Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật IV Phục Sinh B

Tin mừng Ga 10: 1- 10 Nhân loại, tất cả mọi người, đều có giá trị dưới mắt Chúa Giêsu, cho đến độ Người có thể liều mạng sống của Người cho mỗi một người trong chúng ta.

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH – NĂM B

Cv 4,8-12 ; 1Ga 3,1-2 ; Ga 10,11-18




Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

 

NGƯỜI MỤC TỬ TỐT LÀNH

 (Ga 10,11-18)


CÂU HỎI GỢI Ý

1.Lời Chúa Giêsu tuyên bố mình là "mục tử tốt" nằm trên hậu cảnh Cựu ước nào ?

2. Đâu là các yếu tố hàm ẩn trong lời quả quyết "Ta là mục tử tốt" ?

3. "Các kẻ cha8n thuê" nơi cc.12-13 là ai ?

4.Việc các con chiên thuộc về Mục tử tốt dựa trên nền tảng nào ?

5. Đâu là nét đặc trưng của Chúa Giêsu – Mục tử tốt ?

6.Làm sao cắt nghĩa cc.17-18 ?

1. Trong Cựu ước, từ đầu Thiên Chúa đã tự mặc khải như mục tử của dân Ngài. Thật ra, chính tước hiệu "mục tử", thường đượng dân Đông phương cổ gán cho các thần của họ, chỉ gặp thấy nơi ba hoặc bốn bản văn thôi. Giacóp, lúc sắp lìa trần, nhớ lại những cử chỉ tốt lành của Thiên Chúa đối với ông và chúc lành cho hai con của Giuse với những lời lẽ: "ước gì Thiên Chúa . . . Đấng đã chăn dắt ta suốt cả bình sinh cho đến bây giờ, ước gì Thần sứ, Đấng đã cứu ta khỏi mọi sự dữ, chúc lành cho các trẻ này" (St 48,15). Cũng vậy, trong hai thánh vịnh: "Giavê là Đấng chăn dắt tôi" (23,1) và "Hỡi Mực tử của Israel, xin hãy nghe" (80,2). Nhưng thay cho tước hiệu, các hình ảnh về mục tử lại được dùng rất nhiều để diễn tả mối tương quan của Thiên Chúa với Israel. Nhờ có tính cách phong phú và sống động, các hình ảnh này khác biệt với những cách nói trừu tượng và ước định về mục tử được dùng trong thể văn tôn giáo và triều đình của Đông phương cổ xưa.

Thiên Chúa đã tự mặc khải là mục tử ngay trong việc chọn Môisen. Ngài đem ông ra khỏi đàn chiên để giao phó cho ông dân riêng của Ngài (Xh 3,1-2). Môisen sẽ là "mục tử của đàn chiên Ngài" (Is 63,11), sẽ cứu chúng khỏi ách đô hộ Ai-cập, sẽ "đem chúng ra và đem chúng vào" (Is 27,17), cung cấp nước (Xh 15,22-27; 17,1-3; Ds 20,2-5. 17; 21,5. 16-18.22; 33,14) và thức ăn, dẫn đưa chúng vào đất có đồng cỏ xanh tốt (Đnl 8,7-16; 11,10-15) nhân danh Giavê, "Mục tử đích thực của Israel" (Tv 80,2). Xuất hành sẽ là vĩ nghiệp mục tử của Thiên Chúa. Hôsê đã đối chiếu vĩ nghiệp này với câu chuyện của Giacóp: "Giacóp trốn qua cánh đồng Aram, Israel đã làm tôi vì một người đàn bà; vì một người đàn bà ông đã giữ chiên. Nhưng nhờ một ngôn sứ, Giavê đã đem Israel ra khỏi Ai cập, và nhờ một ngôn sứ, nó được giữ gìn" (Is 12, 13- 14). Việc ra khỏi Ai cập, qua biển đỏ, đi trong sa mạc là những cuộc di chuyển của đàn chiên Thiên Chúa: "Ngài lùa dân Ngài đi ví thể đàn chiên, Ngài dẫn dắt chừng như đàn cừu ngang qua sa mạc, (Tv 78,52). Ngài "đã vung cánh tay uy lẫm của Ngài bên phải Môisen, để chẻ sóng trước mặt chúng . . . Ngài dẫn chúng qua vực thẳm không vấp ngã, như ngựa chạy trong sa mạc, như bò bê xuống đồng bằng. Thần khí Giavê dẫn chúng đến nơi an nghỉ" (Is 63, 11-14). Và thánh vịnh 77 còn khuếch đại cảnh đó: "Trong biển có đường Ngài đi, lối Ngài tắt qua con nước lớn, vết chân của Ngài ai nào nhận ra. Ngài dẫn dân Ngài như thể đàn chiên, nhờ tay Môisen và Aaron" (Tv 77,20-21)

Cuộc trở về sau thời lưu đày cũng mặc lấy hình ảnh du mục đó Giavê sẽ tái diễn lại vĩ nghiệp của thời Xuất hành. Ngài tụ tập và dẫn đưa đoàn chiên bị phân tán của Ngài: "Đấng phân tán Israel, sẽ thâu họp nó. Ngài sẽ canh giữ nó như mục tử canh giữ đàn chiên. Vì Giavê đã cứu chuộc Giacóp" (Gr 3 1 , 10). Để diễn tả cuộc trở về này, Isaia đệ nhị lấy lại hình ảnh Giacóp về lại đất tiên tổ và hết lòng săn sóc đàn chiên của ông: "Đây Đức Chúa Giavê tiến đến trong uy hùng . . . như mục tử chăn dắt đàn chiên, ẵm chiên con trên ngực và dẫn đưa chiên mẹ đến chỗ nghỉ ngơi" (Is 40,11).

Nơi các ngôn sứ còn mở ra một viễn tượng khác và một chủ đề khác trong chiều hướng mục tử: chủ đề các mục tử xấu. Thiên Chúa đã giao phó đàn chiên Ngài cho con người: vua chúa, thủ lãnh, tư tế và ngôn sứ v.v. . . với nhiệm vụ quản trị, chăn dắt nhân danh Ngài. Nhưng niềm tin tưởng của Thiên Chúa đã bị dối gạt. Các mục tử "đã nổi dậy chống (Ngài)" (Gr 2,8); họ đã. "ngu dại", "dã không tìm kiếm Giavê nên đàn chiên của họ bị phân tán" và bị tiêu hủy (Gl: 10,21 ; 12, 10; 3,20; 23,1-4; 50,6; Ed 34,2-6; Is 56,11 ; Dcr 11, 15-17). Bấy giờ người ta thấy ghép lên chủ đề các mục tử xấu và hình phạt của họ (Gr 23,1-4; Ed 34,7-10) chủ đề Đấng Messia thuộc dòng Đavít, Đấng "sẽ dẫn dắt chiên và sẽ là mục tử của chúng" (Ed 34,23). Đavít "đã chăn dắt lsrael với lòng trọn hảo; và với bàn tay khôn khéo ông đã dẫn chúng đi" (Tv 78,70-72). Đavít mới, mục tử duy nhất của tất cả, sẽ đặt dưới uy quyền và sự che chở của Người tất cả đàn chiên được quy tụ của Thiên Chúa. Một giao ước hòa bình sẽ được kết lập. Chúng sẽ sống "yên ổn . . . chung quanh đồi" là thành thánh Sion, dưới bóng Đền thờ, no thỏa sự hiện diện của Thiên Chúa chúng và đây sẽ trung tín với luật của Ngài (Ed 34,24-31; 37,21-28; Dcr 13,7-9)

Ta thấy đó, hình ảnh người mục tử là một trong những biểu thức phong phú nhất của giao ước. Thiên Chúa đã liên kết với Israel như mục tử với đàn chiên mình. Và Israel, trong phụng vụ lẫn kinh nguyện, thường nhắc lại cho chính họ ơn gọi của họ, cùng tự khuyên nhủ đừng nên bắt chước thói cứng lòng của cha ông, "như tại Meriba, như ngày Massa trong sa mạc, (Tv 95,8) nhưng luôn tiến về nơi "an nghỉ" của Thiên Chúa trong sự trung thành với đường lối của Ngài; vì "chính Ngài là Thiên Chúa chúng ta và chúng ta là dân Ngài chăn giữ, là đàn chiên tay Ngài dẫn dắt" (Tv 95,7). Chắc hẳn không một nơi nào đức tin này được diễn tả cách thân tình và thấm thía cho bằng trong Tv 23. Một người Israel đạo đức, tâm hồn luôn hướng về Đền thờ (c.6), suy gẫm đến tình âu yếm và chăm sóc của Thiên Chúa ông: "Giavê là mục tử tôi, tôi không thiếu gì . . . Bên nước nơi an nghỉ Ngài dẫn tôi đến, Ngài bổ sức hồn tôi. Ngài dẫn dắt tôi trên đường ngay nẻo chính vì danh Ngài" (cc.1-3). Đó là chủ đề mà Chúa Giêsu sắp lấy làm của mình và biến dạng nó bằng cách hoàn tất nó.

2.Như thường thấy trong thánh Gioan, tâm điểm là lời xác quyết có tính cách thiên sai liên quan đến con người Chúa Giêsu: "Ta là mục tử tốt Chúa Giêsu là đấng Messia-mục tử mà hình ảnh đã được phác họa từ từ và nhân cách đã được dần dần xác định trong Cựu ước (Mca 5,3; Ed 34; Dcr 13) và là Đấng nắm trong tay vận mạng của đàn chiên Thiên Chúa sinh từ tốt không dịch đúng bản văn Hy lạp mấy. Bản văn Hy lạp dùng tính từ đẹp là tiếng gợi lên ý tưởng mục tử đích "thật, nghĩa là mục tử hoàn toàn xứng danh, mục tử trong đó rạng ngời sự trọn hảo và cao thượng của thân thế Người. Tuy nhiên, cách dịch tốt không phải là sai, vì tốt lành quả thực là đặc điểm của mục tử đích thực và nơi Chúa Gỉêsu-mục tử tỏ lộ ra sự tốt lành vô biên của Thiên Chúa.

Khi tự xưng là "Mục tứ tốt", Chúa Giêsu muốn bảo Người đảm nhận trọn vẹn trách nhiệm về đàn chiên Thiên Chúa, Người gánh vác nó hoàn toàn. Đó là một trong những ý nghĩa căn bản của công thức Ta là. Công thức này, nằm rải rác trong Tin mừng thứ tư, có nghĩa giải thích (nhưng không chỉ từng ấy) là : chính Ta là . . . , nghĩa làm sáng tỏ các bí ẩn của một dụ ngôn đi trước. Nó chẳng phải là một công thức suông để giới thiệu, để tuyên bố tước hiệu hay thuộc tính như công thức Ta là trong các lời "tự xưng tụng" của thần minh ngoại giáo đâu. Được mặc nhiên gắn liền với thành ngữ Ta là Giavê đã dùng để tự quả quyết là Thiên Chúa của Israel, là Cứu Chúa luôn chăm sóc dân Ngài, và được liên kết về phương diện văn chương với các lời tự xưng của Khôn ngoan thần linh trong Cựu ước, công thức này nói lên sự quyết định và cam kết, đồng thời cũng có giá trị mặc khải. Như tiếng ta là của Thiên Chúa, nó cũng là sự bảo đảm và đoan hứa: "Hôm nay cũng như hôm qua và ngày mai, Ta là và sẽ là mục tử tốt đối với các ngươi và bên các ngươi". Chính đó là điều làm cho công thức này có tính cách "thời sư " mãi mãi: vì luôn mới mẻ, nó không ngừng đem đến cho thế gian sứ điệp về sự hiện diện bất diệt của Cứu Chúa.

Ngoài ra, qua công thức "Ta là mục tử tốt" này, Chúa Giêsu còn đòi cho mình một quyền hoàn toàn và độc hữu trên đàn chiên, như Giavê trên Israel vậy. Chúa Giêsu là Chủ chiên. Khác với kẻ chăn thuê "không có chiên làm của mình" (c 12), Người nói "chiên của Ta" (cc.14-15.26-27). Chiên thuộc riêng về Người, chúng là sở hữu của Người. Ở đây cũng thế, các cách dịch đều khó lột hết ý nghĩa của tiếng Hy lạp.

3. Trong bản trình bày về tư cách Mục tử tốt này, Chúa Giêsu cũng tiến hành theo lối tương phản: sau khi cho thấy mình là Mục tử tốt, người mô tả tác phong của các mục tử xấu, mà chắc hẳn ám chỉ đến các tư tế Do thái (Sađucêô), những kẻ chính thức chăn dắt đàn chiên Israel. Vốn chỉ là kẻ chăn thuê, trước hết họ lo lắng về tiền công của họ, các tư lợi cho chức vụ đem đến, như thượng tế caipha sẽ nói rõ sau này: nếu ta cứ để hắn (Chúa Giêsu) hoạt động như vậy, thì mọi người sẽ tin vào hắn hết, và quân Rôma sẽ đến hủy diệt Nơi thánh cùng dân tộc ta" ( 11,48). Vì thế, để bảo vệ địa vị béo bở của mình nơi Đền thờ, họ sẵn sàng hy sinh lợi ích thiêng liêng của dân chúng. Đó là vì họ chẳng phải là những mục tử đúng nghĩa, nhưng sở hữu chủ lưu ý đến sự hưng thịnh của đàn chiên và liên kết cùng đàn chiên với tình yêu mến.

Những thái độ như vậy giải thích việc họ bỏ rơi dân chúng cho lũ sói hung tàn: "Thấy dân chúng, Chúa Giêsu chạnh lòng thương vì họ bơ phờ vất vưởng như đàn chiên không có chủ chăn" (Mt 9,36). Vì sự lơ là của các mục tử chính thức Israel bị phó mặc cho lòng tham lam, cấu xé của các ngôn sứ và thiên sai giả hiệu (Mt 24,10-12).

4. Việc các con chiên thuộc về chủ chăn tốt dựa trên nền tảng nào? Chúa Giêsu sẽ nói ra đây. Chiên là một ân huệ Thiên Chúa Cha đã ban và không ngừng ban cho Người (c.29, x 6,37.44; 17,6.9.11-12). Chúa Giêsu dã lãnh nhận chúng từ tay Ngài với quyền năng tác sinh mọi xác phàm ( 17,2). Đối với đàn chiên, Người cũng có những uy quyền như Cha, vì có mối liên lạc mật thiết nối kết Người với Cha, Đấng mà Người kết hiệp làm một (10,30). Chúng là một tồn khoản, một tài sản thiêng thánh đối với người. Thành thử như bao công thức Ta là khác của Tin mừng thứ tư công thức "Ta là mục tử tốt" không những nói lên một sự dấn thân và bảo đảm đối với đàn chiên, nhưng vì phát xuất từ đáy tâm hồn Chúa Giêsu, nên trước hết nói lên sự vâng phục và dấn thân trọn vẹn của Chúa Con đối với Chúa Cha, Đấng đã sai Người. Công thức này tuyên bố tiếng Amen long trọng của Chúa Con đối với sứ mệnh Người. Chúa Cha thấy Chúa Con là nơi lý trưởng để tự mặc khải mình ra, vì Người là kẻ tâm phúc: biết rõ mọi tư tưởng của Ngài )5,1-20), và là kẻ thực thi thánh ý Ngài (4,34; 6,39-40;10,18 ;14, 31).Việc mặc khải này không gặp một cản trở, một bóng tối, một bình phong nào cả. Thiên Chúa-mục tử sẽ được mặc khải và hành động hoàn toàn nơi Chúa Giêsu.

5. Vì hoàn toàn dấn thân cho đoàn chiên, bởi đã hoàn toàn dấn thân cho Chúa Cha Đấng trao ban chúng cho mình, nên "mục tử tốt thí mạng sống vì chiên" (cc. 11.15. 17-18 ). Người được nhận ra nhờ đặc điểm đó. Qua việc hiến mạng sống mình, Người bộc lộ tấm lòng chân thành và bất vụ lợi tuyệt đối Người đã có khi nhận và chăm sóc đàn chiên. Đàn này là "xương bởi xương Người và thịt bởi thịt Người" (x. St 2,23) theo cách Ađam nói với Eva. Những gì động đến đàn chiên cũng động đến Người ; mọi hiểm nguy hăm dọa đàn chiên đều làm cho Người lo lắng. Vì Người phục vụ đàn chiên. Người không giống kẻ chăn thuê, "kẻ chẳng phải là chủ chiên và chiên không thuộc về nó". Người này "vừa thấy sói đến liền bỏ chiên mà chạy trốn, và sói đến bắt chiên và làm tán loạn đàn chiên. Ay là vì hắn là kẻ làm công và chẳng màng đến chiên" (cc.12-13). Còn Chúa Giêsu hiến mạng sống mình cho đàn chiên đang gặp nguy hiểm. Ở đây cũng như trong khải huyền (7,17), hình ảnh mục tử hòa lẫn với hình ảnh chiên con. Là Đấng Messia tối thượng, có hết mọi quyền, Chúa Giêsu vẫn chỉ dùng ưu thế của mình để cứu giúp. Người là tôi tớ gánh lấy mọi tội ác của thân thuộc mình và tự hiến tế cho đàn chiên. Giacóp có vất vả nhiều vì đàn chiên, và Đavít có liều mạng chống lại với thú dữ cũng không bằng Người được. Trong Chúa Giêsu mục tử tốt, hoàn tất hình ảnh cứu chuộc của Tôi tớ khổ đau của Isaia (52, 13-53, 12).

Chúa Giêsu nhấn nạnh: sự hy sinh của Người là tuyệt đối tự do: "Ta thí mạng sống Ta . . . Không ai cất mạng sống Ta được" (cc.15.17-18). Dưới mắt thánh Gioan, đó là một nét thiết yếu trong cái chết của Chúa Giêsu. Cuộc tử nạn của người, như người ta đã bảo, là cử chỉ ung dung nhất của Người, là giờ hành động cao cả nhất của Người (14,31). Mạng sống của Người không bị tước đoạt, nhưng Người hiến nó, Người thí nó khi thấy mọi sự hoàn tất (19,30).

6. Là mục tử tốt trong cái chết, Người cũng là mục tử tốt trong sự sống lại. Vị mục tử đã muốn hy sinh chính là việc sống lại này: "Sở dĩ Cha yêu mến Ta, chính vì Ta thí mạng sống Ta để rồi lấy lại. Ta có quyền thí mạng sống Ta và cũng có quyền lấy lại. Đó là lệnh truyền Ta đã nhận nơi Cha Ta" (cc.17-18). Nhờ việc sống lại này, vốn cũng là của Người y như việc người hy sinh, mục tử tốt hoàn tất công cuộc cứu rỗi. Cái chết của Người chẳng phải là một mục đích, hay là một sự'đào tẩu khỏi thân phận làm người vốn liên kết Người với đàn chiên đâu. Chúa Giêsu khi chết không từ bỏ đàn chiên mình. Sự liên đội với loài người mà việc nhập thể đã tạo nên không bị bẻ gầy. Nếu khi chết, mục tử tốt từ giã thân thuộc (13,33; 16,7) thì chính là để đi mở cho họ cửa nhà Cha ( 14,2- 3). người sẽ trở lại với họ (14,3.18-28), sẽ ở trong họ (17,26) va họ sẽ sống mãi mãi chính sự sống của Người (14,19). Và Chúa Cha yêu mến Chúa Kitô chiến thắng quyền lực sự dữ ấy (16,11), Đấng đã cứu khỏi chết và đem về lại cho Ngài những con chiên mà Ngài đã giao cho Người rồi dẫn chúng đến những đồng cỏ của sự sống (c.9). Vì "ý Đấng đã sai Ta là: phàm sự gì Ngài đã ban cho Ta thì Ta không được để hư đi, nhưng sẽ cho sống lại ngày sau hết" (6,39-40). Đó là mệnh lệnh của Cha (c.18), là sứ mạng của Con và là vinh quang của cả hai Đấng (11,4; 15,8 ; 17, 1. 10). Cái chết của mục tử tốt chỉ là một giai đoạn. Mục đích là chính cuộc sống vĩnh cửu và sung mãn, chói ngời và hạnh phúc, xuất phát tư cái chết ấy như là kết quả của nó (12,24); mục tử tốt phân phát sự sống này với lòng quảng đại cho chiên của người (c.10).

CHÚ GIẢI CHI TIẾT.

"Thí mạng sống mình vì chiên": nguyên sự: "để tâm hồn mình cho"; nên đối chiếu thành ngữ với công thức "thí mạng sống" của Mc 10,45 là tiếng xem ra phát xuất từ Is 53,12 (Bài ca Người Tôi tớ).

"Ta biết chiên Ta": Theo truyền thống. Thánh kinh, sự hiểu biết giữa người với người bao hàm tình yêu: sự hiểu biết liên kết Chúa Giêsu với thân thuộc Người bất nguồn và tìm được sự sung mãn trong tình yêu nối kết Con với Cha.

"Ta còn những chiên khác không thuộc về ràn này" : Ràn này là ràn của Hội đường, của Israel, ám chỉ rõ ràng, đến tất cả dân ngoại sẽ tin vào Chúa Giêsu. Chúa Giêsu gọi họ là chiên của Người trước, vì họ đã thuộc về Người rồi do sự tiền định và do ý hướng tốt của tâm hồn họ. Vì thế, "họ sẽ nghe tiếng Người" khi Tin mừng được rao giảng cho họ.

"Ta thí mạng sống Ta": Ba lần (cc.11.15.17) Chúa Giêsu lặp lại công thức vừa nói (nguyên tự: Ta để hay gởi mạng sống Ta). Qua văn mạch ta thấy từ ngữ này, thuộc riêng về Gioan, tương đương với các từ ngữ gặp được trong Tin mừng nhất lãm (Mt 20,28; Mc lo,45). Ở đây Chúa Giêsu nhấn mạnh đến tính cách bộc phát và tự do của việc Người hy sinh. Dù chết vì vâng lệnh Cha (c.18), người vẫn hoàn toàn độc lập với những tác giả ngây nên cái chết cho người. Giuđa, các thủ lãnh Hội đường, Philatô, các lý hình chỉ bất buộc được điều Người muốn chịu và khi đến giờ của Người thôi (13, 1).

"Đó là lệnh truyền Ta đã nhận nơi Cha Ta": Các thần học gia không đồng ý với nhau về bản chất thánh ý này của Chúa Cha, được biểu lộ ra cho Chúa Con xét như là người: phải chăng đó là một mệnh lệnh hay là một ý thích của Chúa Giêsu Kitô? Dù người ta bảo thế nào, thì rõ ràng thánh Phaolô, với những từ ngữ minh xác nhất, vẫn nói đến sự "vâng phục của Chúa Kitô" trong công cuộc cứu chuộc thế gian nhờ chết trên thập giá (Rm 5, 19; Pl 2,8; Dt 5,8).

"Và có quyền lấy lại": Quyền Phục sinh là quyền hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, và vì thế đồng nhất trong Ba Ngôi. Bởi vậy Luca (Cv 2,24; 3,15; 4,10 v.v. . .) và Phaolô (Rm 4,24, 11; 2Cr 4,14 .. .) gán nó cho Chúa Cha và cho cả Thánh Thần ; còn Gioan ở đây lại gán cho Chúa Con.

KẾT LUẬN

Chỉ có vài trang Tin Mừng thôi mà Gioan cũng diễn tả một cách không kém mạnh dạn và đơn sơ cái hồng ân được có Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, như là sự mặc khải về nguồn tình yêu, sự sung mãn của ơn cứu rỗi và cả trung tâm xuất phát ánh sáng cùng sự sống. Nơi con người của Chúa Giêsu, chủ đề Thánh Kinh cổ xưa về Thiên Chúa Mục tử xuất hiện cách trẻ trung kỳ lạ và được hoàn tất ngoài sức hy vọng của loài người.

Ý HUỚNG BÀI GIẢNG

1. Nền văn minh chúng ta không còn biết đến những đàn chiên nữa. Chỉ biết đến một loại đàn khác là đàn xe, đàn người vô danh đông đảo trong các thành phố lớn. Ngày nay, để nói với chúng ta, chắc rằng Chúa Giêsu cũng sẽ lấy những hình ảnh rút ra từ cuộc sống thành thị hiện đại, nhưng giáo huấn Người vẫn như xưa. Và điều người dạy chúng ta, là Người vẫn luôn hiện diện giữa thế giới chúng ta hôm nay, cũng trà trộn vào thế giới chúng ta như xưa mục từ trà trộn với đoàn chiên mình. Một trong những đặc điểm của mục tử là tham dự vào cuộc sống của đàn chiên, hợp làm một với chúng. Ông không ở ngoài, nhưng đứng đầu đàn chiên qua sự so sánh này, Chúa Giêsu muốn dạy rằng Người hiện diện trong nhân loại và đứng đầu nhân loại. Không một ai trong thời đại nào thoát ra khỏi sự chăm sóc của Đấng muốn dẫn dắt mọi người đến nơi gặp được hạnh phúc đích thực cả. Chỉ cần một dữ kiện, là con người phải chấp nhận, nhất là nhờ đức tin, trở thành phần của "đàn chiên" mà Chúa Kitô là mục tử tốt.

2. "Ta biết chiên Ta . . . như Cha biết Ta". Chúng ta đi vào một vùng của tâm hồn, nơi có nhu cầu sâu xa nhất của con người đấy. Thật vậy, con người đau khổ vì cái gì nhất ? Thưa vì cảm thấy cô đơn. Không một cảm tình, một trực giác, một chú ý nào có thể tiến vào chốn thâm tâm của hữu thể chúng ta cả. Có một trung tâm của ý thức chúng ta mà không ai (ngay cả chúng ta) có khả năng vào được; và chính ở trung tâm ấy, chúng ta cảm thấy cô đơn. Các khoa học nhân văn, nhất là tâm lý học, cố gắng làm cho nổi lên trình diện tri thức khoa học những cấu tạo bí ẩn của vô thức. Dầu chúng ta thành công hay không, thì luôn luôn vẫn còn có một trung tâm bất khả giản lược, nơi con người cảm thấy cô đơn đối với chính mình, với các vấn đề và định mệnh của mình. Con người đau khổ vì không được ai biết rõ mình. Thế mà đây Chúa Giêsu lại nói Người biết rõ con người như Chúa Cha biết Chúa Con. "Như Cha biết Ta", điều này muốn bảo Chúa Giêsu biết con người với một tri thức trực tiếp đi đến tận đáy sâu của họ. Và tri thức này đầy tình yêu mến. Như thế Chúa Giêsu làm cho con người không còn cô đơn. Đấng đã biết rõ con người thì không kết án nó, nhưng ngược lại sẽ thương yêu nó với một tình yêu hoàn toàn và có tính cách cứu chuộc.

3. Chúng ta có nhạy cảm trước nỗi cô đơn của ngươi anh em ở chung quanh ta không họ sẽ cảm thấy phần nào được chúng ta biết đến, và do đó phần nào được thoát khỏi nỗi cô đơn của họ nếu chúng ta cố gắng biết họ như Chúa Giêsu đã biết họ . . . Nghĩa là nếu chúng ta đặt mình trong cái nhìn đầy yêu mến của Chúa Giêsu đối với họ.

4. Dù là gì đi nữa: linh mục, giáo chức, cha mẹ hay chỉ là anh em của những người anh em, tất cả chúng ta đều có trách nhiệm về những kẻ chung quanh, và do đó là mục tử trong mức độ trách nhiệm của chúng ta. Và vì là mục tử, chúng ta phải yêu thương anh em chúng ta đến độ sẵn sàng hiến mạng sống mình cho họ theo gương Chúa Giêsu.

5. Hy tế Thánh lễ, việc tái diễn theo nghi thức hy tế thập giá, dẫn đưa chúng ta một cách hiện thực vào mầu nhiệm chết vì đàn chiên của Mục tử tốt. Việc gặp gỡ có tính cách cộng đồng và cá nhân giữa chúng ta với Người phải tăng thêm sự thân tình với Mục tử của chúng ta và dần dần biến đổi chúng ta thành những mục tử tốt, hoàn toàn hiến thân cho anh em Có như vậy, chúng ta mới tìm được hạnh phúc đích thực, hoàn toàn:


Noel Quession - Chú Giải

Ga 10,11-18


Khi ấy Chúa Giêsu nói : "Tôi chính là...".

Các bạn hãy đọc lại thật chậm hai chữ này : "Tôi là" các bạn hãy đặt hai chữ này lên môi miệng Chúa Giêsu. Vấn đề lớn được đạt ra đối với Chúa Giêsu đó là lai lịch của Người : Người là ai ? Tất cả những ai đã đến gần Người đều phải ngạc nhiên vì sự bí mật về bản thân của Người. Người đã có những hành vi lạ lùng, Người đã nói "nói như chưa có ai đã nói như thế bao giờ". Đôi khi Người như có vẻ chiếm chỗ của Thiên Chúa.

Vì thế, Người đã nhiều lần dùng những cách nói, những công thức mà nghe lướt qua, chúng ta không hiểu hết ý nghĩa.

" Ta là Bánh . . . " . - "Ta là ánh sáng trần ai an. . . " .

"Ta là cửa . . . " . "Ta là Đấng chăn chiên lành . . . " .

"Ta là cây nho...". "Ta là sự Phục sinh và là sự sống. . . " .

Tất cả những kiểu nói ấy bắt đầu bằng 2 chữ Hy Lạp "Ego eimi", có nghĩa "Tôi là".

Chúng ta đừng quên rằng Chúa Giêsu đã phát âm những từ này theo tiếng "Aramên", ngôn ngữ giống như tiếng Hêbơrơ và danh từ riêng "Thiên Chúa là nhóm chữ không quên được Y H W H", từ bốn chữ này không ai đã dám đọc lên và có nghĩa là "Ta là" (Xuất hành 3-14). Trước bụi gai bốc lửa trong sa mạc, Môsê đã hỏi Thiên Chúa : "Tên của Người là gì ? Và câu trả lời bí nhiệm từ lửa đã thốt ra : "Ta là Đấng Hằng Hữu", bằng tiếng Hêbơrơ, có 4 phụ âm mà người Do Thái không bao giờ đọc lên, và trong những bản Thánh Kinh của chúng ta ngày nay, vì tôn trọng tính trung thực của các từ ngữ đó (Thiên Chúa khó diễn tả), đôi lúc người ta đã giữ nguyên hình thức ban đầu : Để mắt nhìn, thì hiểu là "Yahweh ! nhưng thực sự đọc lên thì phải thốt ra là "Đức Chúa".

Không tự xưng danh rõ ràng, nhưng qua những lời này Chúa Giêsu đã dám tuyên bố rằng Người là "Đấng Cứu Độ duy nhất cho con người, loại trừ tất cả những vị Chúa giả hiệu, những Đấng Cứu Độ không chính danh, những lãnh tụ sai lạc của nhân loại, người là "Đấng chăn chiên" duy nhất.

Tôi chính là ngươi mục tử nhân lành, người chăn chiên thực sự.

Biểu tượng "người mục tử dẫn đàn chiên" đã có từ lâu trong khắp miền phương Đông ngày xưa, để mô tả những "Thần Thánh" và "Vua Chúa".

Trong Thánh kinh cũng vậy, biểu tượng này cũng được áp dụng cho Chúa : "Chúa là mục tử của tôi, tôi không còn thiếu thốn chi" (Tv 22,1). "Giờ đây, chính Ta sẽ chăm sóc cho con chiên của Ta" Chúa đã nói (ê-dê-ki-en 34). "Giờ đây Chúa của các ngươi đến. Như một người mục tử, Người cho đàn chiên ăn cỏ - Với cánh tay quyền lực của Người, Người tập họp chiên lại, Người ôm vào ngực những chiên con, Người mang đến sự tươi mát cho những chiên cái còn cho con bú" (I-sai-a 40,11).

Chúng ta đừng bao giờ quên những trích dẫn này trong Kinh thánh mà bất cứ người Do Thái nào, nhất là Chúa Giêsu, cũng phải nhớ luôn luôn. Đối với những hình giả của Chúa Giêsu, lời tuyên bố này đã có một ý nghĩa "thần học" rõ ràng : Người nói Người là "Đấng Mêsia", "sứ giả của Thiên Chúa" để dẫn đắt 'loài người đến với cuộc sống thật. Câu trước liền câu này, (rất tiếc là sách "bài đọc" đã không bắt đầu trước một câu) đã được chính môi miệng Chúa Giêsu nói ra như tóm tắt hoàn hảo nhất của bộ Tin Mừng, và sứ mệnh mà Người đảm nhận : "Ta đã đến cho loài người, có được cuộc sống, và cho loài người có cuộc sống dồi dào" (Ga 10,10).

Chúng ta cũng biết loài người cần đến những người chỉ đạo như thế nào, những Đấng do Chúa sai đến, có khả năng phân tách tình hình, dự đoán tương lai, trừ khử những hiểm nguy đang hăm dọa và mang đến sự an toàn. Cá nhân tôi rất chán ghét những điều ngu xuẩn mà các đài phát thanh và truyền hình thường phổ biến ào ạt. Khi một số nhân vật, chỉ là những "con người" như chúng ta đã tỏ ra dường như nắm được chân lý, biết không gì sẽ xảy ra, những gì phải làm: Chỉ cần loại bỏ điều này, điều kia . . . và mọi việc sẽ ổn, "chỉ cần làm thế này" hoặc ' "sai lạc ở chỗ này, chỗ kia"...

Lời khẳng' định sau đây của thánh Phêrô trong bài đọc 1 hôm nay vang lên như một lời cảnh tỉnh trong bối cảnh hư hỏng và phá sản những giá trị thiêng liêng : "Chúa Giêsu chính là viên đá mà các người tự xưng là những người xây dựng thế giới đã chê bỏ, nhưng Người đã trở nên viên đá góc. Ngoài Người ra, không có sự cứu rỗi nào cả".

Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và không có chiên thuộc về riêng mình, nên thấy sói đến là bỏ chiên mà chạy... .

"Người chăn chiên lành" ở đây được Chúa Giêsu giới thiệu để đối lại với các "vị câu thế" giả hiệu, những người này hứa hẹn toàn "những điều kỳ diệu". Giờ nguy hiểm là giờ sự thật : Người chăn chiên giả hiệu, "người làm thuê" chỉ làm công việc để kiếm tiền, và tìm lợi riêng. Anh ta không cần gì đến đàn chiên, và đôi khi anh ta sẵn sàng phụ lực với chó sói để tru lên. Trong mọi trường hợp, anh ta sẽ không liều mạng sống của mình, nhưng trước hết anh ta sẽ tự cứu chính mình. Vì anh ta là kẻ làm thuê và không thiết gì đến chiên. Còn người mục tử nhân lành hy sinh mạng sống cho đàn chiên.

Trong trang này, bốn lần Chúa Giêsu nói : "Người hy sinh mạng sống của chính Người". Chúng ta không nên dừng lại ở những hình ảnh thôn dã điền viên, những "chuồng chiên" lãng mạn này. Bầu khí bây giờ thật bi thảm : "Chúa Giêsu đang nghĩ đến người mục tử chịu chết để cứu đàn chiên của mình. Hình ảnh lạ lùng, khác thường quá. Chúng ta thường nghĩ rằng : Khi một người chăn chiên chết, anh ta không thể bảo vệ đàn chiên được nữa. Nhưng Chúa Giêsu nói : Nhờ cái chết của Người, Người sẽ cứu chúng ta. Chúa Giêsu mạc khải điều này trong hoàn cảnh : Sự thù địch của những lãnh tụ tôn giáo càng lúc càng tăng, sau khi Chúa chữa lành một người mù bẩm sinh (Ga 9).

Mạng sống của tôi không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình.

Đối với Chúa Giêsu, cái chết không phải là một sự bất ngờ, cũng không phải là một ép buộc phải chịu, hay phải chấp nhận. Người đã làm cho cái chết trở thành một sự hiến dâng hoàn toàn ý thức và tự do. Cái chết của Người là một "tác động" yêu thương, yêu thương đến cùng. "Không có tình yêu nào cao cả hơn là cho những người tự hiến chính mạng sống của minh" (Ga 13,1. 15,13).

Bản văn bằng tiếng Hy Lạp của Thánh Gioan ở đây mạnh nghĩa hơn là những bản dịch có thể diễn tả. Nguyên văn có những từ sau đây : "Ta tháo gỡ linh hồn Ta ra". "Ta hiến dâng mạng sống của Ta". Cách nói khác thường này cũng ám chỉ trực tiếp bài thơ thứ IV của người đầy tớ (I sai-a 53,10), người này "hiến dâng mạng sống của mình để hy sinh cho quần chúng. Còn chúng ta thì sao ? Phải chăng chúng ta sẽ giữ lại mạng sống và cái chết của chúng ta "cho chính chúng ta ?". Chúng ta sẽ hiến dâng cái chết của chúng ta cho ai ? Chúng ta có yêu thương người khác đủ để có thể thực hiện sự dâng hiến - tối thượng này không ?

Tôi chính là người mục tử nhân lành. Tôi biết chiên của Tôi, và chiên của Tôi biết Tôi .

Khác với người làm thuê, "không thiết tha gì đến những con chiên". Nhân loại, tất cả mọi người, đều có giá trị dưới mắt Chúa Giêsu, cho đến độ Người có thể liều mạng sống của Người cho mỗi một người trong chúng ta. Lạy Chúa, Chúa đã liều mạng sống của Chúa vì con sao ?

Đúng, Ta đã yêu thường con thật tình, không phải chuyện đùa giỡn.

Qua nhưng lời thắm thiết nồng nàn "Ta biết chiên của ta" chứng tỏ tình yêu đã tiến rất xa. Động từ 'biệt" trong Kinh thánh không chỉ có nghĩa là biết bằng tri thức mà là sự "biết" của một người thương yêu một người khác đến độ như đã cộng sinh ra với người đó" và dấn thân hoàn toàn vì người đó, như một người chồng nói về vợ mình : "Bây giờ anh biết em, anh trở thành một tạo vật mới, đấy là sự hy sinh ra lần thứ hai". Sự hiện diện mật thiết của người này trong người kia, một sự cảm thông hỗ tương, một sự hiệp thông trong tư tưởng và tâm hồn. Đấy là "cùng sống với người đó" và "dấn thân vì người đó".

Như Chúa Cha biết Tôi, và Tôi biết Chúa Cha.

Đấy là một gương mẫu. Sự thương yêu mật thiết và sống động giữa Ngôi Cha và Ngôi Con trong mầu nhiệm Ba Ngôi. Sự mật thiết giữa Chúa Giêsu và những người Chúa cứu chuộc bằng cái chết của Người, những người mà Chúa cho sinh ra". nhờ cái chết của Người, đó cũng chính là sự kết hợp mật thiết hiện có giữa các ngôi vị Thiên Chúa. Vâng chúng: ta hãy nói về sự mật thiết sâu sa này : Khi nghe gọi "Ma ria",' Mađalêna đã nhận ra ngay đó là tiếng nói của Chúa Giêsu "Phục sinh (Ga 20,16). Tôi cũng thế, tôi cũng được Chúa biết rõ tên riêng của tôi.

Tạ ơn Chúa, vì tình thương này.

Tôi còn có những chiên khác không thuộc đàn này. Tôi cũng phải đưa chúng về, chúng sẽ nghe tiếng Tôi và sẽ chỉ có một đàn chiên, và một người mục tử. 

Trái tim Chúa Giêsu yêu thương mọi người. Tương quan sống động, việc hiệp thông sự sống giữa người mục tử và những con : chiên, "sự quen biết riêng" với từng con chiên, Chúa Giêsu xác quyết rằng sự "quen biết" này sẽ lan ra đối với tất cả mọi người không ngoại trừ ai cả . Sứ mệnh cứu độ của Người phải vươn tới tầm mục hoàn cầu. Chữ "Oicouménè" Hy Lạp có nghĩa là "toàn địa cầu có người ở". Một lần nữa, đây là cách nói bí nhiệm của Chúa Giêsu, làm cho chúng ta tự hỏi : "Người là ai, mà có những tham vọng như thế ?"Người cố "hơn" Người thợ mộc khiêm nhường ở Na-za-rét không ? Xét theo bề ngoài dường như Chúa Giêsu sắp chết trong sự thất bại hoàn toàn, bằng một cái chết nhục nhã và bị chế nhạo, một cái chết "vô ích" ? Ở thế kỷ II, có một lời ghi trên một phần mộ, ký tên Abercius : "Tôi là môn đệ của một thánh Mục Tử có mắt rất to, nhìn thấy khắp nơi". Chúa Giêsu cũng vậy, Người có mắt rất to : Mỗi người một ngày nào đó, dù hư hỏng đến đâu, cũng sẽ nghe "tiếng của Người" và sẽ tự cảm thấy được Chúa thương yêu và "đoái nhìn đến", chúng ta chỉ thấy có một phần nhỏ đàn chiên của Người, Công đồng Vatican nói : Đàn chiên nhỏ,. . . đám đông vô tận.

Sở dĩ Chúa Cha yêu mến Tôi, chính vì Tôi hy sinh mạng sống. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là lệnh của Cha Tôi mà Tôi đã nhận được.

Người thí bỏ mạng và lấy lại mạng sống của Người đễ dàng như "tháo cởi và mặc lại" Áo quần. Chính những từ này đã được dùng chiều thứ Năm Tuần Thánh trong Tin Mừng theo Thánh Gioan 13,4-12.



Giáo phận Nha Trang - Chú Giải
 

" Mục tử tốt lành thí mạng sống vì chiên "


BÀI TIN MỪNG : Ga 10, 11 - 18 

I . Ý CHÍNH : 

Người Do thái thời Chúa Giêsu thường có thái độ ghi ngờ về thân thế, việc làm, uy quyền, và sứ mạng của Chúa Giêsu . Bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu dùng dụ ngôn về người chăn chiên tốt lành để họ thấy rõ uy quyền đích thực của Người .

II . SUY NIỆM : 

1 / " Ta là Mục tử tốt lành " : 

Mục tử là người chăn chiên . Hình ảnh này rất quen thuộc đối với người Do thái vì họ quen sống nghề chăn nuôi nhất là chăn chiên .

+ Trong Cựu ước, Mục tử là hình ảnh của Thiên Chúa . Đấng chăn dắt dân Người :

* Tv 23, 1 : Giavê là Đấng chăn dắt tôi .

* Tv 78, 52 : Người là lùa dân Người đi ví thể đoàn chiên 

* Is 40, 11 : Đây Đức Giavê tiến đến trong uy hùng ... như mục tử chăn dắt đoàn chiên, ẵm chiên con trên ngực và dẫn đưa chiên mẹ đến chỗ nghỉ ngơi .

+ Trong Tân ước mục tử là hình Chúa Giêsu Kitô, Đấng Thiên sai :

* Mt 15, 24 ; Lc 19, 10 : Ta chỉ được sai đến cho những chiên lạc nhà Israel mà thôi .

* Ga 10, 11 : Ta là Mục tử tốt lành .

* Mục tử tốt lành nói lên ý nghĩa người Mục tử đích thực, Mục tử hoàn toàn xứng danh : Chúa Giêsu muốn tự mạc khải mình là người Mục tử hoàn hảo theo ý nghĩa trọn vẹn này .

2 / Để diễn tả ý nghĩa đích thực của người Mục tử, Chúa Giêsu đã chứng minh ba đặc tính của Mục tử : 

a / Mục tử tốt lành thí mạng sống mình vì chiên : Người có ý nói đến sứ mệnh cứu chuộc của Người vì Người đã hiến mạng sống mình để cứu chuộc muôn dân .

Kẻ làm thuê không phải là chủ chăn : Chúa Giêsu dùng kiểu nói tương phản để làm nổi bật ý nghĩa tốt lành của Người . Chúa miêu tả tác phong của các Mục tử xấu, có ý ám chỉ đến các tư tế Do thái, các Tiên tri và thiên sai giả hiệu ( Mt 24, 10 - 12 ) . Những người này vốn chỉ một người chăn thuê, họ chỉ lo lắng các tư lợi do chức vụ đem đến, chứ không tha thiết gì đến đàn chiên, vì vậy khi gặp nguy hiểm họ chạy trốn và để đàn chiên tản mát .

b/ Ta biết các chiên Ta và các chiên Ta biết Ta : ở đây có ý nói đến sự thông hiệp giữa Chúa chiên và con chiên, thông hiệp giữa Chúa Giêsu và dân Người . Sự thông hiệp này được rập theo khuôn mẫu sự thông hiệp giữa Chúa Cha và Chúa Con . Nhờ công cuộc cứu chuộc của Chúa Kitô mà người Kitô hữu được tham dự vào sự sống của Ba ngôi Thiên Chúa, được làm nghĩa tử của Thiên Chúa Cha .

c/ Ta còn nhiều chiên khác chưa thuộc đàn này :

* " Đàn này " là dân Israel, ám chỉ Giáo Hội sau này nói lên tính cách phổ quát của Giáo Hội .

* " Chiên khác " ám chỉ tất cả dân ngoại sẽ tin vào Chúa Giêsu . Chúa Giêsu gọi là chiên của Người, trước nhất vì họ đã thuộc về Người rồi do sự tiền định, do ý hướng tốt của tâm hồn họ . Vì thế họ sẽ nghe tiếng Người khi Tin Mừng được rao giảng cho họ .

* Và chỉ có một đàn chiên và một chủ chiên : Chúa Giêsu đòi cho mình một quyền hoàn toàn và độc hữu trên đoàn chiên, chỉ có một Thiên Chúa độc nhất và một Giáo Hội duy nhất .

3 / " Vì lẽ này mà Cha yêu mến Ta " : 

Lý do mà Chúa Giêsu " Là Con yêu dấu của Ta " và " Đẹp lòng Ta " là vì :

a / Ta thí mạng sống : Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh đến tính cách bộc phát và tự do của việc Người hy sinh chịu chết : " Không ai cất mạng sống khỏi Ta " nhưng " Tự Ta " tức là dù chết vì vâng lệnh Chúa Cha . Người vẫn hoàn toàn độc lập với những kẻ đã gây lên cái chết cho Người . Giuđa, các thủ lãnh hội đường, Philatô, các lý hình chỉ bắt buộc được điều Người muốn chịu và khi đến giờ của Người thôi . ( Ga 13, 1 ) .

b/ Để rồi sẽ lấy lại : quyền phục sinh là quyền hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa .

Với hai lý do trên đây, Chúa Giêsu cho chúng ta nhận ra rằng : việc Chúa Giêsu chịu chết và sống lại hoàn toàn được thúc đẩy do tình yêu thương cứu chuộc của Người . Nếu khi chết, Mục tử tốt từ giã thân thuộc ( Ga 13, 33 ; 16, 6 - 7 ) thì chính là lúc Người đi mở cửa nhà Cha cho họ ( Ga 14, 2- 3 ) . Người sẽ trở lại với họ ( Ga 14, 3 ; 18 - 28 ) sẽ ở trong họ ( Ga 17, 26 ) và họ sẽ sống mãi mãi chính sự sống của Người ( Ga 14, 19 ) . Và Chúa Cha yêu mến Chúa Kitô chiến thắng sự chết và hoàn tất công cuộc cứu rỗi nhân loại .

4 / " Đó là mệnh lệnh Ta đã nhận nơi Cha Ta " : 

Ở đây có ý nhận mạnh đến tính cách vâng phục của Chúa Kitô trong công cuộc cứu chuộc nhân loại .

III . ÁP DỤNG : 

A/ Áp dụng theo Tin Mừng : 

1 / Giáo Hội muốn chọn bài Tin Mừng này để nhắc nhở chúng ta : 

a/ Phải xác tín vào tình thương yêu chăm sóc của Thiên Chúa đối với nhân loại và nhất là đối với mọi người chúng ta .

b/ Phải biết noi gương Chúa Giêsu để chăm sóc cho phần rỗi của những người mà ta có bổn phận liên đối .

2 / Giáo Hội đã chọn Chúa nhật với bài Tin Mừng này để cầu nguyện cho ơn thiên triệu là để mời gọi và thúc đẩy về ơn kêu gọi dâng mình cho Thiên Chúa trong việc phục vụ các linh hồn . Vì vậy tham dự thánh lễ Chúa nhật hôm nay chúng ta cầu nguyện :

+ Xin Chúa ban ơn để có nhiều tâm hồn biết quảng đại dâng mình cho Chúa sống ơn gọi làm tông đồ .

+ Xin Chúa ban ơn để những người đang sống ơn gọi được sự bền đỗ và lòng nhiệt thành hăng hái trong việc tông đồ .

+ Xin Chúa ơn để mỗi người chúng ta sống chung thực và xứng đáng với ơn gọi của mình .

B/ Áp dụng thực hành : 

1 / Nhìn vào Chúa Giêsu : 


a / Ta là Mục tử tốt lành : là giáo sĩ, Tu sĩ hay giáo dân, mỗi người phải xác định lại vị trí của mình để sống trung thực với ơn gọi của mình cho thật đúng ý nghĩa .

b/ Ta thí mạng sống vì chiên : chúng ta cũng phải thực sự thí mạng sống bằng cách sẵn sàng hy sinh về thể xác như bị hao mòn . Về danh dự như bị hiểu lầm, bị bỏ vạ, về vật chất như bị thiệt thòi mất mát của cải đồ dùng ... để duy trì tình yêu thương, sự hợp nhất và sự thánh hoá tha nhân .

c/ Ta biết chiên Ta : " Biết " bao hàm ý nghĩa trí tuệ và tình yêu . Chúng ta cần thấu hiểu và yêu thương những người chung quanh để nhờ đó chúng ta mới có ảnh hưởng trong việc tông đồ đối với họ .

d/ Ta còn những chiên khác không thuộc đàn này : chúng ta không chỉ sống với những người mình đang ưa thích mà còn phải sống với cả những người mình không ưa nữa .
Chúng ta phải thao thức trong việc duy trì, thăng tiến và phát triển cộng đoàn mình đang sống .

h / Nhưng tự Ta, Ta thí mạng sống : sống vì tự hiến hơn là vì bó buộc . Làm với tinh thần tự hiến vì tình yêu hơn là làm vì bổn phận hay vì bó buộc .

2 / Nhìn vào kẻ làm thuê : 

Chúng ta là kẻ làm thuê khi chúng ta :

* Không hận lãnh trách nhiệm đối với tha nhân .

* Không sẵn sàng hy sinh vì và cho tha nhân .

* Không chấp nhận những khó khăn trong việc phục vụ tha nhân, hoặc trốn tránh trách nhiệm . 

3 / Nhìn vào con chiên : 

* Ý thức được tình yêu chăm sóc của Chúa Giêsu để cảm mến .

* Nhận biết Chúa chiên bằng yêu mến và học hỏi qua giáo lý, và Tin Mừng hàng ngày .

* Nhận mình là con chiên tốt lành, chúng ta phải :

- Hiến mạng sống mình vì Chúa chiên bằng cách sống đời dâng hiến cho Chúa cách ý thức trọn vẹn, và sống tử đạo mỗi ngày .

- Nhận biết Chúa chiên bằng cách sống kết hợp với Chúa trong lời cầu nguyện, trong việc suy gẫm, trong việc học hỏi giáo lý và suy niệm Tin Mừng hàng ngày .

- Làm vinh danh Chúa bằng đời sống tông đồ truyền giáo qua đời sống chúng ta .

IV. Lời cầu chung :

Mở đầu : Thiên Chúa Cha đã ban cho chúng ta người Con Một làm Mục tử dẫn dắt chúng ta đi trên đường ngay nẻo chính. Tin tưởng vào sự lãnh đạo tài ba và nhân ái của Thiên Chúa qua Đức Giêsu, chúng ta cùng dâng lời cầu nguyện. 

1. Cầu cho các vị chủ chăn trong Họi thánh. Để các vị chủ chăn hiến mình trọn vẹn cho sứ mạng phục vụ, không bận tâm lo lắng cho cá nhân mình và trung thành với Lời Chúa, chúng ta cùng dâng lời cầu nguyện.

2. Cầu cho đoàn chiên. Để những con chiên chưa thuộc về đoàn chiên duy nhất được dẫn đưa về, để các con chiên đau ốm bệnh tật được chăm sóc, mỗi con chiên được quan tâm đúng nhu cầu của mình, chúng ta cùng dâng lời cầu nguyện. 

3. Cầu cho cộng đoàn chúng ta. Để mỗi anh chị em, qua các hoạt động, chúng ta là những chứng nhân của tình yêu Thiên Chúa, và để thế giới tin vào Tin mừng, chúng ta cùng dâng lời cầu nguyện.


Lời kết : Lạy Chúa Cha cực thánh, Cha biết chúng con cần những mục tử tốt, nhưng Cha cũng biết chúng con cần trở thành những con chiên ngoan. Xin giúp chúng con, mục tử và đoàn chiên, biết luôn sống lời Chúa để có thể trở nên một đoàn chiên dưới quyền lãnh đạo của Đức Kitô, là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen.


Hành Trang Mục Vụ - Khoá 10 ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn.