Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật IV Phục Sinh A

Tin mừng Ga 10: 1- 10 Chuồng cừu đối với Đức Giêsu không phải là một nơi ngọt ngào và thơ mộng mà là một nơi phải tự bảo vệ chống lại trộm cướp.

CHÚ GIẢI

MÙA PHỤC SINH - TUẦN 4: CHÚA NHẬT A


CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH – NĂM A

Cv 2, 14a.36- 41; Pr 2, 20b-25; Ga 10, 1- 10



Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

CỬA ĐÀN CHIÊN

 

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Phải hiểu thế nào công thức nhập đề long trọng ở câu 1. Đoạn văn này là một dụ ngôn hay ám dụ?

2. Hình ảnh người chăn chiên và đàn chiên có thường gặp trong Thánh Kinh không?

3. Phải lồng hình ảnh này vào trong khung cảnh đời sống xứ Palestine như thếnào?

4. Chúa Giêsu là mục tử trong nghĩa nào?

5. Chúa Giêsu là cửa (cửa chiên) theo nghĩa nào?

6. Trong Tin Mừng Gioan, công thức nhập đề long trọng quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi" (c.1) luôn luôn thêm vào những gì đi trước một lý chứng mới và mạnh hơn, nhưng không đưa vào một đề tài mới. Vì thế ám dụ tiếp theo được nối kết với câu chuyện người mù. Thật vậy, việc người mù bị trục xuất khỏi Israel giả và sự kiện Chúa Giêsu đón nhận lại anh, là những dữ kiện mà ám dụ sắp đào sâu ý nghĩa: "Chính để phán xét" (9, 39): lời này là câu tóm kết của ám dụ.

Chúng ta nói: ám dụ. Gioan gọi là paroimia: so sánh hãy dụ ngôn. Thật ra cả hai cũng chỉ nhấn mạnh tới. ý nghĩa ẩn tàng. Trong ám dụ, các yếu tố khác nhau phải được chuyển qua một bình diện ý tưởng khác và chính ám dụ gợi ra sự chuyển dịch này. Hơn nữa lời nhập đề không cho phép ta dừng lại ở nghĩa đen. Người ta không bắt đầu một trình thuật hoặc một bài mô tả bằng câu: "Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi...". Việc chuyển dịch, ta thấy có ngay trước mắt: ràn chiên ám chỉ dân Chúa; các kẻ chăn chiên thật và giả là Chúa Giêsu và các nhà lãnh đạo dân chúng; chiên là những tín hữu lắng nghe tiếng nói của người chăn: Thành ra mục đích của ám dụ là đánh dấu sự phân biệt giữa đàn chiên thật và đàn chiên giả. Có nhiều điểm tương đồng với ám dụ cây nho thật (15,1- 8).

7. Để nói về vai trò tôn giáo của Người nơi dân Do thái, Chúa Giêsu đùng hình ảnh người mục tử, mà Thánh kinh năng lùng vì nó giúp liên tưởng dễ dàng đến đám dân du mục này. Đàn chiên thường là tài nguyên độc hữu của, dân du mục; thật thế những gì là cần thiết về thức ăn (bơ, qua, thịt), áo mặc (len), họ đều lấy từ đó. nhưng nếu đàn vật đã quý giá trên lưỡng diện lợi ích, thì càng quý hơn trên bình điện tình cảm. Sống mãi với đàn chiên, người mục tử dần dà biết từng con một và yêu thương chúng; anh ta xem các con vật này như bạn đường của mình, và nâng chúng lên hàng thân thuộc một cách nào đó, theo như bài dụ ngôn tuyệt vời của ngôn sứ Nathan kể cho Đavít (2 Sm 12, 1- 4).

Chính vì những lý do ấy mà người chăn chiên luôn luôn lo lắng cho đàn chiên: anh ta theo sát từng con, đem đến đồng cỏ xanh tươi nhất, ở đâu cũng lo cho chúng khỏe mạnh và an toàn; chiều tối, anh dẫn về chuồng chung và giao cho người canh giữ ban đêm đứng gác trước cửa.

Người Do thái đã sớm nhìn thấy trong những thực tại quen thuộc đó một biểu tượng hùng hồn cho những thực tại tôn giáo; hình ảnh mục tử mô tả đúng Giavê trong vai trò và tình cảm của Ngài đối với Israel, cũng như hình ảnh đàn chiên nói lên những gì Israel tiêu biểu đối với Thiên Chúa, là đối tượng chủ yếu của lòng Ngài mến yêu và quan tâm lo lắng, là kho tàng quý giá nhất của Ngài ở trên trần gian (Ed 34, 11- 16).

Rồi từ Giavê, hình ảnh mục tử được áp dụng cho những kẻ Ngài ủy nhiệm việc hiện thân cách hữu hình, bên cạnh Israel, cái vai trò Mục tử tối cao vô hình của Ngài: Môisen, Đavít, các vua, các thủ lãnh chính trị cũng như các tư tế, tất cả đều là mục tử phụ tá do ủy nhiệm thần linh, là người thay mặt của Mục tử vô hình, có nhiệm vụ trung thành diễn tả vai trò và tâm tình của Ngài đối với Israel. Các mục từ xấu, tức những kẻ thay vì lo nuôi dưỡng đàn chiên Chúa, lại lợi dụng để nuôi chính mình, thì Mục tử tối cao sẽ không quên trừng trị (Ed 34, 1- 10) Ngài sẽ dành quyền chăn dắt đàn chiên cho một Mục tử biết mặc ấy hoàn toàn vai trò và tâm tình của Ngài (Ed 34,23- 31). Đó Chính là hậu cảnh của bài trần thuyết hôm nay, trong đó Chúa Giêsu, vị Mục tử được Thiên Chúa ủy nhiệm và nhiệt thành cho đến chết, tự giới thiệu mình đối nghịch với nhóm biệt phái là những kẻ thiếu nhiệt thành cũng như ủy nhiệm.

Ngoài chương 34 tuyệt vời của ngôn sứ Êdêkien nói trên, ta cũng hãy nhắc lại một vài bản văn Cựu ước đã dùng hình ảnh người mục tử và đàn chiên: Is 40, 10-11; Gr 23, 1- 4; Tv 23 v.v... Thành thử không lạ gì trong Tân ước, hình ảnh này được lấy lại cách chi tiết hoặc chỉ thoáng qua thôi, như dụ ngôn con chiên lạc (Mt 18,12-14; Lc 15,4-7); câu nói (logion) về đàn chiên nhỏ bé (Lc 12, 32), chiên và dê (Mt 25, 31- 46), các ngôn sứ giả tự xem mình là mục tử (Mt 7, 15), đàn chiên mà chủ chăn bị người ta đánh để phận tán chiên (Mc 14,27, Ml 20, 31; x. Ga 16, 32), chiên lạc nhà Israel (Mt 10, 6; 15, 24 v.v...) (Cv 20, 28; Ep 4, 11; 1 Pl 2, 25; 5, 2- 4; Dt 13, 20; Kh 12, 5; 19, 15).

8. Am dụ mô tả một mảnh đời sống thường nhật tại Palestine. Chuồng chiên là thành phần không thể thiếu của thắng cảnh xứ đó. Đấy là một hàng rào hình chữ nhật hoặc hình vuông, dùng để nhốt chiên thuộc nhiều đàn khác nhau vào ngủ ban đêm. Ban đêm, chiên được một người canh giữ. Sáng lại, các mục tử (hoặc người chăn thuê) đến tìm chiên. Người canh mở cửa cho kẻ chăn với tiếng kêu đặc biệt, anh ta gọi chiên của mình. Và đàn vật đi ra từng con, qua một cánh cửa hẹp, trong lúc người chăn lấy gậy đếm chúng. Khi chiên đã ra khỏi chuồng, người mục tử đi trước và dẫn chúng đến đồng cỏ. Cũng có trường hợp một mục tử dẫn chiên thuộc nhiều chuồng khác nhau (10, 16).

Phân biệt người chăn với kẻ trộm không khó gì. Người chăn vào chuồng bằng cửa chính còn kẻ trộm nhảy qua hàng rào. Nhưng bây giờ cửa chỉ là chuyện phụ thuộc. Người canh gác không phải là kẻ duy nhất biết phân biệt mục tử với tên trộm, chính đàn chiên cũng biết ám dụ nhấn mạnh điểm này. Phản ứng của bầy chiên cũng giống như phản ứng của anh mù bẩm sinh. Lắng nghe Chúa Giêsu mặc cho nhóm Biệt phái phản đối, con người công chính trên đã phân biệt được mục tử với bọn trộm cắp.

Dĩ nhiên người Do thái chả hiểu tí gì những lời của Chúa Giêsu. Họ không phải là chiên trong đàn chiên Giavê (9,40).

9. Là Mục tử chân thật, trước tiên Chúa Giêsu xác định rõ cái gì phân biệt Người với các mục tử giả hiệu. Nếu có ai ban đêm xâm nhập chuồng chiên mà không đi qua người canh gác đứng ở cửa vào thì đó là kẻ trộm. Theo toàn thể văn mạch, Chúa Giêsu nhắm các người Biệt phái và Ký lục là những kẻ từ lâu đã tự đặt mình làm thủ lãnh và linh hướng của dân chúng mà không qua Vị Canh giữ tối cao, không lãnh nhận từ Thiên Chúa một ủy nhiệm nào để thi hành sứ mệnh đó cả; như bọn trộm cướp, họ đã chiếm đoạt đám tín hữu vì háo danh và óc thống trị hơn là vì quan tâm đến thiện ích thiêng liêng của tín hữu (cc. 8. 10).

Sau đó, Chúa Giê-su mô tả thái độ quen thuộc của người mục tử chính hiệu (cc. 2- 6); dùng con đường thông thường, ông ta đựợc người giữ cổng dẫn vào chuồng chiên; được chiên của mình nhận biết và lắng nghe - chúng chạy trốn mọi kẻ chăn khác ông gọi chúng bằng một tiếng kêu đặc biệt và dẫn chúng đi tới đồng cỏ. Qua bức tranh đơn giản ấy, Chúa Giêsu muốn mô tả thái độ riêng của Người; để chứng tỏ rằng Người hội đủ mọi điều kiện cần thiết cho Mục tử chính hiệu của Israel.

Để đến với Đàn chiên Thiên Chúa, Người đã mượn con đường thông thường, vì Người chỉ tới theo mệnh lênh và ủy nhiệm thần linh mà Người đã nhận từ Cha khi chịu phép rửa (1, 31- 34). Đóng vai trò gác cửa do ủy nhiệm thần linh, Gio-an Tẩy giả đã mở cửa cho người và đã giới thiệu Người với dân chúng, đặc biệt với môn đồ của ông (1, 23- 31). Nicôđêmô và nhiều kẻ khác cũng công nhận vị Tôn sư có một sứ mệnh chính thức lãnh từ Thiên Chúa (3, 2).

Như các môn đồ (1, 35- 49) và anh mù bẩm sinh cho thấy chỉ có chiên, là những tín hữu thật, với biết ngoan ngoãn nghe tiếng Người: vì "phàm ai nghe và học nơi Cha, thì (chỉ có kẻấy) đến với Chúa Giêsu" bằng đức tin (6, 45; 8, 47). Chiên Người vị Mục tử gọi bằng tên của chúng, nói với chúng như với Philipphê: "Hãy theo Ta" (1, 43). Qua tiếng gọi đặc biệt đó, Người kéo họ ra khỏi thế gian (15, 19) và khỏi Do thái giáo, rồi tiên phong dẫn họ tới đồng cỏ (Giáo hội) và tới Chúa Cha. Đặt trọn niềm tin tưởng vào Người, các con chiên "theo Người", làm môn đồ Người, vì họ biết tiếng Người: đức tin cho họ một thứ khứu giác thiêng liêng, một cảm thức gần như bản năng về những thực tại thần linh, nhờ đó họ phân biệt trong tiếng nói Chúa Giêsu một âm vang trung thực của tiếng nói Cha trên trời và biết rằng qua miệng của Người, chính Cha đang nói (14,10); đó là điều khiến họ không làm môn đồ cho một kẻ chăn chiên xa lạ, chẳng hề được Thiên Chúa ủy nhiệm: vì không nhận ra nơi giọng nói kẻ này âm vang của Lời Thiên Chúa, nên họ chạy trốn tên xâm nhập đó, kẻ đến để sát hại, trộm cắp và tiêu diệt đàn chiên (c. 10).

Những người Biệt phái mà dụ ngôn này nhắm tới chả bắt được bài học Chúa Giêsu dạy họ: bởi vì chiên lạ không nghe tiếng của mục tử chính danh: "Các ngươi không tin vì các ngươi không thuộc đàn chiên của Ta" (10, 26).

10. Để bổ túc hình ảnh trước, Chúa Giêsu dùng những kiểu nói rất mạnh chỉ rõ cái làm cho người khác biệt hơn cả với nhóm Biệt phái trong sứ vụ của Người nơi dân Israel. "Ta là cửa đàn chiên". Thiên Chúa đã lùa chiên Ngài vào chuồng chiên chật hẹp của Israel, đặt dưới sự che chở của hàng rào Lề luật trong lúc chờ đợi vị chủ chăn sẽ một ngày kia đem chúng vào những đồng cỏ mênh mông của Giáo hội. Am chỉ đến lời sấm của Mica (2,13), Chúa Giêsu tuyên bố Người là cửa, là cái phương thế Thiên Chúa thiết định để từ chuồng chiên chật hẹp trên, người ta đi vào nước Chúa bao la to rộng. Chỉ có Người mới đưa tín hữu vào mảnh đất sống rộng lớn ấy, bằng cách cho họ tái sinh bởi nước và Thần khí (3,3-6), hầu họ được cứu rỗi và ma quỷ, họ vui hưởng tự do đích thực của con cái trong nhà Cha (8, 34- 44). Cũng trong Người, họ tìm được thức-ăn no thoả là bánh và nước hằng sống, có sức dập tắt vĩnh viễn cơn đói khát thiêng liêng của con người (6, 35; 4, 14).

Mọi công cuộc của Người, đặc biệt nhất là việc ban "bánh sẽ lưu lại trong mỗi người như nguồn sống vĩnh cửu" (6, 27) và việc ban "Thần khí vọt đến sự sống đời đời" (4,14), chứng nhận rằng Chúa Giêsu không có ưu tư nào khác ngoài việc làm cho chiên của Người được sống sự sống thần linh, với một cường độ không ngừng tăng triển, đối lại với những hạng chăn chiên giả chỉ tìm cách sát hại chiên theo sự xúi giục của Satan, tên giết người.

Các ký lục và luật sĩ đã đến trước Chúa Giêsu. Họ là những tay đạo chích: dù không dược Thiên Chúa ủy nhiệm, họ vẫn tự ý đặt mình cai trị dân vì ưa tìm vinh quang và quyền lực hơn là ưu tư thiện ích cho tín hữu. "Trong mọi việc, họ hành động để được người ta để ý...; họ sinh cỗ nhất trong bữa tiệc, chỗ lớn nơi hội đường, ưa được bái chào ngoài đường phố..., khoái được thiên hạ xưng hô là "Rabbi"... Họ bó những "gánh nặng đặt trên vai người khác, còn chính họ lại không muốn lấy ngón tay đụng vào" (Mt 23,4-7). Họ còn là bọn cướp đến sát hại và hủy diệt, như lời Chúa Giêsu tuyên bố với họ trong những câu mạt sát của Người: "Khốn cho các ngươi, Ký lục và biệt phái giảhình, vì các ngươi khóa nước Trời chặn người ta lại! các ngươi sẽ chẳng vào đã rồi, mà những kẻ muốn vào, các ngươi cũng chẳng để cho vào khốn cho các ngươi, Ký lục và Biệt phái giả hình, các ngươi rảo khắp biển cả đất liền để chinh phục dẫu một người tòng giáo, song khi nó đã tòng giáo, thì các ngươi lại biến nó thành con cái hỏa ngục gấp đôi các ngươi!... " (Mt 23, 13- 15).
May thay, các chiên thật đã chẳng nghe theo lũ chăn chiên giả này, vì không nhận ra trong tiếng của họ Lời Mục tử tối cao.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

"Kẻ nào ngang qua cửa mà vào, kẻ đó mới là người chăn chiên". Câu này phải dịch vậy vì bản văn Hy lạp không có mạo từ trước chữ. "Người chăn chiên", nhưng đúng hơn nên dịch: " là một người chăn chiên ": vì như thế mới thích hợp với hoàn cảnh thực tế của xứ Palestine, bởi có nhiều người chăn cùng nhốt chiên của mình trong cùng một chuồng.

"Kẻấy gọi tên từng con". Bản văn Hy lạp viết: katonoma, mà có lẽ đôi khi người ta dịch quá sát chữ là "từng con bằng tên của nó". Thực ra, ngay cả thời bây giờ, mục tử xứ Palestine chỉ đặt tên cho những con chiên chính của đàn. Cha Jaussen có kể ra nhiều thí dụ điển hình trong cuốn Naplouse, tr. 305. Thành thửở đây nói rằng mỗi con chiên có một tên riêng thì hơi quá đáng. Một vài tác giả ưa dịch "Kat onomat" là từng con một" (BJ) hoặc là "riêng từng con" (Jouon). Dù chọn cách giải thích nào đi nữa, thì ý tưởng chính vẫn là Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh đến chiều kích cá vị trong mối tương quan giữa Người với các môn đồ, ngược lại với kẻ mị dân chỉ đối xứ với người ta như những đám đông không tên tuổi.

"Bao nhiêu kẻ đã đến, thảy đều là trộm là cướp": Đây không có ý nói về các ngôn sứ của Cựu ước, nhưng là về những người, trong xã hội Do thái cũng như trong thế giới lương dân, thường tự hào là kẻ mang lại cho con người sự hiểu biết về các thực tại thần linh và ơn cứu độ bằng các phương thế riêng của họ.

KẾT LUẬN

Giữa lòng Israel cũng như giữa lòng Giáo Hội, có hai hạng người: những kẻ thực sự thuộc về đấng chăn chiên, biết đáp lại tiếng gọi của một mình Người, và những kẻ không hề lại vì họ chẳng bao giờ thuộc về Đấng ấy.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Thánh Gioan kể lại cho ta một ám dụ, một kiểu so sánh, điều họa hiếm trong Tin mừng của ngài. Do đó có thể nghĩ rằng ngài muốn gán cho ẩn dụ này một tầm quan trọng đặc biệt. Dụ ngôn được nói cho người Biệt phái và muốn gởi đến họ một sứ điệp thiết yếu.

Biệt phái tự phụ mình là người hướng dẫn kẻ khác nhân danh Thiên Chúa; họ rất ghen với Chúa Giêsu vì Người được lòng dân và làm họ mất uy tín. Thành thử giữa Chúa Giêsu và họ, có một sự tranh chấp ảnh hưởng. Chúa Giêsu sắp nói rõ cho họ biết họ đã ảnh hưởng ra sao và chính Người đã ảnh hưởng thế nào trên đàn chiên Israel.

2. Chúa Giêsu là cửa vào, Người không loại bỏ một ai khỏi ơn cứu rỗi. "Người đến để tất cả nhân loại có sự sống dồi dào", ngay cả những kẻ Biệt phái vốn từ khước Người. Khi xưng mình là cửa vào, Chúa Giêsu không còn cách nào rõ hơn để xác quyết độc quyền của Người trong việc thông ban ơn cứu rỗi. Người khẳng định rằng người ta không thể tranh chấp với Người được, vì Người là cửa cứu rỗi duy nhất mà tất cả phải chấp nhận đi qua, và không ai có đặc ân được miễn, ngay cả những kẻ xem ra được trao phó một chức quyền thiêng liêng trong cộng đoàn tín hữu.

3. Giáo huấn này rất quan trọng và khẩn yếu. Chúng ta có thật sự tin rằng không có một người hướng dẫn nào khác, một vị Thầy nào khác, một lối đi nào khác cho con người ngoài Chúa Kitô không? Có nhiều Kitô hữu, khi phải nói lên điều này hôm nay, đều cảm thấy hầu như lúng túng; họ có cảm tưởng rằng mình tự gán cho mình nhiều đặc ân và đặc quyền trên những người khác. Vì ước mong hiệp nhất thiếu sáng suốt, vì khoan dung thiếu quân bình hoặc vì lẫn lộn các giá trị nên họ cảm thấy hầu như hổ thẹn về lòng tin của họ vào Chúa Giêsu Kitô. Thật vậy, người ta chẳng bảo rằng mọi tôn giáo đều có giá trị như nhau, mọi học thuyết và mọi Giáo Hội đều chính đáng miễn là ta thành thật đó sao? Nhưng khi xưng mình là cửa duy nhất, Chúa Giêsu đã dẹp tan mọi lối biện luận hồ đồ này. Chẳng phải là tất cả mọi người không mang danh hiệu Kitô hữu cách chính thức đều bịở ngoài chuồng chiên cả đâu nhưng, Chúa Giêsu muốn nói rằng ngay cả người ngoại giáo nào có thiện chí, người vô thần nào cố gắng sống ngay thẳng theo lương tâm, đều đã chỉ nhờ một mình Chúa Kitô mà được như vậy. Thành ra những ai, thuộc về chuồng chiên của Chúa Kitô mà không ý thức rõ ràng, đều phải qua cửa vào là chính Người vậy.

4. "Chiên Người, Người gọi từng con một". Có nghĩa là Chúa biết mỗi một người cách đặc biệt. Người có thể biết như vậy vì Người là Thiên Chúa. Đó chẳng phải là một sự kiện đánh động chúng ta cách mãnh liệt đó sao?

 

Noel Quession - Chú Giải

Ga 10, 1-10

 

Trong Chúa nhật IV Phục Sinh này, Gíao Hội mờ gọi chúng ta "cầu nguyện cho các ơn gọi" và mỗi năm đề nghị chúng ta đọc một đoạn Tin Mừng của Thánh Gioan về "Vị mục tử nhân lành"

"Thật, tôi bảo thật các ông: Ai không đi qua cửa mà vào ràn chiên. nhưng trèo qua lối khác mà vào, người ấy là kẻ trộ, kẻ cướp". '

Trên những đồi núi vùng Galilê và Giuđê, người ta thấy khắp nơi có những người chăn chiên, những mục tử. Ban ngày họ cho đàn chiên ăn cỏ trên những đồng cỏ hiếm hoi mọc ở giữa những đống đá của các ngọn đồi. Ban đêm, nhiều mục tử đồng ý với nhau tập họp đàn chiên của họ vào chung một khu đất có vây tường, làm bằng những tảng đá nhỏở đây, Đức Giêsu giới thiệu với chúng ta hai nhân vật rất tương phản. mục tử và... kẻ trộm... Chính cách họ vào ràn chiên mà người ta phân biệt được họ! Kẻ trộm trèo qua rào. Còn người mục tử đi qua cửa mà vào. Ngay từ đầu chúng ta không thấy những hình ảnh thơ mộng nào cả như vẫn thoáng thấy ở các đề tài về đồng quê!

Chuồng cừu đối với Đức Giêsu không phải là một nơi ngọt ngào và thơ mộng mà là một nơi phải tự bảo vệ chống lại trộm cướp. Chúng ta chớ quên rằng bài giảng này của Đức Giêsu rất bút chiến. Đây là phần tiếp nối cuộc đối đầu bi đát khi Người chữa lành một người mù từ thuở mới sinh. Anh này bị đối xử tệ hại như một con chiên đáng thương bị người ta đánh đập chỉ vì nó tật nguyền.

"Còn ai đi qua cửa mà vào, người ấy là Mục tử. Người giữ cửa mở cho anh ta vào và chiên nghe tiếng của anh".

Vậy, Đức Giêsu đặt đối lập những "mục tử giả hiệu" kẻ trộm cướp, khoe rằng mình hướng dẫn những người khác nhưng không được ủy nhiệm chân chính... với "mục tử chân thật" đi qua cửa để vào một cách quang minh chính đại, được người gác đã cho vào. Chúng ta chớ vội bỏ qua người gác cửa này. Tất cả Tin Mừng nói với chúng ta về người đó! Đó là Chúa Cha, Đấng đã sai Đức Giêsu đến (Gioan 8,16-42), Đấng đã giao mọi sự trong tay Người (Gioan 3.35 -5,22-26). Đấng đã ban cho Người những con chiên của người (Gioan 17,6-9).

"Anh gọi tên từng con, rồi dẫn chúng ra. Khi đã cho chiên ra hết, anh ta đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh. Chúng sẽ không theo người lạ, nhưng sẽ chạy trốn, vì chúng không nhận biết tiếng người lạ".

Được tập trung vào chung một chỗ có vây tường ban đêm để được các mục tử bảo vệ, buổi sáng các mục tử thu hồi các con chiên của họ, vì các con chiên nhận biết tiếng của mục tử của chúng. Những con chiên này theo bản năng biết được mục tử yêu thương chúng từng con một: Chúng đi theo và lắng nghe mục tử Người tín hữu chân chính, là người. Lắng nghe" tiếng Đức Giêsu và "đi theo" Đức Giêsu. Động từ "lắng nghe" được lặp lại năm mươi tám lần trong Tin Mừng của Thánh Gioan: Đức Giêsu là "lời" là "Ngôi lời" sự "mạc khải" được nói vào lỗ tai chăm chú của các bạn hữu Người "điều mà Người đã nghe từ Chúa Cha" (Gioan 3,31 - 8,40 - 15,15). Bạn đang Buy niệm bài Tin Mừng này, bạn có biết lắng nghe Lời Chúa, tiếng nói của Tình Yêu và Chân Lý?

Đức Giêsu kể cho họ nghe dụ ngôn đó. Nhưng họ không hiểu những điều Người nói với họ.

Họ không hiểu bởi vì họ không muốn hiểu... bởi vì họ cảm thấy mình bị chỉ trích. Là những người Pharisêu, họ tự hào hướng dẫn những người khác, nhưng mà người ta chạy trốn bởi vì họ là những mục tử xấu, những kẻ trộm cướp.

Vậy Đức Giêsu lại nói: 'Thật, tôi bảo thật cho các ông: Tôi là cửa cho chiên ra vào. Mọi kẻ đến trước tôi đều là trộm cướp, nhưng chiên đã không nghe họ".

Những sự tự phụ của Đức Giêsu nếu Người chỉ là một Con người quả là thái quá! Người tự giới thiệu như người hướng dẫn duy nhất của nhân loại! "Tất cả những ai đến trước tôi" đều là trộm cướp. Con người nói điều đó là một người điên.. hoặc giả người ấy mang trong người một sứ điệp triệt để nhất, tuyệt đối nhất, siêu việt nhất, cách mạng nhất mà nhân loại chưa bao giờ nghe thấy. Than ôi, chúng ta có thể đi theo những người hướng đạo khác nếu chúng ta chịu nổi họ và nhiều người tự giới thiệu với chúng ta như những "cứu tinh do Thiên Chúa an bài"... nhưng Đức Giêsu đã mạnh mẽ báo trước cho chúng ta biết: Các kẻấy đều là trộm cướp và phá hoại... mọi người đưa ra những lời hứa hẹn hay đẹp đều là những kẻ trộm cướp. Một thứ tuyệt đối thuyết như thế chỉ có thể đụng chạm đến tâm thức của thời đại chúng ta, mong muốn sự khoan dung, lo lắng đến "tính đa nguyên". Vậy ai là người dám nói với một sự bảo đảm và một sự loại trừ như thế? còn Đức Giêsu vốn khác với "mọi người khác, Người hứa hẹn chúng ta điều gì?

"Tôi là cửa".

Đức Giêsu thích trình bày tư tưởng của Người dưới những hình ảnh. Người đã tự giới thiệu Người như vị Mục tử độc nhất, ở đây, sử dụng những ý nghĩa tượng trưng như các nhạc sĩ thường làm khi các chủ đề của họ đan kết với nhau. ĐứcGiêsu đưa vào một hình ảnh thứ hai, tinh tế hơn, mầu nhiệm hơn. Người nói: "Tôi là cửa"... cái cửa duy nhất, cái cửa độc nhất! Những tác giả Phúc âm nhất lãm cũng đã đặt vào miệng Đức Giêsu sự so sánh ấy khi nói về cái "cửa hẹp" dẫn đến Nước Chúa (Mát-thêu 7,13-14; Luca 13.24). Nhưng ở đây từ ngữ chứa đựng một ý nghĩa thần học sâu xa hơn... theo nghĩa mà Đức Giêsu không bao lâu nữa sẽ nói; "Chính Thấy là đườtng, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy..."

(Gioan 14,6). Trong Kinh Thánh đã có một thứ thần bí về cái cửa. Gia-cóp ở giữa sa mạc đã nhìn thấy một cầu thang là cửa của thiên đàng (Sáng Thế 28,17). Những cái cửa của Giêrusalem được mô tả như những con đường đưa vào nơi bình an, công bằng, đến nhà của Thiên Chúa (I-sai-a 60,11;

Thánh Vịnh 122,2 – l18,19-20).

"Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ".

Như thế, Đức Giêsu có ý thức Người là môt con đường đi qua, một cái cửa, dẫn đến một nơi mới, một không gian mới! Để cảm nhận ân huệ của đề nghị này nới Đức Giêsu, chúng ta phải cảm nghiệm mình đang bị giam hãm trong một thứ "căn hầm đóng kín" như Jean Paul Sartre đã mô tả. Vâng, nhân loại như bị cầm tù bởi những điều tất định khắc nghiệt nào đó: Sinh ra rồi chết đi, sản xuất rồi tiêu thụ, ăn, làm, ngủ rồi lại bắt đầu lại!". Viễn cảnh của con người lẽnào lại dừng lại ở vòng tròn chật hẹp này? có phải nhân loại bị kết án quay vòng tròn như thế trong khi chờ đợi cơn đắm tàu sau cùng? Có chăng một lối thoát cho con người?

Chính tại đây Đức Giêsu can thiệp và nói với chúng ta rằng Người là một cái cửa, một lối thoát. Những hình ảnh nói lên nhiều điều: "Các bạn có thể ra vào, lui tới"...đây là hình ảnh của sự tự do! Các bạn sê tìm thấy một đồng cỏ"... hình ảnh của sự sống và sự tươi trẻ!
Tại sao chúng ta không tbử mượn cái cửa mầu nhiệm ấy để đi một vòng hít thở khí trong lành, trong những đồng cỏ tắm nắng mặt trời? Đức Giêsu nói với chúng ta rằng nhân loại không thể khép kín lại với chính mình một cách tuyệt vọng: Trước mắt nhân loại, một không gian được mở ra, một không quan vô tận, một sự sống còn ở phía trước. Thiên Chúa đề nghị dành không gian của Người cho con người. Tại sao chúng ta không muốn cái cửa ấy để đến đó mà hít thở? Cánh cửa này mở ra vô tận và không chỉ mở vào ngày sau cùng, vào giờ lâm tử của chúng ta, điều đó tùy thuộc vào mỗi người chúng ta. Cánh cửa ấy hướng về Thiên Chúa, tại sao chúng ta không bước qua nó ngay từ bây giờ?

"Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá huỷ"

Đức Giêsu trở lại những viễn cảnh tiêu cực này để giúp chúng ta hiểu rõ hờn đề nghị tích cực của Người. Trong các lãnh vực kinh tế, chính trị. kỹ thuật, con người đã thực hiện nhiều cuộc giải phóng mà chúng ta không thể coi thường và mọi Kitô hữu phải tham gia. Nhưng Đức Giêsu nhắc chúng ta chỉ có duy nhất một cuộc giải phóng triệt để mà Thiên Chúa đề nghị với chúng ta. Mọi lời hứa khác về giải phóng, về hạnh phúc đều là lừa bịp, một thứ trộm cắp. Nhân loại được dựng nên không phải để bằng lòng với không khí ngột ngạt của mọi thứ chủ nghĩa duy vật Các chủ nghĩa vô thần chỉ đem lại cho con người một hình ảnh bị cắt xén. Đối với Đức Giêsu, nếu chỉ đưa ra cho con người các viễn cảnh hạn chế thì đó chính là "giết chết và Phá hủy" con người chỉ sống viên mãn khi con người mở ra với Thiên Chúa. Và Đức Giêsu là cái cửa! Nếu người nào đi qua cửa đó, người ấy sẽ được cứu!

Không đi qua lối đó, con người sẽ hư mất... Môi trường sống tuyệt đối duy nhất của con người, chính là môi trường của Thiên Chúa. Chỉ có nơi đó mới là không gian của con người. Chỉ có nơi đó, con người thật sự được tự do. Chỉ có nơi đó con người thật sự hít thở và phát triển đến vô tận.

"Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào".

Ở đây chúng ta gặp lại một chủ đề mà Thánh Gioan ưa thích. Rượu nho ở tiệc cưới Cana được ban cho một cách dồi dào: 600 lít! (Gioan 2,6-7). Nước sự sống ban cho người phụ nữ Samari vọt lên để sau cùng làm mọi cơn khát phải chấm dứt (Gioan 4,14). Bánh được hóa ra nhiều và rất dồi dào và còn dư lại mười hai giỏ đầy (Gioan 6,10-12). Sự đánh cá mầu nhiệm làm chiếc thuyền đầy cá (Gioan 21,6). Nhưng đó chỉ là những hình ảnh. Thực tế còn đẹp hơn nhiều. Có một sự sống "dồi dào": Sự sống của Thiên Chúa!

Quả thật, rõ ràng chỉ có Đức Giêsu mở ra một không gian vô cùng, vô tận cho con người. Bên ngoài Người, nhân loại hoàn toàn "bị giam hãm" trong chính mình: không một ý thức hệ, một lãnh tụ chính trị hay xã hội, một khám phá khoa học nào giải thoát chúng ta khỏi số phận "Chỉ là những con người và vì thế phải chết". Nhưng chính Đức Giêsu, vừa là người vừa là Thiên Chúa, lôi kéo ta ra khỏi sự bất lực của chúng ta để đưa chúng ta vào lãnh địa của Thiên Chúa. Cái Cửa ấy mở ra cái vô cùng vĩnh cửu.

 

Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

" Ta là cửa chuồng chiên"

Ga 10, 1 - 10
 

I / Ý CHÍNH:
 

Qua dụ ngôn về " Cửa chuồng chiên" trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã giới thiệu vai trò độc đáo của Người và phải qua Người mới được ơn cứu độ, vì Người là Đấng ban sự sống và nuôi dưỡng nhân loại.
 

II / SUY NIỆM:
 

Để giúp hiểu ý nghĩa dụ ngôn này, chúng ta nên biết rằng:

- Cựu ước đã báo trước Đấng Thiên sai sẽ đến như một mục tử Người sẽ chăn dắt ( Mk 5, 3 ) " Ta sẽ cho chỗi dậy một mục tử duy nhất, Người sẽ chăn dắt chúng" ( Ed 34, 23 ).

- Trong Tân ước, Chúa Giêsu đã áp dụng hình ảnh mục tử cho mình. Ngài tự xưng là chủ chăn được sai đến với các chiên lạc của Israel ( Mt 15, 24. 10, 26; Lc19, 10 ). Riêng trong Tin Mừng thánh Gioan, bài giảng về người chủ chăn nhân lành đã mở đầu Giáo Hội để rồi sau này thánh phêrô tiếp tục sứ mệnh chăn dắt đó. ( Ga 21, 16 ).

1 / " Thật, Ta bảo thật cùng các ngươi":

Đây là một kiểu nói mà thánh Gioan thường dùng, để nhấn mạnh tính xác thực của một điều gì đã có trước, thực vậy, dụ ngôn " cửa chuồng chiên" là nối tiếp câu chuyện người mù từ bẩm sinh được Chúa Giêsu chữa lành, là để minh chứng Chúa Giêsu là ánh sáng thế gian, vì vậy phải qua Người mới được ơn cứu độ.

- Ai không qua cửa mà vào chuồng chiên...":

+ Chuồng chiên là hình ảnh quen thuộc của đời sống dân Do thái du mục. Ơ đây Chúa Giêsu nói đến Giáo Hội ở trần gian và nước Chúa ở trên trời, tức là nước siêu nhiên.

+ Cửa chuồng chiên: mỗi chuồng chiên chỉ có một cửa chính để chiên ra vào, ai muốn được vào Giáo Hội để hưởng Nước Trời là ơn cứu độ thì phải qua duy một cửa chính mà thôi, cửa này chính là Chúa Kitô như Người đã tự nhận: " Ta là cửa chuồng chiên". Ơ đây khi nói đến các mục tử giả hiệu, và theo toàn thể mạch văn, Chúa Giêsu có ý nhắm tới các người Biệt phái và Ký lục là những kẻ từ lâu đã tự đặt mình làm thủ lãnh và linh hướng của dân chúng mà không qua vị canh giữ tối cao, không lãnh nhận từ Thiên Chúa một uỷ nhiệm nào để thi hành sứ mệnh mục tử, như bọn trộm cướp, họ đã chiếm đoạt đám tín hữu vì háo danh và óc thống trị hơn là quan tâm đến thiện ích thiêng liêng của tín hữu.

2 / " Còn ai qua cửa mà vào là kẻ chăn chiên":

Ở đây có ý nói đến những mục tử chân chính vào cửa đàng hoàng vì đã lãnh sứ mệnh.

+ " Kẻấy sẽ được người giữ cửa mổ cho...":

Người mục tử chân chính là người đã được uỷ nhiệm chính thức. Ơ đây Chúa Giêsu muốn nói đến chính sứ mệnh của Người, vì Người chỉ đến theo lệnh và uỷ nhiệm thần linh mà Người đã nhận từ Chúa Cha khi chịu phép rửa ( Ga 1, 31 - 34 ).

+ " Và chiên nghe theo tiếng kẻấy...":

Chỉ có chiên là những tín hữu đích thực, mới biết ngoan ngoãn nghe theo tiếng vị mục tử của mình là Đức Giêsu, vì " Phàm ai nghe và học nơi Cha thì đến với Đức Giêsu bằng đức tin " ( Ga 6, 45. 8, 47 ).

+ " Kẻấy sẽ gọi đích danh từng con chiên"

Ơ đây muốn nói đến những kẻ thực sự thuộc về chủ chăn và đáp theo tiếng Người gọi và chỉ theo một mình Người, điều này được biểu lộ qua ơn gọi của các vị tông đồ ( Ga 1, 35 - 49 ) như khi Chúa gọi Philippê " Hãy theo Ta" ( 1, 43 ). Qua tiếng gọi đặc biệt này Người " Dẫn ra" tức là kéo họ ra khỏi thế gian ( Ga 15, 19 ).

+ " Khi đã lùa chiên mình ra ngoài..."

Khi đã kéo họ ra khỏi thế gian, Người tiên phong dẫn họ tới đồng cỏ là Giáo Hội và tới Chúa Cha. Đặt trọn niềm tin tưởng vào Người, các con chiên " theo Người " " Làm tông đồ " Người và họ biết tiếng Người: tức là đức tin cho họ một nhận thức thiêng liêng, nhờ đó họ phân biệt trong tiếng nói của vị mục tử, Chúa Giêsu, một âm vang trung thực của tiếng nói Cha trên trời, và biết rằng qua miệng của Chúa Giêsu, chính Chúa Cha đang nói(Ga 14, 10).

+ " Chúng sẽ không theo người lạ...":

Chính sự nhận thức thiêng liêng này, tức là đức tin, khiến họ không làm môn đệ những kẻ chăn chiên xa lòng, chẳng hề được Thiên Chúa uỷ nhiệm vì không nhận ra nơi họ giọng nói của những kẻ này âm vang của lời Thiên Chúa, nên họ chạy chốn, họ chạy chốn vì những kẻ chăn chiên giả này đến để mưu sát trộm cắp và tiêu diệt đàn chiên. Ơ đây muốn ám chỉ đến những người lãnh đạo dân Do thái như các Biệt phái Luật sĩ đã gieo rắc tai hại cho dân vì những gương xấu và lầm lạc của họ.

3 / " Chúa Giêsu phán dụ ngôn này..."

Những người Biệt phái mà dụ ngôn này nhắm tới không nhận ra được bài học Chúa Giêsu dậy họ: bởi vì chiên lạ không nghe tiếng của mục tử chính danh " Các ngươi không tin vì các ngươi không thuộc đàn chiên của Ta" ( Ga 10, 26 ).

4 / " Ta là cửa chuồng chiên":

Vì những người nghe không nhận thức được bài học dụ ngôn nên Chúa Giêsu nói thêm và Ngài giải thích bằng cách Ngài tự nhận mình là cửa chuồng chiên để nêu lên chân lý phải tin nhận vào Ngài mới được cứu độ, vì chỉ có Ngài là cửa duy nhất của chuồng chiên.

 

5 / " Tất cả những kẻ đã đến trước...":

+ " Đến trước " ở đây không có ý nhắm tới thời gian cho bằng nhắm tới thái độ của việc làm, bình thường thì sáng sớm người chăn chiên đi thăm chuồng chiên, nếu có ai đến trước đó, nghĩa là khi còn ban đêm, thì đích thực họ là kẻ trộm cướp, tìm những lúc tăm tối để là những việc ám muội.

+ Dùng kiểu nói " Những kẻ đến trước " ở đây Chúa Giêsu có ý nói đến các Tiên tri Cựu ước vì theo thời gian, họ đã xuất hiện trước Chúa Giêsu. Nhưng có thể Chúa nhắm những người Do thái hoặc dân ngoại tự phụ dùng sức mình mà đem lại cho nhân loại sự hiểu biết về Thiên Chúa và ơn cứu độ. Nhưng cũng có thể Chúa nhắm tới những người Biệt phái ( Mt 23, 1 - 36; 9, 36; Mc 6, 34 ) và các thủ lãnh tôn giáo Israel đã gạt dân của họ xa con đường sống, tức là các Do thái đã tàn sát các Tiên tri, các Tiến sĩ thời Chúa Giêsu để ngăn chận không cho thế hệ của họ đáp lại lời mời gọi Nước Trời.

6 / " Ta là cửa, ai qua Ta mà vào...":

Chủ đề cửa là một chủ đề rất phổ thông trong truyền thống Do thái ( St 28, 17; Tv 78, 23; Mt 7, 13 - 14).

+ Kiểu " Ta là cửa" ở đây Chúa Giêsu muốn nói đến tính cách của ơn cứu độ vì Ngài nói " Ta là cửa" chứ không nói " Ta là cửa chuồng chiên" như ở trên.

+ Chữ " Cửa" ở đây muốn nói lên ý nghĩa như một lối dẫn đưa vào các thực tại Thiên Quốc. Khi mở thì chữ " Cửa" diễn tả một thái độmời gọi, đón nhận. Khi đóng, đối với bên trong thì diễn tả một sự che trở bảo vệ, đối với bên ngoài thì diễn tả sự từ chối, thanh lọc.

+ " Người ấy sẽ ra vào"; " Ra vào" là kiểu nói Do thái có nghĩa là đi lại tự do.

Ở đây muốn nhấn mạnh sự cần thiết và quan trọng của việc phải tin vào Chúa Giêsu Kitô mới đem dân Chúa vào sự sống bằng cách cho họ tái sinh bởi nước và Thánh Thần ( Ga 3, 16 - 17 ).

Dân Chúa được cứu thoát nhờ Đức Giêsu giải phóng họ khỏi ách nô lệ của tội lỗi và Maria qủy, họ được vui hưởng tự do đích thực của con cái trong nhà Cha ( Ga 8, 33 - 34 ). Cũng trong Chúa Kitô dân chúng tìm được thức ăn nói thoả là bánh và Nước Hằng Sống, có dập tắt vĩnh viễn cơn đói khát thiêng liêng của con người ( Ga 6, 35; 4, 14 ).

7/ "Kẻ trộn có đến thì chỉ đến để ăn trộm…"

+ Ở đây Chúa Giêsu có ý nhắm tới các Ký lục và Luật sĩ. Họ là những mục tử giả hiệu, dù không được Thiên Chúa uỷ nhiệm, họ vẫn tự cai trị dân Chúa vì họ ưa tìm vinh quang và quyền lợi bản thân hơn là ưu tiên đến tiện ích cho dân Chúa (Mt 23,4-7).

+ Họ sát hại và phá huỷ dân Chúa vì những gương xấu của họ, như chính Chúa Giêsu đã tuyên bố với họ "khốn cho các ngươi, Ký lục và Biệt phái giả hình, vì các ngươi khóa Nước Trời, chận người ta lại…" (Mt 23,3-13).

8 / " Còn Ta, Ta đến để chúng được sống...":

Chúa Giêsu được sai đến để cứu chuộc dân Chúa và ban cho dân Chúa của nuôi là Bánh và Nước Hằng Sống.

* Cần lưu ý:

a) Từ Chúa Giêsu mục tử đến các tông đồ mục tử.

Sau khi về trời công việc hcăn dắt đoàn chiên của Chúa vẫn được tiếp tục " Chúa là mục tử hằng hữu không bỏ rơi đoàn chiên Chúa, nhưng nhờ các tông đồ Chúa luôn che trở giữ gìn, để đoàn chiên được hướng dẫn nhờ các vị lãnh đạo Chúa đã đặt làm mục tử coi sóc đoàn chiên thay thế Con Chúa ( Kinh tiền tụng lễ các tông đồ ).

b) Ngày Chúa nhật IV phục sinh còn gọi là Chúa nhật Chúa chiên lành ( Lý do là vì các bài Tin Mừng đều trích từ Ga 10, nội dung nói về Chúa chiên lành ) được chọn làm ngày cầu nguyện cho ơn thiên triệu.

 

III / ÁP DỤNG:
 

A/ Áp dụng theo Tin Mừng:
 

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Giáo Hội muốn dậy chúng ta phải tin tưởng vào sự nuôi dưỡng che trở và giữ gìn của vị mục tử tối cao là Chúa Giêsu Kitô, và đồng thời phải biết tuân phục sự hướng dẫn và chăm sóc của các vị lãnh đạo Chúa đã đặt làm mục tử coi sóc đoàn chiên thay thế Con Chúa.
 

B/ Áp dụng thực hành:
 

* Nghe Lời Chúa nói:

1 ) " Ai không qua cửa mà vào chuồng chiên": Chúa dạy chúng ta phải biết phân biệt những người chăn chiên " Không qua cửa mà vào" tức là những người không được Giáo Hội chính thức uỷ nhiệm như những giáo sĩ giả, những giáo sĩ không tuân phục Giáo Hội, hoặc những vị phá giới, đồng thời cũng cần phân biệt những lý thuyết những ý thức hệ ngược với đường lối Chúa.

2 ) Vị mục tử đích thực là người được Giáo Hội chính thức bổ nhiệm đồng thời phải có tư cách như tận tâm chăm sóc yêu mến đoàn chiên, sẵn sàng hy sinh cho đoàn chiên và nhất là biết hướng dẫn đoàn chiên theo giáo huấn của Chúa.

3 ) " Ta là cửa chuồng chiên" Chúa đòi hỏi ta phải tin và sống theo Chúa Kitô mới được cứu độ. Chỉ có Chúa Kitô là con đường duy nhất dẫn ta vào sự sống đời đời.

4 ) Kẻ trộm có đến thì chỉ đến để ăn trộm, để sát hại và phá huỷ. Những ai hướng dẫn ta, lôi kéo ta, cai trị ta mà không theo đường lối của Chúa, không thông hiệp với Giáo Hội, thì đều là những kẻ nguy hại cho phần rỗi của ta, nên phải đề phòng và canh chừng những người đó.

5 ) Hãy tin tưởng và phục tùng những người lãnh đạo đã được Chúa uỷ thác trong Giáo Hội để chăm sóc đoàn chiên Chúa.

6 ) Cầu nguyện trong ngày ơn thiên triệu.

+ Xin Chúa cho nhiều người quảng đại đi theo tiếng Chúa gọi.

+ Xin Chúa cho Linh mục, Tân ước sĩ trng thành với ơn gọi.

+ Xin Chúa hướng dẫn lớp trẻ về với ơn gọi.


Lm Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc - Bài Giảng Lễ

Cv 2, 14a.36- 41; Pr 2, 20b-25; Ga 10, 1- 10

 

"Tất cả chúng ta đều được thiên chúa chọn để loan báo tin mừng và thông truyền ơn cứu độ"

Anh chị em thân mến,

"Tất cả chúng ta đều được Thiên Chúa chọn để loan báo Tin Mừng và thông truyền Ôn Cứu Độ", đó là tựa đề của sứ điệp Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lô 2 gởi đến Cộng đoàn chúng ta hôm nay trong ngày lễ Chúa Nhật Chúa Chiên Lành cũng là ngày thế giới cầu nguyện cho ơn gọi Linh mục, Tu sĩ nam nữ. Vậy hôm nay tôi xin chia sẻ với anh em nội dung sứ điệp này của Đức Giáo Hoàng.

"Tất cả chúng ta đều được Thiên Chúa chọn để loan báo Tin Mừng và thông truyền Ơn Cứu Độ". Vậy là chúng ta đều có một ơn gọi chung. Dù sống đời sống vợ chồng hay chịu chức thánh, Linh mục hay tu sĩ, tất cả đều được Thiên Chúa chọn để công bố Tin mừng và chuyển thông ơn cứu độ. Đây không phải là một trách vụ đơn độc, riêng lẻ mà là trách vụ chung của Giáo Hội.(x.LBTM.60). Đó là ơn gọi chung của Giáo Hội. Cùng với ơn gọi chung ấy, còn có ởn gọi đặc biệt với những trach nhiệm riêng biệt trong Giáo Hội. Đó là những ơn gọi tiến đến hàng Linh mục, ơn gọi đời sống thánh hiến của các Tu sĩ nam nữ hoạt động thừa sai và đời sống chiêm niệm.

Trong sứ điệp này, Đúc Thánh Cha đặt trọng tâm của ơn gọi linh mục, Tu sĩ, vào đời sống cộng đoàn kitô hữu. Vì "cũng như hạt giống trổ sinhdồi dào hoa trái nơi mảnh đất tốt thế nàothì ơn gọi cũng tăng tiến và trưởng thành trong cộng đoàn Kitô hữu như vậy". Chúng ta phải khởi đi từ các cộng doandể chuẩn bị cho một mảnh đất phì nhiêu, cho hạt giống ơn gọi nảy mầm, trổ sinh hoa trái. Vì chỉ có cá cộng đoànKitô hữu sống động mới có thể làm nảy sinh các ơn gọi, vun trồng, chăm sóc các ơn gọi và làm cho các ơn gọi phát triển, như một người mẹ hằng lưu tâm đến hạnh phúc, đến sự tăng trưởng của các con cái mình. Vì thế, tác nhân chủ động và tiên phong trong việc cổ vỏ ơn gọi chính là cộng đoàn Giáo Hội: từ Giáo Hội toàn cầu cho tới Giáo Hội địa phương, cũng như từ Giáo Hội địa phương cho tới từng Giáo xứ và từng thành phần Dân Chúa. (x. Tông Huấn Các Mục Tử, số 41).

Ngày nay, trước những thách đố của thế giới hiện đại, cần phải có nhiều lòng dũng cảm sống Tin Mừng hơn nữa, để dám dấn thân cổ vỏ ơn gọi; như Đức Kitô đã kêu mời hãy cầu xin không ngừng để có những thợ làm vườn nho, cho nước Chúa được lan rộng khắp nơi(x.Mt 9,37-38). Hơn lúc nào hết, ngày nay cần phải làm cho mọi thành phần trong Giáo Hội, không trừ một ai, đều có ân sủng và trách nhiệm chăm sóc các ơn gọi (x. TH.Cac Mục Tử, số 41). Đức Thánh Cha kêu gọi các cộng đoàn Giáo Phận và Giáo Xứ phải dấn thân chăm sóc cho ơn gọi Linh mục và đời sống thánh hiến, đặc biệt bằng việc lắng nghe Lời Chúa, cầu nguyện và phục vụ người nghèo.

Trước hết, cộng đoàn phải biết lắng nghe Lới Chúa để nhận ra ánh sáng hướng dẫn tâm hồn con người. Khi KinhThánh trở thành sách của cộng đoàn, chúng ta sẽ dễ dàng nghe và hiểu được tiếng nói của Chúa, đấng kêu gọi chúng ta.Hơn nữa, cộng đoàn phài biết khẩn khoản cầu nguyện để có thể thực hiện được ý định của Thiên Chúa. Việc cầu nguyện mang lại sức mạnh giúp ta đón nhận cách tích cực lời mời gọi của Chúa,để dấn thân phục vụ đời sống tinh thần và vật chất của anh em. Cộng đoàn cũng phải nhạy cảm trước sứ mạng truyền giáo để đem ơn Cứu Độ đến cho những người chưa nhận biết Chúa Ki-tô, Đấng Cứu Chuộc nhân loại.Nếu công đoàn hết lòng sống mệnh lệnh của Đức Ki-tô: "Anh em hãy đi làm cho muôn dân trở thành môn đệ,làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần"(Mt 28,19) chắc chắn cộng đoàn đó sẽ không thiếu những người trẻ quảng đại muốn dâng hiến đời mình để đảm nhận trách vụ loan báo Tin Mừng cho con người thời đại. Cuối cùng, cộng đoàn phải biết mở ra cho việc phục vụ nguòi nghèo, dấn thân trợ giúp những anh chị em túng thiếu và đau khổ. Những điều đó góp phần tạo nên một môi truòng thuận lợi cho ơn gọi nảy sinh, vì phục vụ Tình Yêu là ý nghĩa nền tảng của ơn gọi.

Thưa anh chị em,

Trong phần cuối sứ điệp,một lần nữa,Đức Thánh Cha lại kêu gọi các Giám Mục, các Linh mục Dòng cũng như Triều,các Giáo Lý Viên và các bạn trẻ phải ý thức trách nhiệm chăm sóc mục vụ ơn gọi trong cộng đoàn Giáo Hội: Khi làm cho cộng đoàn Giào Hội sinh động,các Linh mục có thể khơi dậy các ơn gọi,cổ võ các thiếu niên nam cũng như nữ được Thiên Chúa kêu gọi, hướng dẫn các em qua những hướng dẫn tinh thần và cuộc sống vui tươi phục vụ anh em.

Các Giáo lý viên là những người tiếp xúc trực tiếp với các thanh thiếu niên, nhất là suốt thời gian chuẩn bị lãnh nhận các Bí tích khai tâm ki-tô giáo, các Giáo lý viên cũng có trách nhiệm góp phần giúp các em sống trọn vẹn lời mời gọi của Thiên Chúa.Và chính các bạn trẻ phải can đảm đáp lại tiếng gọi của Chúa. Đúc Thánh Cha nói:"Cha muốn nói với các con,các con thân mến, Cha triều mến lập lại những lời này với các con: Hãy quảng đại hiến cuộc đời mình cho Đúc Ki-tô. Đừng sợ hãi!Các con không có gì phải sợ, vì Thiên Chúa là Chúa của lịch sử và của vũ trụ. Hãy để những khát vọng về ngững kế hoạch vĩ đại và cao thượng lớn lên trong các con.Hãy nuôi dưỡng cảm thúc về tình liên đới; đó là dấu chỉ Thiên Chúa hành động nơi tâm hồn của các con.Hãy sẵn sàng sử dụng các khả năng mà Đấng Quan Phòng đã trao ban cho các con, vì cộng đoàn của các con.Các con càng sẵn sàng dâng hiến chính mình cho Thiên Chúa và tha nhân,các con sẽ càng khám phá ra ý nghĩa đích thực của đời sống.Thiên Chúa mong đợi nhiều nơi các con!".

Thưa anh chị em,

Tôi xin kết thúc nội dung tóm lược sứ điệp Ngày thế giới cầu nguyện cho ơn gọi bằng một lời nguyện của Đúc Thánh Cha: "Lạy Chúa, xin gởi cho chúng con những người hướng dẫn tinh thần mà cộng đoàn chúng con đang cần: những Linh mục thực sự của một Thiên Chúa sống động, ngững người được ánh sánh Lời Ngài soi chiếu, để có thể nói về Ngài và dậy người khác nói với Ngài. Xin hãy làm cho Giáo Hội của Ngài lớn mạnh nhờ sự phát triển của nhưnh con người thánh hiến, những người dâng hiến tất cả cho Ngài để Ngài cứu độ tát cả mọi người". Amen.

 

Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng - Bài Giảng Lễ

ĐỨC KITÔ, MỤC TỬ NHÂN LÀNH

 


Trong Tin mừng hôm nay, Đức Kitô tự giới thiệu Người là vị mục tử nhân lành, hết lòng săn sóc đoàn chiên của mình. Người mục tử nhân lành biết từng con chiên của mình là mỗi người chúng ta. Đứng trước tình yêu của Chúa Giêsu, vị mục tử nhân lành, mỗi người Kitô hữu thêm niềm hy vọng, thêm niềm tin tưởng và nhất là gia tăng mạnh mẽ hơn tình yêu dành cho Người. Vui mừng hân hoan vì được làm chiên của Mục tử Giêsu Kitô, đó là thái độ của mọi Kitô hữu.

I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

1. Bài đọc I: Cv 2,14.36-41

Những Kitô hữu đầu tiên

Bản văn hôm nay là phần kết bài giảng của Thánh Phêrô ngày Lễ Ngũ tuần. Sau khi loan báo cho mọi người biết Đức Kitô mà mọi người đã giết chết nay Người đã sống lại và đi vào vinh quang, Thánh Phêrô thúc đẩy thính giả của ngài đến chỗ sám hối tội lỗi để đón nhận đời sống trong Thần Khí Đấng Phục sinh.

a. Nhờ lời rao giảng đầy lửa mến của Thánh Phêrô, một số đông dân chúng đã hối cải, gia nhập Hội thánh mới khai sinh và xin được thanh tẩy.

b. Dưới tác động của Chúa Thánh Thần, Hội thánh đã cất cánh bay lên: Thánh Luca đưa ra con số những người mới quay trở về của ngày hôm đó ước khoảng ba ngàn người. Đó quả là một con số mơ ước.

c. Sức mạnh của lời rao giảng thật đáng kinh ngạc. Một bài giảng của Phêrô đã đưa hàng ngàn người vào Giáo hội. Tất nhiên tác nhân chính yếu chính là Chúa Thánh Thần. Mỗi người Kitô hữu phải mạnh tin và can đảm loan báo Tin mừng. Chính Chúa Thánh Thần sẽ làm cho việc rao giảng mang lại hoa trái tốt đẹp.

2. Bài đọc II: 1Pr 2,20-25

Mời gọi noi theo Đức Kitô

Theo lược đồ lá thư thứ nhất của Thánh Phêrô thì chương 2 là lời giáo huấn khuyên mọi người biết đón nhận đau khổ cách xứng đáng và độ lượng theo gương Chúa Giêsu.

a. Khi khuyên bảo phải biết nhẫn nhục chịu đau khổ trong các công việc lành, Thánh Phêrô không có ý muốn bảo phải cam chịu những bất chính ức hiếp con người nhưng theo ánh sáng Tin mừng là biết trở nên khiêm nhường nhỏ bé và yếu đuối trước mặt Thiên Chúa. Tin mừng chính là hạt mầm của sự giải phóng, của tự do.

b. Chịu đựng mọi sự theo gương Đức Kitô là hiệp thông tình yêu với Người; là kết hợp với đau khổ của Người để làm nên giá trị cho những đau khổ mà bản thân mỗi người đang gánh nhận.

c. Chấp nhận chịu đau khổ theo gương Chúa Giêsu là một huyền nhiệm trong cuộc đời Kitô hữu. Đau khổ luôn có trong cuộc sống mỗi người, nếu biết đón nhận và nối kết với khổ giá của Chúa Giêsu, sẽ là giá thanh luyện và giải phóng con người khỏi nô lệ cho ma quỉ, tội lỗi và đam mê bất chính, và là khơi nguồn sự sống và niềm vui trong hy vọng.

3. Tin mừng: Ga 10,1-10

Chúa Giêsu, vị mục tử nhân lành và là cửa chuồng chiên

Để giúp thính giả hiểu mình là Đấng Messia được Chúa Cha sai đến, Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh người mục tử và đàn chiên; hình ảnh cửa chuồng chiên để làm sáng tỏ sứ mạng của Người đến yêu thương, chăm sóc cho nhân loại.

a. Chúa Giêsu dùng hình ảnh "mục tử" để nói về vai trò tôn giáo của Người nơi dân Do Thái. Với người Do Thái, hình ảnh đàn chiên, mục tử là những hình ảnh rất quen thuộc và nhiều ý nghĩa với họ, là dân có nguồn gốc là người du mục. Họ đã nhìn thấy nơi những thực tại quen thuộc ấy một biểu tượng giá trị cho những thực tại tôn giáo: Mục tử là hình ảnh mô tả đúng tình yêu của Giavê Thiên Chúa dành cho họ và đàn chiên là hình ảnh rỏ nét tương quan của họ đối với Ngài (x. Ed 34,11-16).

b. Ta là cửa chuồng chiên: bằng hình ảnh này, Chúa Giêsu khẳng định rõ ai muốn vào Nước Trời, muốn lãnh nhận ơn Cứu độ bắt buộc phải đi qua Người; muốn đến với Chúa Cha phải qua Người. Như Người đã từng nói: "Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy."

c. Chúa Giêsu là mục tử biết từng con chiên và chiên Người nghe tiếng Người. Trong Giáo hội và trong dân Do Thái cũng luôn tồn tại hai hạng người: những người thực sự thuộc về Đấng chăn chiên, biết nghe và đáp lời Người. Và những người không biết nghe và đáp lời Người vì không thuộc về Người.

II. GỢI Ý BÀI GIẢNG

1. Tình yêu nơi Chúa Giêsu mục tử nhân lành, một tình yêu cá vị: Những từ ngữ Chúa Giêsu dùng: người mục tử biết và gọi đích danh từng con chiên, các con chiên theo sau người chăn vì biết tiếng của người ấy, các từ ngữ này diễn tả một tình yêu thương cá vị. Thiên Chúa là tình yêu, Ngài yêu thương tất cả mọi người nhưng không phải bằng một tình yêu chung chung, mà là một tình yêu đặc biệt dành cho mọi người và từng người. Ngài biết rõ từng người, từng hoàn cảnh và quan tâm từng người đều như nhau. Nơi Thiên Chúa không có sự thiên vị ai mà tất cả đều hưởng trọn vẹn tình yêu của Ngài. Chỉ có về phía con người có biết nghe theo Chúa, đi theo Ngài hay không mà thôi. Chính niềm tin của con người làm cho mỗi người đón nhận được ơn Chúa, tình yêu của Chúa khác nhau. Chúa luôn công bằng trong tình yêu dành cho mọi người.

Hiểu điều này để mỗi Kitô hữu nhìn lại đời sống đức tin của mình. Chính bản thân đã sống với Chúa như thế nào? Chúa vẫn yêu tôi nhưng tôi đón nhận và đáp trả như thế nào? Đừng vội vàng oán trách Chúa, so bì tị nạnh khi thấy người khác được nhiều ơn Chúa hơn. Tất cả đều được Chúa Giêsu mục tử nhân lành chăm sóc, lo lắng chu đáo.

2. Chúa Giêsu mục tử nhân lành, Đấng duy nhất đưa con người đến hạnh phúc và sự sống đích thực: Chúa Giêsu khẳng định: "Ta đến để cho chúng được sống và sống dồi dào". Người tự ví mình là cửa chuồng chiên, ai qua cửa mà vào thì được cứu rỗi. Những hình ảnh ẩn dụ này nhằm mạc khải sứ mạng của Người là đến để ban tặng sự sống vĩnh cửu, hạnh phúc viên mãn cho nhân loại, đang lầm lũi bước đi trong bóng tối của tội lỗi, ma quỉ và sự chết. Chỉcó Chúa Giêsu, mục tử đích thực mới đưa nhân loại vào Nước Trời, cánh đồng bao la bát ngát, bằng cách tái sinh họ bởi nước và Thánh Thần. Cũng nơi Người, ai nấy đều tìm được thức ăn mang lại sự sống vĩnh cửu là Mình Máu Thánh của Người. Tìm được nguồn lương thực giúp mang lại hạnh phúc là lời Người, ánh sáng soi dẫn mọi người.

Tin và gắn bó với Chúa Giêsu nơi Bí tích Thánh thể, sống thực thi lời Người là những phương thế hữu hiệu và luôn có giá trị để đón nhận sự sống và hạnh phúc mà Người mang lại.

3. Nghe theo tiếng gọi của Chúa Giêsu mục tử nhân lành:

Từ dân Israel khi xưa cho đến trong xã hội hôm nay, luôn có những người tin theo Chúa Giêsu và những không tin theo Người. Tin theo Người thì được cứu rỗi, còn ngược lại thì không. Tin theo Chúa Giêsu là biết sống và thực thi lời Người. "Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta". Chiên đi theo mục tử vì quen tiếng của mục tử. Kitô hữu đi theo Chúa Giêsu vì quen tiếng của Người, hiểu lời của Người. Danh xưng Kitô hữu, các bí tích đã lãnh nhận không phải là những yếu tồ cần và đủ để được ơn cứu rỗi nếu như không tin và sống lời Chúa. Chính việc tin và thực hành theo lời Chúa là yếu tố quan trọng nhất. Mọi bí tích đều là bí tích đức tin nghĩa là đòi phải có đức tin mới mang lại hiệu quả. Kinh nguyện, dâng lễ cũng phải được khởi đi từ đức tin mới trở nên sức sống cho đời Kitô hữu.

Trước mặt Thiên Chúa thì những dáng vẻ bên ngoài không quan trọng mà chính là thái độ sống niềm tin của mình mới là điều quan trọng. Thái độ đó thể hiện ở chỗ biết nghe lời Chúa và mau mắn thi hành. Biết làm mọi sự theo sự hướng dẫn của lời chúa. Đó chính là điều cốt lõi để xác định mình có thuộc về đàn chiên của mục tử Giêsu hay không.

III. LỜI NGUYỆN TÍN HỮU:

Mở đầu: Anh chị em thân mến, tin tưởng vào Chúa Giêsu, mục tử nhân lành luôn yêu thương chăm sóc đoàn chiên, chúng ta cùng dâng lời cầu nguyện.

1. Giáo hội chính là chuồng chiên rộng lớn của Thiên Chúa được Chúa Giêsu, mục tử nhân lành chăm sóc. Chúng ta cùng cầu nguyện cho các vị chủ chăn trong Giáo hội, cách riêng là Đức Giáo hoàng, các Đức Giám mục giáo phận, các linh mục trong giáo xứ và cộng đoàn luôn đi theo ánh sáng lời Chúa để các ngài thực sự là hình ảnh sống động và trung thực của Chúa Giêsu, mục tử nhân lành.

2. Ngày nay còn biết bao nhiêu anh chịem nghèo đói, bị áp bức, bị ngược đãi trong xã hội, chung quanh chúng ta. Chúng ta cùng cầu nguyện cho họ luôn được mọi thành phần trong xã hội và các nhà lãnh đạo quan tâm chăm sóc.

3. Chúa Giêsu đến để cho chúng ta được sống và sống dồi dào. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta luôn hăng say học hỏi và nhiệt thành sống lời Chúa để có thể đón nhận và trao ban hạnh phúc, tình yêu và sự sống của Chúa cho mình và cho tha nhân.

Lời kết: Lạy Thiên Chúa là Cha giàu lòng nhân ái, chúng con vui mừng được làm con chiên của Chúa dưới sự chăm sóc của Chúa Giêsu, vị mục tử nhân lành. Xin ban Thánh Thần cho chúng con để chúng con biết vâng nghe lời Người, can đảm sống lời Người là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời

Hành Trang Mục Vụ - Khoá 10 ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn.