Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật IV Thường Niên A

Tin mừng Mt 5: 1-12 Trong bài Tin Mừng hôm nay, Mt ghi lại phần đầu bài giảng trên núi của Chúa Giêsu nói về những mối phúc thật như là một hiến Chương Nước Trời.
CHÚ GIẢI TIN MỪNG
 

CHÚA NHẬT TUẦN IV THƯỜNG NIÊN A
 

 

(Mt 5, 1-12)


 

Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

TÁM MỐI PHÚC THẬT

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Tuyên bố kẻ nào đó "có phúc" nghĩa là gì? "Phúc thật" nghĩa là sao (x. 11, 6 ; 13, 16 ; 16, 17 ; 26, 46) ? Đâu là tương quan giữa hai phần, được nối kết nhau bằng chữ "vì " của mỗi chân phúc? Ta có thể nói đến một thứ luân lý của các mối phúc thật không ?

2. Đâu là nghĩa hàm súc riêng biệt của "kẻ nghèo" trong quan niệm Kinh Thánh ? Phải chăng đó là một giai cấp xã hội ? Một giai cấp tôn giáo? Về tình trạng tôn giáo của người nghèo trong Cựu ước, xem Am 4, 1 ; 8, 4 ; Is 3, 14tt ; 10, 2 ; sau lưu đày: Is 41,17; 42, 21- 23 ; 50, 6 ; 53, 7 ; Edr 3, 3 ; Hg 1, 6.9- 10 ; Is 59, 3- 8. 12- 15; Ml 2, 17 ; 3, 5 ; 4, 1 -3 ; Nh 5 , 1 -5 ; 13, 4-9 . 28- 29 ; Tv 11 ; Tv 93 ... Hãy thử biểu thị đặc tính của kẻ nghèo theo Thiên Chúa (x. Cn 30, 7- 8).

3. Việc bắt bớ các tín hữu liên hệ đến Chúa Kitô như thế nào? Mt có bàn đến mối liên hệ đó không?

4. Hãy đặt các mối phúc thật vào trong lời giải thích toàn bộ của Diễn từ trên núi (đối nghịch giữa sự công chính cũ và sự công chính Kitô giáo ; việc cắt đứt mối hên hệ cổ truyền giữa nhân đức-thịnh vượng).

5 . Cho tới đây tức là trong mấy chương trước (1- 4), Mt đã cho ta thấy Chúa Giêsu sống các mối phúc thật thế nào ?

6. Như Mt trình bày, Chúa Giêsu đã sống các mối phúc thật trong quãng đời tại thế còn lại của Người ra sao?

7. Đâu là các bậc thang giá trị, các thái độ hay não trạng hiện thời đì ngược với tinh thần các mối chân phúc ?

1. Phúc thật là một thể văn quen thuộc của Cựu ước ; người ta tìm được 45 công thức "phúc thật" (macarisme, do Hy ngữ "makarios", "'hạnh phúc") trong bản Kinh thánh hy bá, mà 26 công thức đã nằm trong Thánh vịnh (vd Đnl 33, 29 ; Tv 1, 1 ; 41, 2 ; 84,13 ; 112, 1 ; 119, 1- 2 ; 128, 1 ; Cn 3,13 ; Hc 14, 20 ; 25, 7- 11 v.v.) Nó diễn tả việc mặc khải hay khám phá một hạnh phúc rất sâu xa, căn bản, mà con người trong Kinh Thánh quy về cho Thiên Chúa. Văn chương khôn ngoan dính cho nó một chỗ quan trọng, đặc biệt trong các Thánh vịnh sáng tác sau cùng, và thể văn cũng gặp lại trong các ngụy thư ; riêng bản Kinh Thánh Hy lạp (LXX) có khoảng 60 công thức "phúc thật". Còn về hình thức của các mối phúc thật Tin Mừng trong diễn từ ta đang nghiên cứu, nó khá gần vời hình thức được khai triển trong Tv 41, 2 : "Phúc thay người biết lo đến kẻ mọn hèn nghèo khó : vào ngày hoạn nạn, Chúa sẽ giải thoát cho".

2. Bản văn 9 lần làm nổi bật từ ngữ "phúc cho". Thật thế, sứ điệp của Chúa Giêsu ở đây có vê tập trung vào "hạnh phúc thật": hạnh phúc theo nghĩa tôn giáo, thứ hạnh phúc đặt con người trong tương quan đích thực với Thiên Chúa, và do đấy, với toàn thể thực tại.

3. Trong mối chân phúc đầu và cuối, Chúa Giêsu dạy rằng Nước Trời đã hiện diện, đồng thời quả quyết nó còn được hứa ở tương lai, trong 6 chân phúc khác. Sự căng thẳng ấy biểu lộ tính cách vừa tuyệt đối vừa lịch sử của Nước Trời, nước mà Mt, lấy lại thành ngữ của Do thái giáo, bảo rằng vừa "thuộc trời" vừa biểu dương trên mặt đất trong con người Chúa Giêsu. Sự căng thẳng ấy biểu lộ cái mà ta gọi là tính cách "cánh chung ; của Nước Thiên Chúa. Nước ấy đã bắt đầu và hiện diện trong con người Chúa Giêsu, song chỉ hoàn thành viên mãn vào ngày Quang lâm, khi Con Người trao nó lại cho Chúa Cha (1Cr 15, 24) và lúc Thiên Chúa trở nên mọi sự trong mọi người (1Cr 15, 28). Lối đóng khung của câu 3 và 10 : "Vì nước Trời là của họ" xem ra muốn bảo mối phúc đầu và mối phúc cuối, cũng như 6 mối phúc khác được chúng bao trùm, diễn tả cùng một thực tại dưới nhiều sắc thái khác nhau.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

"Thấy dân chúng ": Việc đề cập đám đông này, được lặp lại vào cuối diễn từ theo kiểu đóng khung (5, 1 và 7, 28), nhấn mạnh một cách kín đáo tầm mức phổ quát của sứ điệp và của giáo huấn Chúa Giêsu. Và điểm đó phủ nhận lập trường của những kẻ chủ trương rằng Diễn từ trên núi chỉ dành cho các "môn đồ " hiểu như một nhóm Kitô hữu "hoàn thiện hơn", cho một hạng người riêng biệt. Ngữ vựng có tính cách vũ trụ của diễn từ cũng còn vạch rõ tầm mức phổ quát ấy : đất (5, 4. 13. 18. 35 ; 6, 10. 19), trời (5, 18. 34 ; 6, 10. 20. 26), thế gian (5, 14) ; ánh sáng (5,14.16 ; 6, 23), tối tăm (6, 23), mặt trời và mưa (5, 45). Vẫn biết đây là lần đầu tiên Tin Mừng đề cập đến "môn đồ", nhưng bản văn, vì không xác.định lai lịch gì của họ, cho thấy đó chẳng phải là một đẳng cấp cao hơn; nó chỉ muốn bảo rằng họ làm thành một nhóm nhỏ thân cận với Chúa Giêsu và phân biệt với dân chúng.

"Người lên núi": Khi đặt bài diễn từ của Chúa Giêsu trên núi (chứ không phải nơi đồng bằng như Lc), Mt xem ra có một chủ ý rõ ràng. Chắc hẳn ta phải coi đó như muốn nhắc lại việc ban lề luật trên núi Si-nai: theo truyền thống Giavít, Môisen "đã lên đấy với Aaron, Nađáp, Abihu và 70 kỳ mục Israel" (Xh 24, 9), trong lúc dân chúng ở lại dưới chân núi (x.Xh 24, 12). Thế ngồi của Chúa Giêsu khi giảng dạy gợi lên cừ chỉ của vị giáo sĩ Do thái giải thích Thánh kinh cho môn đồ, khác với vị giảng sư Hy lạp chỉ đứng mà nói. Chắc hẳn chúng ta có thể nhìn thấy, in chìm qua bức tranh này, hình ảnh các cộng đoàn sơ khai, gồm "môn đồ" lẫn "đám đông" lương dân, tụ họp lại để nghe vị chủ tọa cộng đoàn công bố Lời Chúa.

VÀI NHẬN XÉT ĐẠI CƯƠNG DÂN VÀO BA CHÂN PHÚC ĐẦU.

Ba mối chân phúc đầu liên hệ đến cùng một hạng người, những kẻ khốn khổ. Họ hình như khác biệt với nhóm người bị bắt bớ của mối chân phúc thứ tám ? Thoạt nhìn, hạnh phúc của họ không có vẻ phát xuất từ mối dây liên kết họ với Chúa Kitô, song từ thân phận khốn cùng họ phải chịu. Thế nhưng, xét cho cùng, hạnh phúc được loan báo cho những kẻ khổ sở ấy là thứ hạnh phúc mà Đấng Messia phải mang tới ; sắc thái thiên sai đặc trưng cho ba mối phúc này cũng như cho mối phúc thứ 8.

a- Những người được ưu đãi.

1. Kẻ nghèo : Trong Cựu ước, hạng được ưu đãi này làm thành một giai cấp xã hội và tôn giáo rõ rệt, gọi là "kẻ nghèo của Giavê ". Trước thời lưu đày, việc thưởng phạt được coi như thể hiện trên trần gian. Vì nghèo khó là một điều không hay, nên người ta nghĩ rằng kẻ nghèo là kẻ bị Thiên Chúa phạt tội. Ngược lại, sự giàu sang được xem như ơn huệ Thiên Chúa ban cho người công chính. "Nghèo" đồng hóa ít nhiều với "tội lỗi" trong khi 'giàu" tương đương với "công chính".

Kinh nghiệm thường nhật và nhất là cơn khủng hoảng lưu đày bó buộc phải duyệt lại các quan niệm trên. Người ta nhận thấy có nhiều kẻ giàu vi phạm bất công, kiêu căng ngạo mạn và bỏ quên Thiên Chúa (Đnl 8, 12- 14). Như trong cuộc lưu đày kẻ giàu là người Babylon không biết Giavê và đàn áp dân Chúa chọn, trong khi kẻ nghèo là những người Do thái hy vọng vào Giavê. Dần dà người ta đi đến chỗ đồng hóa kẻ giàu với quân vô đạo, người nghèo với hạng trung tín cùng Thiên Chúa. Tuy nhiên việc đồng hóa này, chỉ những tâm hồn đạo đức thực sự chăm chú khám phá mọi đường lối của gian mới chủ trương, còn đa số người Do thái, chắc hẳn bị ảnh hường bởi não trạng duy vật của các tư tế Saducêo của họ (những kẻ phủ nhận cuộc sống mai hậu và ân thưởng sau khi chết), đều bám riết vào quan niệm giàu sang là công chính.

Vấn đề kẻ nghèo của Giavê được bàn tới nhiều nhất trong Thánh vịnh. Họ thường được gọi như là những "aniyyim". Trong pháp chế Môisen, hạn từ này được dùng để chỉ các kẻ không có đất đai (Xh 22, 24 ; Lv 19, 10 ; 23, 22), thường là hạng nghèo khó theo nghĩa xã hội. Từ thời lưu đày, ý niệm khó nghèo tự nhiên gợi lên trong Thánh vịnh ý niệm tin tưởng phó thác vào Giavê : "nghèo hèn" và "đạo đức" lắm lần trở nên đồng nghĩa với nhau (Tv 34, 7- 8 ; 35, 10 ; 68, 11 v.v...).

Trong tiếng hy bá, không có mấy khác biệt giữa "ani "và "anaw " (mà bản 70 dịch là praus, "hiền hòa, dịu dàng"). Theo ngữ nguyên, "anaw" chỉ kẻ cúi mình, chịu đựng tất cả mà chẳng chống cự vì không thể tự vệ. Như "ani", "anaw" đã sớm khoác lên một ý nghĩa tôn giáo: "anawim" là các kẻ "khiêm nhường", không những hạ mình trước thế nhân mà còn trước cả Thiên Chúa và thánh ý ngài Người ta đặt đối lập nhóm các "anawim" tuân phục Giavê, với nhóm kẻ giàu ngạo mạn đàn áp. Sự đối nghịch này đã được khai triển chẳng hạn trong Tv 37. Dcr 9, 9 có loan báo việc xuất hiện của một vì vua của các "anawim", Đấng cũng được gọi là "anaw" (so sánh với Mt 21, 5). Isaia đệ nhị thì lại liên kết "người đói khát" và "ưu phiền" với hạng "khó nghèo" ấy (Is 58, 6- 10 ; 61, 1- 3).

Như thấy xuất hiện trong Cựu ước, các kẻ "khó nghèo", "ưu phiền" và "đói khát" thường dễ phân biệt nhờ địa vị xã hội thấp kém cùng nhờ lòng tùng phục hoàn toàn của họ vào thánh ý Thiên Chúa và vào sự cứu giúp mà họ trông ngóng nơi Ngài. Thế nhưng, ý nghĩa tôn giáo của các hạn từ này không được làm ta quên ý nghĩa xã hội đầu tiên của chúng. Chẳng có vấn đề thay thế, song là chồng chất và bổ trợ ý nghĩa xã hội bằng ý nghĩa tôn giáo. Dầu sao không phải bao giờ ý nghĩa tôn giáo cũng bao phủ ý nghĩa xã hội: mọi kẻ nghèo chẳng phải là anawim đích thực cả đâu, và sự tin tưởng khiêm cung vào Thiên Chúa vẫn có thể gặp thấy nơi người giàu có.

Khi tuyên bố hạnh phúc cho kẻ "khó nghèo " (ptôchoi), Chúa Giêsu dùng một từ ngữ đong đưa giữa ý nghĩa xã hội và ý nghĩa tôn giáo. Nếu muốn xác định xem Người đã tuyên bố sự nghèo khó là có phúc dưới góc cạnh nào, thiết tưởng hãy so sánh "kẻ nghèo" với những hạng ưu đãi khác trong Tin Mừng, tức là các trẻ thơ và người tội lỗi.

2.. Trẻ thơ (Mt 18, 3- 4 ; 19, 14 ; Mc 9, 33- 37 ; 10, 14- 15 ; Lc 9, 46- 48 ; 18, 16- 17). Tại sao trẻ thơ là những kê được hưởng Nước Trời ? Mc 10, 14- 15 chỉ ghi lại lời khẳng định của Chúa Giêsu mà không nói rõ phải làm thế nào để trở nên như chúng: "Hãy để các trẻ nhỏ đến cùng Ta ... vì Nước Thiên Chúa thuộc về những kẻ giống như chúng. Quả thật, Ta bảo các ngươi : ai không đón nhận lấy Nước Thiên Chúa như một trẻ nhỏ, thì chẳng được vào trong đó". Mt 18, 3- 4 gợi lên câu đáp : "Nếu các ngươi không hoán cải mà nên như trẻ nhỏ, các ngươi sẽ chẳng vào được Nước Trời. Vậy phàm ai kể mình hèn hạ (hy ngữ : tapeinôsoi heauton) như trẻ nhỏ này, thì người ấy là kẻ lớn nhất trong Nước Trời".

Đi từ quan điểm tây phương hiện đại (và quan điểm ấy xâm nhập vào đông phương qua ngã phim ảnh và sách báo), người ta có khuynh hướng chú trọng trước nhất đến sự vô tội của trẻ em và coi đấy là cái làm cho nó được hường Nước Trời. Nhưng nơi người Do thái thời xưa, trẻ thơ, đó là hạng nhỏ bé, không có tí quan trọng nào và chẳng đáng lưu tâm. Thành thử các môn đồ của Chúa Kitô phải đón nhận cách ý thức thân phận trẻ bé của mình ; họ phải tự coi mình như kẻ nhỏ và chấp nhận bị kể là không.

Câu Chúa Giêsu trả lời cho các sứ đồ lúc họ cãi cọ nhau về chỗ nhất trong Nước Trời (Mt 20, 26- 27 ; Mc 10, 43- 44 ; Lc 22, 26) và lời khuyến cáo đề phòng tính tự kiêu của ký lục ("Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, và ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên ": Mt 23, 12 ; Lc 14, 11 ; 18, 14) minh định rõ ràng phải trở nên như trẻ nhỏ bằng sự khiêm tốn. Trẻ em chịu một thân phận xã hội thấp kém; các môn đồ của Chúa Kitô cũng phải giống chúng nhờ một ý thức khiêm nhu phù hợp với thân phận này.

Ta có thể đối chiếu với các trẻ em những "kẻ bé mọn" mà Chúa Cha đã không ban mặc khải của Ngài cho (Mt 11,25- 26 ; Lc 10, 21 ; so sánh với 1 Cr 1, 18 -31). Những "kẻ nhỏ " này, vốn ít kiến thức, là những người bị các tiến sĩ luật coi khinh, không đếm xỉa tới.

3. Tội nhân : Đặc quyền của các tội nhân có lúc được liên kết với sứ mệnh Chúa Cha đã giao phó cho Chúa Giêsu, có lúc được đặt trong tương quan với thái độ tâm hồn của họ, thái độ ý thức về nỗi khốn khổ của mình.

Lời tuyên bố của Chúa Giêsu, nhân cơ hội gọi Lêvi, minh giải trường hợp thứ nhất: "Ta đến không phải để kêu gọi người công chính nhưng là kẻ tội lỗi" (Mc 2, 17 ; -> 9, 13 ; Lc 5, 31- 32). Sứ mệnh thiên sai của Chúa Giêsu liên hệ đến các tội nhân, nghĩa là những kẻ tự nhận mình là tội lỗi trước mặt Thiên Chúa và qua đó, mở lòng đón nhận ơn cứu độ nhân từ Ngài cống hiến cho họ. Còn người công chính, theo văn mạch các Tin Mừng, là những kẻ tự tin vào "đức công chính", vào "công nghiệp" của mình, những kẻ tự phụ mình có quyền được rỗi và vì thế từ chối ơn cứu độ nhưng không. Các dụ ngôn về lòng thương xót, trong chương 15 Lc, đều khai triển dài dòng lời tuyên bố đó của Chúa Giêsu.

Chỗ khác, Chúa Giêsu lại nhấn mạnh tới các thái độ tâm hồn thích hợp của tội nhân như khiêm nhường, thống hối ...Đó là ý nghĩa của dụ ngôn hai đứa con trai ( -> 21, 28- 32) mà Người áp dụng cho Biệt phái và kẻ tội lỗi: "Quân thu thuế, lũ đàng điếm qua trước các ông mà vào Nước Thiên Chúa ...". Dụ ngôn người Biệt phái và người thu thuế cũng khai triển sự đối nghịch này (Lc 18, 9-14).

Kết luận về những kẻ được ưu đãi. Như trẻ nhỏ và tội nhân, người nghèo làm thành một giai cấp xã hội xấu số. Trên bình diện tôn giáo, những kẻ cùng khốn ấy rất ý thức về nỗi khốn cùng và bất lực của mình. Ý thức này giúp họ xoáy khỏi mình và hướng về Thiên Chúa, Đấng họ hy vọng sẽ giải cứu chỉ vì lòng từ nhân. Do đấy họ rất sãn sàng, cởi mở trước mọi bước đầu nhưng không của Ngài. Vì hạnh phúc của những kẻ được biệt đãi chỉ đến từ một mình Thiên Chúa, Đấng sai Đức Messia của Ngài tới ban ơn cứu rỗi cho các kẻ thụ ân tiền định ấy thôi

Giáo huấn cơ bản này của các Tin Mừng nhấn mạnh đến tính cách "vô giá trị" của những người thụ hưởng lòng nhân Thiên Chúa cùng tính cách nhưng không hoàn toàn của ơn rỗi Chúa Kitô ban. Và tất cả Tân ước đều lặp lại chân lý chủ yếu này. Như thánh Phaolô, với nhiều hạn từ khác, đã đề cao nó để chống lại những người theo Do thái giáo : con người được công chính hóa (nghĩa là tái sinh, được cứu) không phải nhờ công việc, nhưng nhờ đức tin (hành vi qua đó họ thừa nhận cách ý thức rằng mình không thể tự cứu rỗi song phải phó thác toàn thân cùng định mệnh cho Chúa Kitô, Đấng mình cố gắng đồng hóa nên một). Cũng thế, Gio-an quy việc chiếm hữu sự sống thần linh trong hiện tại chẳng phải các các công việc được hoàn thành hợp luật, nhưng là cho đức tin (Ga 6, 28- 29).

b- Đặc ân.

1.Điều hứa: Các mối chân phúc trong Cựu ước phân thành hai loại thuộc hai trào lưu khác nhau. Trong các chân phúc có màu sắc khôn ngoan, quan điểm vẫn là quan điểm của một thứ khôn ngoan nhân trần ; hạnh phúc gắn liền với một vài thái độ thực tiễn và có thể coi như là thành quả nội tại của chúng (Cn 19, 8 ; Gv 10, 17 ; Hc 25, 8 ; 26, 1 ; 28 ; 19). Các chân phúc khác nằm trên một bình diện có tính cách tôn giáo hơn (nhất là trong Thánh vịnh), nhờ thái độ chúng đòi hỏi (tuân giữ Lề luật, tin tưởng Thiên Chúa ...) cũng như nhờ hạnh phúc chúng hứa ban (sự che chở của Thiên Chúa suốt thời hiện tại và vào lúc ngặt nghèo khi thời tương lai đến). Các phúc thật các tính cách tôn giáo ấy sớm mang một màu sắc cánh chung : người ta đặt vào thế giới mai sau cái hạnh phúc mà kinh nghiệm cho thấy không thể hứa hẹn cho người công chính trong thời hiện tại.

Các mối chân phúc của Tân ước cũng không ngừng loan báo hạnh phúc cánh chung, thứ hạnh phúc hệ tại việc tham dự là( ơn cứu rỗi Đấng Messia mang tới, nghĩa là Nước Trời. "Phúc cho kẻ được dự tiệc trong Nước Thiên Chúa" (Lc 14, 15).

2.Thời gian thực thi lời hứa: Hạnh phúc đoan hứa sẽ được ban lúc khai mạc Nước Trời. Thế mà việc khai mạc ấy lại liên kết với sự hiện diện của Đấng Messia. Vì thế các mối chân phúc chẳng phải là những lời hứa mơ hồ nhằm bù trừ cho hạng cùng khốn, nhưng thật là lời loan báo hân hoan về thời đại thiên sai sắp bắt đầu. Do đấy, sự hiện diện của Chúa Kitô có nghĩa là hạnh phúc : "Phúc cho mắt thấy điều các con thấy" (Lc 10, 23- 24 ; so sánh với Mt 13, 16-17). Vì thế ta hiểu hạnh phúc thường được định nghĩa như một hậu quả của mối tương quan với Chúa Kitô (Mt 16, 17 ; Lc 1, 45 ; 11, 27 ; Mt 11, 6 ; Lc 7, 23).

Ngược lại, việc từ khước Chúa Kitô, hoặc bằng cách bắt bớ, hay chỉ đơn giản không chấp nhận Người, gây nên bất hạnh lớn lao. "Khốn cho ngươi, Khoradin ... Ngày phán xét, đất Sôđôm sẽ được xét xử khoan dung hơn ngươi " (Mt 11, 21 .24 ; so sánh Lc 10, 13-1 5 ; Mt 26, 27 là song song; Mt 18,7 ; Lc 17, 1).

3. Hạnh phúc được hứa trong các mối chân phúc : Hạnh phúc này nhất thiết hệ tại chỗ đi vào Nước Thiên Chúa. Nó được Chúa Kitô đích thân mang đến cho nhân loại khi Người khai mạc Nước Trời. Và qua chính sự kiện đó, Chúa Giêsu quả quyết chung cục của lịch sử sắp xảy ra và chính Người sẽ thực hiện sự biến đổi ấy.

Thành thử các mối phúc đều nhuốm màu sắc thiên sai. Khi Chúa Giêsu tuyên bố là có phúc cho một nhóm người nào đó thì chính là vì mối liên lạc nối kết họ với Người, Đấng Kitô : nhóm này (như kẻ khó nghèo, ưu phiền, đói khát) có phúc vì biết thoát ra khỏi mình để chỉ tin vào Chúa Giêsu, Đấng Messia Thiên Chúa sai đến thiết lập Nước Trời ; nhóm khác (như những kẻ chịu bắt bớ) có phúc vì biết chấp nhận mọi hy sinh để bảo tồn mối dây liên kết họ với. Chúa Kitô. Ngược lại, khốn nạn cho ai phủ nhận Chúa Kitô hay bắt bớ Người.

c- Chúa Giêsu, Messia của các kẻ nghèo.

Tương quan giữa Chúa Giêsu và các kẻ nghèo cuối cùng đến từ thánh ý Thiên Chúa, Đấng đã loan báo trong Isaia đệ nhị rằng Đức Messia của Ngài sẽ mang lại hạnh phúc cánh chung cho người khốn khổ: Câ.u Chúa Giêsu trả lời cho các sứ giả cửa Gioan Tẩy giả rõ ràng gợi lên một chuỗi đoạn văn Isaia (nhất là 61 ; 1- 3 ; nhưng cũng là 35, 5- 6 ; 26, 19 ; 29, 18- 19) . Như vậy Người minh định rằng phép lạ và lời Người rao giảng cho kẻ khó nghèo mang tính cách thiên sai (Mt 11, 4- 6 ; Lc 7, 22- 23).

Tại Nadarét, Chúa Giêsu cũng lấy lại Is 61, 1- 3 theo cách thức trên (Lc 4, 14- 19) . Ta có thể đối chiếu hai lời quả quyết minh nhiên này với dụ ngôn các thực khách tiệc cưới trong Lc 14, 16- 24: "Hãy dẫn vào đây ăn mày, tàn tật, què quặt, đui mù".

Kết luận chung về ba mối chân phúc đầu tiên :

Ba mối chân phúc này trước hết xuất hiện như là lời khẳng định đầy tính cách thiên sai từ phía Chúa Giêsu. Được Isaia loan báo, Người đến nhân danh Thiên Chúa để ban hạnh phúc cánh chung cho một nhóm ưu đãi. Và do sự hiện diện của Chúa Kitô, niềm hạnh phúc đó, hệ tại việc tham dự Nước Trời, sắp đến trong một tương lai không xa. Tuy nhiên các kẻ thụ hưởng chẳng có một danh nghĩa nào để đáng được hạnh phúc ấy. Họ chi là những kẻ sẵn sàng đón nhận Nước Trời như một ân huệ hoàn toàn nhưng không.

PHÂN TÍCH CHI TIẾT MỖI CHÂN PHÚC

a- Chân phúc thứ nhất : những kẻ nghèo khó trong tinh thần (5, 3)

1.Nội tâm hóa mối phúc : ý nghĩa đại cương của tiều tiết tôi pneumati, "trong tinh thần" (riêng Mt) thật rõ ràng: Mt chú trọng vào một thái độ tâm hồn hơn là vào giai cấp khó nghèo trong xã hội. Tin Mừng cũng cống hiến nhiều thành ngữ tương tự Trong 1 Cr 7, 34, người trinh nữ được gọi là "thánh trong thân xác và thần hồn" (kai tôi somati kai tôi pneumati), vì bên cạnh việc thánh hiến thân xác, thành ngữ còn gợi lên một thái độ tâm hồn, thái độ nhờ đó người trinh nữ chú tâm làm đẹp, một mình Chúa. Xem Cv 18, 25 (Apollô có tâm hồn nhiệt nồng) ; 20 ; 22 (Phaolô bị xiềng trong tinh thần ; Ng-Thế-Thuấn : bị xiềng bởi Thần khí). Trong bản 70, người ta cũng nêu ra được rất nhiều thành ngữ tương tự : "tinh sạch trong lòng", "thẳng thắn trong lòng", "tan nát tâm hồn", "không cắt bì trong tiệm" ... Hết thảy các công thức đó đều nói lên mối ưu tư muốn nội tâm hóa một tính cách, bằng cách xác định trung khu của nó là trong tinh thần ; đấy là một thái độ tinh thần vậy.

2. Các lối giải thích khác nhau về chân phúc này. Phải loại bỏ mọi cách giải thích cho rằng tinh thần là đối tượng, chứ không phải là trung khu của sự khó nghèo, cho rằng những ai có tinh thần nghèo khó là những kẻ nghèo nàn về tinh thần, những kẻ thiếu ơn Thần khí và đang cảm thấy nhu cầu, những kẻ mà sự bần cùng là ở- chỗ không'hiểu biết những điểm tinh tế trong các nổ pháp luật (đối nghịch với các tiến sĩ Luật).

Còn lại hai lối giải thích xem tinh thần như là trụ sở của sự nghèo khó. Theo lối giải thích đầu, đấy là một thái độ từ bỏ và siêu thoát bên trong đối với của cải. Sự nghèo khó trong tinh thần ấy không tất nhiên mâu thuẫn với việc chiếm hữu của cải nhưng với lòng dính bén chúng từ bên trong. Tuy nhiên có một vấn đề được đặt ra: đâu là tương quan giữa đức siêu thoát nội tâm này với sự khó nghèo đích thực bên ngoài? Khi nhấn mạnh tới thái độ bên trong, phải chăng Mt muốn ngầm bảo rằng ta có thể thỏa mãn về thái . độ ấy mà không cần cho sự nghèo khó tinh thần phải được một tình trạng cụ thể bên ngoài tương ứng? Mt minh định rằng sự khó nghèo nội tâm làm nên cái cốt yếu; ông không mấy để ý tới nỗi túng thiếu bên ngoài, vì nó chỉ có ý nghĩa trong tương quan với sự nghèo khó bên trong. Nhưng theo vặn mạch chung của các Tin Mừng, phải nhận trong khó quan niệm được một kẻ giàu có biết siêu thoát tài sản của mình.

Lối giải thích thứ hai coi người nghèo là những tâm hồn không chỉ dứt bỏ của cải, song còn biết từ khước chính mình và phó thác cho Thiên Chúa. Sự nghèo khó này chẳng những liên hệ đến tài sản vật chất, mà còn lan rộng tới các loại của cải khác như -tiếng tăm, khả năng, công nghiệp thiêng liêng tinh thần nghèo khó bấy giờ tương đương với khiêm hạ. "Nghèo khó trong tinh thần là những kẻ có ý thức đầy đủ và đau đớn về sự nghèo nàn thiêng liêng của mình, về tính cách bất toàn của tâm hồn mình, về sự thiện ít ỏi mình đang mang, về sự bần cùng luân lý mà phần lớn nhân loại sa phải. Chỉ có những kẻ nghèo biết mình nghèo mới đau khổ về sự túng cực của mình cùng cố gắng thoát ra khỏi đó. Và họ khác xa biết bao với các người giàu giả tạo, những kẻ tưởng mình kiện toàn, không thể cải thiện hơn, đúng phép với hết thảy, đẹp lòng Thiên Chúa và đẹp lòng mọi người; những kẻ này thiếu niềm ao ước và lòng hăng say leo lên tới một chóp đỉnh mà họ tưởng đã đạt, và họ sẽ chẳng bao giờ giàu sang, vì không biết được nỗi khốn khổ khôn dò của mình" (Papini).

Khó mà dứt khoát chọn lấy một trong hai cách giải thích trên. Lối giải thích sau có cái lợi là phù hợp với văn mạch Cựu ước : sau lưu đày, các kẻ nghèo quả là những người có thân phận khiêm tốn, nhưng người ta vẫn nhấn mạnh hơn tới lòng trung thành với đạo và sự phó thác tin tưởng vào Thiên Chúa của họ. Khi xác định "trong tinh thần", Mt có lẽ muốn đặt nặng khía cạnh tôn giáo của sự khó nghèo, cùng liên kết kẻ nghèo của mối phúc thứ nhất với các -khách hàng của Giavê" mà Cựu ước đã nói tới, Ngược lại, lối giải thích thứ nhất rõ ràng muốn lưu ý nhiều đến tình trạng xã hội, là khởi điểm của ý niệm nghèo khó thiêng liêng. Tuy nhiên, theo cả hai, rõ ràng Mt từ chối gán giá trị nguyên cho sự nghèo túng vật chất. Điều đáng kể đối với ông chính là thái độ tinh thần, cái duy nhất mang giá trị luân lý và đáng ân thưởng.

b- Chân phúc thứ hai : những người hiền lành (5, 4).

1.Xuất xứ của chân phúc này : Có hai lập trường đối nghịch : một : cho rằng chân phúc nằm trong tài liệu nguyên thủy, hai: lại bảo nó đã được một sao lục viên về sau thêm vào nguyên bản Mt. Lập trường đầu không mấy chắc chắn. Lập trường sau, trái lại, dựa trên nhiều bằng chứng đáng tin cậy như các thủ sao do dự về vị trí của mối chân phúc, có khi đặt nó nằm hàng nhì (trước mối phúc các kẻ ưu phiền) ; lúc lại hàng thứ ba; nếu coi nó như là một sự thoán nhập, thì các chân phúc lui lại còn 7, một con số Mt ưa thích; rồi việc đăng chèn nó có thể cắt nghĩa như một lời giải thích mượn từ Tv 37, 11 ; sau cùng chân phúc này sẽ không khác chân phúc đầu tiên, nếu ta nại vào tiếng hy bá là tiếng hầu như đồng hóa chữ "hiền lành" với chữ "khó nghèo". Dầu sao mấy lập luận trên chẳng có tính cách quyết định. Nên phần lớn các tác giả vẫn duy trì xác thực tính của mối phúc này. Mọi thủ sao thảy đều ghị lại nó, dầu một vài bản đặt vào hàng thứ ba.

2.Điều hứa: Trong Tv 37, 11 là Thánh vịnh gợi hứng cho mối chân phúc, có bân đến "Hứa địa", đất Canaan. Chủ đề này bất nguồn từ lời Thiên Chúa hứa cho Abraham (St 15, 7 ; 28, 4), rồi được khai triển rộng rãi trong Đệ nhị luật (1, 8. 39 ; 4, 1 . 5. 14) và mặc một sắc thái cánh chung trong Isaia đệ nhị (57, 13 ; 60, 21 ; 65, 9). Nơi Mt, lời hứa chỉ muốn nhắm tới việc vui hưởng Nước Trời, như trong các mối chân phúc khác. "Đất" là gia sản được lời hứa thần linh bảo đảm (1Pr 1, 4- 5). Chủ đề gia sản này thường gặp luôn trong Tân ước, nhưng thay vì thành ngữ "thừa hưởng đất", người ta thích thành ngữ "thừa hưởng Nước Thiên Chúa" (Mt 25, 34 ; 1Cr 6, 9- 10 ...), "thừa 'hường sự sống vĩnh cửu" hơn (Mt 19, 29 ; Mc 10, 27 ; Lc 10, 25 .:.). Vì gia sản thuộc về con cái là điều hợp lý, nên thừa hưởng gia sản, nói cách cụ thể, là nhận được tước hiệu con cái Thiên Chúa, như lời hứa nơi chân phúc thứ bảy, mối chân phúc của các kẻ xây dựng hòa bình (c.9) , x.Kh 21, 6-7.

3.Những người hiền lành : Vì chân phúc này phát xuất do tay một soạn giả Hy lạp (hoặc có thể là một sao lục viên nào đó) nên ông ta chắc đã muốn nói lên một cái gì khác hơn là nội dung chữ khó nghèo" theo Cựu ước, nếu không thì mối phúc thứ hai này trùng với mối phúc đầu tiên. Ta có thể xác định ý niệm "hiền lành" bằng cách đối chiếu mối phúc với Mt 21, 5 và 11, 28- 30. Trong đoạn nhất, Chúa Giêsu, quy việc vào thành Giêrusalem, tỏ ra khác biệt hoàn toàn với các vua chúa lương dân là những kẻ thống trị bằng bạo lực. Trong đoạn 2 (xin lưu ý: thành ngữ "hiền lành và khiêm nhượng trong lòng" chỉ một thái độ nội tâm), Chúa Giêsu chống lại sự nghiêm khắc khó tính của ông thầy như các Biệt phái. Theo văn mạch ấy được củng cố nhờ các thư Tân ước (nhân đức hiền lành xuất hiện trong đó hơn 12 lần), "hiền lành" thiết yếu là nhân từ, có quan hệ một đàng với sự khiêm tốn, đàng khác với lòng thương xót tha nhân ... Thế nên, các kẻ "hiền lành" gần với các kẻ "thương xót" vậy !

c. Chân phúc thứ ba : các kẻ ưu phiền (5, 5).

Văn mạch chung của các chân phúc nơi như đã xác định trên kia, buộc ta phải coi nỗi ưu phiền này là một thái độ của tâm hồn. Có thể xác định đối tượng của nó không? Khó mà trả lời dứt khoát được. Động từ hy lạp pentlleô nói lên sự đau đớn biểu lộ ra bên ngoài qua những tiếng rên rỉ kêu la. Như trong Tân ước, pentheô thường đi kèm theo các động từ "kêu la, than thở". Ngoài Bát phúc, chỉ dùng động từ này một lần nữa thôi, khi nói các môn đồ sẽ than khóc như bị tang chế sau ngày chia lìa Tân lang (9, 15).

Có thể giả thiết rằng mối chân phúc thứ ba đề cập đến nỗi ưu phiền tương tự nỗi ưu phiền tang chế, đề cập đến các Kitô hữu than khóc vì cảm thấy phải chia lìa Thiên Chúa do tội lỗi mình. Họ ý thức một cách đau đớn tội mình đã phạm và nỗi khổ tinh thần do chúng gây nên (so sánh với 1 Cr 5,2 ; 2 Cr 12, 21 ; Gc 4, 9).
Niềm "an ủi " hứa ban cho họ bấy giờ hệ tại chỗ thứ tha tội lỗi. Do văn mạch cánh chung của những lời hứa khác, trước tiên phải đặt việc tha thứ này vào lúc phán xét sau cùng.

d- Chân phúc thứ tư : những kẻ đói khát công chính (5, 6).

1.Ý niệm "công chính " trong Thánh Kinh : Trong Thánh Kinh, ý niệm "công chính" cổ truyền ám chỉ điều gì phù hợp với ý muốn Thiên Chúa và luôn luôn hiểu như là một đời sống cụ thể của con người trong lịch sử được Thiên Chúa, là vua và quan án nhân loại, chấp nhận chuẩn y. Trong Mt, ý niệm "công chính" được dùng lại theo nghĩa cổ truyền, hợp với Thánh Kinh. Nó chỉ cách ăn nết ở của Kitô hữu, rập khuôn theo thánh ý Thiên Chúa mà Chúa Kitô đã công bố. Cho nên sự "công chính" cần thiết để tham dự vào nước Trời này chẳng phải là một lý tưởng luân lý trừu tượng nhưng chính là thánh ý Thiên Chúa được biểu lộ ra bên ngoài qua các việc thiện Kitô hữu làm.

2.Sự công chính người ta đói khát (Mt 5, 6) : Trước hết phải loại trừ hai lời giải thích không phù hợp với văn mạch thần học của Mt : Tách biệt ra, chân phúc thứ tư có thể nói đến sự công bình đối lập với bất công xã hội dưới mọi hình thức. Nhưng lối cắt nghĩa này thích hợp với văn mạch lạc chứ không với Mt. Nơi Mt, chữ "công chính" có một nghĩa rộng hơn và sâu hơn là chữ công bình xã hội : sự công chính diễn tả toàn thể thái độ Kitô hữu được Thiên Chúa chuẩn y.

Ta cũng có thể nghĩ đến sự công chính siêu việt của Thiên Chúa, sự công chính sẽ tỏ hiện ra vào ngày chung thẩm để trừng phạt quân vô đạo và ban thưởng Nước Trời cho người công chính. "Đói khát công chính" bấy giờ có nghĩa là "nao nức mong chờ sự can thiệp dứt khoát của Thiên Chúa vào lúc cứu rỗi cánh chung". Tuy nhiên văn mạch Mt không quy hướng chúng ta về sự công chính mà Thiên Chúa sẽ thực thi, nhưng về sự công chính mà con người phải nỗ lực đạt cho được trước mặt Thiên Chúa, bằng cách thi hành thánh ý Ngài.

Vậy thì đâu là văn mạch của Mt cho phép xác định chân phúc thứ tư này? Nơi 21, 32 chữ "công chính" ("Gioan đã đến với các ông theo đàng công chính ) chỉ sự khắc khổ của Gioan Tẩy giả. Nơi 3, 15 và 5, 17, Mt lại viết Chúa Giêsu đến hoàn thành Lề luật và các Ngôn sứ : như thế nghĩa là sự "công chính" của Chúa Giêsu, hoàn hảo hơn sự công chính của Lề luật nằm trong đường hướng sự công chính phải được thực thi. Việc thêm chữ "và sự công chính của nó " trong 6, 33 ("Trước tiên hãy tìm Nước' và sự công chính của nó ) hình như nhằm nhấn mạnh rằng người ta không chỉ nên cầu mong cho Nước Thiên Chúa đến để hưởng được mọi của cải của thế giới bên kia, nhưng phải cố công đạt cho được sự hoàn thiện Kitô giáo bằng cách làm việc lành: Lc nhấn mạnh tới ý hướng, còn Mt minh định ý hướng phải diễn ra hành động. Sự "công chính" của các môn đồ Chúa Giêsu phải vượt quá sự công chính của Ký lục và Biệt phái (Mt 5, 20) : vượt quá, nhưng vẫn cùng một loại. Sự "công chính" này sẽ đáp lại những đòi hỏi sâu xa hơn các đòi hỏi của Lề luật và lời giải thích chính thức về Lề luật, nhưng đó vẫn là sự công chính người ta thực thi bằng cách ăn ở phù hợp với Luật ấy. Phải giữ mình đừng thực thi nó một cách phô trương (Mt 6, 1) : các đòi hỏi của sự "công chính mới" chẳng những liên hệ tới các hành vi bên ngoài, mà còn lan rộng đến các ý hướng. Ở đây vẫn vậy, cũng chỉ là sự nối dài đường hướng xưa nay.

Thành ra kẻ đói khát sự công chính là các Kitô hữu nhiệt thành ao ước sống theo ý Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đã truyền dạy. "Sự công chính" họ mong muốn là một sự công chính luân lý, do toàn thể những công việc có tính chất Kitô giáo xây nên. Sự công chính luận lý này là lý tưởng của sự hoàn thiện Kitô hữu, lý tưởng được quan niệm như một sự vượt quá hay đào sâu lý tưởng luân lý mà Lề luật đã đề ra cho người Do thái. Hạnh phúc của Nước Trời dành cho những ai hết sức ao ước thực thi sự hoàn thiện đó trong cuộc đời họ.

e- Chân phúc thứ năm: những kẻ biết thương xót (5, 7).

1.Điều hứa: lòng thương xót của Thiên Chứa: Văn mạch các chân phúc của Mt cho thấy lời hứa này trước tiên nói đến lòng thương xót của Thiên Chúa, lòng thương xót sẽ biểu lộ vào ngày cánh chung, lúc phán xét, khi Chúa Kitô đem các kẻ "biết xót thương " vào Nước Người so sánh với Gđ 21 ; 2 Tm 1,18).

2.Điều kiện : bổn phận xót thương: ý niệm sau đây rất quen thuộc với Do thái giáo và Kitô giáo: để chắc chắn được Thiên Chúa thương xót ngày chung thẩm, phải biết tỏ lòng nhân ái với tha nhân. Có nhiều bản văn nói về hậu quả này trong ngụy thư Do thái và sách giáo sĩ, chẳng hạn câu: "Ai biết thương người, sẽ được thương xót trên trời ; ai không thương người, trên trời sẽ chẳng xót thương họ ". Cũng vậy trong Tân ước (Gc 2, 13 : "án xử sẽ tàn nhẫn cho người bất nhân") và nơi các Tông phụ (1 Clêm. 13, 2 ; Polycarpô 2, 3).

Mt nhấn mạnh bổn phận nhân ái này. Chỉ mình ông trích lại, và trích đến hai lần, bản văn Hs 6, 6 : "Ta muốn lòng nhân chứ không muốn hy lễ" (9, 13 ; 12, 7). Trong cả hai trường hợp, đó là một bài học cho Biệt phái, những kẻ đòi phải tuân giữ lề luật phụng tự mà bỏ quên lòng nhân ái (so sánh với Mt 23, 23). Nơi lời cầu xin thứ 5 của kinh Lạy Cha, chỉ mình Mt chú giải thế này: "Vì nếu các ngươi tha thứ cho người ta những điều họ xúc phạm, thì Cha các ngươi trên trời cũng sẽ tha cho các người ..." (6,14- 15). Sau cùng dụ ngôn người tôi tớ bất nhân (Mt 18, 23- 35) soi sáng một cách cụ thể cái bổn phận xót thương bằng cách tha thứ cho anh em mình.

f. Chân phúc thứ sáu : những kẻ tinh sạch trong lòng

1.Điểm tương tự với chân phúc đầu tiên: Như chân phúc các kẻ nghèo, chân phúc của những người trong sạch chuyển một tính cách thể lý sang bình diện tinh thần. Đầu tiên, sự "tinh sạch" gợi lên sự sạch sẽ của thân xác. Tiếp đó nó mặc một ý nghĩa tế tự, chỉ định tính cách của kẻ phải có đầy đủ các điều kiện cần thiết để trình diện trước bàn thờ Thiên Chúa. Sau cùng, hạn định từ "trong lòng", tương đương với "trong tinh thần" của chân phúc thứ nhất, đặt tính cách này vào nội tâm.

2.Mạch văn Kinh Thánh : Chân phúc thứ 6 là âm vang của Thánh vịnh 24, 3- 6 (so sánh với Tv 15, 1 -3). St 20, 5 đặt đối lập sự trong sạch ý hướng với sự nhơ bẩn chiếu theo lề luật (Abimélek đã vô tình lấy vợ của Abraham). "Tinh sạch trong lòng" ; như các thành ngữ tương tự : "thẳng thắn trong lòng", "đơn sơ trong lòng", bao giờ cũng chỉ sự ngay thẳng của lương tâm. Thành ra nó "không có nghĩa tinh sạch như hiện thời " (I. Fransen), nhưng nói lên sự vắng bóng lòng tráo trở, dạ bất lương. Người tinh sạch trong lòng phục vụ Thiên Chúa và tha nhân "hết tâm hồn", không tính toán tư lợi hay giả bộ đạo đức. Việc chuyển dịch từ bình diện nghi lễ sang bình điện luân lý cũng gặp lại trong Tân ước. Nhưng khi được thiêng liêng hóa, ý niệm tinh sạch vẫn không mất đi âm hưởng phụng tự (ví dụ 2 Tm 1, 3 ; 2, 22 ; Gc 4, 8).

3.Quan điểm luân lý của Mt : Chữ "thấy Thiên Chúa" gợi lai bối cảnh phụng tự nguyên thủy của sự tinh sạch : trong Tv 24, 6 và 17, 15, "thấy Thiên Chúa "có nghĩa là "trình diện trước nhan Ngài ", tại Đền thờ Ngài ở Giêrusalem; trong Mt, thành ngữ chỉ hạnh phúc Nước Trời, được gợi lên dưới hình ảnh một sự tham dự vào phụng tự diễn ra trước mặt Thiên Chúa (Kh 22, 3- 4 ; Dt 12, 14).

Tóm lại, để được nhận vào trước nhan Thiên Chúa, cần phải tinh sạch. Sự tinh sạch này không chỉ có tính cách nghi lễ ; nó còn nằm nơi sự hoàn toàn ngay thẳng bên trong. Đây không phải là những hành vi, song là một thái độ tâm hồn, thái độ làm căn nguyên cho mọi hành vi của ta và ban cho chúng ý nghĩa luân lý đích thực.

g- Chân phúc thứ bảy : những kẻ tác tạo hòa bình (5, 9).

1.Điều hứa: "Họ sẽ được gọi " tương đương với "họ sẽ là Thường thường, trong ngôn ngữ Kinh thánh, người ta không nhấn mạnh đến sự kiện được nhận một tên cho bằng đến hiệu quả tương ứng với tên đó nơi người nhận. Do đấy thể thụ động "được gọi " hầu như có nghĩa là "trở nên".

Họ sẽ được gọi như thế do ai và khi nào? Nhiều tác giả, với nhiều cách giải thích khác nhau, cho rằng đó là lòng kính trọng mà người đời dành cho những kẻ xây dựng hòa bình. Nhưng động từ ở thể thụ động, như nơi các câu 4. 6. 7, diễn tả hành động của Thiên Chúa. Thể thụ động này được gọi là "thể thụ động thần linh" (passif divin), là một đặc ngữ sêmita dùng để gán một hành động cho Thiên Chúa mà khỏi phải nhắc tên Ngài. Hơn nữa, mọi lời hứa của các chân phúc trong Mt đều có tính cách cánh chung: hết thảy chúng liên hệ tới hạnh phúc Nước Trời. Các kiểu nói khác nhau chỉ có mục đích gợi lên những khía cạnh dị biệt của cùng một thực tại. Thành ra phải kết luận rằng chính Thiên Chúa, vào ngày sau hết, sẽ công bố các kẻ xây dựng bình an là con cái Ngài (x. Kh 21, 7) và thiết đặt họ trong vinh hạnh ấy.

2 . Các kẻ tác tạo hòa bình : Nếu lấy văn mạch Tân ước minh giải ý tưởng "kiến tạo hòa bình" của chân phúc thứ bảy (Cl 1, 20 ; Ep 2, 15- 16 ; Gc 3, 14- 18) ta sẽ phải kết luận rằng trên thực tế nó đồng hóa vơi ý tướng giải hòa. Vì hoà bình là cái nối tiếp tình trạng thù nghịch hay tranh chấp. Đó không trực tiếp là thứ bình an nội tâm hay tôn giáo mà mọi cá nhân thủ đắc được, song là những tương quan tốt đẹp giữa các cá nhân, hoặc giữa kẻ "hiếu hòa" và người lân cận (Mt 5, 23- 24), hoặc giữa những kẻ mà người "hiếu hòa" giải hòa lại với nhau (Cv 7, 26). Thành ra trọng tâm nằm trên sự đoàn kết giữa con người, và điều đó mặc nhiên giả thiết một thái độ trước của tâm hồn. Trái ngược với các chân phúc khác, chân phúc này thoạt tiên không nhắm tới một thái độ nội tâm, song là một hành vi bên ngoài. Làm một con người hiền hòa, yêu mến bình an không đủ mà còn phải ra công xây đắp bình an bất cứ nơi nào có bất hòa ngự trị.

h- Chân phúc thứ tám : những kẻ bị bắt bớ vì sự công chính (5, 10).

Chân phúc sau cùng này nằm trong hai trào lưu tư tưởng : một gồm loạt bản văn đưa ra những lời quở trách đối với hạng người Do thái bách hại, hai gồm loạt bản văn song hành chứa đựng nhiều lời khuyên bảo các môn đồ phải cơn bắt bớ.

1. Lời chúc dữ kẻ bách hại : Chủ đề này vẫn thường gặp trong Do thái giáo (1V 19, 10. 14; 2 Sk 36, 15- 16 ; Nh 9, 26). Trong Kitô giáo, nó được khai triển bắt đầu từ Tin Mừng (Mt 23,29- 36; Lc 11 , 47- 51) cũng đã được Stêphanô (Cv 7, 51- 52) và Phaolô (1Tx 2, 15- 16) nối tiếp âm vang. Justinô, khoảng năm 160, đã trùng hợp các yếu tố chính của chủ đề như sau: các ông đã giết Đấng Công chính, và trước đó đã giết các ngôn sứ của Người : bây giờ các ông lại khai trừ những kẻ hy vọng vào Người, cùng khai trừ Đấng đã sai người đến là Thiên Chúa toàn năng và tác giả vũ trụ. Vì Ngài ở trong các ông, nên khi chửi rủa họ trong hội đường, các ông làm nhục những kẻ tin vào Chúa Kitô " (Dial, 16, 4).

Hành động của những người bắt bớ và hình khổ họ sẽ chịu đặc biệt có tính cách cánh chung. Họ "đổ đầy lường" của tổ tiên họ (Mt 23, 32) ; hành động của họ làm nên một sự kết liễu, hoàn thành; vì thế nó chuẩn bị cho họ một tai ương thảm khốc, tai ương này sẽ là hình phạt mọi tội mà tổ tiên họ đã phạm. "Cơn nghĩa nộ đã giáng xuống trên họ cho đến cùng" (1Tx 2, 16) : lời phán quyết này, vào ngày chung thẩm, sẽ kết án họ phải chịu khổ hình hỏa ngục muôn đời.

Đặc điểm thiên sai - vì cớ Con Người " (Lc 6, 22), "vì cớ Ta" (Mt 5, 11) - liên kết với khía cạnh cánh chung. Tai họa của những kẻ bách hại không những xuất phát từ sự kiện họ đàn áp con người, nhưng trước hết từ sự kiện họ truy lùng những ai có liên hệ với Chúa Kitô. Xét cho cùng, họ bách hại chính "Con Người", Đấng rồi đây sẽ xuất hiện trên mây trời để hoàn thành cuộc chung thẩm kẻ sống và kẻ chết.

2.Lời khuyên nhủ những người bị bắt bớ. Trong mọi bản văn sau đây, màu sắc thiên sai đều hiện lên rõ ràng đậm nét:

Trước hết là những lời Chúa Giêsu khuyên nhủ các môn-đệ về vấn đề bách hại. Các đoạn chính nằm trong "Khải huyền Nhất lãm " (Mc 13, 9- 13 ; Mt 24, 9- 14, 10, 17- 21 ; Lc 21, 12- 19). Đặc điểm Kitô luận, "vì cớ Ta", vì danh Ta " gặp thấy khắp đó đây. Hạnh phúc của kẻ bị bách hại xuất phát từ chỗ họ phải đau đớn vì đã nên một với Đấng Xét xử của mình. Thành ra chân phúc trước tiên xuất hiện như một lời khẳng định có tính cách thiên sai từ phía Chúa Giêsu.Và lời khẳng định này không tách rời với bối cảnh cánh chung.

Tiếp đến là các đoạn đặt nổi mối tương quan chặt chẽ giữa số phận đời đời của con người và thái độ họ đã chọn lựa trước Chúa Ki-tô.

- Những bản văn liên kết với viễn tượng cuộc bắt bớ: "Ai mất sự sống mình vì Ta thì sẽ gặp lại " (Mt 10, 19 ; x. 16, 25 ; Mc 8, 35 ; Lc 9, 24) -- Kẻ nào hổ thẹn chí Ta và các lời Ta trước mặt thế hệ ngoại tình và tội lỗi này, thì Con Người cũng sẽ hổ thẹn chối nó khi Người đến trong vinh quang Cha Người với các thiên thần" (Mc 8, 38 ; x. Lc 9, 26 ; Mt 10, 32- 33 , Lc 12, 8-9).

-Những bản văn liên hệ tai các sự thiếu thốn tự do chấp nhận và các hành vi bác ái tự do thực thi vì Chúa Kitô: "Không ai bỏ nhà cửa hay anh chị em, hay cha mẹ, hay con cái, hay ruộng nương vì Ta và vì Tin Mừng ... " (Mc 10, 29-30 ; x .Mt 19, 29- 30). - "Kẻ nào tiếp đón một trẻ nhỏ thế này vì danh Ta, tức là tiếp đón Ta" (Mc 9, 37 ; x. Mt 18, 5 ; Lc 9, 48 ; Mt 10, 40 ; Lc 10, 16). -Kẻ nào cho các ngươi uống một bát nước vì danh nghĩa là các ngươi thuộc về Chúa Kitô ..." (Mc 9, 41 ; x.Mt 10, 42). So sánh với Mt 25, 31- 46 : cái định đoạt số phận đời đời của còn người, đó là cách thức họ đối xử với các kẻ nhỏ và người cùng khốn, vì có một sự liên đới nhiệm mầu nối kết những hạng này với Chúa Ki-tô.

3. Sự công chính mà vì đó người ta cam chịu bắt bớ (Mt 5, 10). Thiết tưởng nên hiểu việc bắt bớ vì sự công chính này như một việc bắt bớ phải chịu cách bất công. Như thế ta mới đối chiếu được mối chân phúc với 1Pr 3, 14 : "Nếu anh em phải khổ vì sự công chính thì phúc cho anh em". Bối cảnh của 1 Pr 3, 14 quá rõ ràng: đó là những đau khổ mà Kitô hữu phải cam chịu dầu chẳng đáng. Thế mà chân phúc thứ 9, vế nhì của chân phúc thứ 8, có bao hàm chi tiết "sỉ mạ".

Tuy nhiên, khó mà nghĩ rằng tiếng công chính" ở đây khác nghĩa với tiếng công chính của chân phúc thứ 4 và của nhiều đoạn Tin Mừng Mt khác. Vì vậy, đây là vấn đề những đau khổ các môn đồ Chúa Kitô phải chịu vì sống phù hợp với lý tưởng Kitô giáo của mình. Người ta không còn nhấn mạnh như trước đến sự thiếu lý do xác đáng để gây nên bắt bớ, nhưng tích cực hơn, đến sự kiện phải đau khổ vì là Kitô hữu, một Kitô hữu biết tỏ ra lý tưởng của mình qua thái độ sống. Do đó phải liên kết thành ngữ "vì sự công chính" (chân phúc thứ 8) với chi tiết "vì Ta" trong chân phúc tiếp theo: sự công chính" vì vậy xuất hiện như dấu ấn của Chúa Kitô trên lý tưởng và thái độ của môn đồ người. Ta cũng có thể đối chiếu Mt 5,10 với Mt 13, 21, nơi nói rằng sự bách hại được chịu dựng : "vì Lời" nghĩa là vì lý tưởng được Tin Mừng đề ra. Lời giải thích này không xa lời giải thích trước : 1 Pr 4, 14- 19 cổ võ các tín hữu hãy đau khổ chỉ vì là Kitô hữu, để người ta không thể tìm trong họ bất cứ hành vi sai trái nào biện minh cho việc bắt bớ.

i- Chân phúc thứ chín : những kẻ bị bách hại vì Chúa Kitô. (5, 11)

Chân phúc thứ 9 xem ra chỉ lặp lại chân phúc thứ 8, những nơi Mt nó đóng vai trò hiện tại hóa; thực vậy, nó nói lên việc chuyển từ lý thuyết được đề ra sang thực tại cụ thể được cảm nhận và sống đồng thời với việc hành văn gián tiếp chuyển qua hành văn trực tiếp, thành ngữ "vì sự công chính" của câu 10 trở thành "vì Ta". Đối với ai đã khám phá ra tính cách thời sự của Chúa Kitô hiện diện trong đời mình, thì không còn nghi ngờ gì nữa; và vào thời Mt viết Tin mừng của ông, cộng đoàn Kitô hữu đă nắm được ý nghĩa của mối chân phúc giữa lòng cơn bắt bớ mà họ đang chịu từ phía người Do thái.

Hãy vui sướng và hân hoan ": Hai động từ này, mà Mt chỉ dùng ở dây, thường được Cựu ước sử dụng để suy tôn, ca mừng những hành vi cứu rỗi của Thiên Chúa (x. Hb 3, 18) với một âm điệu cánh chung; chúng trở lại trong thư lpr để diễn tả, như ở đây, niềm vui của các Kitô hữu bị bắt bớ ( 1Pr 1, 8 ; 4, 13- 14). Lúc mà người môn đồ cảm thấy niềm vui được liên kết mật thiết với cuộc Tử nạn của Chúa Kitô, thì họ nhận ra rằng Nước Trời thực sự đã đến.

KẾT LUẬN

Mt đã trình bày các chân phúc trong một bài giáo lý Kitô giáo ngắn gọn, theo cách thức khắc vào tâm trí những nguyên tắc và việc thực thi lý tưởng sống riêng biệt của Kitô giáo. Ông dạy rằng Nước Trời là phần thưởng cho những ai biết làm cho mình trở nên xứng đáng với Nước ấy nhờ thái độ nội tâm và nhờ cách thức sống sứ điệp Tin Mừng. Như vậy ; các mối phúc thật của Mt có một ý nghĩa khuyến thiện : chúng chẳng những công bố song còn kêu mời. Lối giải thích này của Mt liên kết chặt chẽ vào giáo huấn Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã rao giảng một nền luân lý bên ngoài của Biệt phái. Các mối phúc, như phần tiếp của diễn từ, đưa ra những điều kiện phải chu toàn để được thông phần vào sự sống, những điều kiện của một nền luân lý hoàn toàn nội tâm.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1.Mọi người đều ao ước hạnh phúc. Chúa Giêsu đã đến để thỏa mãn cái khát vọng hạnh phúc đang dày vò tâm hồn nhân loại ấy. Người đến bảo cho chúng ta biết ai là kẻ hạnh phúc đích thực trên trần gian. Đó không phải là những người giàu sang, nổi tiếng, những nhà đại chinh phục, đại thiên tài, song là các kẻ nghèo hèn, khiêm nhu, chính trực, nhân ái, xây dựng hòa bình và chịu bách hại vì đức tin ... Tiêu chuẩn hạnh phúc của Chúa Giêsu quả khác xa với các tiêu chuẩn của người đời vậy.

2. Các thánh, hạng người đã sống Bát phúc, là những kẻ hạnh phúc đích thực của thế giới này. Dù gặp đau khổ, họ vẫn có thể nói như thánh Phaolô: "Tôi tràn ngập hân hoan giữa những cơn bắt bớ". Vì đối với Kitô hữu, nỗi đau khổ không xung khắc với niềm vui, vì nó được chịu "vì" Chúa Giêsu, vì nó trở nên cơ hội cho ta liên kết mật thiết hơn và giống hơn với Bạn Tình.

3. Nói cho cùng, 8 chân phúc đều quy về một mối: phúc cho ai giống Chúa Giêsu. Vì nếu Chúa Giêsu đã tuyên bố Bát phúc trong diễn từ trên núi thì trước tiên Người đã sống chúng trong cuộc đời Người: chẳng ai từ bỏ bản thân, hiểu rõ nỗi khốn cùng nhân thế, rộng lòng xót thương, ao ước thi hành thiên ý, thẳng thắn và đơn sơ, xây dựng hòa bình và cam chịu bắt bớ bằng Người. Và chính vì thế Người đã có thể nói vào lúc cuối đời: "Lạy Cha, chớ gì niềm vui của con được tràn đầy nơi chúng, để niềm vui chúng nên trọn vẹn" (Ga 17, 13).

Noel Quession - Chú Giải

CHÚA NHẬT IV THƯỜNG NIÊN

Mt 5,1-12

Thấy đám đông, Đức Giêsu lên núi...

Phải suy nghĩ về những lời dẫn nhập đầu tiên này của bài giảng trên Núi Thánh Mát-thêu giới thiệu với chúng ta Đức Giêsu lúc bắt đầu sứ vụ của Người, có một đám đông đi theo Người. Và những câu trước đó mô tả đám đông ấy gồm, những người bệnh hoạn, tật nguyền, những kẻ kinh phong, bại liệt...(Mt 4,23). Đức Giêsu là Đấng nhìn thấy đám đông lầm than vất vưởng mà chạnh lòng thương. . .như bầy chiên không người chăn dắt (Mt 9,36). Ngày hôm nay... tôi nhìn thấy ánh mắt của Đức Giêsu đẫm lệ xót thương những ai bị đè bẹp : bệnh hoạn, tật nguyền, những người không việc làm, những phụ nữ bị nhạo báng, những người nghèo thuộc mọi thành phần, "những người thu thuế và tội lỗi" cả một nhân loại ấy bên bờ tuyệt vọng.

Khi Đức Giêsu nhìn thấy tất cả nhữngđiều đó. .. Người làm gì ? Người nói gì ?

Đức Giêsu lên núi. Người ngồi xuống các môn đệ đến gần bên. Người mở miệng dạy họ rằng :

Phong cảnh này được cố ý dựng lên vĩ đại và long trọng. Đức Giêsu rất con người nhưng theo Tin Mừng của Mát thêu cũng là "Đức Chúa Vinh quang", uy nghi như một tranh thánh của phương Đông. Phong cảnh núi non là "bài giảng" Đây không phải là một phác họa cho diễm lệ, đó chính là khung cảnh vĩ đại của việc công bố luật mới là núi Xi-nai mới, đỉnh núi bốc khói nơi Thiên Chúa nói với dân. Và Đức Giêsu là Mô-sê mới, nhà làm luật, nhà giải phóng chân chính cho tất cả những ai đang sống trong nô lệ.

Vâng, bạn đang bị đè bẹp bởi một hoàn cảnh mà con người không thể chịu đựng nỗi, bạn hãy lắng nghe ! Thiên Chúa muốn nói với bạn môt điều. Bạn đang khốn khổ bởi vì bạn cảm thấy bị tổn thương trong những khát vọng sâu nhất bạn hãy lắng nghe ! Nếu bạn có cơ may "'hiểu được, điều Người sắp nói với bạn, thì cuộc đời bạn sẽ được thay đổi. Hãy lắng nghe... Bạn hãy lắng nghe Thầy. Bạn hãy lắng nghe Đức Giêsu .

"Phúc thay... Phúc thay... Phúc thay...

Đó là chữ đầu tiên của tất cả các câu trong "bài giảng trên núi".

"Phúc thay" !, "makarioi" trong tiếng Hy-lạp.

"Phúc thay" !, "asherei" trong tiếng Do Thái...

Vâng chủ đề của bài thuyết giáo đầu tiên của Đức Giêsu chính là hạnh phúc. Các mối phúc thật là một sự loan báo về hạnh phúc, một "tin mừng tóm lược toàn bộ Tin Mừng. Các bạn là những người nghèo khó, bị khinh miệt những người chán nản, thất vọng, các bạn có thể được hạnh phúc. Các bạn hãy hạnh phúc. Bởi vì hạnh phúc thật trước tiên không phải là công việc của sự giàu sang, của sự thành công, của lạc thú. Bạn đã tưởng rằng hạnh phúc không dành cho bạn... Đức Giêsu nói với bạn rằng bạn có thể được hạnh Phúc. Đức Giêsu muốn làm cho các môn đệ của người trở thành những người hạnh phúc. Bạn là Kitô hữu ! bạn có biết rằng bạn đang hạnh phúc không ? Nếu bạn không hạnh phúc, bạn không hỏi tại sao ư ?

Nhưng vấn đề là hạnh phúc nào ? Có nhiều loại hạnh phúc .Và hạnh phúc khi nào ? Cho cuộc đời hiện tại hay cuộc sống mai sau ?

Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó...

Phúc thay ai hiền lành...

Phúc thay ai sầu khổ...

Phúc thay ai khao khát nên người công chính .. .

Phúc thay ai xót thương người...

Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch...

Phúc thay ai xây dựng hòa bình...

Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính...

Hạnh phúc mà Đức Giêsu nói đến không loại trừ những nghịch cảnh và sự đau khổ. Chúng ta đã thấy điều đó qua tất cả bản văn, một cách chính xác Đức Giêsu nhắm đến những người mà người ta coi như những người bất hạnh. Các mối phúc thật không nhắm đến "những"hạng người khác Những từ ngữ thay đổi ở đó chỉ để làm dôi lại một tư tưởng duy nhất : "Anh em hãy đến cùng tôi. tất cả những ai đang vất vả và nặng nhọc, và tôi, tôi sẽ cho anh em sự nghỉ ngơi. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học vôi tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng vì ách tôi êm ái và gánh tôi nhẹ nhàng" (Mátthêu 11,28-30).

Vâng, Đức Giêsu đúng là Đấng mà người ta chờ đợi "Đấng đã được loan báo", "Đấng phải mang lại Tin Mừng "cứu độ" Người ta hay quên rằng chữ "Tin Mừng" đã được chính Đức Giêsu lấy lại từ phần thứ hai của sách I-sai-a : "Thần khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu (oint = chnstoa) tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức..." (I-sai-a 61, 1.6 - Lc 4, 18)

Phúc thay... vì Nước Trời là của họ...

Tám mối phúc thật đầu tiên được đóng khung bằng sự bao gồm này, được lặp lại hai lần ở đầu và ở cuối (Mt 4,3 và 4,10). Bởi công thức này, Đức Giêsu trả lời hai câu hỏi của chúng ta : hạnh phúc nào ? khi nào ? Vấn đề là một hạnh phúc "từ bây giờ". Nước trời đang ở trong anh em: Không phải chỉ là một hạnh phúc được hứa cho mai sau, cho đời sau. Phải hiểu rõ sự tế nhị trong tư tưởng của Đức Giêsu.

Sẽ là một sự hiểu sai khi biến nó thành một thứ "thuốc phiện của quần chúng để người ta hút và ngủ thiếp đi với lại hứa sẽ được hạnh phúc sau này, bên kia thế giới sau khi chết ! Đức Giêsu nói rằng những ai bị đè bẹp bởi thế giới này thì được hoặc có thể được hạnh phúc một cách thiết thực ngay trong lúc mà Đức Giêsu nói điều đó với họ. Nhưng điều này không hiển nhiên. Phải ý thức về nó. Và điều ấy dĩ nhiên không loại bỏ viễn cảnh của một "thế giới phải đến", "Nước Thiên Chúa" nhưng niềm hy vọng ấy đã chuyển biến hiện tại. Tương lai hạnh phúc mà Đức Giêsu hứa ban cho tất cả những ai bị hoàn cảnh nhọc nhằn hiện tại đè bẹp…. tương lai ấy đã trở thành một thực tại hiện diện trong ngôi vị và tình bạn hữu của Đức Giêsu

Bởi vì hạnh phúc ấy, chúng cuộc, chính là Triều đại của Thiên Chúa", chính là "Tinh yêu Thiên Chúa" ngay từ Hôm Nay nếu bạn muốn thật sự soi sáng hoàn cảnh đau khổ của bạn. Đức Giêsu không bao giờ định nghĩa "Nước Thiên Chúa (những chữ Nước, Triều đại, Vương quyền đều giống nhau trong tiếng Do Thái), nhưng nó gợi lên ý tưởng và người ta có về Đấng Quân Vương, Đấng Thiên Sai lý tưởng trong toàn bộ Phương Đông Cổ đại : chức năng đầu tiên của vua (Đấng quân Vương) là bảo đảm sự giải phóng khỏi mọi sức mạnh ngoại bang đang đe dọa... bảo đảm công lý và bảo vệ những người nghèo, trẻ nhỏ chống lại những người giàu sang và quyền thế là những người luôn luôn có khuynh hướng bóc lôt những người yếu đuối. Khi Đức Giêsu khẳng định rằng những người nghèo là những người được Thiên Chúa ban đặc ân, rằng triều đại của Thiên Chúa thuộc về họ, rằng công lý vương đế đứng về phía những người phận nhỏ….Đức Giêsu không nói rằng những người nghèo là những tốt nhất, đạo đức hơn những người khác. Vấn đề ở đây không phải là tâm lý hoặc đạo đức của những người nghèo. Trong. Những công bố này về các mối phúc thật, có một sự mạc khải một ý tưởng nào đó về Thiên Chúa : Thiên Chúa tự nhận mình có bổn phận là một ông vua tốt. Thiên Chúa đặt niềm vinh dự của Người trong việc đem lại "hạnh 'phúc", một cách mầu nhiệm, cho những người bị tước đoạt hết mọi hạnh phúc của con người. Cho cả bạn nữa, nếu bạn muốn ! Hạnh phúc nghịch lý và không thể hiểu được đối với người nào đã không cảm nghiệm nó.

Vậy bạn hãy thử xem. Hãy bước vào hạnh phúc đó của Thiên Chúa. Ngay NGÀY HÔM NAY.

Nếu bạn đã bắt đầu hiểu được ý nghĩa toàn diện" của các mối phúc thật, lúc đó bạn hãy lắng nghe cách thể hiện mà Mát-thêu đem lại. Sự công bố Tin Mừng Nước Thiên Chúa trình bày một chương trình sống cho người Kitô hữu : nếu bạn muốn hạnh phúc thì đó là cách mà bạn phải làm.

Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.

Phúc thay ai hiền lành vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.

Cùng một chữ Do Thái "anawim': có thể được dịch là "nghèo khó" hay là "hiền lành". Đó là hai khía cạnh của cùng một thực tại. Chữ "anawim" gợi lên hình ảnh của một người "bị uốn cong", thái độ của kẻ yếu không còn khả năng tự vệ bắt buộc phải nhường bước trước những người là nạmh nhất. Là người bị hạ nhục, bị làm cho thấp kém, người đó dù là nam hay nữ không làm sao để cho người ta tôn trọng các quyền của mình…. Người "hiền lành" chính là người không bực tức trước sự thịnh vượng của những vô đạo và họ không đánh mất lòng nhẫn nại. Đức Giêsu nói về người "Thầy hiền lành và khiêm nhường ở trong lòng (Mt 11,29-12, 18-21). Bị các kẻ thù công kích, Người tha thứ cho họ. Đức Giêsu đã sống mối phúc thật thứ nhất:

Phúc ai sầu khổ , vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thỏa lòng.

Phúc thay ai xót thương người vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.

Đức Giêsu đã khóc với Mát-ta và Ma-ri-a. Đức Giêsu hoàn toàn "tương ứng" với ý muốn của Chúa Cha : Người là Đấng Công chính. Người là lòng thương xót của Thiên Chúa đối với những người tội lỗi. Người đã tha thứ tha thứ và tha thứ... Tâm hồn Người "thanh khiết" vô song, không chút sai lầm, không chút quanh co : hành động và ý định của Người hoàn toàn thống nhất.

Phúc thay ai xây dựng hỏa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.

Đức Giêsu đến để đem lại hòa bình . Ồ, những ai xây dựng hòa bình thật hạnh phúc, họ hòa giải những cặp vợ chồng gây gỗ, cãi vã nhau, họ nối lại những tình bạn bất hoà? họ làm dịu bớt những xung đột giữa cha mẹ và con cái trong gia đình, họ tạo ra sự lắng nghe và hiểu biết lẫn nhau. Không có sự phục vụ nào lớn hơn là phục vụ anh em mình. "Thầy ban cho anh em bình an của Thầy không như thế gian ban tặng". (Ga 14,27). Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng" hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.

Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

" Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó"

BÀI TIN MỪNG : Mt 5, 1 - 12 a

I / Ý CHÍNH :

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Mt ghi lại phần đầu bài giảng trên núi của Chúa Giêsu nói về những mối phúc thật như là một hiến Chương Nước Trời.

II. SUY NIỆM :

1/ "Chúa Giêsu thấy đoàn lũ đông đảo" :

Đoàn lũ đông đảo gồm các Tông đồ, các môn đệ và dân chúng kéo đến từ Galilêa bên kia sông Giođan, từ miển Thập tỉnh, miền Giuđêa và Giêrusalem. Trong đám đông này có những người Do thái thuộc tất cả mọi học thuyết khác nhau, lại có cả dân ngoại đến từ Tyr và Siđom (Lc 6,17, Mt 4,25). Như vậy đoàn lũ đông đảo nói lên tính cách phổ quát của sứ điệp và của giáo huấn Chúa Kitô, đồng thời cũng gợi al5i hình ảnh toàn dân tập hợp lại lúc ban lể luật trên núi Sinai, và như vậy "đoàn lũ đông đảo" ở đây là hình ảnh dân mới của Chúa Giêsu tuyển chọn tức là Giáo Hội vậy.

"Người lên núi" : "Núi" theo nghĩa Thánh Kinh là nơi Thiên Chúa ngự, vì thế khi đặt bài diễn từ Chúa Giêsu trên núi, Matthêô xem ra có ý muốn nói lên tầm mức quan trọng của bài diễn từ này, Chúa Giêsu nói với tính cách như một người có quyền, vì Người là Thiên Chúa, đồng thời cũng nhắc lại việc ban lề luật trên núi Sinai (Xh 24,9).

"Lúc người ngồi xuống" : Thế ngồi của Chúa Giêsu khi giảng dạy gợi lên cử chỉ của vị giáo sĩ Do thái giải thích Thánh Kinh cho môn đồ. Ở đây muốn gợi lên hình ảnh các cộng đoàn sơ khai, gồm "môn đồ" lẫn "đám đông" lương dân tụ họp lại để nghe và chủ toạ cộng đoàn công bố Lời Chúa.

2/ "Bấy giờ Người mở miệng dạy họ" :

Bài diễn từ này Matthêô và Luca cũng kể lại, nhưng chúng ta nhận thấy có mấy điểm cần lưu ý :

a) Về số lượng mối phúc :

Tất cả có 9 cái phúc, nhưng Mt qui vào 8 mối phúc vì cái phúc cuối cùng chỉ diễn giải và áp dụng mối phúc thứ tám.

Còn Luca chỉ ghi có 4 mối phúc và bù lại ông ghi 4 lời nguyền rủa và như vậy cũng đủ con số 8 (Lc 6,20-23).

b) Về cách xưng hô :

Matthêô dùng ngôi thứ ba "Phúc thay những ai…" vì ông muốn nhấn mạnh đến các Tông đồ, các môn đệ và dấn chúng trong mọi thời đại và khắp mọi nơi.

Luca dùng ngôi thứ hai. "Phúc cho các ngươi…" : là vì ông muốn nói đến những người đang hiện diện lúc Chúa Giêsu đang giảng dạy là những người mà Chúa Giêsu coi như là những người nghèo khó đang nghe Người vậy.

c) Về cách trình bày :

Nơi mỗi phúc đều nêu lên một nhân đức rồi kèm theo đó là phần thưởng hứa ban. Phần thưởng hứa ban tuy cách diễn tả nơi mỗi phúc có khác nhau, nhưng cùngc hung một mục đích là được về ở với Thiên Chúa tức là Nước Trời. Đến đây chúng ta tìm hiểu riêng từng mối phúc.

3/ "Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó" :

Tinh thần nghèo khó : Matthêô muốn nhấn mạnh đến thái độ tâm hồn hơn là đến giai cấp khó nghèo trong xã hội. Người có tinh thần nghèo khó là người :

a) Có tinh thần từ bỏ và siêu thoát bên trong đối với của cải vật chất.

b) Không những biết dứt bỏ của cải mà còn biết khước tứ chính mình để phó thác hoàn toàn cho Thiên Chúa. Sự khó nghèo này chẳng những liên hệ đến của cải vật chất mà còn lan rộng đến các loại tài sản khác nữa như : ý riêng, tài năng, danh vọng, các công nghiệp tinh thần…

c) Vì thế cái nghèo ở đây không phải là cái nghèo bất đắc dĩ, đau khổ vì mình không có gì, vì mình bị thần tài hất hủi, nhưng vì sự khiêm nhường đơn sơ biết khước từ tất cả để được tự do, thong dong theo Chúa và gắn bó với Ngài.

4/ "Phúc cho những ai hiền lành…" :

Hiền lành không phải là nhút nhát thụ động, nhưng là bình tĩnh can đảm chịu đựng và dịu dàng trong cách cư xử.

Hiền lành thiết yếu là nhân từ, có quan hệ một đàng với sự khiêm nhường, đàng khác với lòng thương xót tha nhân… (Mt 11,28. 21,3).

Lời hứa "Được Đất Nước" ý nói về Đất hứa, cũng là kiểu nói để chỉ "Nước Trời" (Tv 37, 11).

5/ "Phúc cho những ai đau buồn…" :

Đau buồn là những nỗi buồn vì đã phạm tội và đã xa lìa Thiên Chúa, buồn vì hậu quả tinh thần của tội lỗi (1Cr 5,2. 12,21. Ge 4,9), buồn cũng là tâm tình của người mong đợi nguồn an ủi khi được ơn tha thứ tội lỗi và an ủi đầy đủ và trọn vẹn, nhất là được tha thứ vào lúc phán xét sau cùng.

6/ "Phúc cho những ai đói khát điều công chính…":

Sự công chính của Matthêô đề cập đến là cách ăn nết ở của người Kitô hữu rập theo thánh ý của Thiên Chúa mà Đức Kitô đã công bố. Đói khát sự công chính là ước mong sống sao cho vừa ý Thiên Chúa bằng cách chu toàn những điều Ngài muốn (Mt 3,15. 5,17. 5,20. 6,1. 21,32).

Vì vậy hạnh phúc Nước Trời dành cho những ai hết sức ước ao thực thi sự hàon thiện theo đường lối của Thiên Chúa trong cuộc đời mình.

7/ "Phúc thay cho những ai hay thương xót người…":

Lòng thương xót được biểu lộ qua lòng nhân từ với tha nhân :

+ "Ta muốn lòng nhân ái chứ không muốn hy lễ" (Mt 9,13. 12,7).

+ Điều này cũng được nhắc tới trong dụ ngôn đầy tớ không có lòng thương người (Mt 18,23-35).

Lòng thương xót này là điều kiện để được Chúa xót thương. "Vì nếu các ngươi tha thứ cho người ta, những điều họ xúc phạm, thì Cha các ngươi trên trời cũng tha thứ cho các ngươi…" (Mt 6,14-15).

Lời hứa về lòng thương xót của Thiên Chúa được biểu lộ vào ngày cánh chung khi Đức Kitô đem những kẻ "biết xót thương" vào Nước Trời (x. Gđa 21,2. 2Tm 1,18).

8/ "Phúc cho những ai có lòng thanh sạch…":

Chữ "lòng" có nghĩa như chữ "tinh thần" ở mối phúc thứ nhất, nhấn mạnh đến tính cách nội tâm hơn là hình thức bên ngoài.

"Trong sạch" : ở đây có nghĩa là sự ngay thẳng lương tâm. Người có lòng thanh sạch là người phục vụ Thiên Chúa và tha nhân hết tâm hồn, không tính toán tư lợi hay giả bộ đạo đức. Vì thế sự trong sạch ở đây gồm các chủ ý về các phương diện, chứ không nguyên về phương diện đức trinh khiết.

Lời hứa "nhìn xem Thiên Chúa" có nghĩa là trình diện trước Nhan Thánh Thiên Chúa và vì vậy nơi Matthêô, thành ngữ chỉ ạhnh phúc Nước Trời được gợi lên hình ảnh một sự tham dự vào phụng tự diễn ra trước mắt Thiên Chúa (x. Xh 12,3-4. Dt 12,14).

Mối phúc này cho thấy : để được nhận vào Nước Trời thì cần phải trong sạch. Sự trong sạch này không chỉ có tính cách nghi lễ bên ngoài, nhưng còn có tính cách hoàn toàn ngay thẳng bên trong nữa. Đây không phải chỉ là những àhnh vi song là một thái độ của tâm hồn. Thái độ làm căn nguyên cho hành vi của ta. "Thèm lòng chứ ai thèm thịt" là vậy.

9/ "Phúc cho những ai ăn ở thuận hoà…":

Đây là một đức tính có tính cách xã hội, vì thế nó không chỉ nhắm tới thái độ nội tâm như các mối phúc khác, song là một hành vi bên ngoài. Làm một con người hiền hoà, yêu mến bình an thì chưa đủ, mà còn phải ra công xây đắp bình an, thuận hoà bất cứ nơi nào có bất hoà ngự trị (x. Mt 5,23-24).

Lời hứa "được gọi là con Thiên Chúa" có nghĩa là trở thành con Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Thiên Chúa Hoà Bình (2 Cr 13,11).

10/ "Phúc cho ai bị bách hại vì lẽ công chính…":

Bị bách hại : đây là một đặc điểm của Tin Mừng nhưng lại là một mối phúc mới lạ đối với đạo Do thái, vì công trình cứu chuộc của Đấng Thiên Sai bằng việc chịu thương khó, tử nạn và phục sinh là điều mà người Do thái đương thời khó hiểu và khó chấp nhận.

Vì lẽ công chính : nghĩa là vì Thầy (Mt 5,11) vì danh Thầy (Mc 13,9-13, Lc 21,12-19) điều này cho thấy người bị bách hại được đồng hoá với Chúa Giêsu. Theo nghĩa hẹp hơn từ sự sống chung ở đây cũng đồng nghĩa với chữ công chính ở trong mối thứ bốn, nghĩa là công chính vì lý tưởng Kitô. Vì vậy những đau khổ các môn đệ Đức Kitô phải chịu là sống phù hợp với lý tưởng Kitô giáo của mình. Thánh Phêrô cũng xác quyết điều này khi tuyên bố : "Nếu anh em phải khổ vì sự công chính thì phúc cho anh em" đó là những đau khổ mà các Kitô hữu phải chịu dầu chẳng đáng.

11/ "Phúc cho các con khi người ta ghen ghét…":

Đây không phải là mối phúc thứ 9, mà chỉ là lời giải thích và áp dụng mối phúc thứ 8 ở trên, nhất là Chúa muốn áp dụng cho các môn đệ.

12/ "Các con hãy vui mừng hân hoan…":

Kiểu nói này Cựu ước thường dùng để suy tôn, ca mừng những hành vi cứu rỗi của Thiên Chúa (x. Hb 3,18) với tính cánh chung :

Matthêô dùng kiểu nói này ở đây để chỉ niềm vui của các Kitô hữu bị bắt bớ (1 Pr 1,8. 4, 13-14) lúc mà người Kitô hữu cảm thấy niềm vui được liên kết mật thiết với cuộc tử nạn của Chúa Kitô, thì họ nhận ra rằng Nước Trời thật sự đã đến.

III. ÁP DỤNG :

A/ Ap dụng theo Tin Mừng :

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Giáo Hội muốn nhắc lại cho chúng ta con đường vào Nước Trời, đó là 8 mối phúc thật sống tinh thần nghèo khó, hiền lành đau buồn vì tội lỗi, khao khát điều công chính, có lòng thương xót người, có lòng trong sạch vui vẻ đón nhận sự bách hại vì đức tin và sống thuận hoà.

B/ Áp dụng thực hành :

1/ Nhìn vào việc Chúa làm :

a) Chúa Giêsu thấy đoàn lũ đông đảo : noi gương Chúa chúng ta cũng phải có cái nhìn phổ quát đối với những người chung quanh để gây cho chúng ta ý thức về trách nhiệm trong việc cứu rỗi tha nhân.

b) Người đi lên núi : hoàn cảnh đi lên núi là nơi gặp gỡ Thiên Chúa, đã tạo cho việc giáo huấn của Chúa trở thành quan trọng đối với người nghe. Noi gương Chúa chúng ta cũng phải tạo môi trường và hoàn cảnh thích hợp cho công việc và về lời giảngd ạy về Chúa cho tha nhân : như nơi trang nghiêm, môi trường yên tĩnh, thanh vắng hoặc sự trang hoàng chung quanh gợi lên sự sốt sắng cho lòng người.

c) Người ngồi xuống : cử chỉ này nói lên sự thân mật và tương giao giữa Chúa Giêsu và người giảng dạy với đám đôngd ân chúng là người nghe. Noi gương Chúa chúng ta phải tỏ lộ những cử chỉ thân mật tâm giao để khơi dậy sự chú ý và tin tưởngc ho người nghe.

2/ Nghe lời Chúa nói :

Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, phúc cho chúng ta khi gặp cảnh thiếu thốn vật chất mà biết đón nhận cách sẵn sàng vì Chúa.

Phúc cho những ai hiền lành : phúc cho chúng ta khi biết chịu đựng những xúc phạm của tha nhân trong tinh thần khiêm nhường và tha thứ.

Phúc cho những ai đau buồn : phúc cho chúng ta biết khi biết mau mắn nhận thức để thống hối những lỗi lầm khuyết điểm của mình.

Phúc cho những ai đói khát sự công chính, phúc cho chúng ta khi biết tỏ lòng từ bi thương xót đối với tha nhân nhất là những người đang cần sự giúp đỡ của ta.

Phúc cho những ai ăn ở thuận hoà : phúc chúng ta khi biết sống bình an và đem lại an hào cho mọi người.

Phúc cho những ai có lòng trong sạch : phúc cho chúng ta khi có lương tâm ngay thẳng và tính đơn sơ thật thà, trong việc thờ phượng Thiên Chúa và giao tiếp tha nhân.

Phúc cho những ai bị bách hại : phúc cho chúng ta khi gặp thử thách vì đức tin, về đời sống đạo hằng ngày và vì tất cả khó nhọc vì Chúa.


(Mt 5,1-12)

Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

TÁM MỐI PHÚC THẬT

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Tuyên bố kẻ nào đó "có phúc" nghĩa là gì? "Phúc thật" nghĩa là sao (x. 11, 6 ; 13, 16 ; 16, 17 ; 26, 46) ? Đâu là tương quan giữa hai phần, được nối kết nhau bằng chữ "vì " của mỗi chân phúc? Ta có thể nói đến một thứ luân lý của các mối phúc thật không ?

2. Đâu là nghĩa hàm súc riêng biệt của "kẻ nghèo" trong quan niệm Kinh Thánh ? Phải chăng đó là một giai cấp xã hội ? Một giai cấp tôn giáo? Về tình trạng tôn giáo của người nghèo trong Cựu ước, xem Am 4, 1 ; 8, 4 ; Is 3, 14tt ; 10, 2 ; sau lưu đày: Is 41,17; 42, 21- 23 ; 50, 6 ; 53, 7 ; Edr 3, 3 ; Hg 1, 6.9- 10 ; Is 59, 3- 8. 12- 15; Ml 2, 17 ; 3, 5 ; 4, 1 -3 ; Nh 5 , 1 -5 ; 13, 4-9 . 28- 29 ; Tv 11 ; Tv 93 ... Hãy thử biểu thị đặc tính của kẻ nghèo theo Thiên Chúa (x. Cn 30, 7- 8).

3. Việc bắt bớ các tín hữu liên hệ đến Chúa Kitô như thế nào? Mt có bàn đến mối liên hệ đó không?

4. Hãy đặt các mối phúc thật vào trong lời giải thích toàn bộ của Diễn từ trên núi (đối nghịch giữa sự công chính cũ và sự công chính Kitô giáo ; việc cắt đứt mối hên hệ cổ truyền giữa nhân đức-thịnh vượng).

5 . Cho tới đây tức là trong mấy chương trước (1- 4), Mt đã cho ta thấy Chúa Giêsu sống các mối phúc thật thế nào ?

6. Như Mt trình bày, Chúa Giêsu đã sống các mối phúc thật trong quãng đời tại thế còn lại của Người ra sao?

7. Đâu là các bậc thang giá trị, các thái độ hay não trạng hiện thời đì ngược với tinh thần các mối chân phúc ?

1. Phúc thật là một thể văn quen thuộc của Cựu ước ; người ta tìm được 45 công thức "phúc thật" (macarisme, do Hy ngữ "makarios", "'hạnh phúc") trong bản Kinh thánh hy bá, mà 26 công thức đã nằm trong Thánh vịnh (vd Đnl 33, 29 ; Tv 1, 1 ; 41, 2 ; 84,13 ; 112, 1 ; 119, 1- 2 ; 128, 1 ; Cn 3,13 ; Hc 14, 20 ; 25, 7- 11 v.v.) Nó diễn tả việc mặc khải hay khám phá một hạnh phúc rất sâu xa, căn bản, mà con người trong Kinh Thánh quy về cho Thiên Chúa. Văn chương khôn ngoan dính cho nó một chỗ quan trọng, đặc biệt trong các Thánh vịnh sáng tác sau cùng, và thể văn cũng gặp lại trong các ngụy thư ; riêng bản Kinh Thánh Hy lạp (LXX) có khoảng 60 công thức "phúc thật". Còn về hình thức của các mối phúc thật Tin Mừng trong diễn từ ta đang nghiên cứu, nó khá gần vời hình thức được khai triển trong Tv 41, 2 : "Phúc thay người biết lo đến kẻ mọn hèn nghèo khó : vào ngày hoạn nạn, Chúa sẽ giải thoát cho".

2. Bản văn 9 lần làm nổi bật từ ngữ "phúc cho". Thật thế, sứ điệp của Chúa Giêsu ở đây có vê tập trung vào "hạnh phúc thật": hạnh phúc theo nghĩa tôn giáo, thứ hạnh phúc đặt con người trong tương quan đích thực với Thiên Chúa, và do đấy, với toàn thể thực tại.

3. Trong mối chân phúc đầu và cuối, Chúa Giêsu dạy rằng Nước Trời đã hiện diện, đồng thời quả quyết nó còn được hứa ở tương lai, trong 6 chân phúc khác. Sự căng thẳng ấy biểu lộ tính cách vừa tuyệt đối vừa lịch sử của Nước Trời, nước mà Mt, lấy lại thành ngữ của Do thái giáo, bảo rằng vừa "thuộc trời" vừa biểu dương trên mặt đất trong con người Chúa Giêsu. Sự căng thẳng ấy biểu lộ cái mà ta gọi là tính cách "cánh chung ; của Nước Thiên Chúa. Nước ấy đã bắt đầu và hiện diện trong con người Chúa Giêsu, song chỉ hoàn thành viên mãn vào ngày Quang lâm, khi Con Người trao nó lại cho Chúa Cha (1Cr 15, 24) và lúc Thiên Chúa trở nên mọi sự trong mọi người (1Cr 15, 28). Lối đóng khung của câu 3 và 10 : "Vì nước Trời là của họ" xem ra muốn bảo mối phúc đầu và mối phúc cuối, cũng như 6 mối phúc khác được chúng bao trùm, diễn tả cùng một thực tại dưới nhiều sắc thái khác nhau.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

"Thấy dân chúng ": Việc đề cập đám đông này, được lặp lại vào cuối diễn từ theo kiểu đóng khung (5, 1 và 7, 28), nhấn mạnh một cách kín đáo tầm mức phổ quát của sứ điệp và của giáo huấn Chúa Giêsu. Và điểm đó phủ nhận lập trường của những kẻ chủ trương rằng Diễn từ trên núi chỉ dành cho các "môn đồ " hiểu như một nhóm Kitô hữu "hoàn thiện hơn", cho một hạng người riêng biệt. Ngữ vựng có tính cách vũ trụ của diễn từ cũng còn vạch rõ tầm mức phổ quát ấy : đất (5, 4. 13. 18. 35 ; 6, 10. 19), trời (5, 18. 34 ; 6, 10. 20. 26), thế gian (5, 14) ; ánh sáng (5,14.16 ; 6, 23), tối tăm (6, 23), mặt trời và mưa (5, 45). Vẫn biết đây là lần đầu tiên Tin Mừng đề cập đến "môn đồ", nhưng bản văn, vì không xác.định lai lịch gì của họ, cho thấy đó chẳng phải là một đẳng cấp cao hơn; nó chỉ muốn bảo rằng họ làm thành một nhóm nhỏ thân cận với Chúa Giêsu và phân biệt với dân chúng.

"Người lên núi": Khi đặt bài diễn từ của Chúa Giêsu trên núi (chứ không phải nơi đồng bằng như Lc), Mt xem ra có một chủ ý rõ ràng. Chắc hẳn ta phải coi đó như muốn nhắc lại việc ban lề luật trên núi Si-nai: theo truyền thống Giavít, Môisen "đã lên đấy với Aaron, Nađáp, Abihu và 70 kỳ mục Israel" (Xh 24, 9), trong lúc dân chúng ở lại dưới chân núi (x.Xh 24, 12). Thế ngồi của Chúa Giêsu khi giảng dạy gợi lên cừ chỉ của vị giáo sĩ Do thái giải thích Thánh kinh cho môn đồ, khác với vị giảng sư Hy lạp chỉ đứng mà nói. Chắc hẳn chúng ta có thể nhìn thấy, in chìm qua bức tranh này, hình ảnh các cộng đoàn sơ khai, gồm "môn đồ" lẫn "đám đông" lương dân, tụ họp lại để nghe vị chủ tọa cộng đoàn công bố Lời Chúa.

VÀI NHẬN XÉT ĐẠI CƯƠNG DÂN VÀO BA CHÂN PHÚC ĐẦU.

Ba mối chân phúc đầu liên hệ đến cùng một hạng người, những kẻ khốn khổ. Họ hình như khác biệt với nhóm người bị bắt bớ của mối chân phúc thứ tám ? Thoạt nhìn, hạnh phúc của họ không có vẻ phát xuất từ mối dây liên kết họ với Chúa Kitô, song từ thân phận khốn cùng họ phải chịu. Thế nhưng, xét cho cùng, hạnh phúc được loan báo cho những kẻ khổ sở ấy là thứ hạnh phúc mà Đấng Messia phải mang tới ; sắc thái thiên sai đặc trưng cho ba mối phúc này cũng như cho mối phúc thứ 8.

a- Những người được ưu đãi.

1. Kẻ nghèo : Trong Cựu ước, hạng được ưu đãi này làm thành một giai cấp xã hội và tôn giáo rõ rệt, gọi là "kẻ nghèo của Giavê ". Trước thời lưu đày, việc thưởng phạt được coi như thể hiện trên trần gian. Vì nghèo khó là một điều không hay, nên người ta nghĩ rằng kẻ nghèo là kẻ bị Thiên Chúa phạt tội. Ngược lại, sự giàu sang được xem như ơn huệ Thiên Chúa ban cho người công chính. "Nghèo" đồng hóa ít nhiều với "tội lỗi" trong khi 'giàu" tương đương với "công chính".

Kinh nghiệm thường nhật và nhất là cơn khủng hoảng lưu đày bó buộc phải duyệt lại các quan niệm trên. Người ta nhận thấy có nhiều kẻ giàu vi phạm bất công, kiêu căng ngạo mạn và bỏ quên Thiên Chúa (Đnl 8, 12- 14). Như trong cuộc lưu đày kẻ giàu là người Babylon không biết Giavê và đàn áp dân Chúa chọn, trong khi kẻ nghèo là những người Do thái hy vọng vào Giavê. Dần dà người ta đi đến chỗ đồng hóa kẻ giàu với quân vô đạo, người nghèo với hạng trung tín cùng Thiên Chúa. Tuy nhiên việc đồng hóa này, chỉ những tâm hồn đạo đức thực sự chăm chú khám phá mọi đường lối của gian mới chủ trương, còn đa số người Do thái, chắc hẳn bị ảnh hường bởi não trạng duy vật của các tư tế Saducêo của họ (những kẻ phủ nhận cuộc sống mai hậu và ân thưởng sau khi chết), đều bám riết vào quan niệm giàu sang là công chính.

Vấn đề kẻ nghèo của Giavê được bàn tới nhiều nhất trong Thánh vịnh. Họ thường được gọi như là những "aniyyim". Trong pháp chế Môisen, hạn từ này được dùng để chỉ các kẻ không có đất đai (Xh 22, 24 ; Lv 19, 10 ; 23, 22), thường là hạng nghèo khó theo nghĩa xã hội. Từ thời lưu đày, ý niệm khó nghèo tự nhiên gợi lên trong Thánh vịnh ý niệm tin tưởng phó thác vào Giavê : "nghèo hèn" và "đạo đức" lắm lần trở nên đồng nghĩa với nhau (Tv 34, 7- 8 ; 35, 10 ; 68, 11 v.v...).

Trong tiếng hy bá, không có mấy khác biệt giữa "ani "và "anaw " (mà bản 70 dịch là praus, "hiền hòa, dịu dàng"). Theo ngữ nguyên, "anaw" chỉ kẻ cúi mình, chịu đựng tất cả mà chẳng chống cự vì không thể tự vệ. Như "ani", "anaw" đã sớm khoác lên một ý nghĩa tôn giáo: "anawim" là các kẻ "khiêm nhường", không những hạ mình trước thế nhân mà còn trước cả Thiên Chúa và thánh ý ngài Người ta đặt đối lập nhóm các "anawim" tuân phục Giavê, với nhóm kẻ giàu ngạo mạn đàn áp. Sự đối nghịch này đã được khai triển chẳng hạn trong Tv 37. Dcr 9, 9 có loan báo việc xuất hiện của một vì vua của các "anawim", Đấng cũng được gọi là "anaw" (so sánh với Mt 21, 5). Isaia đệ nhị thì lại liên kết "người đói khát" và "ưu phiền" với hạng "khó nghèo" ấy (Is 58, 6- 10 ; 61, 1- 3).

Như thấy xuất hiện trong Cựu ước, các kẻ "khó nghèo", "ưu phiền" và "đói khát" thường dễ phân biệt nhờ địa vị xã hội thấp kém cùng nhờ lòng tùng phục hoàn toàn của họ vào thánh ý Thiên Chúa và vào sự cứu giúp mà họ trông ngóng nơi Ngài. Thế nhưng, ý nghĩa tôn giáo của các hạn từ này không được làm ta quên ý nghĩa xã hội đầu tiên của chúng. Chẳng có vấn đề thay thế, song là chồng chất và bổ trợ ý nghĩa xã hội bằng ý nghĩa tôn giáo. Dầu sao không phải bao giờ ý nghĩa tôn giáo cũng bao phủ ý nghĩa xã hội: mọi kẻ nghèo chẳng phải là anawim đích thực cả đâu, và sự tin tưởng khiêm cung vào Thiên Chúa vẫn có thể gặp thấy nơi người giàu có.

Khi tuyên bố hạnh phúc cho kẻ "khó nghèo " (ptôchoi), Chúa Giêsu dùng một từ ngữ đong đưa giữa ý nghĩa xã hội và ý nghĩa tôn giáo. Nếu muốn xác định xem Người đã tuyên bố sự nghèo khó là có phúc dưới góc cạnh nào, thiết tưởng hãy so sánh "kẻ nghèo" với những hạng ưu đãi khác trong Tin Mừng, tức là các trẻ thơ và người tội lỗi.

2.. Trẻ thơ (Mt 18, 3- 4 ; 19, 14 ; Mc 9, 33- 37 ; 10, 14- 15 ; Lc 9, 46- 48 ; 18, 16- 17). Tại sao trẻ thơ là những kê được hưởng Nước Trời ? Mc 10, 14- 15 chỉ ghi lại lời khẳng định của Chúa Giêsu mà không nói rõ phải làm thế nào để trở nên như chúng: "Hãy để các trẻ nhỏ đến cùng Ta ... vì Nước Thiên Chúa thuộc về những kẻ giống như chúng. Quả thật, Ta bảo các ngươi : ai không đón nhận lấy Nước Thiên Chúa như một trẻ nhỏ, thì chẳng được vào trong đó". Mt 18, 3- 4 gợi lên câu đáp : "Nếu các ngươi không hoán cải mà nên như trẻ nhỏ, các ngươi sẽ chẳng vào được Nước Trời. Vậy phàm ai kể mình hèn hạ (hy ngữ : tapeinôsoi heauton) như trẻ nhỏ này, thì người ấy là kẻ lớn nhất trong Nước Trời".

Đi từ quan điểm tây phương hiện đại (và quan điểm ấy xâm nhập vào đông phương qua ngã phim ảnh và sách báo), người ta có khuynh hướng chú trọng trước nhất đến sự vô tội của trẻ em và coi đấy là cái làm cho nó được hường Nước Trời. Nhưng nơi người Do thái thời xưa, trẻ thơ, đó là hạng nhỏ bé, không có tí quan trọng nào và chẳng đáng lưu tâm. Thành thử các môn đồ của Chúa Kitô phải đón nhận cách ý thức thân phận trẻ bé của mình ; họ phải tự coi mình như kẻ nhỏ và chấp nhận bị kể là không.

Câu Chúa Giêsu trả lời cho các sứ đồ lúc họ cãi cọ nhau về chỗ nhất trong Nước Trời (Mt 20, 26- 27 ; Mc 10, 43- 44 ; Lc 22, 26) và lời khuyến cáo đề phòng tính tự kiêu của ký lục ("Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, và ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên ": Mt 23, 12 ; Lc 14, 11 ; 18, 14) minh định rõ ràng phải trở nên như trẻ nhỏ bằng sự khiêm tốn. Trẻ em chịu một thân phận xã hội thấp kém; các môn đồ của Chúa Kitô cũng phải giống chúng nhờ một ý thức khiêm nhu phù hợp với thân phận này.

Ta có thể đối chiếu với các trẻ em những "kẻ bé mọn" mà Chúa Cha đã không ban mặc khải của Ngài cho (Mt 11,25- 26 ; Lc 10, 21 ; so sánh với 1 Cr 1, 18 -31). Những "kẻ nhỏ " này, vốn ít kiến thức, là những người bị các tiến sĩ luật coi khinh, không đếm xỉa tới.

3. Tội nhân : Đặc quyền của các tội nhân có lúc được liên kết với sứ mệnh Chúa Cha đã giao phó cho Chúa Giêsu, có lúc được đặt trong tương quan với thái độ tâm hồn của họ, thái độ ý thức về nỗi khốn khổ của mình.

Lời tuyên bố của Chúa Giêsu, nhân cơ hội gọi Lêvi, minh giải trường hợp thứ nhất: "Ta đến không phải để kêu gọi người công chính nhưng là kẻ tội lỗi" (Mc 2, 17 ; -> 9, 13 ; Lc 5, 31- 32). Sứ mệnh thiên sai của Chúa Giêsu liên hệ đến các tội nhân, nghĩa là những kẻ tự nhận mình là tội lỗi trước mặt Thiên Chúa và qua đó, mở lòng đón nhận ơn cứu độ nhân từ Ngài cống hiến cho họ. Còn người công chính, theo văn mạch các Tin Mừng, là những kẻ tự tin vào "đức công chính", vào "công nghiệp" của mình, những kẻ tự phụ mình có quyền được rỗi và vì thế từ chối ơn cứu độ nhưng không. Các dụ ngôn về lòng thương xót, trong chương 15 Lc, đều khai triển dài dòng lời tuyên bố đó của Chúa Giêsu.

Chỗ khác, Chúa Giêsu lại nhấn mạnh tới các thái độ tâm hồn thích hợp của tội nhân như khiêm nhường, thống hối ...Đó là ý nghĩa của dụ ngôn hai đứa con trai ( -> 21, 28- 32) mà Người áp dụng cho Biệt phái và kẻ tội lỗi: "Quân thu thuế, lũ đàng điếm qua trước các ông mà vào Nước Thiên Chúa ...". Dụ ngôn người Biệt phái và người thu thuế cũng khai triển sự đối nghịch này (Lc 18, 9-14).

Kết luận về những kẻ được ưu đãi. Như trẻ nhỏ và tội nhân, người nghèo làm thành một giai cấp xã hội xấu số. Trên bình diện tôn giáo, những kẻ cùng khốn ấy rất ý thức về nỗi khốn cùng và bất lực của mình. Ý thức này giúp họ xoáy khỏi mình và hướng về Thiên Chúa, Đấng họ hy vọng sẽ giải cứu chỉ vì lòng từ nhân. Do đấy họ rất sãn sàng, cởi mở trước mọi bước đầu nhưng không của Ngài. Vì hạnh phúc của những kẻ được biệt đãi chỉ đến từ một mình Thiên Chúa, Đấng sai Đức Messia của Ngài tới ban ơn cứu rỗi cho các kẻ thụ ân tiền định ấy thôi

Giáo huấn cơ bản này của các Tin Mừng nhấn mạnh đến tính cách "vô giá trị" của những người thụ hưởng lòng nhân Thiên Chúa cùng tính cách nhưng không hoàn toàn của ơn rỗi Chúa Kitô ban. Và tất cả Tân ước đều lặp lại chân lý chủ yếu này. Như thánh Phaolô, với nhiều hạn từ khác, đã đề cao nó để chống lại những người theo Do thái giáo : con người được công chính hóa (nghĩa là tái sinh, được cứu) không phải nhờ công việc, nhưng nhờ đức tin (hành vi qua đó họ thừa nhận cách ý thức rằng mình không thể tự cứu rỗi song phải phó thác toàn thân cùng định mệnh cho Chúa Kitô, Đấng mình cố gắng đồng hóa nên một). Cũng thế, Gio-an quy việc chiếm hữu sự sống thần linh trong hiện tại chẳng phải các các công việc được hoàn thành hợp luật, nhưng là cho đức tin (Ga 6, 28- 29).

b- Đặc ân.

1.Điều hứa: Các mối chân phúc trong Cựu ước phân thành hai loại thuộc hai trào lưu khác nhau. Trong các chân phúc có màu sắc khôn ngoan, quan điểm vẫn là quan điểm của một thứ khôn ngoan nhân trần ; hạnh phúc gắn liền với một vài thái độ thực tiễn và có thể coi như là thành quả nội tại của chúng (Cn 19, 8 ; Gv 10, 17 ; Hc 25, 8 ; 26, 1 ; 28 ; 19). Các chân phúc khác nằm trên một bình diện có tính cách tôn giáo hơn (nhất là trong Thánh vịnh), nhờ thái độ chúng đòi hỏi (tuân giữ Lề luật, tin tưởng Thiên Chúa ...) cũng như nhờ hạnh phúc chúng hứa ban (sự che chở của Thiên Chúa suốt thời hiện tại và vào lúc ngặt nghèo khi thời tương lai đến). Các phúc thật các tính cách tôn giáo ấy sớm mang một màu sắc cánh chung : người ta đặt vào thế giới mai sau cái hạnh phúc mà kinh nghiệm cho thấy không thể hứa hẹn cho người công chính trong thời hiện tại.

Các mối chân phúc của Tân ước cũng không ngừng loan báo hạnh phúc cánh chung, thứ hạnh phúc hệ tại việc tham dự là( ơn cứu rỗi Đấng Messia mang tới, nghĩa là Nước Trời. "Phúc cho kẻ được dự tiệc trong Nước Thiên Chúa" (Lc 14, 15).

2.Thời gian thực thi lời hứa: Hạnh phúc đoan hứa sẽ được ban lúc khai mạc Nước Trời. Thế mà việc khai mạc ấy lại liên kết với sự hiện diện của Đấng Messia. Vì thế các mối chân phúc chẳng phải là những lời hứa mơ hồ nhằm bù trừ cho hạng cùng khốn, nhưng thật là lời loan báo hân hoan về thời đại thiên sai sắp bắt đầu. Do đấy, sự hiện diện của Chúa Kitô có nghĩa là hạnh phúc : "Phúc cho mắt thấy điều các con thấy" (Lc 10, 23- 24 ; so sánh với Mt 13, 16-17). Vì thế ta hiểu hạnh phúc thường được định nghĩa như một hậu quả của mối tương quan với Chúa Kitô (Mt 16, 17 ; Lc 1, 45 ; 11, 27 ; Mt 11, 6 ; Lc 7, 23).

Ngược lại, việc từ khước Chúa Kitô, hoặc bằng cách bắt bớ, hay chỉ đơn giản không chấp nhận Người, gây nên bất hạnh lớn lao. "Khốn cho ngươi, Khoradin ... Ngày phán xét, đất Sôđôm sẽ được xét xử khoan dung hơn ngươi " (Mt 11, 21 .24 ; so sánh Lc 10, 13-1 5 ; Mt 26, 27 là song song; Mt 18,7 ; Lc 17, 1).

3. Hạnh phúc được hứa trong các mối chân phúc : Hạnh phúc này nhất thiết hệ tại chỗ đi vào Nước Thiên Chúa. Nó được Chúa Kitô đích thân mang đến cho nhân loại khi Người khai mạc Nước Trời. Và qua chính sự kiện đó, Chúa Giêsu quả quyết chung cục của lịch sử sắp xảy ra và chính Người sẽ thực hiện sự biến đổi ấy.

Thành thử các mối phúc đều nhuốm màu sắc thiên sai. Khi Chúa Giêsu tuyên bố là có phúc cho một nhóm người nào đó thì chính là vì mối liên lạc nối kết họ với Người, Đấng Kitô : nhóm này (như kẻ khó nghèo, ưu phiền, đói khát) có phúc vì biết thoát ra khỏi mình để chỉ tin vào Chúa Giêsu, Đấng Messia Thiên Chúa sai đến thiết lập Nước Trời ; nhóm khác (như những kẻ chịu bắt bớ) có phúc vì biết chấp nhận mọi hy sinh để bảo tồn mối dây liên kết họ với. Chúa Kitô. Ngược lại, khốn nạn cho ai phủ nhận Chúa Kitô hay bắt bớ Người.

c- Chúa Giêsu, Messia của các kẻ nghèo.

Tương quan giữa Chúa Giêsu và các kẻ nghèo cuối cùng đến từ thánh ý Thiên Chúa, Đấng đã loan báo trong Isaia đệ nhị rằng Đức Messia của Ngài sẽ mang lại hạnh phúc cánh chung cho người khốn khổ: Câ.u Chúa Giêsu trả lời cho các sứ giả cửa Gioan Tẩy giả rõ ràng gợi lên một chuỗi đoạn văn Isaia (nhất là 61 ; 1- 3 ; nhưng cũng là 35, 5- 6 ; 26, 19 ; 29, 18- 19) . Như vậy Người minh định rằng phép lạ và lời Người rao giảng cho kẻ khó nghèo mang tính cách thiên sai (Mt 11, 4- 6 ; Lc 7, 22- 23).

Tại Nadarét, Chúa Giêsu cũng lấy lại Is 61, 1- 3 theo cách thức trên (Lc 4, 14- 19) . Ta có thể đối chiếu hai lời quả quyết minh nhiên này với dụ ngôn các thực khách tiệc cưới trong Lc 14, 16- 24: "Hãy dẫn vào đây ăn mày, tàn tật, què quặt, đui mù".

Kết luận chung về ba mối chân phúc đầu tiên :

Ba mối chân phúc này trước hết xuất hiện như là lời khẳng định đầy tính cách thiên sai từ phía Chúa Giêsu. Được Isaia loan báo, Người đến nhân danh Thiên Chúa để ban hạnh phúc cánh chung cho một nhóm ưu đãi. Và do sự hiện diện của Chúa Kitô, niềm hạnh phúc đó, hệ tại việc tham dự Nước Trời, sắp đến trong một tương lai không xa. Tuy nhiên các kẻ thụ hưởng chẳng có một danh nghĩa nào để đáng được hạnh phúc ấy. Họ chi là những kẻ sẵn sàng đón nhận Nước Trời như một ân huệ hoàn toàn nhưng không.

PHÂN TÍCH CHI TIẾT MỖI CHÂN PHÚC

a- Chân phúc thứ nhất : những kẻ nghèo khó trong tinh thần (5, 3)

1.Nội tâm hóa mối phúc : ý nghĩa đại cương của tiều tiết tôi pneumati, "trong tinh thần" (riêng Mt) thật rõ ràng: Mt chú trọng vào một thái độ tâm hồn hơn là vào giai cấp khó nghèo trong xã hội. Tin Mừng cũng cống hiến nhiều thành ngữ tương tự Trong 1 Cr 7, 34, người trinh nữ được gọi là "thánh trong thân xác và thần hồn" (kai tôi somati kai tôi pneumati), vì bên cạnh việc thánh hiến thân xác, thành ngữ còn gợi lên một thái độ tâm hồn, thái độ nhờ đó người trinh nữ chú tâm làm đẹp, một mình Chúa. Xem Cv 18, 25 (Apollô có tâm hồn nhiệt nồng) ; 20 ; 22 (Phaolô bị xiềng trong tinh thần ; Ng-Thế-Thuấn : bị xiềng bởi Thần khí). Trong bản 70, người ta cũng nêu ra được rất nhiều thành ngữ tương tự : "tinh sạch trong lòng", "thẳng thắn trong lòng", "tan nát tâm hồn", "không cắt bì trong tiệm" ... Hết thảy các công thức đó đều nói lên mối ưu tư muốn nội tâm hóa một tính cách, bằng cách xác định trung khu của nó là trong tinh thần ; đấy là một thái độ tinh thần vậy.

2. Các lối giải thích khác nhau về chân phúc này. Phải loại bỏ mọi cách giải thích cho rằng tinh thần là đối tượng, chứ không phải là trung khu của sự khó nghèo, cho rằng những ai có tinh thần nghèo khó là những kẻ nghèo nàn về tinh thần, những kẻ thiếu ơn Thần khí và đang cảm thấy nhu cầu, những kẻ mà sự bần cùng là ở- chỗ không'hiểu biết những điểm tinh tế trong các nổ pháp luật (đối nghịch với các tiến sĩ Luật).

Còn lại hai lối giải thích xem tinh thần như là trụ sở của sự nghèo khó. Theo lối giải thích đầu, đấy là một thái độ từ bỏ và siêu thoát bên trong đối với của cải. Sự nghèo khó trong tinh thần ấy không tất nhiên mâu thuẫn với việc chiếm hữu của cải nhưng với lòng dính bén chúng từ bên trong. Tuy nhiên có một vấn đề được đặt ra: đâu là tương quan giữa đức siêu thoát nội tâm này với sự khó nghèo đích thực bên ngoài? Khi nhấn mạnh tới thái độ bên trong, phải chăng Mt muốn ngầm bảo rằng ta có thể thỏa mãn về thái . độ ấy mà không cần cho sự nghèo khó tinh thần phải được một tình trạng cụ thể bên ngoài tương ứng? Mt minh định rằng sự khó nghèo nội tâm làm nên cái cốt yếu; ông không mấy để ý tới nỗi túng thiếu bên ngoài, vì nó chỉ có ý nghĩa trong tương quan với sự nghèo khó bên trong. Nhưng theo vặn mạch chung của các Tin Mừng, phải nhận trong khó quan niệm được một kẻ giàu có biết siêu thoát tài sản của mình.

Lối giải thích thứ hai coi người nghèo là những tâm hồn không chỉ dứt bỏ của cải, song còn biết từ khước chính mình và phó thác cho Thiên Chúa. Sự nghèo khó này chẳng những liên hệ đến tài sản vật chất, mà còn lan rộng tới các loại của cải khác như -tiếng tăm, khả năng, công nghiệp thiêng liêng tinh thần nghèo khó bấy giờ tương đương với khiêm hạ. "Nghèo khó trong tinh thần là những kẻ có ý thức đầy đủ và đau đớn về sự nghèo nàn thiêng liêng của mình, về tính cách bất toàn của tâm hồn mình, về sự thiện ít ỏi mình đang mang, về sự bần cùng luân lý mà phần lớn nhân loại sa phải. Chỉ có những kẻ nghèo biết mình nghèo mới đau khổ về sự túng cực của mình cùng cố gắng thoát ra khỏi đó. Và họ khác xa biết bao với các người giàu giả tạo, những kẻ tưởng mình kiện toàn, không thể cải thiện hơn, đúng phép với hết thảy, đẹp lòng Thiên Chúa và đẹp lòng mọi người; những kẻ này thiếu niềm ao ước và lòng hăng say leo lên tới một chóp đỉnh mà họ tưởng đã đạt, và họ sẽ chẳng bao giờ giàu sang, vì không biết được nỗi khốn khổ khôn dò của mình" (Papini).

Khó mà dứt khoát chọn lấy một trong hai cách giải thích trên. Lối giải thích sau có cái lợi là phù hợp với văn mạch Cựu ước : sau lưu đày, các kẻ nghèo quả là những người có thân phận khiêm tốn, nhưng người ta vẫn nhấn mạnh hơn tới lòng trung thành với đạo và sự phó thác tin tưởng vào Thiên Chúa của họ. Khi xác định "trong tinh thần", Mt có lẽ muốn đặt nặng khía cạnh tôn giáo của sự khó nghèo, cùng liên kết kẻ nghèo của mối phúc thứ nhất với các -khách hàng của Giavê" mà Cựu ước đã nói tới, Ngược lại, lối giải thích thứ nhất rõ ràng muốn lưu ý nhiều đến tình trạng xã hội, là khởi điểm của ý niệm nghèo khó thiêng liêng. Tuy nhiên, theo cả hai, rõ ràng Mt từ chối gán giá trị nguyên cho sự nghèo túng vật chất. Điều đáng kể đối với ông chính là thái độ tinh thần, cái duy nhất mang giá trị luân lý và đáng ân thưởng.

b- Chân phúc thứ hai : những người hiền lành (5, 4).

1.Xuất xứ của chân phúc này : Có hai lập trường đối nghịch : một : cho rằng chân phúc nằm trong tài liệu nguyên thủy, hai: lại bảo nó đã được một sao lục viên về sau thêm vào nguyên bản Mt. Lập trường đầu không mấy chắc chắn. Lập trường sau, trái lại, dựa trên nhiều bằng chứng đáng tin cậy như các thủ sao do dự về vị trí của mối chân phúc, có khi đặt nó nằm hàng nhì (trước mối phúc các kẻ ưu phiền) ; lúc lại hàng thứ ba; nếu coi nó như là một sự thoán nhập, thì các chân phúc lui lại còn 7, một con số Mt ưa thích; rồi việc đăng chèn nó có thể cắt nghĩa như một lời giải thích mượn từ Tv 37, 11 ; sau cùng chân phúc này sẽ không khác chân phúc đầu tiên, nếu ta nại vào tiếng hy bá là tiếng hầu như đồng hóa chữ "hiền lành" với chữ "khó nghèo". Dầu sao mấy lập luận trên chẳng có tính cách quyết định. Nên phần lớn các tác giả vẫn duy trì xác thực tính của mối phúc này. Mọi thủ sao thảy đều ghị lại nó, dầu một vài bản đặt vào hàng thứ ba.

2.Điều hứa: Trong Tv 37, 11 là Thánh vịnh gợi hứng cho mối chân phúc, có bân đến "Hứa địa", đất Canaan. Chủ đề này bất nguồn từ lời Thiên Chúa hứa cho Abraham (St 15, 7 ; 28, 4), rồi được khai triển rộng rãi trong Đệ nhị luật (1, 8. 39 ; 4, 1 . 5. 14) và mặc một sắc thái cánh chung trong Isaia đệ nhị (57, 13 ; 60, 21 ; 65, 9). Nơi Mt, lời hứa chỉ muốn nhắm tới việc vui hưởng Nước Trời, như trong các mối chân phúc khác. "Đất" là gia sản được lời hứa thần linh bảo đảm (1Pr 1, 4- 5). Chủ đề gia sản này thường gặp luôn trong Tân ước, nhưng thay vì thành ngữ "thừa hưởng đất", người ta thích thành ngữ "thừa hưởng Nước Thiên Chúa" (Mt 25, 34 ; 1Cr 6, 9- 10 ...), "thừa 'hường sự sống vĩnh cửu" hơn (Mt 19, 29 ; Mc 10, 27 ; Lc 10, 25 .:.). Vì gia sản thuộc về con cái là điều hợp lý, nên thừa hưởng gia sản, nói cách cụ thể, là nhận được tước hiệu con cái Thiên Chúa, như lời hứa nơi chân phúc thứ bảy, mối chân phúc của các kẻ xây dựng hòa bình (c.9) , x.Kh 21, 6-7.

3.Những người hiền lành : Vì chân phúc này phát xuất do tay một soạn giả Hy lạp (hoặc có thể là một sao lục viên nào đó) nên ông ta chắc đã muốn nói lên một cái gì khác hơn là nội dung chữ khó nghèo" theo Cựu ước, nếu không thì mối phúc thứ hai này trùng với mối phúc đầu tiên. Ta có thể xác định ý niệm "hiền lành" bằng cách đối chiếu mối phúc với Mt 21, 5 và 11, 28- 30. Trong đoạn nhất, Chúa Giêsu, quy việc vào thành Giêrusalem, tỏ ra khác biệt hoàn toàn với các vua chúa lương dân là những kẻ thống trị bằng bạo lực. Trong đoạn 2 (xin lưu ý: thành ngữ "hiền lành và khiêm nhượng trong lòng" chỉ một thái độ nội tâm), Chúa Giêsu chống lại sự nghiêm khắc khó tính của ông thầy như các Biệt phái. Theo văn mạch ấy được củng cố nhờ các thư Tân ước (nhân đức hiền lành xuất hiện trong đó hơn 12 lần), "hiền lành" thiết yếu là nhân từ, có quan hệ một đàng với sự khiêm tốn, đàng khác với lòng thương xót tha nhân ... Thế nên, các kẻ "hiền lành" gần với các kẻ "thương xót" vậy !

c. Chân phúc thứ ba : các kẻ ưu phiền (5, 5).

Văn mạch chung của các chân phúc nơi như đã xác định trên kia, buộc ta phải coi nỗi ưu phiền này là một thái độ của tâm hồn. Có thể xác định đối tượng của nó không? Khó mà trả lời dứt khoát được. Động từ hy lạp pentlleô nói lên sự đau đớn biểu lộ ra bên ngoài qua những tiếng rên rỉ kêu la. Như trong Tân ước, pentheô thường đi kèm theo các động từ "kêu la, than thở". Ngoài Bát phúc, chỉ dùng động từ này một lần nữa thôi, khi nói các môn đồ sẽ than khóc như bị tang chế sau ngày chia lìa Tân lang (9, 15).

Có thể giả thiết rằng mối chân phúc thứ ba đề cập đến nỗi ưu phiền tương tự nỗi ưu phiền tang chế, đề cập đến các Kitô hữu than khóc vì cảm thấy phải chia lìa Thiên Chúa do tội lỗi mình. Họ ý thức một cách đau đớn tội mình đã phạm và nỗi khổ tinh thần do chúng gây nên (so sánh với 1 Cr 5,2 ; 2 Cr 12, 21 ; Gc 4, 9).

Niềm "an ủi " hứa ban cho họ bấy giờ hệ tại chỗ thứ tha tội lỗi. Do văn mạch cánh chung của những lời hứa khác, trước tiên phải đặt việc tha thứ này vào lúc phán xét sau cùng.

d- Chân phúc thứ tư : những kẻ đói khát công chính (5, 6).

1.Ý niệm "công chính " trong Thánh Kinh : Trong Thánh Kinh, ý niệm "công chính" cổ truyền ám chỉ điều gì phù hợp với ý muốn Thiên Chúa và luôn luôn hiểu như là một đời sống cụ thể của con người trong lịch sử được Thiên Chúa, là vua và quan án nhân loại, chấp nhận chuẩn y. Trong Mt, ý niệm "công chính" được dùng lại theo nghĩa cổ truyền, hợp với Thánh Kinh. Nó chỉ cách ăn nết ở của Kitô hữu, rập khuôn theo thánh ý Thiên Chúa mà Chúa Kitô đã công bố. Cho nên sự "công chính" cần thiết để tham dự vào nước Trời này chẳng phải là một lý tưởng luân lý trừu tượng nhưng chính là thánh ý Thiên Chúa được biểu lộ ra bên ngoài qua các việc thiện Kitô hữu làm.

2.Sự công chính người ta đói khát (Mt 5, 6) : Trước hết phải loại trừ hai lời giải thích không phù hợp với văn mạch thần học của Mt : Tách biệt ra, chân phúc thứ tư có thể nói đến sự công bình đối lập với bất công xã hội dưới mọi hình thức. Nhưng lối cắt nghĩa này thích hợp với văn mạch lạc chứ không với Mt. Nơi Mt, chữ "công chính" có một nghĩa rộng hơn và sâu hơn là chữ công bình xã hội : sự công chính diễn tả toàn thể thái độ Kitô hữu được Thiên Chúa chuẩn y.

Ta cũng có thể nghĩ đến sự công chính siêu việt của Thiên Chúa, sự công chính sẽ tỏ hiện ra vào ngày chung thẩm để trừng phạt quân vô đạo và ban thưởng Nước Trời cho người công chính. "Đói khát công chính" bấy giờ có nghĩa là "nao nức mong chờ sự can thiệp dứt khoát của Thiên Chúa vào lúc cứu rỗi cánh chung". Tuy nhiên văn mạch Mt không quy hướng chúng ta về sự công chính mà Thiên Chúa sẽ thực thi, nhưng về sự công chính mà con người phải nỗ lực đạt cho được trước mặt Thiên Chúa, bằng cách thi hành thánh ý Ngài.

Vậy thì đâu là văn mạch của Mt cho phép xác định chân phúc thứ tư này? Nơi 21, 32 chữ "công chính" ("Gioan đã đến với các ông theo đàng công chính ) chỉ sự khắc khổ của Gioan Tẩy giả. Nơi 3, 15 và 5, 17, Mt lại viết Chúa Giêsu đến hoàn thành Lề luật và các Ngôn sứ : như thế nghĩa là sự "công chính" của Chúa Giêsu, hoàn hảo hơn sự công chính của Lề luật nằm trong đường hướng sự công chính phải được thực thi. Việc thêm chữ "và sự công chính của nó " trong 6, 33 ("Trước tiên hãy tìm Nước' và sự công chính của nó ) hình như nhằm nhấn mạnh rằng người ta không chỉ nên cầu mong cho Nước Thiên Chúa đến để hưởng được mọi của cải của thế giới bên kia, nhưng phải cố công đạt cho được sự hoàn thiện Kitô giáo bằng cách làm việc lành: Lc nhấn mạnh tới ý hướng, còn Mt minh định ý hướng phải diễn ra hành động. Sự "công chính" của các môn đồ Chúa Giêsu phải vượt quá sự công chính của Ký lục và Biệt phái (Mt 5, 20) : vượt quá, nhưng vẫn cùng một loại. Sự "công chính" này sẽ đáp lại những đòi hỏi sâu xa hơn các đòi hỏi của Lề luật và lời giải thích chính thức về Lề luật, nhưng đó vẫn là sự công chính người ta thực thi bằng cách ăn ở phù hợp với Luật ấy. Phải giữ mình đừng thực thi nó một cách phô trương (Mt 6, 1) : các đòi hỏi của sự "công chính mới" chẳng những liên hệ tới các hành vi bên ngoài, mà còn lan rộng đến các ý hướng. Ở đây vẫn vậy, cũng chỉ là sự nối dài đường hướng xưa nay.

Thành ra kẻ đói khát sự công chính là các Kitô hữu nhiệt thành ao ước sống theo ý Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đã truyền dạy. "Sự công chính" họ mong muốn là một sự công chính luân lý, do toàn thể những công việc có tính chất Kitô giáo xây nên. Sự công chính luận lý này là lý tưởng của sự hoàn thiện Kitô hữu, lý tưởng được quan niệm như một sự vượt quá hay đào sâu lý tưởng luân lý mà Lề luật đã đề ra cho người Do thái. Hạnh phúc của Nước Trời dành cho những ai hết sức ao ước thực thi sự hoàn thiện đó trong cuộc đời họ.

e- Chân phúc thứ năm: những kẻ biết thương xót (5, 7).

1.Điều hứa: lòng thương xót của Thiên Chứa: Văn mạch các chân phúc của Mt cho thấy lời hứa này trước tiên nói đến lòng thương xót của Thiên Chúa, lòng thương xót sẽ biểu lộ vào ngày cánh chung, lúc phán xét, khi Chúa Kitô đem các kẻ "biết xót thương " vào Nước Người so sánh với Gđ 21 ; 2 Tm 1,18).

2.Điều kiện : bổn phận xót thương: ý niệm sau đây rất quen thuộc với Do thái giáo và Kitô giáo: để chắc chắn được Thiên Chúa thương xót ngày chung thẩm, phải biết tỏ lòng nhân ái với tha nhân. Có nhiều bản văn nói về hậu quả này trong ngụy thư Do thái và sách giáo sĩ, chẳng hạn câu: "Ai biết thương người, sẽ được thương xót trên trời ; ai không thương người, trên trời sẽ chẳng xót thương họ ". Cũng vậy trong Tân ước (Gc 2, 13 : "án xử sẽ tàn nhẫn cho người bất nhân") và nơi các Tông phụ (1 Clêm. 13, 2 ; Polycarpô 2, 3).

Mt nhấn mạnh bổn phận nhân ái này. Chỉ mình ông trích lại, và trích đến hai lần, bản văn Hs 6, 6 : "Ta muốn lòng nhân chứ không muốn hy lễ" (9, 13 ; 12, 7). Trong cả hai trường hợp, đó là một bài học cho Biệt phái, những kẻ đòi phải tuân giữ lề luật phụng tự mà bỏ quên lòng nhân ái (so sánh với Mt 23, 23). Nơi lời cầu xin thứ 5 của kinh Lạy Cha, chỉ mình Mt chú giải thế này: "Vì nếu các ngươi tha thứ cho người ta những điều họ xúc phạm, thì Cha các ngươi trên trời cũng sẽ tha cho các người ..." (6,14- 15). Sau cùng dụ ngôn người tôi tớ bất nhân (Mt 18, 23- 35) soi sáng một cách cụ thể cái bổn phận xót thương bằng cách tha thứ cho anh em mình.

f. Chân phúc thứ sáu : những kẻ tinh sạch trong lòng

1.Điểm tương tự với chân phúc đầu tiên: Như chân phúc các kẻ nghèo, chân phúc của những người trong sạch chuyển một tính cách thể lý sang bình diện tinh thần. Đầu tiên, sự "tinh sạch" gợi lên sự sạch sẽ của thân xác. Tiếp đó nó mặc một ý nghĩa tế tự, chỉ định tính cách của kẻ phải có đầy đủ các điều kiện cần thiết để trình diện trước bàn thờ Thiên Chúa. Sau cùng, hạn định từ "trong lòng", tương đương với "trong tinh thần" của chân phúc thứ nhất, đặt tính cách này vào nội tâm.

2.Mạch văn Kinh Thánh : Chân phúc thứ 6 là âm vang của Thánh vịnh 24, 3- 6 (so sánh với Tv 15, 1 -3). St 20, 5 đặt đối lập sự trong sạch ý hướng với sự nhơ bẩn chiếu theo lề luật (Abimélek đã vô tình lấy vợ của Abraham). "Tinh sạch trong lòng" ; như các thành ngữ tương tự : "thẳng thắn trong lòng", "đơn sơ trong lòng", bao giờ cũng chỉ sự ngay thẳng của lương tâm. Thành ra nó "không có nghĩa tinh sạch như hiện thời " (I. Fransen), nhưng nói lên sự vắng bóng lòng tráo trở, dạ bất lương. Người tinh sạch trong lòng phục vụ Thiên Chúa và tha nhân "hết tâm hồn", không tính toán tư lợi hay giả bộ đạo đức. Việc chuyển dịch từ bình diện nghi lễ sang bình điện luân lý cũng gặp lại trong Tân ước. Nhưng khi được thiêng liêng hóa, ý niệm tinh sạch vẫn không mất đi âm hưởng phụng tự (ví dụ 2 Tm 1, 3 ; 2, 22 ; Gc 4, 8).

3.Quan điểm luân lý của Mt : Chữ "thấy Thiên Chúa" gợi lai bối cảnh phụng tự nguyên thủy của sự tinh sạch : trong Tv 24, 6 và 17, 15, "thấy Thiên Chúa "có nghĩa là "trình diện trước nhan Ngài ", tại Đền thờ Ngài ở Giêrusalem; trong Mt, thành ngữ chỉ hạnh phúc Nước Trời, được gợi lên dưới hình ảnh một sự tham dự vào phụng tự diễn ra trước mặt Thiên Chúa (Kh 22, 3- 4 ; Dt 12, 14).

Tóm lại, để được nhận vào trước nhan Thiên Chúa, cần phải tinh sạch. Sự tinh sạch này không chỉ có tính cách nghi lễ ; nó còn nằm nơi sự hoàn toàn ngay thẳng bên trong. Đây không phải là những hành vi, song là một thái độ tâm hồn, thái độ làm căn nguyên cho mọi hành vi của ta và ban cho chúng ý nghĩa luân lý đích thực.

g- Chân phúc thứ bảy : những kẻ tác tạo hòa bình (5, 9).

1.Điều hứa: "Họ sẽ được gọi " tương đương với "họ sẽ là Thường thường, trong ngôn ngữ Kinh thánh, người ta không nhấn mạnh đến sự kiện được nhận một tên cho bằng đến hiệu quả tương ứng với tên đó nơi người nhận. Do đấy thể thụ động "được gọi " hầu như có nghĩa là "trở nên".

Họ sẽ được gọi như thế do ai và khi nào? Nhiều tác giả, với nhiều cách giải thích khác nhau, cho rằng đó là lòng kính trọng mà người đời dành cho những kẻ xây dựng hòa bình. Nhưng động từ ở thể thụ động, như nơi các câu 4. 6. 7, diễn tả hành động của Thiên Chúa. Thể thụ động này được gọi là "thể thụ động thần linh" (passif divin), là một đặc ngữ sêmita dùng để gán một hành động cho Thiên Chúa mà khỏi phải nhắc tên Ngài. Hơn nữa, mọi lời hứa của các chân phúc trong Mt đều có tính cách cánh chung: hết thảy chúng liên hệ tới hạnh phúc Nước Trời. Các kiểu nói khác nhau chỉ có mục đích gợi lên những khía cạnh dị biệt của cùng một thực tại. Thành ra phải kết luận rằng chính Thiên Chúa, vào ngày sau hết, sẽ công bố các kẻ xây dựng bình an là con cái Ngài (x. Kh 21, 7) và thiết đặt họ trong vinh hạnh ấy.

2 . Các kẻ tác tạo hòa bình : Nếu lấy văn mạch Tân ước minh giải ý tưởng "kiến tạo hòa bình" của chân phúc thứ bảy (Cl 1, 20 ; Ep 2, 15- 16 ; Gc 3, 14- 18) ta sẽ phải kết luận rằng trên thực tế nó đồng hóa vơi ý tướng giải hòa. Vì hoà bình là cái nối tiếp tình trạng thù nghịch hay tranh chấp. Đó không trực tiếp là thứ bình an nội tâm hay tôn giáo mà mọi cá nhân thủ đắc được, song là những tương quan tốt đẹp giữa các cá nhân, hoặc giữa kẻ "hiếu hòa" và người lân cận (Mt 5, 23- 24), hoặc giữa những kẻ mà người "hiếu hòa" giải hòa lại với nhau (Cv 7, 26). Thành ra trọng tâm nằm trên sự đoàn kết giữa con người, và điều đó mặc nhiên giả thiết một thái độ trước của tâm hồn. Trái ngược với các chân phúc khác, chân phúc này thoạt tiên không nhắm tới một thái độ nội tâm, song là một hành vi bên ngoài. Làm một con người hiền hòa, yêu mến bình an không đủ mà còn phải ra công xây đắp bình an bất cứ nơi nào có bất hòa ngự trị.

h- Chân phúc thứ tám : những kẻ bị bắt bớ vì sự công chính (5, 10).

Chân phúc sau cùng này nằm trong hai trào lưu tư tưởng : một gồm loạt bản văn đưa ra những lời quở trách đối với hạng người Do thái bách hại, hai gồm loạt bản văn song hành chứa đựng nhiều lời khuyên bảo các môn đồ phải cơn bắt bớ.

1. Lời chúc dữ kẻ bách hại : Chủ đề này vẫn thường gặp trong Do thái giáo (1V 19, 10. 14; 2 Sk 36, 15- 16 ; Nh 9, 26). Trong

Kitô giáo, nó được khai triển bắt đầu từ Tin Mừng (Mt 23,29- 36; Lc 11 , 47- 51) cũng đã được Stêphanô (Cv 7, 51- 52) và Phaolô (1Tx 2, 15- 16) nối tiếp âm vang. Justinô, khoảng năm 160, đã trùng hợp các yếu tố chính của chủ đề như sau: các ông đã giết Đấng Công chính, và trước đó đã giết các ngôn sứ của Người : bây giờ các ông lại khai trừ những kẻ hy vọng vào Người, cùng khai trừ Đấng đã sai người đến là Thiên Chúa toàn năng và tác giả vũ trụ. Vì Ngài ở trong các ông, nên khi chửi rủa họ trong hội đường, các ông làm nhục những kẻ tin vào Chúa Kitô " (Dial, 16, 4).

Hành động của những người bắt bớ và hình khổ họ sẽ chịu đặc biệt có tính cách cánh chung. Họ "đổ đầy lường" của tổ tiên họ (Mt 23, 32) ; hành động của họ làm nên một sự kết liễu, hoàn thành; vì thế nó chuẩn bị cho họ một tai ương thảm khốc, tai ương này sẽ là hình phạt mọi tội mà tổ tiên họ đã phạm. "Cơn nghĩa nộ đã giáng xuống trên họ cho đến cùng" (1Tx 2, 16) : lời phán quyết này, vào ngày chung thẩm, sẽ kết án họ phải chịu khổ hình hỏa ngục muôn đời.

Đặc điểm thiên sai - vì cớ Con Người " (Lc 6, 22), "vì cớ Ta" (Mt 5, 11) - liên kết với khía cạnh cánh chung. Tai họa của những kẻ bách hại không những xuất phát từ sự kiện họ đàn áp con người, nhưng trước hết từ sự kiện họ truy lùng những ai có liên hệ với Chúa Kitô. Xét cho cùng, họ bách hại chính "Con Người", Đấng rồi đây sẽ xuất hiện trên mây trời để hoàn thành cuộc chung thẩm kẻ sống và kẻ chết.

2.Lời khuyên nhủ những người bị bắt bớ. Trong mọi bản văn sau đây, màu sắc thiên sai đều hiện lên rõ ràng đậm nét:

Trước hết là những lời Chúa Giêsu khuyên nhủ các môn-đệ về vấn đề bách hại. Các đoạn chính nằm trong "Khải huyền Nhất lãm " (Mc 13, 9- 13 ; Mt 24, 9- 14, 10, 17- 21 ; Lc 21, 12- 19). Đặc điểm Kitô luận, "vì cớ Ta", vì danh Ta " gặp thấy khắp đó đây. Hạnh phúc của kẻ bị bách hại xuất phát từ chỗ họ phải đau đớn vì đã nên một với Đấng Xét xử của mình. Thành ra chân phúc trước tiên xuất hiện như một lời khẳng định có tính cách thiên sai từ phía Chúa Giêsu.Và lời khẳng định này không tách rời với bối cảnh cánh chung.

Tiếp đến là các đoạn đặt nổi mối tương quan chặt chẽ giữa số phận đời đời của con người và thái độ họ đã chọn lựa trước Chúa Ki-tô.

- Những bản văn liên kết với viễn tượng cuộc bắt bớ: "Ai mất sự sống mình vì Ta thì sẽ gặp lại " (Mt 10, 19 ; x. 16, 25 ; Mc 8, 35 ; Lc 9, 24) -- Kẻ nào hổ thẹn chí Ta và các lời Ta trước mặt thế hệ ngoại tình và tội lỗi này, thì Con Người cũng sẽ hổ thẹn chối nó khi Người đến trong vinh quang Cha Người với các thiên thần" (Mc 8, 38 ; x. Lc 9, 26 ; Mt 10, 32- 33 , Lc 12, 8-9).

-Những bản văn liên hệ tai các sự thiếu thốn tự do chấp nhận và các hành vi bác ái tự do thực thi vì Chúa Kitô: "Không ai bỏ nhà cửa hay anh chị em, hay cha mẹ, hay con cái, hay ruộng nương vì Ta và vì Tin Mừng ... " (Mc 10, 29-30 ; x .Mt 19, 29- 30). - "Kẻ nào tiếp đón một trẻ nhỏ thế này vì danh Ta, tức là tiếp đón Ta" (Mc 9, 37 ; x. Mt 18, 5 ; Lc 9, 48 ; Mt 10, 40 ; Lc 10, 16). -Kẻ nào cho các ngươi uống một bát nước vì danh nghĩa là các ngươi thuộc về Chúa Kitô ..." (Mc 9, 41 ; x.Mt 10, 42). So sánh với Mt 25, 31- 46 : cái định đoạt số phận đời đời của còn người, đó là cách thức họ đối xử với các kẻ nhỏ và người cùng khốn, vì có một sự liên đới nhiệm mầu nối kết những hạng này với Chúa Ki-tô.

3. Sự công chính mà vì đó người ta cam chịu bắt bớ (Mt 5, 10). Thiết tưởng nên hiểu việc bắt bớ vì sự công chính này như một việc bắt bớ phải chịu cách bất công. Như thế ta mới đối chiếu được mối chân phúc với 1Pr 3, 14 : "Nếu anh em phải khổ vì sự công chính thì phúc cho anh em". Bối cảnh của 1 Pr 3, 14 quá rõ ràng: đó là những đau khổ mà Kitô hữu phải cam chịu dầu chẳng đáng. Thế mà chân phúc thứ 9, vế nhì của chân phúc thứ 8, có bao hàm chi tiết "sỉ mạ".

Tuy nhiên, khó mà nghĩ rằng tiếng công chính" ở đây khác nghĩa với tiếng công chính của chân phúc thứ 4 và của nhiều đoạn Tin Mừng Mt khác. Vì vậy, đây là vấn đề những đau khổ các môn đồ Chúa Kitô phải chịu vì sống phù hợp với lý tưởng Kitô giáo của mình. Người ta không còn nhấn mạnh như trước đến sự thiếu lý do xác đáng để gây nên bắt bớ, nhưng tích cực hơn, đến sự kiện phải đau khổ vì là Kitô hữu, một Kitô hữu biết tỏ ra lý tưởng của mình qua thái độ sống. Do đó phải liên kết thành ngữ "vì sự công chính" (chân phúc thứ 8) với chi tiết "vì Ta" trong chân phúc tiếp theo: sự công chính" vì vậy xuất hiện như dấu ấn của Chúa Kitô trên lý tưởng và thái độ của môn đồ người. Ta cũng có thể đối chiếu Mt 5,10 với Mt 13, 21, nơi nói rằng sự bách hại được chịu dựng : "vì Lời" nghĩa là vì lý tưởng được Tin Mừng đề ra. Lời giải thích này không xa lời giải thích trước : 1 Pr 4, 14- 19 cổ võ các tín hữu hãy đau khổ chỉ vì là Kitô hữu, để người ta không thể tìm trong họ bất cứ hành vi sai trái nào biện minh cho việc bắt bớ.

i- Chân phúc thứ chín : những kẻ bị bách hại vì Chúa Kitô. (5, 11)

Chân phúc thứ 9 xem ra chỉ lặp lại chân phúc thứ 8, những nơi Mt nó đóng vai trò hiện tại hóa; thực vậy, nó nói lên việc chuyển từ lý thuyết được đề ra sang thực tại cụ thể được cảm nhận và sống đồng thời với việc hành văn gián tiếp chuyển qua hành văn trực tiếp, thành ngữ "vì sự công chính" của câu 10 trở thành "vì Ta". Đối với ai đã khám phá ra tính cách thời sự của Chúa Kitô hiện diện trong đời mình, thì không còn nghi ngờ gì nữa; và vào thời Mt viết Tin mừng của ông, cộng đoàn Kitô hữu đă nắm được ý nghĩa của mối chân phúc giữa lòng cơn bắt bớ mà họ đang chịu từ phía người Do thái.

Hãy vui sướng và hân hoan ": Hai động từ này, mà Mt chỉ dùng ở dây, thường được Cựu ước sử dụng để suy tôn, ca mừng những hành vi cứu rỗi của Thiên Chúa (x. Hb 3, 18) với một âm điệu cánh chung; chúng trở lại trong thư lpr để diễn tả, như ở đây, niềm vui của các Kitô hữu bị bắt bớ ( 1Pr 1, 8 ; 4, 13- 14). Lúc mà người môn đồ cảm thấy niềm vui được liên kết mật thiết với cuộc Tử nạn của Chúa Kitô, thì họ nhận ra rằng Nước Trời thực sự đã đến.

KẾT LUẬN

Mt đã trình bày các chân phúc trong một bài giáo lý Kitô giáo ngắn gọn, theo cách thức khắc vào tâm trí những nguyên tắc và việc thực thi lý tưởng sống riêng biệt của Kitô giáo. Ông dạy rằng Nước Trời là phần thưởng cho những ai biết làm cho mình trở nên xứng đáng với Nước ấy nhờ thái độ nội tâm và nhờ cách thức sống sứ điệp Tin Mừng. Như vậy ; các mối phúc thật của Mt có một ý nghĩa khuyến thiện : chúng chẳng những công bố song còn kêu mời. Lối giải thích này của Mt liên kết chặt chẽ vào giáo huấn Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã rao giảng một nền luân lý bên ngoài của Biệt phái. Các mối phúc, như phần tiếp của diễn từ, đưa ra những điều kiện phải chu toàn để được thông phần vào sự sống, những điều kiện của một nền luân lý hoàn toàn nội tâm.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1.Mọi người đều ao ước hạnh phúc. Chúa Giêsu đã đến để thỏa mãn cái khát vọng hạnh phúc đang dày vò tâm hồn nhân loại ấy. Người đến bảo cho chúng ta biết ai là kẻ hạnh phúc đích thực trên trần gian. Đó không phải là những người giàu sang, nổi tiếng, những nhà đại chinh phục, đại thiên tài, song là các kẻ nghèo hèn, khiêm nhu, chính trực, nhân ái, xây dựng hòa bình và chịu bách hại vì đức tin ... Tiêu chuẩn hạnh phúc của Chúa Giêsu quả khác xa với các tiêu chuẩn của người đời vậy.

2. Các thánh, hạng người đã sống Bát phúc, là những kẻ hạnh phúc đích thực của thế giới này. Dù gặp đau khổ, họ vẫn có thể nói như thánh Phaolô: "Tôi tràn ngập hân hoan giữa những cơn bắt bớ". Vì đối với Kitô hữu, nỗi đau khổ không xung khắc với niềm vui, vì nó được chịu "vì" Chúa Giêsu, vì nó trở nên cơ hội cho ta liên kết mật thiết hơn và giống hơn với Bạn Tình.

3. Nói cho cùng, 8 chân phúc đều quy về một mối: phúc cho ai giống Chúa Giêsu. Vì nếu Chúa Giêsu đã tuyên bố Bát phúc trong diễn từ trên núi thì trước tiên Người đã sống chúng trong cuộc đời Người: chẳng ai từ bỏ bản thân, hiểu rõ nỗi khốn cùng nhân thế, rộng lòng xót thương, ao ước thi hành thiên ý, thẳng thắn và đơn sơ, xây dựng hòa bình và cam chịu bắt bớ bằng Người. Và chính vì thế Người đã có thể nói vào lúc cuối đời: "Lạy Cha, chớ gì niềm vui của con được tràn đầy nơi chúng, để niềm vui chúng nên trọn vẹn" (Ga 17, 13).

Noel Quession - Chú Giải

CHÚA NHẬT IV THƯỜNG NIÊN

Mt 5,1-12

Thấy đám đông, Đức Giêsu lên núi...

Phải suy nghĩ về những lời dẫn nhập đầu tiên này của bài giảng trên Núi Thánh Mát-thêu giới thiệu với chúng ta Đức Giêsu lúc bắt đầu sứ vụ của Người, có một đám đông đi theo Người. Và những câu trước đó mô tả đám đông ấy gồm, những người bệnh hoạn, tật nguyền, những kẻ kinh phong, bại liệt...(Mt 4,23). Đức Giêsu là Đấng nhìn thấy đám đông lầm than vất vưởng mà chạnh lòng thương. . .như bầy chiên không người chăn dắt (Mt 9,36). Ngày hôm nay... tôi nhìn thấy ánh mắt của Đức Giêsu đẫm lệ xót thương những ai bị đè bẹp : bệnh hoạn, tật nguyền, những người không việc làm, những phụ nữ bị nhạo báng, những người nghèo thuộc mọi thành phần, "những người thu thuế và tội lỗi" cả một nhân loại ấy bên bờ tuyệt vọng.

Khi Đức Giêsu nhìn thấy tất cả nhữngđiều đó. .. Người làm gì ? Người nói gì ?

Đức Giêsu lên núi. Người ngồi xuống các môn đệ đến gần bên. Người mở miệng dạy họ rằng :

Phong cảnh này được cố ý dựng lên vĩ đại và long trọng. Đức Giêsu rất con người nhưng theo Tin Mừng của Mát thêu cũng là "Đức Chúa Vinh quang", uy nghi như một tranh thánh của phương Đông. Phong cảnh núi non là "bài giảng" Đây không phải là một phác họa cho diễm lệ, đó chính là khung cảnh vĩ đại của việc công bố luật mới là núi Xi-nai mới, đỉnh núi bốc khói nơi Thiên Chúa nói với dân. Và Đức Giêsu là Mô-sê mới, nhà làm luật, nhà giải phóng chân chính cho tất cả những ai đang sống trong nô lệ.

Vâng, bạn đang bị đè bẹp bởi một hoàn cảnh mà con người không thể chịu đựng nỗi, bạn hãy lắng nghe ! Thiên Chúa muốn nói với bạn môt điều. Bạn đang khốn khổ bởi vì bạn cảm thấy bị tổn thương trong những khát vọng sâu nhất bạn hãy lắng nghe ! Nếu bạn có cơ may "'hiểu được, điều Người sắp nói với bạn, thì cuộc đời bạn sẽ được thay đổi. Hãy lắng nghe... Bạn hãy lắng nghe Thầy. Bạn hãy lắng nghe Đức Giêsu .

"Phúc thay... Phúc thay... Phúc thay...

Đó là chữ đầu tiên của tất cả các câu trong "bài giảng trên núi".

"Phúc thay" !, "makarioi" trong tiếng Hy-lạp.

"Phúc thay" !, "asherei" trong tiếng Do Thái..

Vâng chủ đề của bài thuyết giáo đầu tiên của Đức Giêsu chính là hạnh phúc. Các mối phúc thật là một sự loan báo về hạnh phúc, một "tin mừng tóm lược toàn bộ Tin Mừng. Các bạn là những người nghèo khó, bị khinh miệt những người chán nản, thất vọng, các bạn có thể được hạnh phúc. Các bạn hãy hạnh phúc. Bởi vì hạnh phúc thật trước tiên không phải là công việc của sự giàu sang, của sự thành công, của lạc thú. Bạn đã tưởng rằng hạnh phúc không dành cho bạn... Đức Giêsu nói với bạn rằng bạn có thể được hạnh Phúc. Đức Giêsu muốn làm cho các môn đệ của người trở thành những người hạnh phúc. Bạn là Kitô hữu ! bạn có biết rằng bạn đang hạnh phúc không ? Nếu bạn không hạnh phúc, bạn không hỏi tại sao ư ?

Nhưng vấn đề là hạnh phúc nào ? Có nhiều loại hạnh phúc .Và hạnh phúc khi nào ? Cho cuộc đời hiện tại hay cuộc sống mai sau ?

Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó..

Phúc thay ai hiền lành...

Phúc thay ai sầu khổ...

Phúc thay ai khao khát nên người công chính ..

Phúc thay ai xót thương người...

Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch...

Phúc thay ai xây dựng hòa bình...

Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính...

Hạnh phúc mà Đức Giêsu nói đến không loại trừ những nghịch cảnh và sự đau khổ. Chúng ta đã thấy điều đó qua tất cả bản văn, một cách chính xác Đức Giêsu nhắm đến những người mà người ta coi như những người bất hạnh. Các mối phúc thật không nhắm đến "những"hạng người khác Những từ ngữ thay đổi ở đó chỉ để làm dôi lại một tư tưởng duy nhất : "Anh em hãy đến cùng tôi. tất cả những ai đang vất vả và nặng nhọc, và tôi, tôi sẽ cho anh em sự nghỉ ngơi. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học vôi tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng vì ách tôi êm ái và gánh tôi nhẹ nhàng" (Mátthêu 11,28-30).

Vâng, Đức Giêsu đúng là Đấng mà người ta chờ đợi "Đấng đã được loan báo", "Đấng phải mang lại Tin Mừng "cứu độ" Người ta hay quên rằng chữ "Tin Mừng" đã được chính Đức Giêsu lấy lại từ phần thứ hai của sách I-sai-a : "Thần khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu (oint = chnstoa) tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức..." (I-sai-a 61, 1.6 - Lc 4, 18)

Phúc thay... vì Nước Trời là của họ...

Tám mối phúc thật đầu tiên được đóng khung bằng sự bao gồm này, được lặp lại hai lần ở đầu và ở cuối (Mt 4,3 và 4,10). Bởi công thức này, Đức Giêsu trả lời hai câu hỏi của chúng ta : hạnh phúc nào ? khi nào ? Vấn đề là một hạnh phúc "từ bây giờ". Nước trời đang ở trong anh em: Không phải chỉ là một hạnh phúc được hứa cho mai sau, cho đời sau. Phải hiểu rõ sự tế nhị trong tư tưởng của Đức Giêsu.

Sẽ là một sự hiểu sai khi biến nó thành một thứ "thuốc phiện của quần chúng để người ta hút và ngủ thiếp đi với lại hứa sẽ được hạnh phúc sau này, bên kia thế giới sau khi chết ! Đức Giêsu nói rằng những ai bị đè bẹp bởi thế giới này thì được hoặc có thể được hạnh phúc một cách thiết thực ngay trong lúc mà Đức Giêsu nói điều đó với họ. Nhưng điều này không hiển nhiên. Phải ý thức về nó. Và điều ấy dĩ nhiên không loại bỏ viễn cảnh của một "thế giới

phải đến", "Nước Thiên Chúa" nhưng niềm hy vọng ấy đã chuyển biến hiện tại. Tương lai hạnh phúc mà Đức Giêsu hứa ban cho tất cả những ai bị hoàn cảnh nhọc nhằn hiện tại đè bẹp…. tương lai ấy đã trở thành một thực tại hiện diện trong ngôi vị và tình bạn hữu của Đức Giêsu

Bởi vì hạnh phúc ấy, chúng cuộc, chính là Triều đại của Thiên Chúa", chính là "Tinh yêu Thiên Chúa" ngay từ Hôm Nay nếu bạn muốn thật sự soi sáng hoàn cảnh đau khổ của bạn. Đức Giêsu không bao giờ định nghĩa "Nước Thiên Chúa (những chữ Nước, Triều đại, Vương quyền đều giống nhau trong tiếng Do Thái), nhưng nó gợi lên ý tưởng và người ta có về Đấng Quân Vương, Đấng Thiên Sai lý tưởng trong toàn bộ Phương Đông Cổ đại : chức năng đầu tiên của vua (Đấng quân Vương) là bảo đảm sự giải phóng khỏi mọi sức mạnh ngoại bang đang đe dọa... bảo đảm công lý và bảo vệ những người nghèo, trẻ nhỏ chống lại những người giàu sang và quyền thế là những người luôn luôn có khuynh hướng bóc lôt những người yếu đuối. Khi Đức Giêsu khẳng định rằng những người nghèo là những người được Thiên Chúa ban đặc ân, rằng triều đại của Thiên Chúa thuộc về họ, rằng công lý vương đế đứng về phía những người phận nhỏ….Đức Giêsu không nói rằng những người nghèo là những tốt nhất, đạo đức hơn những người khác. Vấn đề ở đây không phải là tâm lý hoặc đạo đức của những người nghèo. Trong. Những công bố này về các mối phúc thật, có một sự mạc khải một ý tưởng nào đó về Thiên Chúa : Thiên Chúa tự nhận mình có bổn phận là một ông vua tốt. Thiên Chúa đặt niềm vinh dự của Người trong việc đem lại "hạnh 'phúc", một cách mầu nhiệm, cho những người bị tước đoạt hết mọi hạnh phúc của con người. Cho cả bạn nữa, nếu bạn muốn ! Hạnh phúc nghịch lý và không thể hiểu được đối với người nào đã không cảm nghiệm nó.

Vậy bạn hãy thử xem. Hãy bước vào hạnh phúc đó của Thiên Chúa. Ngay NGÀY HÔM NAY.

Nếu bạn đã bắt đầu hiểu được ý nghĩa toàn diện" của các mối phúc thật, lúc đó bạn hãy lắng nghe cách thể hiện mà Mát-thêu đem lại. Sự công bố Tin Mừng Nước Thiên Chúa trình bày một chương trình sống cho người Kitô hữu : nếu bạn muốn hạnh phúc thì đó là cách mà bạn phải làm.

Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.

Phúc thay ai hiền lành vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.

Cùng một chữ Do Thái "anawim': có thể được dịch là "nghèo khó" hay là "hiền lành". Đó là hai khía cạnh của cùng một thực tại. Chữ "anawim" gợi lên hình ảnh của một người "bị uốn cong", thái độ của kẻ yếu không còn khả năng tự vệ bắt buộc phải nhường bước trước những người là nạmh nhất. Là người bị hạ nhục, bị làm cho thấp kém, người đó dù là nam hay nữ không làm sao để cho người ta tôn trọng các quyền của mình…. Người "hiền lành" chính là người không bực tức trước sự thịnh vượng của những vô đạo và họ không đánh mất lòng nhẫn nại. Đức Giêsu nói về người "Thầy hiền lành và khiêm nhường ở trong lòng (Mt 11,29-12, 18-21). Bị các kẻ thù công kích, Người tha thứ cho họ. Đức Giêsu đã sống mối phúc thật thứ nhất:

Phúc ai sầu khổ , vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thỏa lòng.

Phúc thay ai xót thương người vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.

Đức Giêsu đã khóc với Mát-ta và Ma-ri-a. Đức Giêsu hoàn toàn "tương ứng" với ý muốn của Chúa Cha : Người là Đấng Công chính. Người là lòng thương xót của Thiên Chúa đối với những người tội lỗi. Người đã tha thứ tha thứ và tha thứ... Tâm hồn Người "thanh khiết" vô song, không chút sai lầm, không chút quanh co : hành động và ý định của Người hoàn toàn thống nhất.

Phúc thay ai xây dựng hỏa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.

Đức Giêsu đến để đem lại hòa bình . Ồ, những ai xây dựng hòa bình thật hạnh phúc, họ hòa giải những cặp vợ chồng gây gỗ, cãi vã nhau, họ nối lại những tình bạn bất hoà? họ làm dịu bớt những xung đột giữa cha mẹ và con cái trong gia đình, họ tạo ra sự lắng nghe và hiểu biết lẫn nhau. Không có sự phục vụ nào lớn hơn là phục vụ anh em mình. "Thầy ban cho anh em bình an của Thầy không như thế gian ban tặng". (Ga 14,27). Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng" hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.

Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

" Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó"

BÀI TIN MỪNG : Mt 5, 1 - 12 a

I / Ý CHÍNH :

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Mt ghi lại phần đầu bài giảng trên núi của Chúa Giêsu nói về những mối phúc thật như là một hiến Chương Nước Trời.

II. SUY NIỆM :

1/ "Chúa Giêsu thấy đoàn lũ đông đảo" :

Đoàn lũ đông đảo gồm các Tông đồ, các môn đệ và dân chúng kéo đến từ Galilêa bên kia sông Giođan, từ miển Thập tỉnh, miền Giuđêa và Giêrusalem. Trong đám đông này có những người Do thái thuộc tất cả mọi học thuyết khác nhau, lại có cả dân ngoại đến từ Tyr và Siđom (Lc 6,17, Mt 4,25). Như vậy đoàn lũ đông đảo nói lên tính cách phổ quát của sứ điệp và của giáo huấn Chúa Kitô, đồng thời cũng gợi al5i hình ảnh toàn dân tập hợp lại lúc ban lể luật trên núi Sinai, và như vậy "đoàn lũ đông đảo" ở đây là hình ảnh dân mới của Chúa Giêsu tuyển chọn tức là Giáo Hội vậy.

"Người lên núi" : "Núi" theo nghĩa Thánh Kinh là nơi Thiên Chúa ngự, vì thế khi đặt bài diễn từ Chúa Giêsu trên núi, Matthêô xem ra có ý muốn nói lên tầm mức quan trọng của bài diễn từ này, Chúa Giêsu nói với tính cách như một người có quyền, vì Người là Thiên Chúa, đồng thời cũng nhắc lại việc ban lề luật trên núi Sinai (Xh 24,9).

"Lúc người ngồi xuống" : Thế ngồi của Chúa Giêsu khi giảng dạy gợi lên cử chỉ của vị giáo sĩ Do thái giải thích Thánh Kinh cho môn đồ. Ở đây muốn gợi lên hình ảnh các cộng đoàn sơ khai, gồm "môn đồ" lẫn "đám đông" lương dân tụ họp lại để nghe và chủ toạ cộng đoàn công bố Lời Chúa.

2/ "Bấy giờ Người mở miệng dạy họ" :

Bài diễn từ này Matthêô và Luca cũng kể lại, nhưng chúng ta nhận thấy có mấy điểm cần lưu ý :

a) Về số lượng mối phúc :

Tất cả có 9 cái phúc, nhưng Mt qui vào 8 mối phúc vì cái phúc cuối cùng chỉ diễn giải và áp dụng mối phúc thứ tám.

Còn Luca chỉ ghi có 4 mối phúc và bù lại ông ghi 4 lời nguyền rủa và như vậy cũng đủ con số 8 (Lc 6,20-23).

b) Về cách xưng hô :

Matthêô dùng ngôi thứ ba "Phúc thay những ai…" vì ông muốn nhấn mạnh đến các Tông đồ, các môn đệ và dấn chúng trong mọi thời đại và khắp mọi nơi.

Luca dùng ngôi thứ hai. "Phúc cho các ngươi…" : là vì ông muốn nói đến những người đang hiện diện lúc Chúa Giêsu đang giảng dạy là những người mà Chúa Giêsu coi như là những người nghèo khó đang nghe Người vậy.

c) Về cách trình bày :

Nơi mỗi phúc đều nêu lên một nhân đức rồi kèm theo đó là phần thưởng hứa ban. Phần thưởng hứa ban tuy cách diễn tả nơi mỗi phúc có khác nhau, nhưng cùngc hung một mục đích là được về ở với Thiên Chúa tức là Nước Trời. Đến đây chúng ta tìm hiểu riêng từng mối phúc.

3/ "Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó" :

Tinh thần nghèo khó : Matthêô muốn nhấn mạnh đến thái độ tâm hồn hơn là đến giai cấp khó nghèo trong xã hội. Người có tinh thần nghèo khó là người :

a) Có tinh thần từ bỏ và siêu thoát bên trong đối với của cải vật chất.

b) Không những biết dứt bỏ của cải mà còn biết khước tứ chính mình để phó thác hoàn toàn cho Thiên Chúa. Sự khó nghèo này chẳng những liên hệ đến của cải vật chất mà còn lan rộng đến các loại tài sản khác nữa như : ý riêng, tài năng, danh vọng, các công nghiệp tinh thần…

c) Vì thế cái nghèo ở đây không phải là cái nghèo bất đắc dĩ, đau khổ vì mình không có gì, vì mình bị thần tài hất hủi, nhưng vì sự khiêm nhường đơn sơ biết khước từ tất cả để được tự do, thong dong theo Chúa và gắn bó với Ngài.

4/ "Phúc cho những ai hiền lành…" :

Hiền lành không phải là nhút nhát thụ động, nhưng là bình tĩnh can đảm chịu đựng và dịu dàng trong cách cư xử.

Hiền lành thiết yếu là nhân từ, có quan hệ một đàng với sự khiêm nhường, đàng khác với lòng thương xót tha nhân… (Mt 11,28. 21,3).

Lời hứa "Được Đất Nước" ý nói về Đất hứa, cũng là kiểu nói để chỉ "Nước Trời" (Tv 37, 11).

5/ "Phúc cho những ai đau buồn…" :

Đau buồn là những nỗi buồn vì đã phạm tội và đã xa lìa Thiên Chúa, buồn vì hậu quả tinh thần của tội lỗi (1Cr 5,2. 12,21. Ge 4,9), buồn cũng là tâm tình của người mong đợi nguồn an ủi khi được ơn tha thứ tội lỗi và an ủi đầy đủ và trọn vẹn, nhất là được tha thứ vào lúc phán xét sau cùng.

6/ "Phúc cho những ai đói khát điều công chính…":

Sự công chính của Matthêô đề cập đến là cách ăn nết ở của người Kitô hữu rập theo thánh ý của Thiên Chúa mà Đức Kitô đã công bố. Đói khát sự công chính là ước mong sống sao cho vừa ý Thiên Chúa bằng cách chu toàn những điều Ngài muốn (Mt 3,15. 5,17. 5,20. 6,1. 21,32).

Vì vậy hạnh phúc Nước Trời dành cho những ai hết sức ước ao thực thi sự hàon thiện theo đường lối của Thiên Chúa trong cuộc đời mình.

7/ "Phúc thay cho những ai hay thương xót người…":

Lòng thương xót được biểu lộ qua lòng nhân từ với tha nhân :

+ "Ta muốn lòng nhân ái chứ không muốn hy lễ" (Mt 9,13. 12,7).

+ Điều này cũng được nhắc tới trong dụ ngôn đầy tớ không có lòng thương người (Mt 18,23-35).

Lòng thương xót này là điều kiện để được Chúa xót thương. "Vì nếu các ngươi tha thứ cho người ta, những điều họ xúc phạm, thì Cha các ngươi trên trời cũng tha thứ cho các ngươi…" (Mt 6,14-15).

Lời hứa về lòng thương xót của Thiên Chúa được biểu lộ vào ngày cánh chung khi Đức Kitô đem những kẻ "biết xót thương" vào Nước Trời (x. Gđa 21,2. 2Tm 1,18).

8/ "Phúc cho những ai có lòng thanh sạch…":

Chữ "lòng" có nghĩa như chữ "tinh thần" ở mối phúc thứ nhất, nhấn mạnh đến tính cách nội tâm hơn là hình thức bên ngoài.

"Trong sạch" : ở đây có nghĩa là sự ngay thẳng lương tâm. Người có lòng thanh sạch là người phục vụ Thiên Chúa và tha nhân hết tâm hồn, không tính toán tư lợi hay giả bộ đạo đức. Vì thế sự trong sạch ở đây gồm các chủ ý về các phương diện, chứ không nguyên về phương diện đức trinh khiết.

Lời hứa "nhìn xem Thiên Chúa" có nghĩa là trình diện trước Nhan Thánh Thiên Chúa và vì vậy nơi Matthêô, thành ngữ chỉ ạhnh phúc Nước Trời được gợi lên hình ảnh một sự tham dự vào phụng tự diễn ra trước mắt Thiên Chúa (x. Xh 12,3-4. Dt 12,14).

Mối phúc này cho thấy : để được nhận vào Nước Trời thì cần phải trong sạch. Sự trong sạch này không chỉ có tính cách nghi lễ bên ngoài, nhưng còn có tính cách hoàn toàn ngay thẳng bên trong nữa. Đây không phải chỉ là những àhnh vi song là một thái độ của tâm hồn. Thái độ làm căn nguyên cho hành vi của ta. "Thèm lòng chứ ai thèm thịt" là vậy.

9/ "Phúc cho những ai ăn ở thuận hoà…":

Đây là một đức tính có tính cách xã hội, vì thế nó không chỉ nhắm tới thái độ nội tâm như các mối phúc khác, song là một hành vi bên ngoài. Làm một con người hiền hoà, yêu mến bình an thì chưa đủ, mà còn phải ra công xây đắp bình an, thuận hoà bất cứ nơi nào có bất hoà ngự trị (x. Mt 5,23-24).

Lời hứa "được gọi là con Thiên Chúa" có nghĩa là trở thành con Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Thiên Chúa Hoà Bình (2 Cr 13,11).

10/ "Phúc cho ai bị bách hại vì lẽ công chính…":

Bị bách hại : đây là một đặc điểm của Tin Mừng nhưng lại là một mối phúc mới lạ đối với đạo Do thái, vì công trình cứu chuộc của Đấng Thiên Sai bằng việc chịu thương khó, tử nạn và phục sinh là điều mà người Do thái đương thời khó hiểu và khó chấp nhận.

Vì lẽ công chính : nghĩa là vì Thầy (Mt 5,11) vì danh Thầy (Mc 13,9-13, Lc 21,12-19) điều này cho thấy người bị bách hại được đồng hoá với Chúa Giêsu. Theo nghĩa hẹp hơn từ sự sống chung ở đây cũng đồng nghĩa với chữ công chính ở trong mối thứ bốn, nghĩa là công chính vì lý tưởng Kitô. Vì vậy những đau khổ các môn đệ Đức Kitô phải chịu là sống phù hợp với lý tưởng Kitô giáo của mình. Thánh Phêrô cũng xác quyết điều này khi tuyên bố : "Nếu anh em phải khổ vì sự công chính thì phúc cho anh em" đó là những đau khổ mà các Kitô hữu phải chịu dầu chẳng đáng.

11/ "Phúc cho các con khi người ta ghen ghét…":

Đây không phải là mối phúc thứ 9, mà chỉ là lời giải thích và áp dụng mối phúc thứ 8 ở trên, nhất là Chúa muốn áp dụng cho các môn đệ.

12/ "Các con hãy vui mừng hân hoan…":

Kiểu nói này Cựu ước thường dùng để suy tôn, ca mừng những hành vi cứu rỗi của Thiên Chúa (x. Hb 3,18) với tính cánh chung :

Matthêô dùng kiểu nói này ở đây để chỉ niềm vui của các Kitô hữu bị bắt bớ (1 Pr 1,8. 4, 13-14) lúc mà người Kitô hữu cảm thấy niềm vui được liên kết mật thiết với cuộc tử nạn của Chúa Kitô, thì họ nhận ra rằng Nước Trời thật sự đã đến.

III. ÁP DỤNG :

A/ Ap dụng theo Tin Mừng :

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Giáo Hội muốn nhắc lại cho chúng ta con đường vào Nước Trời, đó là 8 mối phúc thật sống tinh thần nghèo khó, hiền lành đau buồn vì tội lỗi, khao khát điều công chính, có lòng thương xót người, có lòng trong sạch vui vẻ đón nhận sự bách hại vì đức tin và sống thuận hoà.

B/ Áp dụng thực hành :

1/ Nhìn vào việc Chúa làm :

a) Chúa Giêsu thấy đoàn lũ đông đảo : noi gương Chúa chúng ta cũng phải có cái nhìn phổ quát đối với những người chung quanh để gây cho chúng ta ý thức về trách nhiệm trong việc cứu rỗi tha nhân.

b) Người đi lên núi : hoàn cảnh đi lên núi là nơi gặp gỡ Thiên Chúa, đã tạo cho việc giáo huấn của Chúa trở thành quan trọng đối với người nghe. Noi gương Chúa chúng ta cũng phải tạo môi trường và hoàn cảnh thích hợp cho công việc và về lời giảngd ạy về Chúa cho tha nhân : như nơi trang nghiêm, môi trường yên tĩnh, thanh vắng hoặc sự trang hoàng chung quanh gợi lên sự sốt sắng cho lòng người.

c) Người ngồi xuống : cử chỉ này nói lên sự thân mật và tương giao giữa Chúa Giêsu và người giảng dạy với đám đôngd ân chúng là người nghe. Noi gương Chúa chúng ta phải tỏ lộ những cử chỉ thân mật tâm giao để khơi dậy sự chú ý và tin tưởngc ho người nghe.

2/ Nghe lời Chúa nói :

Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, phúc cho chúng ta khi gặp cảnh thiếu thốn vật chất mà biết đón nhận cách sẵn sàng vì Chúa.

Phúc cho những ai hiền lành : phúc cho chúng ta khi biết chịu đựng những xúc phạm của tha nhân trong tinh thần khiêm nhường và tha thứ.

Phúc cho những ai đau buồn : phúc cho chúng ta biết khi biết mau mắn nhận thức để thống hối những lỗi lầm khuyết điểm của mình.

Phúc cho những ai đói khát sự công chính, phúc cho chúng ta khi biết tỏ lòng từ bi thương xót đối với tha nhân nhất là những người đang cần sự giúp đỡ của ta.

Phúc cho những ai ăn ở thuận hoà : phúc chúng ta khi biết sống bình an và đem lại an hào cho mọi người.

Phúc cho những ai có lòng trong sạch : phúc cho chúng ta khi có lương tâm ngay thẳng và tính đơn sơ thật thà, trong việc thờ phượng Thiên Chúa và giao tiếp tha nhân.

Phúc cho những ai bị bách hại : phúc cho chúng ta khi gặp thử thách vì đức tin, về đời sống đạo hằng ngày và vì tất cả khó nhọc vì Chúa.


HTMV Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn