Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật IV Thường Niên B

Câu chuyện trong bài Tin Mừng này diễn tả thế giá và uy quyền của Chúa Giêsu . Vì thế Giáo Hội muốn lời Thánh vịnh ( Tv 94, 8 ) mà nhắn nhủ ta rằng : " Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người và đừng cứng lòng nữa " .

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT IV THƯỜNG NIÊN B



 

Mc 1: 21-28


Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

TIẾNG THÉT VÀ SỰ BÍ MẬT –Ý NGHĨA

MỘT VIỆC TRỪ QUỶ (Mc 1,21-28)


CÂU HỎI GỢI Ý:

1.Trình thuật này có cơ cấu như những trình thuật phép lạ trong Mc không ? Đâu là những điểm khác biệt ?

2. Từ các trình thuật trừ quỷ trong Mc (1,27-28; 5,1-20; 9, 14-29) thử rút ra một lược đồ chung.

3. So sánh trình thuật này với câu chuyện Bão tố dẹp yên (4,37-41) ta thấy có gì đáng lưu ý ?

4. Mátcô đã đề cao tầm quan trọng của việc trừ quỷ bằng cách nào (xem vị trí của các cảnh trừ quỷ) ?

5. Mátcô đã tái giải thích việc trừ quỷ bằng cách cho nó lệ thuộc hai yếu tố khác. Hai yếu tố này là chi (x. cc.24c.27) ?

6. Tại sao Mc đặt giai thoại này ngay sau việc gọi 4 môn đồ tiên khởi (1,1-20), Ở đầu một loạt gọi là "Ngày Capharnaum" (1,21-34) và giữa lòng một toàn bộ rộng bao gồm toàn cõi Giu-đê (1, 14-39) ?

Vở kịch hai hồi diễn ra trong một ngày hưu lễ tại hội đường Capharnaum chắc hẳn khó đưa vào một bài huấn dụ.

Rút ra được cái gì từ một cảnh đuổi quỷ ? Ngoại trừ chi tiết quỷ "nhập" một người và việc đuổi quỷ khó chấp nhận đối với thời nay, cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu với con quỷ xem ra lạ lùng: "Tôi biết Ngài là ai" ...câm họng lại".

Hai câu mở đầu dễ hiểu hơn, nhưng vì quá khô khan nên không có gì lý thú. Mácô bảo chúng ta rằng Chúa Giêsu giảng dạy: ông cẩn thận ghi nhận giáo huấn ấy có uy quyền và hiệu lực trên dân chúng, nhưng chẳng cho biết nội dung. Con người bị quỷ ám đột hiện và cảnh trừ quỷ xảy đến. Đứng

trước cảnh này, dân chúng kinh ngạc. Các câu hỏi cử tọa đặt ra bấy giờ giúp ta đi sâu hơn vào bản văn. Theo lẽ thì đám đông phải ngưỡng mộ quyền năng trên ma quỷ; nhưng trái lại

trước tiên họ ngợi khen giáo huấn mà lần này cho là "mới mẻ", và chỉ sau đây mới thán phục việc trừ quỷ thành công. Hai lần đề cập tới giáo huấn được ban với uy quyền, trong phần nhập đề rồi cuối trình thuật, như thế bao hàm, đóng khung việc trừ quỷ. Phương thức này, cùng với nhiều dấu chỉ khác, nói lên bàn tay và ý tưởng Mátcô, nhưng vẫn rất khó mà biết thánh sử đã biên soạn hoàn toàn trình thuật hay đã thu nhận từ truyền thống: Các tác giả chia rẽ nhau về điểm này và mỗi người đều đưa ra nhiều lý chứng. Hình như người ta đã phát giác được một tình trạng trước bản văn. Dẫu sao , giải thuyết cho rằng có hai mức độ, hai giai đoạn, giúp ta có hai lối đọc liên tiếp trang sách này và như thế thâu nhận được tất cả sự phong phú của nó.


I. ĐỨC GIÊSU , "THẦY TRỪ QUỶ" (cc.23-27)

1. Đọc bản văn

Trình thuật khởi đầu như trình thuật một phép lạ, qua lối giới thiệu "trường hợp" xảy ra: "có một người" (so sánh với các giai thoại kế tiếp: "bà già của Simon nằm liệt vì cảm sốt" hoặc "một người phung hủi đến gần" hay "người ta đem đến cho Người một kẻ bất toại"). Nhưng lập tức, sự việc thay đổi: thường thường người ta đề cập đến một sáng kiến, một thái độ tự ý nói lên đức tin của bệnh nhân hay của những kẻ tham dự; ở đây thì khác: không ai can thiệp, Chúa Giêsu cũng chẳng động đậy gì; chuyện xảy ra như "lựu đạn nổ". Có thể bản nguyên việc đối diện với Chúa Giêsu đủ khiến quỷ hét lên. Chúng ta còn thấy điều này rõ ràng hẳn trong một trình thuật đuổi quỷ khác : việc chữa lành em bé động kinh : "Vừa khi thấy Chúa Giêsu, tà thần làm nó giẫy đành đạch" (9,20). Rõ ràng là cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu gây ra một sự đụng chạm. Quỷ không thể thản nhiên. Nó phải tự giải thích bằng hai kiểu nói xóa hẳn mọi nghi ngờ trước tiên: "ngài muốn gì chúng tôi hay đúng hẳn " Ngài xía vô làm gì?" (nguyên tự: Chúng tôi với Ngài nào có việc chi). Câu này, mà độc giả Tin mừng đặc biệt biết rõ qua giai thoạt Cana, nơi nó gây khá nhiều ngạc nhiên, đã gặp nhiều lần trong Cựu ước [Người ta có thể phân các bản văn thành hai loại: Tl 11,12; 2Sk 25,31; 2Sm 16, 10; 19,23; Tv 17,18, với nghĩa "Tôi đã làm gì ông, đã xảy ra chuyện chi khiến ông hành động vậy, khiến ông giáng cho tôi một đòn như thế?", và Gs 22,24; 2V 3,13; Ms 14,9: "Giữa chúng ta có liên hệ gì? Hãy lo chuyện của ông đi"]. Nó muốn nói là có một khoảng cách giữa hai nhân vật: hoặc một sự hiểu lầm hay bất đồng ý kiến giữa hai cá nhân vốn quen nhau từ trước, hoặc sự từ chối mọi liên hệ hay thỏa hiệp giữa hai địch thủ. Ở đây phải theo nghĩa sau: một lời tuyên chiến, hay đúng hơn, như câu hai chỉ rõ, một lời tuyên bố thù nghịch và từ chối chiến đấu vì đương sự đã quá biết hậu quả thế nào. Cũng một kiểu nói như thế - từ chối và sợ thất bại diễn tả qua một lời cầu xin - gặp lại trong một màn trừ quỷ thời danh khác được Mátcô tường thuật: người quỷ ám xứ Ghêrasa: "Tôi với Ngài nào có việc chi? Đừng làm khổ tôi" (5,7).

Trong những mẩu đối thoại lạ kỳ đó, quỷ gán cho Chúa Giêsu một tước hiệu : ở đây là "Đấng Thánh của Thiên Chúa", trong 5,7 là: "Con Thiên Chúa Tối cao". Thành ngữ "Đấng Thánh của Thiên Chúa", trong Tân ước rất hiếm hoi, hình như không bao hàm một ý nghĩa thiên sai trong Do thái giáo. [Người ta chỉ thấy trong công vụ thành ngữ "Đấng Thánh và Đấng Công chính" (3,14) hoặc "Tôi tớ Thánh của ngài, (4,27.30), một công thức Kitô học sơ khai. Trong Lc 1,35, "Đấng Thánh" đã được đặt tương quan với "Con Thiên Chúa". Nhưng chỉ nơi Gioan 6,69, trong một lời tuyên tín của Phêrô có lẽ tương đương với lời tuyên tín ở Kaisaria của Tin Mừng Nhất lãm - ta mới gặp công thức "Đấng Thánh của Thiên Chúa". Chúa Giêsu được mệnh danh là Đấng "đến từ Thiên Chúa và lại trở về với Thiên Chúa" (13,3; 16,30), "được Ngài thánh hiến và sai đi", 10,36]. Nó muốn chỉ Chúa Giêsu như một hữu thể thuộc phạm vi thánh thiện thần linh? có tương quan đặc biệt với Thiên Chúa và vì thế đối nghịch, sung khắc hoàn toàn với quỷ mà Mc gọi là "thần ô uế". "Thần ô uế", không phải vì gây nên ô uế như thần câm điếc gây nên câm điếc đâu. Chẳng có gì dính dáng với sự ô uế theo nghĩa tính dục hay luân lý cả. Ô uế ở đây đúng ra là thleo nghĩa phụng tự : "không thể chạm tới" (như bầy heo ở Ghrasa mà lũ quỷ có liên hệ) và nhất là theo nghĩa tôn giáo: ngăn cản đến gần sự thiêng thánh, thế giới thần linh: ô uế là phản đề của thiêng thánh, là quyền lực đối nghịch với thế giới Thiên Chúa, với sự Thánh thiện]. Nên người ta hiểu rằng quỷ cảm thấy sự hiện diện của Chúa Giêsu như một gây hấn" (E..Trocmé, Jésus de Nazareth vu pal les témoins de so vie, Neuchât.el, Paris, 1972, tr 121), phát sinh sự nổ tung đã nói trên đây. Phần tiếp của câu chuyện sẽ xác nhận nỗi sợ hãi của quỷ. Nhưng Chúa Giêsu đã "hăm dọa" nó: động từ này năng được Mc dùng và trong Cựu ước thường chỉ một mệnh lệnh thần linh, mệnh lệnh chiến thắng. Ở đây, Chúa Giêsu ra hai lệnh. Lệnh thứ nhất, "Im đii" hay đúng hơn "Câm họng đi" trình bày ma quỷ như một mãnh thú cần được chế ngự và vô hại hóa (lạ lùng thay trong trình thuật Bão tố dẹp yên cũng dùng chữ này) [Từ ngữ được hiểu theo nghĩa đen trong 1Cr 9,9: "Đừng bịt mõm con bò đạp lúa, theo nghĩa bóng trong 1Pr 2, 15: "Hãy làm lành mà bịt miệng những kẻ vô tri ngu xuẩn, cũng vậy, Chúa Giêsu "khóa miệng" bè Sađucêo (Mt 22,34) cùng bắt ma quỷ (Mc 1,25 ss; Lc 4,35) với biển cả (Mc 4,38) "câm mồm"]. Lệnh thứ hai, quả quyết hơn, "Hãy đi ra", cũng gặp trong 5,8 và rõ ràng hơn trong 9,25, nơi Chúa Giêsu dứt khoát xua trừ con quỷ.

Sau cùng, tới hồi chung cục: những phát giật gân và tiếng thét lớn cho thấy đã đạt được kết quả (như ở 9,26), nhưng không có giằng co như những cuộc trừ quỷ khác (Ghêrasa và đứa bé động kinh) trong đó Chúa Giêsu xem ra gặp sức kháng cự. Ở đây chiến thắng ngay lập tức. Và đấy chính là điều khán thính giả ca ngợi cùng thấy là bất thường: nguyên một lời của Chúa Giêsu cũng đủ bắt thần ô uế vâng phục.

2. Một thầy trừ quỷ không giống ai.

Thật vậy, chính phương pháp và ý nghĩa của việc trừ quỷ đã làm khán thính giả phản ứng; vì trừ quỷ thì họ đã thấy nhiều lần rồi. Thực hành này rất phổ biến trong thế giới tôn giáo cổ xưa, Do thái cũng như lương dân, và chúng ta khá biết nghi thức mà các tay trừ quỷ theo bấy giờ. Ngoài một vài tiểu dị tùy môi trường gốc, còn thì có một lược đồ chung mà các trình thuật Tin Mừng, đặc biệt là những trình thuật chi tiết hơn như người quỷ ám xứ Chêrasa và đứa bé động kinh cũng theo: giới thiệu trường hợp với nhiều chi tiết về sự trầm trọng của hoàn cảnh ấy như lối mô tả những bệnh bất trị trong các trình thuật chữa lành) ;

-quỷ nhận ra người đến trừ chúng;

- đối thoại giữa thầy trừ với quỷ;

- trục xuất bằng một mệnh lệnh: "đi ra hay công thức chuyên môn: "câm họng lại".

-các bằng chứng chắc chắn của kết quả; như trong các chuyện chiêu hồn, thông thiên, quỷ làm dấu xuất ra tuồng những trò khôi hài: đập bể chén lát, xô ngã tượng v….

-sau cùng, khán giả ngạc nhiên.

Trong những màn trừ quỷ này, phù thủy hay ma thuật chiếm một chỗ lớn và việc nhắc đến tên rất ư là quan trọng. Thầy trừ tà chỉ chế ngự được quỷ nếu rõ tên nó, và tất cả nghệ thuật của ông là ở chỗ biết được tên. Trước một quỷ câm điếc khó khăn tăng bội: thành công là dấu chứng tỏ tay thạo nghề. Nhưng ngược lại, nếu quỹ biết và đọc tên của thầy trừ thì hiệu quả sẽ giảm: vì thế thầy trừ phải khóa mõm nó.

Tất cả những chi tiết này cho thấy các trình thuật Tin Mừng theo lược đồ thông thường đến mức độ nào và khác biệt ra sao. Trong "kỹ thuật" của Chúa Giêsu, thực tế không thấy công thức ma thuật nào cả, cũng chẳng có những dấu chỉ ít nhiều phi thường chứng tỏ kết quả đã đạt được, cùng lắm là

một cuộc tranh chấp khó khăn bên ngoài như trong câu chuyện Ghêrasa. Người ta chỉ ghi nhận hiệu lực của lời nói và xác quyết đơn sơ về kết quả. Nhưng nhất là các cuộc trừ quỷ này không xuất hiện như những việc lặt vặt, những giai thoại đôi khi có tính cách buồn cười, xảy ra luôn và chẳng thay đổi cuộc sống, thay đổi thân phận con người một quỷ bị đuổi hôm nay có thể phục thù vào ngày khác). Như chính quỷ thừa nhận, những lần trừ tà này là một sự kiện mới" trong lịch sử cứu rỗi. Một thời đại mới bắt đầu; thế giới đổi chủ; quyền lực của các thần ô uế chấm dứt; chúng bị "tiêu diệt" ... [Thật vậy, phải hiểu câu sau cùng như một lời xác quyết hơn là một câu hỏi; ngoài ra, việc đổi ngôi, từ "chúng tôi" sang "tôi", có một tác dụng cảm kích: đây là một cá nhân đang nói, nhưng nó biết rằng cái xảy ra cho nó lần này vượt quá trường hợp cá nhân của nó, chính là cả lũ "chúng tôi" bị phương hại], hay như con quỷ cơ binh bảo (5,10) : quyền thống trị của chúng trên thế giới bị ngăm đe và nó cảm thấy bị hành đoạt (Mt): chiến thắng này đến sớm hơn dự đoán. Thành thử điều đó cho thấy "Giêsu Nadarét" không phải là một tay trừ quỷ tỉnh lẻ như bao kẻ khác, nhưng là Đấng được Thiên Chúa sai, là "Đấng Thánh" mà sự hiện diện và hoạt động có nghĩa là Thiên Chúa đang thiết lập Vương triều Ngài. Chính Chúa Giêsu cũng giải thích như vậy về các hành vi Người trong đoạn thời danh (Mc 3,22-30), nơi Người đáp lại lời các ký lục tố cáo: "Satan đã gặp được Chúa tể của nó đang khi vẫn tưởng mình còn mạnh; nó đã tận số rồi". Và câu nói quý giá được nguồn chung của Mt-Lc lưu giữ cho thấy khía cạnh tích cực của các hành vi trên: "Nếu Ta trừ quỷ, ắt là Vương triều Thiên Chúa đã đến". Thành ra các cuộc trừ quỷ của Chúa Giêsu có một ý nghĩa cánh chung. [Về cuộc tranh luận nơi Mc 3,22-30 và quan niệm tổng quát về quyền Satan được giả thiết trong các bản văn này, xin xem G. Gaide, Les deux "maisons", Mc 3.20-35, Assemblées du Seigneur, loạt 2, số 41 , tr.39-53].

3. Kẻ được khỏi nhìn nhận Chúa Giêsu là cứu Chúa.

Sự so sánh mà cht-íng ta vt~a thiết lập giữa các trình thuật Tin mừng với những chuyện trừ quỷ trong văn chương Do thái hay lương dân, đặc biệt áp dụng cho hai cảnh ở chương 5 và 9 (người quỷ ám xứ Ghêrasa và đứa bé động kinh), là những cảnh mà tính chất bình dân lộ bẳn: dài dòng lắm màu sắc, đầy cường độ bi đát. Đối diện với hai trang sống động này, cảnh trừ quỷ ở chương 1 có vẻ giản dị, cô đọng hơn: không những giảm khía cạnh tranh chấp, mà còn loại trừ mọi chi tiết giai thoại đưa về một sự kiện thực tế nữa; trong hai trình thuật kia, người ta có cảm tưởng biết được một điều gì đó về người bị quỷ ám, về đứa trẻ (và cha nó); ở đây kẻ bị thần ô uế nhập một cách nào đấy trở thành một kiểu mẫu chung chung; người la có vẻ như đang đứng trước một cuộc trứ quỷ ở trạng thái đơn thuần (!) được gạn lọc, giản lược vào cái cốt yếu. Điều này còn hiện rõ hơn trong một cuộc so sánh mà thoạt tiên gây nhiều kinh ngạc. Từ lâu người ta đã nhận xét rằng cảnh trừ quỷ trong Mc 1,23-27 được xây dựng trên cùng một kiểu như trình thuật Bão tố dẹp yên, hay đúng hơn cảnh "bão tố dẹp yên" được trình bày như một trường hợp trừ quỷ?

Trừ quỷ (1,23-27) Bão yên (4,37-41)

23. Một người bị thần ô uế 37. Xảy đến một trận gió táp

nhập bắt đầu hét lên thổi mạnh sóng ập tràn vào đò

38. Họ đánh thức Người và

nói:

24. "Giêsu Nadarét "Thưa Thầy

Ông xía vô làm gì ? Thầy chẳng đếm xỉa gì đến

Ông đến để tiêu diệt chúng việc Chúng tôi chết mất ư ?

tôi ư? (= chúng tôi bị hại)

(= chúng lôi bị hại)

25. Chúa Giêsu hăm dọa nó 39. Tỉnh dậy, Người hăm dọa

gió và biển:

"Câm họng lại và đi ra" "Im đi! Câm họng lại!"

26. Thần Ô uế thét một tiếng Gió tắt và

lớn mà xuất ra biển lặng như tờ.

40. Chúa Giêsu nói với họ:

"Sao nhát đảm thế? Chưa có

lòng tin ư?"

27. Mọi người đều kinh 41. Họ kinh hoàng sợ hãi mà

hoảng. Họ bàn tán với nhau: nói với nhau:

"Chuyện gì vậy? "Ông này là ai vậy

Thật là giáo huấn mới,

đầy uy quyền. Người truyền mà cả gió và biển

khiến được cả thần ô uế và phải vâng phục ông?"

chúng vâng lời Người".

Bản nhất lãm này cho ta lấy ra được một lược đồ chung:

1.Sự hiện diện của Chúa Giêsu gây nên cuồng nộ của các tà lực (ma quỷ hay biển), tình trạng chiến tranh.

2. Chúa Giêsu như bị khiêu khích, hoặc do quỷ để rút lui hoặc do môn đồ để hành động, với cùng chữ "chết mất".

3. Chiến thắng hoàn toàn của Chúa Giêsu, được diễn tả qua hai chữ "hăm dọa" và "khóa mõm" {Trong Cựu ước, động từ epitimân, theo nghĩa "hăm dọa" là động từ loan báo chiến thắng của Thiên Chúa trên biển hay trên các yếu tố lúc Sáng tạo hay lúc vượt qua Hồng hải (G 26, 11-12; Tv 104.7; 106,9; Is 50,2; Nh 1,4), trên "Satan" (Dcr 3,2). Người ta dùng lại động từ trong các Tin Mừng để chỉ cuộc chiến của Chúa Giêsu chống biển cả (Mc 4,34), quỷ ma (Mc 1,35; 9,25), cơn sốt (Lc 4,34) lòng cứng tin của Phêrô bị đồng hóa với Satan (Mc 8.33). Và thường rất liên quan với mệnh lệnh im lặng ra cho các bệnh nhân được chữa lành (Mt 12,16) cho ma quỷ (Mc 3, 12), cho các môn đồ (Mc 8,30); lệnh này phần lớn liên hệ tới lai lịch Chúa Giêsu.

4. Sau cùng là cảm kích và thắc mắc về việc Chúa Giêsu khiến tuân phục. Sự so sánh trên đây cũng cho thấy rõ: mỗi một trình thuật bao hàm một yếu tố riêng hình như được thêm vào lược đồ chung: câu hỏi về đức tin của các môn đồ trong trình thuật Bão yên, và ở đây là nỗi kinh ngạc về giáo huấn mới. Điều đó xem ra nói rằng : trình thuật cổ truyền đã được sử dụng lại trong một viễn tượng mới mẻ; không bàn đến câu chuyện bão yên, nhưng chắc chắn trong cảnh trừ quỷ, chính Mc đã đưa vào chi tiết "việc giảng dạy"}

Hình thức văn chương của những trình thuật này hơi khác với hình thức văn chương của các phép lạ đúng nghĩa: ngay từ đầu, một cuộc tấn công thay thế cho một hành vi đức tin - chúng ta đã nêu lên điều đó - và đoạn cuối có một thắc mắc về Chúa Giêsu, mà ta phải giải thích không như một câu hỏi thường, nhưng như sự biểu lộ mầu nhiệm thân thế của Chúa Giêsu, được mặc khải qua hiệu lực của lời Người nói (x. P.Lamarche,Latempête apaisée,Marc4,35-41, Assemblées

du Seigneur 43, tr.47.).

Người ta đã tự hỏi đâu là mục tiêu văn thể này nhắm tới khi làm nổi bật tính cách siêu việt của Chúa Giêsu và chiến thắng của Người trên mọi quyền lực sự dữ. Có thể đưa ra nhiều giả thuyết. Trước tiên khó mà ngờ được rằng thế giới thời cổ đã thường bị đặt dưới quyền ma thuật, phù thủy, tà lực đủ loại. Khi đọc Công vụ và các thánh thư, ta thấy hình như để loan báo Tin mừng, Giáo Hội sơ khai đã phải dọn sạch môi trường, lôi thế giới này ra khỏi những ám ảnh, những vong thân của nó: tắt một lời là trừ quỷ cho nó. Chúa Kitô thuật sự là nhà Giải phóng, là Đấng phá hủy các tà lực. Khi lương dân cảm thấy ơn cứu rỗi chạm đến họ một cách sâu xa, họ liền tự hỏi: "Người là ai mà cứu chữa tài hơn các ông lang, các phù thủy, các tư tế, các vì vua?". Và từ đấy, các trình thuật trừ quỷ hẳn đã đóng một vai trò trong lời rao giảng sứ đồ, như ta thấy qua bài công bố đầu tiên của Phêrô cho lương dân: Thiên Chúa đã xức dầu cho Người bằng Thánh Thần và quyền năng ; và người đã ngang qua thi ân giáng phúc và chữa lành mọi kẻ bị quỹ ma áp bức và thống trị" (Cv 10,38). Nhưng nếu Kitô hữu được giải phóng, thì đời sống Kitô giáo vẫn là một cuộc chiến chống lại các quyền lực sự dữ; nhiều bản văn thánh thư có liên hệ với gíao lý phép rửa đã nhấn mạnh tới khía cạnh này (Rm 13; Ep 6, 10-17; 1Pr 5,6-10) ; nên theo viễn tượng đó, chắc rằng các trình thuật trừ quỷ cũng đã đóng một vai trò trong việc khai tâm vào đạo. Với Chúa Kitô, Kitô hữu cũng là người chiến thắng.

Dù không đi sâu vào vấn đề, ta vẫn phải ghi nhận lịch sử tính của các trình thuật trừ quỷ: việc Chúa Giêsu đã trừ quỉ là một điều không thể nghi ngờ được trong bao nhiêu hình ảnh Người đã để lại cho kẻ đương thời, có hình ảnh chữa bệnh và trừ quỹ. Ta tìm thấy dấu vết hình ảnh này trong các trình thuật Ghêrasa và đứa bé động kinh hơn là trong trình thuật mẫu Capharnaum, và tìm thấy lời xác nhận trong cuộc tranh luận về chúa quỷ: Chúa Giêsu đã bị buộc phải trả lại cho câu

kết tội dùng pháp thuật hay phù thủy được các ký lục đưa ra. Dầu sao, theo gương Chúa Giêsu và các thánh sử, phải giải thích hình ảnh đó.

II.MÁTCÔ, NGƯỜI GIẢI THÍCH VIỆC TRỪ QUỶ

Trình thuật trừ quỷ này sẽ được truyền thống gán cho nhiều tầm quan trọng; Mátcô đã biến đổi nó đôi chút để uốn nắn theo dự định của ông.

A. Các cuộc trừ quỷ và thông thường hơn là cuộc chiến

với Satan chiếm một chỗ lớn trong cuốn sách Mátcô, vừa phẩm lẫn vừa lượng: người ta tìm thấy chủ đề trong 3 trình thuật mà hai rất dài dòng, trong nhiều bản toát yếu nặng tính chất Mátcô về hoạt động của Chúa Giêsu (1,34.39; 3,11-12), và còn trong đối tượng của sứ mệnh các môn đồ nữa (3,15; 6,7.13). Trên mọi điểm này Mt và Lc khác xa Mc. Luca đã giữ lại trình thuật của chúng ta, với một bảng toát yếu gần như đồng nhất; Mt thì không biết đến cuộc trừ quỷ ở Capharnaum; nhưng thường thường cả hai, nhất là Mt, có khuynh hướng giảm nhẹ hay loại trừ khía cạnh "quỷ!" trong nhiều trình thuật (x giai thoại người đàn bà Cana, sứ mệnh nhóm Mười hai và nhất là cuộc chữa lành đứa bé động kinh); chuyện quỷ ám nhẹ nhàng chuyển sang bệnh tật, trừ quỷ sang chữa lành; sau cùng, cả ba thánh sứ chỉ hơi nhất trí trên câu chuyện Ghêrasa mà Mt và Lc dầu sao cũng phủ mờ khía cạnh bình dân và khía cạnh bi thảm.

Mátcô còn cho thấy tầm quan trọng ông gán cho cuộc chiến đấu chống lại Satan của Chúa Giêsu bằng cách đặt các cảnh trừ quỷ vào những giai đoạn chuyển tiếp, những điểm "chiến lược" của công việc Người. Hai phần lớn của Tin Mừng Mátcô khởi đầu với một cuộc thần hiện tiếp nối một chiến thắng trên thần dữ (Sa mạc, trẻ kinh phong); và trong phần nhất, các cuộc trừ quỷ mở đầu cho mỗi tiết: sau việc gọi 4 môn đồ là cuộc trừ quỷ tại Capharnaum. Hoạt động công khai đầu tiên của Chúa Giêsu ; Sau bảng tóm lược trong đó đề cao việc trừ quỷ (3,11-12), là việc thiết là lập nhóm Mười hai rồi cuộc tranh luận về Bendêbun (3,22-30); cuối cùng, trong tiết thứ ba, sứ mệnh trừ quỷ được giao cho các môn đồ và đã được thực hiện (6,7.13). {Về vấn đề này, ta lấy làm tiếc là sách bài đọc Chúa Nhật năm B đã chẳng giữ lại một. trong hai bản văn, hai bản văn chắc hẳn là khó, nhưng rất có tính chất "Mátcô" và rất quan trọng về phương diện văn chương lẫn thần học: người quỹ ám xứ Ghêrasa và đứa bé động kinh]:

B. Mátcô tái giải thích, theo cách riêng, các trình thuật trừ quỷ bằng cách đặt chúng tùy thuộc một yếu tố khác hầu diễn tả rõ hữu ý định của ông.

1. "Tôi biết ông là ai " ... "Im đi !".

Nhưng đâu là ý định của thánh sử. Ý định đó là mặc khải, là khám phá dần dần con ngươi Chúa Giêsu. Để trả lời câu hỏi căn bản Chúa Giêsu phải đặt ra một câu hỏi khác: "Ai có thể nói được Giêsu là ai?". Thế mà trình thuật này, mặc dầu kết thúc bằng một chấm hỏi, vẫn chứa một câu trả lời. Thành thử có thể là dấu chỉ nói lên sự căng thẳng, giằng co bàng bạc trong tác phẩm Mc. Ông muốn dẫn độc giả mình đến chỗ tuyên xưng đức tin Kitô giáo, đến chỗ nhìn nhận Chúa Giêsu là Đấng Messia và Con Thiên Chúa như ông loan báo trong câu đầu tiên. "Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa", đấy là bí mật của Chúa Cha được trao cho một mình Chúa Giêsu khi Người chịu phép rửa và được mặc khải trên núi Biến hình, với mệnh lệnh cấm nói ra, cho ba môn đồ được biệt đãi mà dầu sao vẫn có vẻ không hiểu được thị kiến. Suốt cuốn Tin mừng, chẳng một người nào có thể thốt lên mấy tiếng "Chúa Giêsu Con Thiên Chúa" cả. Phải chờ đến cuộc Tử nạn: dưới chân thập giá, khi thấy Chúa Giêsu đã chết làm sao, viên bách quản (một lương dân) tình cờ đứng đấy, mới tuyên bố được nhờ ơn sủng: "Quả thực người này là Con Thiên Chúa" và như vậy khai mở bí mật của Cha. Thành thử nhận ra mầu nhiệm Chúa Giêsu chỉ có thể và chỉ hữu ích cuối một cuộc hành trình và với một vài điều kiện nào đó. Tất cả những gì can thiệp trước và một cách khác đều không thể chấp nhận được. Thật thế, có nhiều đường nẻo sai lạc, nhiều cạm bẫy giăng mắc, mà Mc trước tiên quan tâm dạy ta tránh. Các trình thuật trừ quỷ cổ truyền cung cấp cho ông một dụng cụ sư phạm tốt, với điều kiện là giải thích, theo một chiều hướng khác, hai yếu tố của kỹ thuật thông thường mà ta đã nêu lên trong những chuyện trừ quỷ của Tin mừng: đọc tên và khóa mõm. Trong các chuyện trừ quỷ lương dân hay Do thái, ta đã bảo, nói tên của thầy trừ là một cách tự vệ của quỷ, một nỗ lực hầu như tuyệt vọng để mà tránh quyền năng của kẻ muốn đuổi nó; nhưng khi đến lượt mình đọc-tên quỷ, thì thầy trừ khóa mõm được kẻ địch, chế ngự hẳn nó và có sức trục xuất nó. Hiển nhiên là khía cạnh đấu tranh có tính chất ma thuật này vốn đã biến mất phần lớn khỏi trình thuật cổ truyền, tuyệt đối không làm Mátcô quan tâm; ông loại trừ nó hoàn toàn bằng cách thay đổi ý nghĩa của nó. Điều này hiện ra rõ ràng trong những toát yếu mà Mc cảm hứng từ trình thuật (1,34; 3, 11= 12): việc khóa mõm minh nhiên trở thành lệnh im lặng, cấm hở môi, đối với người được phép lạ ( 1,44; 5,43; 7,36; 8,26) cũng, như đối với các môn đồ (8,30; 9,9). Việc ma quỷ biết được lai lịch Chúa Giêsu là nguyên nhân của lệnh giữ im lặng nói trên (1,24.34). [trong tâm trí Mátcô, câu nói của quỷ ở đây chắc hẳn đã có một ý nghĩa Kitô học rồi}. Tên mà thần ô uế thốt lên ("Con Thiên Chúa", hay nói cách khác, sự thật mà Chúa Cha mặc khải và viên bách quản tuyên xưng) thì rõ ràng trong bản toát yếu dài (3,11-12) hơn là trong các trình thuật. Đừng tưởng tượng rằng đám đông có thể nghe tiếng kêu của quỷ và như thế là mệnh lệnh ra vô ích. Mátcô nhắm độc giả của ông thôi, và đó là một kế hoạch mặc khải. Ông muốn ngụ ý rằng chỉ lặp lại "Giêsu Con Thiên Chúa" từ bên ngoài mà chẳng đi vào mầu nhiệm thì đấy là một công việc của quỷ mà cuối cùng làm hại đến sứ mệnh Chúa Giêsu và sự hiểu biết đích thực về bản thân Người. Vì Chúa Giêsu là gì, quỷ biết "sai" và nói quá sớm. Duy mình Chúa Cha biết "đúng", và con người sẽ chỉ hay được nơi thập giá mà thôi. Chẳng nên biết điều này bằng một tri thức siêu nhiên chiếm đoạt bất hợp pháp; phải đón nhận nó trong đức tin, như một ân huệ của Chúa Cha. Cũng không được nói quá sớm, vì người ta có thể sai lầm; thật vậy, những kỳ công của Chúa Giêsu đã khích động quần chúng, khiến tlọ đặt câu hỏi cái gì vậy" "Người là ai?", những kỳ công ấy chỉ có ý nghĩa trong cuộc khổ nạn; chỉ có thể biết Chúa Giêsu là ai khi theo Người đến thập giá. [Ta có thể tự hỏi phải chăng Mátcô không có một cách thức khác để vạch một đường đi từ cuộc trừ quỷ này tới Khổ nạn. Người ta đã bảo rằng quỷ luôn thét trong Mc, và đặc biệt ở đây, tà thần thét một tiếng lớn" mà xuất ra khỏi. Chúa Giêsu, khi hấp hối cũng thét một tiếng lớn hai lần: Mc muốn qua đó nói rằng cái chết của Người là cuộc chiến đấu sau hết, là việc trừ quỷ tuyệt đỉnh khai mở bí mật về lai lịch bản thân và cho việc tuyên xưng Con Thiên Chúa có thể thực hiện được].

2. Giáo huấn mới được tuyên bố với uy quyền.

Mátcô đã giải thích việc trừ quỷ một kiểu khác bằng cách đặt nó phụ thuộc vào giáo huấn Chúa Giêsu. Chúng ta đã nêu lên sự dị thường của chuyện dân chúng kinh ngạc: trước khi ca tụng thành công của việc trừ quỷ, họ ngợi khen "giáo huấn được ban với uy quyền". Sự kế tiếp "giáo huấn-trừ quỷ" như thế được trình bày hai lần: trước tiên trong trình thuật, rồi trong câu hỏi sau hết; đàng khác chi tiết "giáo huấn được ban với uy quyền còn đóng khung cả trình thuật; do đó tất cả đều cho thấy điểm nhấn mạnh nằm trên việc giảng dạy của Chúa Giêsu: Chúa Giêsu biểu lộ tẩy quyền qua giáo huấn Người hơn là qua quyền lực trên ma quỷ.

Thế mà thường thường người ta vẫn nghĩ Mátcô không quan tâm đến "giáo huấn của Chúa Giêsu, khác với Lc và nhất là Mt, người là các "diễn từ " làm nên các yếu tố giáo lý giảng thuyết tuyệt hảo, nhưng thực tế phức tạp hơn. Vẫn biết Mc thường không cảm thấy phải nói cho ta hay điều Chúa Giêsu giảng dạy (2,13, 6,2.34; 10,1 và ở đây: 1,21), ông vẫn dùng nhiều hơn một các hạn từ "giảng dạy" và "giáo huấn". Cái ông quan tâm trong giáo huấn của Chúa Giêsu, chẳng phải là nội dung, song là chính hoạt động, xét nét biểu lộ Chúa Giêsu là ai. Mátcô cho ta thấy hai đặc tính của giáo huấn đó: mới mẻ và uy qụyền. Mới không phải vì sự đóng góp, nhưng vì phẩm chất. Mới, bởi được ban với uy quyền và ở đây uy quyền không có nghĩa là khả năng chuyên môn nắm được đề tài và cử tọa. Các ký lục cũng có thẩm quyền, khả năng chuyên môn. Nhưng chính "Chúa Giêsu lại không dạy như các ký lục" một giáo sĩ (rabbin) luôn lệ thuộc thầy mình và trước hết ưu tư giải thích lề luật theo mặt chữ ; ông tỏ ra một sự khéo léo tài tình trong việc chú giải Thánh Kinh, kính tôn rất mực nhân đức trung thành trong việc thông truyền cái đã được nhận", và trước nhiều điều không thể cắt nghĩa của lề luật, ông tự thú mình không biết (Davies, Pour comprendre le sermon sur la Montagne, bản dịch Pháp ngữ, Paris 1970, 140). Đối với ông, lề luật và lời chú giải Lề luật mới có thế giá. Trái lại Chúa Giêsu đã chẳng học trường nào (Ga7,15), Người không dựa vào một ai, không nô lệ mặt chữ. Người tự xưng mình ở trên Lề luật, Người giải thích nó, có quyền trên nó: "Con Người là chủ của cả ngày hưu lễ" (2,28). Khi chữa kẻ bị phong cùi, Chúa Giêsu tỏ ra mạnh hơn luật: vì Lề luật chỉ có thể xác nhận và loại trừ, còn Chúa Giêsu tẩy sạch và cho vào cộng đoàn như trước. Quyền bính Người thi thố là quyền năng giải phóng con người khỏi mọi nô lệ, kể cả tội lỗi (2,10). [Quyền bính này, từ giai thoạt anh bất toại trở đi, sắp thường xuyên bị các ký lục phủ nhận: 2,6; 2,16; 3,22; 7,5; 9,14; 11,18.27-28. Một điều lắm ý nghĩa là từ hành vi công khai đầu tiên đây, họ đã hiện diện ít nhất một cách âm thầm, cùng với môn đồ và đám đông dân chúng: cả ba nhóm diễn viên đều tại vị]. Thành thử chính là một quyền năng thần linh biểu lộ trong giáo huấn Người. Cách Chúa Giêsu giảng dạy còn đặt ra vấn đề thân thế của người nữa. Đó là điều mà dân làng Nadarét nói lên: họ cũng đã "kinh ngạc" và đặt câu hỏi về nguồn gốc Người: "Nhờ đâu ông ta được như thế ?". Cố nhiên Chúa Giêsu chẳng phải là một giáo sĩ; đúng hơn, người có tư thái của một ngôn sứ tiếp xúc trực tiếp với Thiên Chúa, là "Đấng Thánh của Thiên Chúa", như quỷ chí lý gọi, và múc lấy ở đó, trong tự do của Thần Khí, nguồn lực của uy quyền Người: quyền mặc khải mầu nhiệm Thiên Chúa và giải phóng nhân loại. [Ngoài những bản văn trích dẫn trên, Mátcô còn nói đến việc giảng dạy của Chúa Giêsu trong hai đề tài rõ rệt: các dụ ngồn (4,1-2) và những lời loan báo Thương Khó. Xin lưu ý là trong cả hai trường hợp, đó là vấn đề mặc khải một cái gì che dấu, mà con người không thể đạt tới tự sức riêng: Mầu nhiệm Vương quốc (4,11), thân phận của Tôi tớ thống khổ: 8,33; 9~31]. Nói cho cùng, trình thuật trừ quỷ được bao hàm trong lối trình bày như vậy về giáo huấn Chúa Giêsu, chỉ có một mục đích: diễn tả quyền năng giải phóng mà Chúa Giêsu thi thố trên mọi mức độ và trong mọi lãnh vực; vì thế cần phải giải thích nó trong viễn tượng của cái mà giáo huấn bày tỏ chứ không được đem ra khỏi văn mạch và coi như một phép lạ ngoại thường. [Người ta cũng thấy việc trừ quỷ được đặt gần và lệ thuộc việc giảng dạy trong đoạn trình bày sứ mệnh các sứ đồ ở chương 6. Lúc đầu Mc bảo rằng Chúa Giêsu sai họ đi bằng cách ban cho quyền trên các thần ô uế (6,7) và trong thực tế họ trừ được nhiều quỷ (6,13), nhưng lúc trở về, sứ mệnh này được tóm kết như sau: họ tường thuật lại cho Chúa Giêsu tất cả những gì họ đã làm và giảng dạy: 6,30}

3. Trừ quỷ mọi quốc gia.

Mátcô đã đặt giai thoại này ngay sau việc kêu gọi 4 ngư phủ, như là hoạt động công khai dầu tiên mà Chúa Giêsu hoàn thành, có các môn đồ đi theo và từ đây luôn ở kề cận. Thế mà Chúa Giêsu vừa mới loan báo Tin mừng, tin mừng rằng Vương triều Thiên Chúa đã đến, quyền năng cứu rỗi dã thực thi, một thế giới mới đã khai mạc. [ Về Mc 1 , 14-15 và về chữ Tin mừng, x.J.Brière, LEvangile: Jésus agit par ses disciples, trong Assemblées du Seigneur loạt 2. số 34, tr.32 46.1. Qua lời giải phóng, Thiên Chúa đang hành động, Chúa Giêsu, ngôn sứ quyền năng trong lời nói việc làm, là chính Tin Mừng đang tiến bước.

Giai thoại này là thành phần của một toàn bộ gọi là "một ngày ở Capharnaum" (1,21-34). Thật vậy, trong một thời gian và không gian duy nhất: một ngày hưu lễ tại Capharnaum, Mátcô đã gom lại nhiều giai thoại khác biệt; giảng dạy, trừ quỷ, chữa lành nhạc mẫu Phêrô, rồi chiều đến và một bức tranh tổng hợp. Các giai thoại tuần tự xảy ra ở hội

đường, tại tư gia, nơi cửa thành. Nhưng loạt liên tục này tự nó lại thuộc về một toàn bộ rộng lớn hơn (1,14-39). trình bày Chúa Giêsu tỏ mình tại Galilê, đến bên bờ biển, đi vào Capharnaum, tới hội đường, rời khỏi đó, chiều lại ra cửa thành, rời thành ngày hôm sau mà rảo khắp Galilê, và để chấm dứt, thì giảng dạy trong các hội đường và trừ quỷ. Nói cách khác, đâu đâu Người cũng làm điều đã trình bày tại hội đường Capharnaum: giảng dạy và trừ quỷ. Giai thoại của chúng ta, trung tâm của một chuyển động đồng tâm và càng lúc càng mở rộng, vì vậy như có tính cách kiểu mẫu, điển hình, như một bảng tóm tắt đầy ý nghĩa về hoạt động của Chúa Giêsu. Cái xảy ra trong nơi chính thức của Do thái giáo,

trong nhà của lề luật - sự giải phóng do Chúa Giêsu – cũng được phổ biến ra khắp toàn cõi Galilê, nơi mà sau Phục sinh, sẽ trở thành địa điểm giao sứ mạng phổ quát. Như vậy; câu kết của bản văn: "Danh tiếng Người lan ra" (c.28): vì danh tiếng ấy chỉ tìm được cơ sở đích thực khi cuộc Khổ nạn hoàn tất.

Jean Brìere, Assemblées du Seigneur 35, tr34-46.


Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Chúng ta đang ở trong các tuần đầu mùa quanh năm, là phần "nhập đề" giới thiệu các nhân vật chính của Nước Trời, đặc biệt là Chúa Giêsu. Thánh lễ hôm nay đề cập tới thế giá và uy quyền của Chúa Kitô. Chúa Kitô là vị "Đại ngôn sứ " là Môisen đã nhân danh Thiên Chúa báo trước cho dân Israel. Người thực sự là Đấng Messia, nhân danh Thiên Chúa mà đến và chỉ nói những lời của Thiên Chúa mà thôi (Bài đọc 1) Sau này, Chúa Kitô đã tuyên bố đúng như thế (x. Ga 7,10-18). Bởi đó cần tuyệt đối nghe lời Người. Chúa Kitô còn là Đấng Thánh của Thiên Chúa, mang một cái gì của Thiên Chúa, nên không lạ gì mà khi Người ăn nói, giảng dạy, thì ai nấy đều kinh ngạc về giáo lý của Người "vì Người giảng dạy như Đấng có quyền uy" (Bài Tin mừng). Chính Chúa Giêsu từng nói với Nicôđêmô: "Đấng Thiên Chúa sai đến thì nói lời

của Thiên Chúa" (Ga 3,34; x. Ga 14,10). Vì Chúa có uy quyền như vậy và lời Chúa mang một thế giá siêu việt, nên Giáo Hội mượn lời Thánh vịnh mà nhắc nhủ ta: "Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người và đừng cứng lòng nữa" đáp ca: Tv 94,8).

2. "Người ta kinh ngạc về giáo lý của người" (Mc1,22). Ngày nay thì ngược lại: vì nghe và đọc lời Chúa cách vô ý thức cùng bất kính, ta thấy nhàm chán và đôi khi còn ác cảm; đi lễ, gặp các bài đọc Thánh Kinh, các bài giảng hơi dài một chút là đã kêu ca, ngáp ruồi ... Bởi đó, mỗi khi cảm thấy chán ngán Lời Chúa, hoặc dửng dưng với giáo lý của Người, thì cần phải xét lại nếp sống của ta, để gạt bỏ những ngăn trở những chướng ngại; đồng thời tạo cho tâm hồn có những tâm tình, khiêm tốn, đơn sơ, ngay thẳng, là những tâm tình rất cần cho việc đón nhận Lời và giáo lý của Chúa; sau cùng, cũng cần phải gắng công tìm hiểu, học hỏi, chứ không phải ngồi đó mà nghe qua, đợi chờ cách thụ động, ươn lười, vô bổ.

3. Bài Tin mừng hôm nay quả là một thánh lễ rút gọn:

c 21. tập họp. Dân chúng quyết định đi tìm Thiên Chúa và đến cùng Ngài, vì bấy lâu nay họ đã sống cách vô thần, xoay vần đổi hướng như chong chóng, bây giờ họ muốn đi tìm thứ hạnh phúc đích thực.

c 22: phung vụ Lời Chúa. Từ thời Abraham, Thiên Chúa đã ngỏ lời và luôn luôn đáp ứng mọi yêu cầu của con người. Trong Chúa Giêsu, Thiên Chúa lại dạy dỗ, giải thích...

c 23-24: dâng lễ. Để đáp lại lời đã nghe, con người thưa "xin vâng", tin vào lời Thiên Chúa phán và hiến dâng đời mình cho Ngài. Chúa Giêsu là Đấng duy nhất đã vâng lời Chúa Cha cho đến cùng và như thế đã dâng lên Cha hiến tế duy nhất đẹp lòng Cha. Ở đây người bị quỷ ám đang chiến đấu.

c 25-26: hiệp lễ. Trong khi dâng niềm tin này, lúc mà mọi hy vọng xem ra mất hút trong đêm tối (giải thoát khỏi Ai cập-tử Nạn), Thiên Chúa đã can thiệp và thực hiện kế đồ của ngài. Và quỷ ám đã ra khỏi người kia, để từ đây tâm hồn nên trong

sạch.

c. 27-28: sai đi. Nhờ ơn bí tích, Kitô hữu sau khi trở nên người

mới được Chúa Cha chúc phúc và Chúa Thánh Thần tuôn đổ ơn lành, trở về với cuộc sống thường nhật với mọi người và quyết dùng cả đời mình để loan láo Tin mừng hầu "danh tiếng Người đồn ra khắp mọi nơi".

Noel Quession - Chú Giải

 

CHÚA NHẬT IV THƯỜNG NIÊN

Mc 1: 21-28


Họ (Đức Giêsu và các môn đệ) đi vào thành Ca-phác-na-um...

Đó là bản văn chính xác của Thánh Mác-cô. Đại danh từ "họ" ở số nhiều trên đây, có vẻ bất định, nhưng rất có ý nghĩa Đức Giêsu vừa mới kêu gọi được bốn môn đệ. Đó là trang Tin Mừng ta đã suy niệm Chúa nhật vùa qua. Như thế, Đức Giêsu không còn cô lẻ nữa. Đã có một nhóm gồm năm người "đi vào" một thành trên bờ hồ Galilê. Từ đây trở đi, Mác-cô sẽ giới thiệu cho ta những con người đó luôn cùng sống với nhau. Họ tạo thành một nhóm "Đức Giêsu và các môn đệ của Người".

Sau này, bằng một thứ ngôn ngữ thần học hơn, Thánh Phaolô sẽ nói đến "Thân Thể Đức Kitô" mà chúng ta là các chi thể. Với một cách nói khác, cụ thể hơn, Máccô cũng gợi lên một thực tại như thế. Điều mà Đức Giêsu sắp làm, thì lát nữa đây, chính "Người và các môn đệ" sẽ cùng thực hiện ! Đó cũng là công trình của Giáo hội.

Thành Ca-phác-na-um...

Ca-phác-na-um chính là biểu tượng cho xứ "Galilê của dân ngoại", miền đất sẽ trở nên nơi thuận lợi cho công việc truyền giảng Tin Mừng. Xưa kia người ta nhắc đến Ca-phác-na-um, cũng như ngày nay người ta nói với Marseille, Amsterdam hay Hồng Lông ! Đó là một hải cảng, một nơi vãng lai, pha tạp nhiều chủng tộc. Bước vào thành Đức Giêsu và các môn đệ sẽ nhận ra ngay các thủy thủ, thương gia, nông dân... Nhưng khuôn mặt sạm nắng của đã in dân du mục đến từ sa mạc gần đó . . . những người nghèo khó với quần áo tả tơi, cũng nhít những nhà tư sản Rôma quần là áo lượt.. những binh lính làm nhiệm vụ cảnh sát cho người ngoại quốc và có Mát-thêu, người thu thuế bị dân chúng nhục mạ, vì thu thuế cho bọn xâm chiếm. Đó là thế giới hỗn tạp. Đức Giêsu biết như thế, nhưng Người vẫn chọn lựa. Ngày nay, để diễn tả một đống đồ lộn xộn, người pháp đã thường nói : thật là một "Ca-phác-na-um" !

Ngày Sa-bát -kế đó, Người vào Hội đường giảng dạy...

Sau khi quay chung cả "nhóm", giờ đây Máccô giơ máy quay phim, ghi hình cảnh chính, tập trung vào con người có vẻ đang dẫn đầu nhóm, một người làng Na-da-rét thì phải, cho đến lúc này anh ta mới chỉ là một thợ mộc quèn trong một thôn xóm, có tên là Giêsu.

Mác-cô sắp diễn tả cho ta một "Ngày tiêu biểu" của ông Giêsu và nhóm này, một ngày hiển hách tại Ca-phác-na-um, bằng cách kể lại bốn "hành động" đặc trưng của toàn thể tác vụ Đức Giêsu (cũng như tác vụ của Giáo hội) : 1. Đức Giêsu giảng dạy, 2. Đức Giêsu xua trừ quỷ 3. Đức Giêsu chữa lành người bệnh, 4. Đức Giêsu cầu nguyện. Tất cả những việc làm đó diễn ra trong một ngày : từ bình minh hôm nay đến bình minh hôm sau, từ sáng hôm nay đến sáng ngày mai (Mc 1,21,35). Tôi có nhận thấy mình sống như thế trong ngày sống của Đức Giêsu ? trong ngày sống tiêu biểu của người Kitô hữu không ? Mỗi ngày tôi có thực thi như thế cùng với Đức Giêsu không ?

Một hoạt động tiêu biểu và ý nghĩa như thế, không phải ngẫu nhiên đã bắt đầu "trong Hội đồng vào một ngày Sa-bát" . Hội đường vẩn là nơi hội họp chính thức của Do Thái giáo là Ngôi nhà chung cho mọi người, là Nhà thi hành Lề luật, ngay từ đầu, Đức Giêsu đã đến ngay nơi mà có nhiều người tụ họp đông nhất. Người mong được tiếp xúc.

Người vào Hội đường giảng dạy. Thiên hạ rất đỗi ngạc nhiên về cách Người giảng dạy, vì Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư.

Chỉ trong cùng một câu nói mà Máccô đã ba lần sử dụng từ "didakê", "giảng dạy". Đối với Đức Giêsu, chính giáo huấn hay "lời dạy" phải đứng hàng đầu ! Thực ra, việc trừ quỷ đã hàm ẩn trong hại khẳng định của lời giáo huấn Đức Giêsu, cũng gọi. Do đó, giảng dạy là vai trò đầu tiên của Đức Giêsu, cũng như của Giáo hội. Tôi cố tưởng tượng xem. Tôi cứ nghĩ như mình thuộc cử tọa đang lắng nghe : Hôm nay, chính Đức Giêsu đang thuyết giảng. Mác-cô không nói tới nội dung bài diễn giảng. Trong trang Tin Mừng trước, Người đã phát biểu nội dung đó qua bốn câu : "Thời kỳ đã mãn . . . Nước Thiên Chúa đã đến gần rồi . . . Anh em phải sám hối . . . Anh em hãy tin vào Tin Mừng" . Điều làm cho Máccô quan tâm, đó là phản ứng của thính giả : Họ say mê thực sự... Đức Giêsu là một nhà thông biện vĩ đại đúng nghĩa . . . Người ta "kinh ngạc" vì lời Người. Trước hết, không phải giọng điệu nhằn tạo hiệu quả bề ngoài ; nhưng chính là lời nói đi thẳng vào tâm hồn, nên những câu hỏi đích thực mà mỗi người đều tự đặt ra cho mình ; và mang đến lời đáp trả mà người ta đang mong đợi, bởi vì nó "đúng thực" tận thâm sâu con người !

Một cách long trọng hon, Thánh Gioan đã bắt đầu Tin Mừng của ông, bằng cách nói về Đức Giêsu như sau : "Lúc khởi đầu, vẫn có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời vẫn là Thiên Chúa... và Ngôi Lời đã làm người". Còn Máccô, bằng một kiểu nói khác, cũng diễn tả đích xác cho ta cùng một thực tại đó. Đức Giêsu, Lời của một Thiên Chúa tự mạc khải, Lời gây ngạc nhiên, Lời mang tính quyết liệt... Đối với lời của Đức Giêsu, là chính sự mạc khải của Thiên Chúa tôi đã dành tình yêu như thế nào ? Tôi đã dành thời gian để suy gẫm lời nói, giáo huấn của Đức Giêsu ra sao?

Những "kinh sư " theo truyền thống chỉ biết lặp lại bài vở đã học. Còn Đức Giêsu được người ta chú ý ngay do "uy quyền" của lời Người, uy quyền phát xuất tự bên trong Người. Đức Giêsu nói về Thiên Chúa, Đúng vậy ! Nhưng Thiên Chúa, cũng chính là đời sống của Người. Và điều đó dễ được người ta cảm nhận, khi ai đó nói với vẻ xác tín : "anh ta tin như thế ?", rồi anh ta sống thiết thân với lời nói của mình. Đó không phải là nói "ba láp", nói "ba hoa chích chòe"... nhưng là nói sụ thật. Đúng vậy, Đức Giêsu luôn sống thiết thân với lời Người nói. Đó là điều khác với hạng kinh sư. Còn tôi, khi nói về Thiên Chúa, về Giáo hội, tôi có làm cho người ta cảm thấy tôi tin như thế không ? Tôi là một "kinh sư" hay là một "chứng nhân ? Tôi có thích lặp lại những bài đã học cách bề ngoài, hay muốn Lời Thiên Chúa trở nên "của tôi", được nội tâm hóa, là chính "thịt xương của xương thịt tôi" không ?

Đúng lúc đó, trong Hội đường, có một người bị quỷ ám la lên...

Chúng ta đang đứng trước bối cảnh phương Đông. Cuốn phim của Zefflrelli đã mô tả rất đúng cảnh này, trong đó thật là náo động, la hét, bạo lực bùng lên. Máccô không ngần ngại tỏ vẻ cho cảnh bùng nổ trên thêm màu sắc : Trước hết, đó là "tiếng la hét" vang lên trong khi Đức Giêsu đang giảng ! Rồi Đức Giêsu quát mắng nó" : bầu khí thật sôi động kịch liệt ! Chính khi "lay mạnh người ấy, thét lên một tiếng" quỷ mới xuất khỏi anh ta.

Tân ước đã 23 lần bàn tới "thần ô uế" mà sách bài đọc dịch là "thần xấu', bởi vì thực ra, từ "ô uế" ở đây không có nghĩa "tình dục" như hiện nay, nhưng sự ô uế chỉ được hiểu như điều gì đổi nghịch với sự "thánh thiện". Riêng Mác-cô, ông sử dụng tới 11 lần từ "thần ô uế " . "Thần xấu", chính là "đứa chống lại sự thánh thiện của Thiên Chúa" : chúng ta thấy rõ điều này được mô tả ở đây, Nó "quấy phá" con người ! Nó ngăn cản con người không sống đích thực là người. Con người "bị quấy phá" trên đây, đó là chính biểu tượng của con người "bị tha hóa". "Bị chiếm đoạt", vì một thứ sức mạnh ngoài nhân loại khi chinh phục được con người, đã hoàn toàn thống trị nó.

Trước việc "trừ quỷ" của Đức Giêsu trên đây, chúng ta có thể phân vân giữa hai thái độ, thực ra cũng khá giống nhau, khiến chúng ta khó "hiểu biết sâu xa" cảnh tượng này : thái độ thứ nhất làm ta dễ chán nản và nuốn bác bỏ bản văn kỳ dị trên như đã cũ rích và lỗi thời . . Ngược lại thái độ thứ hai gây cho ta thích thú nhìn xem vẻ kỳ diệu bề ngoài của bản văn (theo kiểu nhà đạo diễn phim "Người trừ quỷ", khai triển mọi vẻ khủng khiếp có tính kịch trên màn ảnh). : Thực ra, Mác-cô bắt đầu hoạt động của Đức Giêsu bằng một việc trừ quỷ, bởi vì ông nhận thấy ở đó bản "tóm lược" trọn vẹn mọi hoạt động của Chúa : Đức Giêsu đến giải phóng con người nô lệ khỏi những quyền lực đang tha hóa họ . . . Thế giới thay đổi chủ . . . Nước Thiên Chúa đang bắt đầu ! .

Này ông Giêsu Na-ra-rét, chuyện chúng tôi can gì đến ông ? Tôi biết ông là ai rồi : "ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa".

Thực sự cần phải khám phá ra căn tính đích thực của Đức Giêsu. Cần khởi đi từ danh hiệu bình thường "Giêsu, người Na-da -rét" , đến tước hiệu kỳ diệu : "Đấng Thánh của Thiên Chúa". Đức Giêsu không phải là kẻ trù quỷ tầm thường ở làng thôn, như một số ít người lúc đó đang hoạt động rải rác khắp nơi, trong thế giới Do Thái cũng như trong thế giới dân ngoại : một loại ma thuật hay phù thủy. Hoàn toàn không thể có sự tương hợp giữa "Thần ác" và "Thiên Chúa" được : thế nên Sa-tan đã công khai tuyên chiến. ông muốn gây chuyện gì đây ? Có liên quan gì giữa ông và tôi ? ông muốn gì ? Đó là "tiếng la hét của quỷ". Còn chúng ta thì sao ? Cùng với Đức Giêsu, chúng ta có quan niệm đời sống Kitô hữu của chúng ta như một cuộc giao chiến lớn lao nhằm giải phóng không ? Những người thuộc nhóm của Đức Giêsu cần phải sẵn sàng ứng chiến. Những lực lượng thù địch luôn nổi đậy chống lại Người. Tôi có cùng chiến đấu với Đức Giêsu không ? Tôi phải giải thoát anh em tôi, và chính bản thân tôi khỏi sự tha hóa, sự ác nào ?

Đức Giêsu quát mắng nó : "Câm đi, hãy xuất khỏi người này".

Từ Hi Lạp được dùng ở đây, có nghĩa gì "bịt miệng", "đe dọa" , "quát mắng". Trước giông bão nổi lên trên biển hồ, Đức Giêsu cũng sử dụng từ này (Mc 4,39). Quyền năng của Đấng Phục sinh chiến thắng mọi quyền lực ma quỷ được diễn tả qua câu : sự ác bị đánh bại Thiên Chúa xuất hiện .

Chúng ta nên lưu ý một chi tiết có ý nghĩa : đó là khi mọi người hỏi nhau và ngạc nhiên về "nhân cách" của Đức Giêsu . . . thì ma quỷ đã biến mất rồi . Nhờ bản tính thiêng liêng, có lẽ quỷ tinh thông hơn con người chăng ? Nhưng Đức Gíêsu truyền cho chúng phải im lặng : câm miệng lại ? hãy im đi ! Căn tính đích thực của Đức Giêsu chỉ có thể được mạc khải dần dần : Tuyên bố quá sớm Đức Giêsu là Đấng Thánh của Thiên Chúa", là ."Con Thiên Chúa", có thể chỉ là một việc làm của ma quỷ. Chỉ đến khi đứng trước thập giá một "con người, một kẻ ngoại, viên đội trưởng hành quyết, mọi công bố những tước hiệu trên một cách hợp thức (Mc 15,39).

Mọi người đều kinh ngạc, bàn tán với nhau : "Thế nghĩa là gì ? Giáo lý thì mới mẻ, người dạy lại có thẩm quyền. Ong ấy ra lệnh cho quỷ, quỷ cũng phải vâng theo".

Đó là những Lời", một giáo huấn, một sứ điệp... một điều gì "mới lạ" cho nhân loại.

Đó là những "Dấu chỉ", những "hành động của Đức Giêsu, các bí tích. . . quyền năng của Thiên Chúa" . Đừng quên rằng, trong bí tích Rửa tội, chính chúng ta đã được Chúa Giêsu "trừ quỷ và "dấu chỉ bí tích" này luôn hiện diện : Nó được hiện thực hơn mỗi khi ta cử hành Thánh Thể. . . trong đó Đức Giêsu "nói" với ta, và "cứu độ" ta khỏi sự dữ.


Giáo phận Nha Trang - Chú Giải


 

" Người giảng dạy người ta như Đấng có uy quyền "

BÀI TIN MỪNG : Mc 1, 21 - 28


I . Ý CHÍNH :

Bài Tin Mừng hôm nay đề cập tới thế giá và uy quyền của Chúa Giêsu Kitô .

II . SUY NIỆM :

Bài Tin Mừng này tiếp nối bài Tin Mừng Chúa nhật trước . Sau khi tuyển chọn được bốn vị tông đồ, Chúa Giêsu bắt đầu đi truyền giáo :

1 / " Chúa Giêsu vào giảng dạy trong họi đường " :

Ngay sau khi tới Capharnaum, ngày hưu lễ tiếp theo đó, Chúa Giêsu không để mất thì giờ và cơ hội, Người hoạt động liền :

Phụng vụ trong hội đường chia làm hai phần :

- Phần đầu là phần phụng vụ thực sự : trong phần này người ta hát những bài ca tụng Chúa .

- Phần thứ hai là phần giáo huấn : người ta đọc sách luật hoặc sách tiên tri . Độc rồi chính ông hội trưởng, hoặc ông mời một vị nào có tiếng, cắt nghĩa đoạn văn đó .

Ngày hưu lễ hôm đó, Chúa Giêsu được mời chú giải đoạn văn vừa đọc .

2 / " Người ta kinh ngạc về giáo lý của Người " :

Chúa Giêsu giảng giải Thánh Kinh khiến cho nhiều người phải kinh ngạc vì :

+ Người giảng dạy người ta như Đấng có uy quyền chứ không như các luật sĩ .

+ Có uy quyền vì Người dùng quyền Mình mà giảng dạy chứ không lệ thuộc vào thế giá của người khác . Quyền này được tỏ ra khi Người chuẩn y hoặc khước từ hoặc sửa sai những tập truyền cũ : " Đã nói cho người xưa rằng ... Phần Ta, Ta bảo các ngươi " ( Mt 5, 21 ) .

+ Chứ không như các luật sĩ : các luật sĩ giảng dạy nhờ thế giá của người xưa . Vì các ông chỉ đọc sách rồi giải thích không giám thêm một ý tưởng nào mới . Các ông gò bó con người vào những hình thức của luật hơn là dùng luật để giải thoát con người .


3 / " Đang lúc đó có một người bị thần ô uế ám " :

Chúa Giêsu tỏ ra có uy quyền trên giáo thuyết . Người còn tỏ ra có uy quyền trên lãnh vực hành động và biểu lộ quyền năng ấy bằng phép lạ chữa khỏi người bị thần ô uế ám để chứng minh giáo lý Người dạy .

" Hỡi ông Giêsu ! có chuyện gì giữa chúng tôi và ông ? Ông ddeesnddeer tiêu diệt chúng tôi sao ? " : Thaafnoo uế đây là ma quỷ . Ma quỷ tỏ ra khổ cực và khiếp đảm khi gặp Chúa Giêsu vì Người đến để tiêu diệt quyền lực của ma quỷ, giải thoát nhân loại khỏi quyền lực ấy . Chính vì vậy mà ma quỷ kêu lên như thầm xin với Người để mặc chúng . Kiểu nói : " Có chuyện gì giữa chúng tôi và ông ... " có ý nói xin để mặc chúng tôi .

" Tôi biết ông là ai là Đấng Thánh của Thiên Chúa " : Ma quỷ xưng Chúa Giêsu là Đấng Thánh của Thiên Chúa vì trong thánh vịnh gọi Đấng Cứu Thế là " Người Thánh của Thiên Chúa " ( Đn 7, 27 ) và thời kỳ của Người là thời kỳ thánh ( Is 4, 3 ) .


4 / " Hãy im đi và ra khỏi người này " :

- Ma quỷ xưng Chúa Giêsu là Đấng Cứu chuộc loài người trước thời giờ thuận lợi để làm hỏng công việc của Người . Vì thế Chúa Giêsu mới truyền cho ma quỷ im đi .

- Vì hoàn cảnh lịch sử bấy giờ, và vì quan niệm sai lầm của người Do thái, Chúa Giêsu chưa định tỏ mình ra là Cứu Thế .


5 / " Thần ô uế liền dằn vặt người ấy ... " :

Những khán thính giả đã được nghe và chứng kiến về giáo lý và về việc trừ quỷ của Chúa Giêsu đều kinh ngạc vì họ nhận ra một cái gì mới mẻ nơi Chúa Giêsu . Cái mới mẻ đó dẫn được họ tin nhận Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế . Chính vì cái mới mẻ đó mà danh tiếng của Chúa Giêsu được lan tràn khắp vùng lân cận xứ Galilê .

III . ÁP DỤNG :

A / Áp dụng theo Tin Mừng :


1 / Câu chuyện trong bài Tin Mừng này diễn tả thế giá và uy quyền của Chúa Giêsu . Vì thế Giáo Hội muốn lời Thánh vịnh ( Tv 94, 8 ) mà nhắn nhủ ta rằng : " Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người và đừng cứng lòng nữa " .

2 / Những khán thính giả của Chúa Giêsu đã kinh ngạc về giáo lý và hành động của Người : nhưng đối với chúng ta, mỗi khi cảm thấy chán ngán Lời Chúa hay dửng dưng với giáo lý của Người thì cần phải xét lại nếp sống của ta để gạt bỏ những trở ngại như nghe hoặc đọc Lời Chúa cách vô ý thức hay lơ là và xa lạ với những công trình tạo dựng của Chúa trong vũ trụ hoặc hững việc Người làm trong cuộc sống của ta ...


B / Áp dụng thực hành :

1 / Nhìn vào Chúa Giêsu :


* Chúa Giêsu giảng dạy như người có uy quyền . Chúng ta càng xác tín vào điều mình rao giảng thì lời rao giảng càng hấp dẫn người nghe .

* Chúa Giêsu tỏ uy quyền trên ma quỷ . Muốn thắng ma quỷ , chúng ta phải tựa vào uy quyền của Chúa bằng sự cầu nguyện, hãm mình và hy sinh .


2 / Đặt mình vào những người nghe Chúa giảng dạy :

Họ kinh ngạc về giáo lý và hành động của Người . Chúng ta cần học hỏi tìm hiểu và suy niệm để khám phá sự mới mẻ của Lời Chúa, đồng thời chúng ta phải biết nhận ra những quyền năng của Chúa được tỏ bày trong vũ trụ vạn vật để ca tụng, ngợi khen và yêu mến Chúa .


HTMV Khóa X - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn