mạc khải trong tình thân hữu với con người. "Tôi và Chúa Cha là một". Các công đồng sẽ phải nỗ lực xác định và đưa ra những quan niệm. Nhưng sẽ không khi nào có được một kiểu nói giúp ta hiểu được mầu nhiệm của con người Giêsu. Tất cả những gì đã nói, trong công thức trên, chỉ có thể phải "lắng nghe" trong đức tin : "Chúa Cha và tôi, chúng tôi là một. . . Thiên Chúa và tôi, Giêsu, chúng tôi là một. . . "
 

Đó là lý do Đức Giêsu dám quả quyết, Người "ban sự sống đời đời ".
 

Đó là lý do, như chính Thiên Chúa, Người có thể tuyên bố : "Tôi là...".
 

Đó là lý do Người đã bị buộc tội là một kẻ phạm thượng, bị người đời đóng đinh, nhưng được Thiên Chúa "minh chính hóa", bằng cách cho Người từ cõi chết sống lại.

 

 

Lm Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc - Bài Giảng Lễ

 

Con chiên của Chúa Giêsu

Cv 13,14.43-52 ; Kh 7,9.14b-17 ; Ga 10,27-30

 

Anh chị em thân mến,

Chúng ta vẫn quen gọi các Giám mục, các Linh mục là các Mục tử hay Chủ chăn, và anh chị em giáo dân cũng vẫn quen nhận mình là "con chiên". Kiểu nói nầy bắt nguồn từ trong Kinh Thánh. Ngay từ thời Cựu Ước, tiên tri Êzêkiel đã dùng hình ảnh đàn chiên và chủ chiên để báo trước rằng : chính Chúa sẽ đến chăn dắt dân Israel như mục tử chăn dắt đàn chiên, thay thế hết các người lãnh đạo dân từ trước đến nay. Khi Chúa Giêsu đến, Ngài đã xưng mình là mục tử và là mục tử tốt lành, đích thực, khác với những kẻ chăn thuê, những mục tử giả.
 

Tin Mừng hôm nay vắn tắt có bốn câu và nói về "con chiên" nhiều hơn là chủ chiên, tức là nói về "người giáo dân" hơn là hàng giáo sĩ. Người giáo dân là con chiên của Chúa Giêsu, là người biết "nghe tiếng Chúa", dám "bước theo Chúa" để không bao giờ phải hư mất, nhưng "được sống đời đời".
 

Trước đây, anh chị em có nghe nói mình là "con chiên của các cha" thì lấy làm thường tình, chẳng thắc mắc gì. Nhưng ngày nay, hình ảnh con chiên dễ làm cho người ta hiểu lầm và mặc cảm cho là hạ phẩm giá con người giáo dân - người ta là con người mà coi như con vật - coi giáo dân còn ấu trĩ và thụ động trong Giáo Hội.
 

Cách đây mấy chục năm, Đức Hồng Y Gasquet trong một cuốn sách nói về người giáo dân, có kể câu chuyện như sau : Một người sắp theo đạo hỏi Linh mục về vai trò của giáo dân trong Giáo Hội như thế nào? Linh mục trả lời : "Giáo dân có hai vai trò : một là quỳ gối trước bàn thờ, hai là ngồi quay mặt về tòa giảng". Và Đức Hồng Y Gasquet hóm hỉnh viết thêm : "người ta quên mất một vai trò thứ ba, đó là móc ví tiền ra".
 

Câu chuyện trên phản ảnh một quan niệm lệch lạc về địa vị giáo dân. Vai trò của người giáo dân bị giản lược vào mấy việc : xem lễ, nghe giảng và góp tiền vào nhà thờ ! Ngày nay, Công Đồng Vatican II đã quan niệm Giáo Hội trước tiên là "Cộng đồng Dân Chúa". Giáo Hội trước hết là giáo dân chứ không phải Giáo Hoàng, Giám mục hay Linh mục. Ngày nay, giáo dân phải đứng hàng đầu trong Giáo Hội. Nói như thế không có nghĩa là giáo dân điều khiển tất cả, nhưng có nghĩa là giáo dân phải lãnh phần trách nhiệm sống đạo chủ động của mình, như những người trưởng thành giữa xã hội ngày nay.
 

Sống đạo trong xã hội "dân chủ tập thể" hôm nay dĩ nhiên giáo dân vẫn phải là những "con chiên" của Chúa, hiền lành, yêu thương, đừng hung bạo ác ôn, nhưng cũng phải từ bỏ thái độ ấu trĩ, vô trách nhiệm và thụ động. Chúng ta muốn làm những con người tín hữu đứng hàng đầu, những con người có tinh thần trách nhiệm, dám nhận lãnh trách nhiệm, dám sống bổn phận của mình cách chủ động. Với điều kiện đó, chúng ta mới "nghe tiếng Chúa" và "bước theo Chúa" cách đúng đắn và phù hợp với những đòi hỏi của xã hội ngày nay. "Chiên Ta thì nghe tiếng Ta. Chúng theo Ta, và Ta ban cho chúng sự sống đời đời. Không ai giựt chúng khỏi tay Ta được". Nghe tiếng Chúa là tin nhận Lời của Chúa và bước theo Chúa là dấn thân sống Lời Chúa một cách tự do và chủ động. Nghe và theo Chúa là sống gắn bó thiết thân với Chúa. Bởi vậy, nghe và theo Chúa Kitô tức là bước vào cuộc sống bất diệt ngay từ đời nầy.
 

Tiếng Chúa hôm nay đang vang lên từ quả tim của từng con người nghèo khổ, bị áp bức, bóc lột. Tiếng Chúa hôm nay là tiếng kêu của đồng bào, của cả đất nước, của cả xã hội loài người đang cần nhau để sống, để có cơm ăn áo mặc đầy đủ, để tạo được hạnh phúc chung. Tiếng Chúa đang vang dội từng ngày, từng giờ mời gọi thúc bách chúng ta xung phong đi đầu, dấn thân theo Chúa trên mọi nẻo đường yêu thương, phục vụ, hy sinh. Yêu thương, phục vụ đến chỗ không còn tìm kiếm gì cho riêng mình, không giữ lấy gì cho riêng mình và đến chỗ dám liều chết cho anh em được sống, như chủ chiên dám liều mạng sống vì đàn chiên.
 

Làm con chiên nghe tiếng Chúa và bước theo Chúa là như thế. Làm người có đạo hôm nay dám sống đạo thật là như thế. Nghe tiếng Chúa và dám bước theo Chúa trong xã hội chúng ta hôm nay phải như thế, và như thế nhất định chúng ta sẽ được sống đời đời, không một sức lực nào có thể cướp giựt chúng ta khỏi tay Thiên Chúa.
 

Anh chị em thân mến,
 

Chúa Nhật hôm nay với chủ đề Mục tử và đàn chiên được Giáo Hội chọn làm Ngày Thế Giới cầu nguyện cho ơn gọi Giáo sĩ và Tu sĩ. Giáo Hội đang thiếu các mục tử và nhất là các mục tử tốt lành. Tiếng báo động nầy đang vang đến tai chúng ta hôm nay ở nơi nầy, trên đất nước chúng ta. Hiệp ý với toàn thể Giáo Hội hoàn cầu, chúng ta hãy cầu xin cho giới trẻ biết lắng nghe tiếng gọi của Chúa và nhất là có đủ can đảm để theo tiếng gọi đó bằng cuộc sống dâng hiến trọn vẹn cho Chúa để phục vụ tha nhân, nhất là những người nghèo khổ, ốm đau, bệnh tật, cô đơn, già yếu…
 

Sự hy sinh hầu như tuổi trẻ có thừa, nhưng cần rất nhiều yếu tố xã hội góp phần để tuổi trẻ thực hiện quyết định hy sinh quảng đại của mình : cha mẹ, gia đình, và giáo xứ có đóng góp phần đào tạo ơn gọi thì ơn gọi mới nẩy nở và mới được bảo đảm. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong sứ điệp ngày thế giới cầu nguyện cho ơn thiên triệu đã viết : "Tôi nói với bậc cha mẹ, dựa vào lòng tin, rằng họ có thể nếm hưởng niềm vui của ân sủng sẽ vào nhà họ, khi một con trai hay con gái của họ được Chúa gọi để phục vụ Ngài …" "Đặc biệt, tôi hướng về giới trẻ của thời nay và tôi nói với họ : Hãy để cho Đấng Vĩnh Cửu quyến rũ các bạn, và tôi lập lại lời Ngôn sứ Giêrêmia (20,7) : "Ngài đã làm cho tôi say mê, lạy Chúa … Ngài đã chinh phục tôi và Ngài đã mạnh hơn tôi". "Hãy để Đức Kitô quyến rũ các bạn. Hãy để gương Ngài lôi cuốn các bạn. Hãy để tình yêu của Thánh Thần yêu mến các bạn… Hãy say mê Đức Kitô để sống cuộc đời của Ngài, hầu nhân loại có sự sống trong ánh sáng Tin Mừng…" Đức Thánh Cha còn nhấn mạnh : "Thời đại chúng ta sẽ nghèo nàn đi biết bao, nếu sự hiện diện của những cuộc đời dâng hiến cho tình yêu trở nên khan hiếm. Xã hội chúng ta sẽ nghèo nàn đi biết bao, nếu không được thúc đẩy để ngước nhìn lên nơi có những niềm vui chân thật ! Giáo Hội chúng ta cũng sẽ nghèo nàn đi biết bao, nếu thiếu những gì biểu lộ một cách cụ thể và mạnh mẽ tính thời sự vĩnh cửu của việc dâng hiến cuộc đời vì Nước Trời".
 

Cuối cùng, Đức Thánh Cha giao phó giới trẻ cho Đức Trinh Nữ Maria, đặc biệt các thanh thiếu niên đã được gọi bước theo Chúa Giêsu. Mẹ biết rõ tất cả những khó khăn, chiến đấu và trở ngại các bạn trẻ phải trải qua. Xin Mẹ giúp các bạn trẻ biết nói lên câu : "Xin Vâng" đáp trả tiếng gọi của Chúa, như Mẹ đã thưa khi được Sứ thần truyền tin.

 

 

 

Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng - Bài Giảng Lễ

 

CHÚA CHIÊN LÀNH


Sách Khải huyền hôm nay cho chúng ta thấy một đám người rất đông qui tụ chung quanh Ngai của Con Chiên. Đám đông ấy thuộc nhiều nước, nhiều dân tộc và ngôn ngữ. Nếu quả thật Giáo hội được gọi là 'Công giáo' vì Giáo hội ấy được Chúa Giêsu thiết lập để đón nhận và qui tụ tất cả những ai tin vào Người, bất kể họ là dân tộc nào. Giáo hội được ví như chuồng chiên mà Chúa Giêsu là mục tử.
 

Chỉ có một đoàn chiên và một mục tử duy nhất. Chúng ta thuộc về đoàn chiên của Chúa mà chính Chúa Giêsu là mục tử.
 

I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

 

3. Tin mừng : Ga 10, 27-30
 

Trong dụ ngôn mục tử nhân lành, Đức Kitô miêu tả chính Người như một vị mục tử chăm sóc chiên của mình và hiến ban chính sự sống mình cho đoàn chiên. Ngày nay, bản văn đặt ra một hệ luận về mối tương quan giữa giáo dân và các vị chủ chăn của mình.
 

a. Những con chiên hiền lành, nghĩa là tất cả những ai nghe lời Chúa Giêsu, chắc chắn sẽ không phải chết, nhưng được Người dẫn tới đồng cỏ phì nhiêu của Nước Trời.
 

b. Chiên nghe tiếng Chúa là tất cả những ai tin tưởng vào Đấng đã yêu mến họ tức là Đức Giêsu Kitô, đặt niềm tín thác vào Người. Họ sẽ mang lấy hoa trái sự sống khởi nguồn từ chính sự sống của Người.
 

c. Muốn có được sự sống đời đời phải lắng nghe tiếng Đức Giêsu Kitô một cách chân thành. Giáo hội chính là tiếng vang lại tiếng của Người. Hãy đi theo ánh sáng những giáo huấn và tình yêu của Người.

 

II. GỢI Ý SUY NIỆM
 

1. Mối tương quan giữa Chúa Giêsu mục tử và Kitô hữu :
 

Trong Tin mừng Chúa Giêsu khẳng định : Chiên của ta thì nghe tiếng ta, ta biết chúng và chúng theo ta. Lời này cho thấy mối tương quan song phương giữa Chúa Giêsu và Kitô hữu. Người là vị mục tử biết chiên của mình. Theo nghĩa Kinh thánh từ 'biết' bao hàm một nghĩa rộng lớn, sâu xa. Biết có nghĩa là yêu mến, là thuộc trọn về đối tượng, là gắn bó nên một với đối tượng. Chúa Giêsu biết chiên của mình nghĩa là Người yêu thương, nên một với mọi Kitô hữu. Người trao hiến trọn vẹn cuộc đời của mình cho đoàn chiên. Đối lại, chiên của Chúa Giêsu thì nghe tiếng Chúa và đi theo Chúa. Nghe và đi theo là đòi hỏi của Chúa Giêsu dành cho những ai muốn làm chiên của Người. 'Nghe' là biết chấp nhận, là tin tưởng hoàn toàn, là thực lòng yêu mến. 'Đi theo' là thái độ dứt khoát chọn lựa Thiên Chúa, dứt khoát là chiên của Chúa Giêsu mục tử, dứt khoát sống theo Lời Người. Mối tương quan giữa Chúa Giêsu mục tử và đoàn chiên hệ tại duy nhất ở tình yêu, một tình yêu phát xuất từ chính Thiên Chúa Cha. Tình yêu này được Chúa Giêsu thể hiện trọn vẹn trong cuộc thương khó và phục sinh vinh hiển của Người.
 

Được làm chiên của Chúa Giêsu là một hạnh phúc, một bảo đảm cho sự sống như Người đã khẳng định : Ta cho chiên được sống đời đời, chúng không bao giờ bị hư mất và không ai có thể cướp được chúng khỏi tay ta. Tin và nghe theo Người, mỗi Kitô hữu chúng ta can đảm tiến bước trong hân hoan và hy vọng, chính Chúa Giêsu mục tử nhân lành sẽ gìn giữ, chăm sóc cho chúng ta.
 

2. Để trở nên chiên trong đàn chiên của Chúa Giêsu:
 

Điều kiện thiết yếu trở nên chiên của Chúa Giêsu mục tử theo như Người đã dạy là nghe Lời Người và đi theo Người. Nghe là biết tin tưởng, biết chấp nhận Lời của Người. Đi theo là biết thực thi Lời của Người. Một khi đã nghe và đi theo thì không bao giờ thắc mắc nữa. Nghe và đi theo là thái độ của lòng vâng phục, vâng phục trong đức tin. Có những điều bí ẩn, cao siêu, nhiệm mầu không thể hiểu nổi với lý trí tự nhiên : Huyền nhiệm Thiên Chúa, huyền nhiệm con người ; tội lỗi, sự chết ; mầu nhiệm tử nạn và phục sinh ; ơn cứu độ và sự sống đời đời … Làm sao con người hiểu thấu. Thế nhưng, trong niềm tin, mỗi Kitô hữu đều xác tín đó là sự thực và dấn thân đi theo, để rồi sống, chết với niềm tin này. Chính lúc đó là lúc được trở nên chiên trong đàn chiên của Chúa Giêsu. Càng nghe, càng sống Lời Chúa, càng trở nên chiên đích thực và càng được đón nhận dồi dào sự sống.
 

Ngày nay, mỗi Kitô hữu chúng ta phải tự hỏi : tôi có thực sự là con chiên trong đàn chiên của Chúa không ? Nhiều khi danh nghĩa là con chiên của Chúa, nhưng cuộc sống lại không nghe theo Người mà lại chạy theo những đam mê, dục vọng, những lời dụ ngọt của cám dỗ, của danh vọng trần thế. Tự vấn lương tâm, kiểm điểm cụôc sống để xem coi bây giờ tôi đang nghe ai, đang chạy theo điều gì? Có thực sự nghe và đi theo Chúa Giêsu mục tử hay không? Tất cả những điều này giúp cho mỗi người mỗi ngày trở nên chiên của Chúa hơn.

 

3. Trách nhiệm mục tử của Kitô hữu trong đời sống Giáo hội và trong đời sống xã hội:
 

Đoàn chiên Chúa chính là Giáo hội, mọi thành viên trong Giáo hội đều là chiên của Mục tử Giêsu. Các vị lãnh đạo từ Đức Giáo hoàng, các Đức Giám mục cho đến các linh mục không phải là mục tử theo đúng nghĩa như Chúa Giêsu. Tất cả chỉ được hồng ân là đại diện cho Chúa Giêsu mục tử, mang trong mình trách nhiệm của mục tử, để thay mặt vị mục tử duy nhất, tối cao chăm sóc chiên của Chúa. Do đó, mối tương quan giữa các vị chủ chăn và đoàn chiên của Chúa một mặt mô phỏng mối tương quan giữa Chúa Giêsu mục tử và đoàn chiên, mặt khác thể hiện tình yêu thương liên đới vì cùng là chiên của vị mục tử duy nhất là Chúa Giêsu. Trên bình diện nhân loại, mọi người đều được mời gọi gia nhập đoàn chiên của Chúa Giêsu. Người vẫn là vị mục tử đang hằng đi tìm kiếm và chăm sóc các chiên lạc. Trách nhiệm mục tử Người vẫn trao phó không chỉ cho hàng giáo sĩ mà cho tất cả mọi Kitô hữu, nhờ chức vị vương đế phổ quát được trao ban qua Bí tích Thanh tẩy. Trách nhiệm này được thể hiện trong đời sống làm chứng tá, làm gương sáng. Trách nhiệm này được thể hiện trong những phận vụ mà mỗi người phải đảm nhận trong cuộc sống, trong địa vị của mình ở mọi môi trường xã hội. Như Chúa Giêsu mục tử trao ban sự sống và gìn giữ chiên của mình, mỗi Kitô hữu cũng có trách nhiệm mang lại thiện ích cho anh chị em, cho cộng đồng xã hội và cho Giáo hội.

 

Khi nhận thức đúng về trách nhiệm mục tử của mình, về vai trò con chiên trong Giáo hội, thì mối tương quan giữa anh chị em với nhau, giữa các thành phần trong Giáo hội sẽ ngày càng tốt đẹp hơn. Chúng ta sẽ biết cộng tác với nhau, phát huy được sức mạnh, làm cho Giáo hội và xã hội ngày càng tiến triển hơn, hiệp nhất hơn và yêu thương hơn.


III. Lời Nguyện Chung
 

Mở đầu : Anh chị em thân mến, tin tưởng vào lòng nhân ái bao la của Chúa Giêsu vị mục tử nhân lành, chúng ta cùng dâng lời nguyện xin.
 

1. Trong Giáo hội, Chúa Giêsu mục tử duy nhất vẫn hằng chăm sóc đoàn chiên của mình qua các việc mục vụ của các vị chủ chăn. Chúng ta cùng cầu nguyện cho Đức Giáo hoàng, cho các Đức Giám mục và các linh mục trong Giáo hội luôn có một trái tim yêu thương, tận tuỵ hết lòng vì đoàn chiên được giao phó.
 

2. Chúa Giêsu là vị mục tử đã hiến mình trọn vẹn vì đoàn chiên của mình. Chúng ta cùng cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo quốc gia luôn hết lòng tận tuỵ vì dân vì nước.
 

3. Tất cả chúng ta đều được mời gọi trở nên chiên của Chúa Giêsu, mục tử nhân lành. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta luôn biết lắng nghe và sống Lời Chúa.
 

Lời kết : Lạy Chúa Giêsu mục tử nhân lành, Chúa không ngừng yêu thương và chăm sóc chúng con là đoàn chiên của Chúa. Chúng con cảm tạ Chúa đã chết và phục sinh vinh hiển để mang lại cho chúng con sự sống đời đời, để giải thoát chúng con khỏi mọi nguy hiểm cám dỗ. Xin ban cho Giáo hội Chúa luôn có những mục tử như lòng Chúa mong ước và xin ban cho chúng con luôn hết lòng yêu thương vâng phục Chúa qua Giáo hội. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.