Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa

Tin Mừng Mt 3: 13- 17 Phép rửa của Chúa Giêsu cho ta thấy Người muốn sống đời mình theo viễn tượng nào, muốn được sinh động bởi não trạng nào, muốn hành động theo phương cách nào.

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT LỄ CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA

(Mt 3: 13- 17)

Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

PHÉP RỬA CỦA CHÚA GIÊSU


CÂU HỎI GỢI Ý
 
1. Mt mô tả gì trong phép rửa của Chúa Giêsu: cảm xúc tôn giáo? thị kiến? kinh nghiệm về một trật tự khác? Việc Thần khí xuống "như một chim câu (c.16) và lời nói của "tiếng từ trời có ý nghĩa gì trong hậu cảnh Cựu ước và đối với hôm nay?
 
2. Việc Thần khí tấn phong Chúa Giêsu làm Messia và tiếng nói từ trời soi sáng thế nào lời gian Tẩy giả công bố về việc hối cải và Nước Trời gần bên (3,2), lời mà Chúa Giêsu lấy lại sau đó (4,17)? Làm sao cho thiên hạ nghe lời công bố ấy hôm nay? Và từ đoạn văn này, ta rút ra được điều gì giúp hiểu về phép rửa trong Giáo Hội?
 
3. Chúa Giêsu phủ nhận quan niệm của vị Tẩy giả về Nước Trời và về cuộc giáng lâm của Đấng Messia trên điểm nào?
 
4. Làm sao giải thích thái độ Chúa Giẽsu đến xin chịu phép rửa?
 
1.Việc rao giảng của Gioan Tẩy giả dẫn ta đến phép rửa của Chúa Kitô, trung tâm đích thực của các trình thuật chương 3- 4. Về phép rửa này, Tin Mừng Nhất lãm cống hiến cho ta 3 bản văn song song rất giống nhau. Thế nhưng đoạn văn của Mt lại thêm vào trình thuật một mẩu đối thoại ngắn giữa Gioan và Chúa Giêsu, một mẩu đối thoại rất có ý nghĩa xét trong nhãn giới của ông. Rồi đây chúng ta sẽ thấy nó ý nghĩa chỗ nào.
 
2. Khi chấp nhận liên đới với kẻ tội lỗi, Chúa Giêsu tỏ ra muốn phản đối quan niệm của vị Tẩy giả về Nước trời và về cuộc giáng lâm của Đấng Messia: thay vì xuất hiện như Thẩm phán cánh chung đến quét sạch sân lúa trong cơn Hỏa nộ, Chúa Giêsu lại tự hủy trong dòng nước Giođanô. Trình thuật Mt như thế kín đáo ám chỉ cuộc Tử nạn, qua việc đồng hóa Chúa Giêsu với người Tôi tớ Giavê (Is 42, 1. x. Mt 3,17), đấng đã gánh lấy mọi yếu hèn của ta (Is 53,4. X.Mt 8,17). Chính trình thuật Tử nạn của Chúa Giêsu (27,45-56) cũng chứa đựng nhiều yếu tố của cảnh này, như chúng ta sẽ thấy về sau khi nghiên cứu cuộc Khổ nạn.
 
3. Thuộc văn thể nào cái trình thuật về thị kiến khai mạc của chúng ta đây, một trình thuật xem ra không mô tả một quang cảnh thấy được bên ngoài, cũng chẳng tỏ cho biết một kinh nghiệm tâm lý hay một mặc khải bên trong của Chúa Giêsu? Trước hết, trình thuật có chủ ý thần học; nó biểu lộ mối ưu tư của các cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên muốn diễn tả niềm tin của họ vào Chúa Giêsu như vào kẻ đến thỏa mãn lòng mong đợi Đấng Thiên sai, và muốn biện minh cho thái độ khó hiểu của Chúa Giêsu khi đến xin Gioan làm phép rửa. Trình thuật có những nét tương tự với các cuộc "thần hiện “(tỏ mình của Cứu Chúa) hay với những cảnh "kêu gọi ngôn sứ", thường thấy trong Cựu ước. Nhưng đúng hơn, nó thuộc về một văn thể khác mang tính chất khải huyền, mà ta có thể gọi là văn thể "thị kiến giải thích”(vision interprétative), thường được dùng trong các Targumim. Thật vậy, các Targumim liên hệ đến lịch sử tổ phụ Abraham, Isaac và gia cóp, đều soi sáng lạ lùng trình thuật Chúa Giêsu chịu phép rửa của chung ta.
 
4. Trình thuật này có lẽ có có liên hệ với kinh nghiệm phép rửa Kitô giáo mà Mt sẽ đề cập vào cuối Tin Mừng của ông (28,19). Người chịu thanh tẩy "đi lên”khỏi nước sự chết, đón nhận Thần khí và tỏ mình ra như "Con chí ái”của Chúa Cha, trước khi được dẫn cùng với Chúa Giêsu vào hoang địa thế gian, hầu chịu thử thách cùng chu toàn phận vụ trong đó.
 
CHÚ GIẢI CHI TIẾT
 
"Bấy giờ”(c. 13), một tiếng thường gặp trong Mt, ở đây tương đương với một công thức chuyển mạch thuần túy. "Xuất hiện”cũng là động từ Mt đã dùng để đưa Gioan Tẩy giả nhập cuộc (3, 1): ông tái nhấn mạnh mối tương quan mật thiết giữa Gioan và Chúa Giêsu vậy. "Bỏ Galilê": Mt không đề cập đến Nađarét mà ông đã nói tới ở 2,23. "Để chịu thanh tẩy": mục đích rõ ràng của Chúa Giêsu. Mt minh bạch đặt vấn đề Chúa Giêsu chịu rửa, trước khi trả lời trong các câu kế tiếp.
 
Cuộc đối thoại giữa Gioan và Chúa Giêsu (cc. 14- 15), mà chỉ Mt có, phản ảnh một khuynh hướng hộ giáo. Việc Gioan làm phép rửa cho Chúa Giêsu đã sớm gây nhiều khó khăn cho Ki-tô hữu (so sánh Lc 3, 21tt; Ga 1, 29-34; Tin Mừng người Hy bá). Các khó khăn đó như thế này:
 
(1) các vai trò xem ra đảo ngược, trái ngược với điều chính Gioan loan báo khi ông tự tuyên bố mình không đáng mở dây giày cho Đấng Messia tương lai;
 
(2) phép rửa của Gioan, có việc thú tội kèm theo (3,6) được các tội nhân đón nhận, vậy Chúa Giêsu, khi cúi mình chịu, phải chăng cũng ý thức mình là tội nhân. Cuộc đối thoại giữa Gioan và Chúa Giêsu đem lại câu trả lời cho khó khăn thứ nhất, trong lúc cuộc thần hiện tiếp theo phép rửa làm giảm khó khăn thứ hai.
 
Gioan (c.14) nhận thấy bổn phận chuẩn bị cho Chúa Kitô đến giờ đây chấm dứt; lúc này tới phiên ông chịu rửa "trong Thánh Thần và lửa”(c. 11) và Chúa Giêsu phải là người ban phép. Nhưng Chúa Giêsu trả lời (c.15) rằng cần phải tuân theo thánh ý Thiên Chúa. Tiếng prepon (do động từ prepoin "thích hợp", và gán tương đương với dei: phải) diễn tả sự bắt buộc do thánh ý Thiên Chúa. Đoạn văn gần giống bản văn chúng ta là Dt 2, 10 (so sánh với Lc 7,30). ở đây có hai tiếng quan trọng, đặc biệt của thần học Mt: plêroun (làm trọn-thực hiện-hoàn thành-kết thúc) và dikaiosunê (sự công chính). Thông thường, plêloun có nghĩa là "làm trọn", theo nghĩa chấp hành tốt lề luật chẳng hạn. Nhưng trong Mt, nghĩa của nó phong phú hơn nhiều. Nếu dự đoán được những kết luận của cuộc phân tích Mt 5,17, ta sẽ hiểu rằng việc "làm trọn “ở đây (ó hai nghĩa “bảo tồn và kết thúc, duy trì và kiện toàn. Sờ dĩ Chúa Kitô, khi chịu phép rửa bởi Gioan, "đã làm trọn”sự công chính, đó ~ vì Người vừa cúi chịu vừa siêu hóa và bày tỏ ý nghĩa tròn đầy của phép rửa ấy; cử chỉ của Người mặc khải điều đã được chứa đựng cách bất toàn trong việc người Israel cúi mình chịu phép rửa của Gioan vậy.
 
Tiếng thứ hai, "hệt nghĩa công chính”(Mt rất ưa dùng, nhất là trong Diễn từ trên núi). Trong văn mạch chung của tư tưởng tôn giáo và tư tưởng xã hội hy bá (cả hai chỉ là một), tiếng này chỉ sự hoàn thành thánh ý Thiên Chúa; sự tuân thủ Lề luật Giao ước dưới mọi đòi hỏi yêu sách. Việc Mt dùng ý niệm "công chính”nằm trong truyền thống thần học của Israel: con người trở nên công chính khi, nhờ ý thức sâu sắc về sự siêu việt và thánh thiện của Thiên Chúa, họ cố gắng sống phù hợp với tôn ý Ngài. Nhưng tại sao Thiên Chúa đã quyết định là Đấng Messia của Ngài phải nhận phép rửa của Gioan và tỏ mình như kẻ có tội? Bản văn không đưa ra một lý do sáng sủa nào để giải thích ý định thần linh lạ lùng này, trừ ra lời ám chỉ mập mờ về việc hoàn thành mọi nghĩa công chính ". Nhưng toàn thể Tân ước có gợi lên hai lý do của đòi hỏi ấy.
 
Lý do thứ nhất, được nhiều nhà chú giải nhấn mạnh dựa vào Mt 20,28 và 26,28, có thể phát biểu như thế này: Chúa Giêsu phải xóa hết tội lỗi của "nhiều người". Cv 8,32-35, trích Is 53,7-8, cho thấy Chúa Giêsu như là Tôi tớ Giavê chịu đau khổ vì tội dân mình, mặc dầu chính Người không vương mắc tội Phaolô còn minh định giáo thuyết ấy hơn: qua việc nhập thể, Chúa Giêsu đã mang lấy "một xác thịt giống xác thịt tội lỗi (Rm 8,3), Người đã trở nên chi thể và thủ lĩnh của một nhân loại tội lỗi. Thành ra mặc dầu chẳng phạm tội, Chúa Giêsu cũng phải cúi chịu phép rửa thống hối vì đã muốn liên đới với mọi tội nhân (2 Cr 5, 21; Dt 2, 14- 17).
 
Nhưng ta có thể thấy một lý do thứ hai trong phép rửa của Chúa Giêsu, hay đúng hơn là lý do đầu, song nhìn dưới một hình thức hơi khác. Lý do ấy không nhấn malth đến sự đồng hóa Chúa Giêsu với tội nhân cho bằng đến vléc Người đồng hóa với các tội-nhân-hối-cải. Thật vậy, đối với người Do thái, lãnh nhận phép rửa của gian là một yêu sách công chính, theo nghĩa là họ phải dùng nghi thức đó mà biểu lộ sự thống hối của mình, biểu lộ lòng ước muốn trở về với Giavê và sống trung thành hơn nữa với những đòi hỏi của Giao ước. Xét về cơ bản thì sự công chính ki tô giáo, như Mt hiểu, đồng nhất ý nghĩa với sự công chính của Giao ước cũ (nhưng cũng siêu hóa nó): đó là trung thành với các yêu sách của Giao ước mới, là thần phục Luật mới của Chúa Kitô chương 5-7). Như thế, khi "làm trọn hết nghĩa công chính”là Chúa Kitô lấy thái độ trung thành với Giao ước của những người Israel "công chính”làm của mình, đồng thời đưa lòng trung thành đó lên tới tuyệt đỉnh hoàn thiện. Đấy chính là ý nghĩa đặc biệt của phép rửa Chúa Kitô, một phép rửa trong đó Người trở nên liên đối với dân Người đang quay đầu trở lại. Qua phép rửa, Chúa Kitô kéo hết thảy những kẻ tin đi với mình và trong mình về tùng phục lại Chúa Cha; lòng tùng phục thảo hiếu này Người sẽ bày tỏ cách đặc biệt sáng ngời trong cuộc Tử nạn. Thành ra phép rửa của Chúa Giêsu đã là dấu chấp nhận trước cuộc Tử nạn (26,39), sự hoàn thành mọi lẽ công chính. Lời.đầu tiên của Chúa Giêsu trong Tin Mừng Mt tóm tắt cả cuộc đời Người vậy.
 
Các câu 16- 17 trình bày sự kiện một cách gọn gàng, đơn giản. Điểm được chú trọng là biến cố thần hiện, trung tâm của tất cả phần này. Mt đã nhấn mạnh rằng việc thụ thai Chúa Giêsu là công trình của Thánh Thần (1,18- 20), nay ông lại cho thấy sứ mênh Người không có nguồn gốc nào khác hơn. Chính lúc Chúa Giêsu tỏ ra vâng lời và tự hạ, thì Người được xác nhận như là ngôn sứ và Messia, nghĩa là như Thẩm phán cánh chung (mặc dầu việc tỏ mình như Thẩm phán được hồi lại vào ngày Quang lâm). Thật thế, chính sự hạ mình như là Con được Cha sai đã làm cho người trở thành Thẩm phán cánh chung, vì chính trong sự xóa mình, sự tự hủy ấy (kénose, theo cách nói của Phaolô) mà trời đến gần đất.
 
"Trời mở ra": Mt dùng cũng một động từ như Isaia đã dùng trong nhột đoạn thời danh: "ước gì Ngài xé trời Ngài xuống”(Is 63,19. Bản 70): niềm hy vọng thiên sai diễn tả qua miệng ngôn sứ bây giờ được thực hiện vậy.
 
"Người thấy Thần khí Thiên Chúa"; Việc Chúa Cha chấp nhận sự tùng phục của Chúa Con được biểu lộ rõ ràng qua việc Thần khí đáp xuống và nhất là qua "tiếng nói từ trời". Như thế phép rửa có vẻ là cuộc tấn phong Chúa Giêsu làm vua và Messia, vì Thần khí Người lãnh nhận là Thần khí đã ngập tràn các ngôn sứ và vua chúa để ban cho họ khả năng thi hành nhiệm vụ; nhưng hơn hẳn các nhân vật quá khứ, Người lãnh nhận Thần khí một cách dư đầy. Chính Isaia đã từng tiên báo như thế về Đấng Messia: "Sẽ đậu trên Người Thần khí Giavê, Thần khí khôn ngoan và trí tuệ, Thần khí mưu lược và anh dũng, Thần khí hiểu biết và kính sợ Giavê"(Is 11, 2). Ngôn sứ Gioel cũng đã tiên báo: thời Đấng Messia tới sẽ được đánh dấu bằng việc tuôn tràn Thần khí cho mọi người (3, 1- 2), việc tuôn tràn này bắt đầu từ sông Giođanô nhưng sẽ đạt đến mức độ viên mãn trong ngày Hiện xuống.
 
"Người thấy Thần khí Thiên Chúa đáp xuống như chim câu ": Trong Do thái giáo, chim câu không hề được coi là hình ảnh của Thần khí, thế nhưng một vài bản văn các giáo sĩ có so sánh chuyển động của Thần khí Thiên Chúa với cử chỉ của một con bồ câu "bay chập chững trên bầy con mà không đụng tới chúng"; Thần khí cũng "bay là đà “trên nước nguyên thủy như vậy (St 12). Trọng tâm so sánh nằm ở chỗ nhấn mạnh tới tha tính của Thần khí (Thần khí chẳng phải là một mãnh lực mưu xuất từ thiên nhiên hay con người, song là một hữu thể siêu việt), lẫn tính cách dịu dàng, gần gũi của hoạt động Ngài. Bản văn Mt, như Mc, không gợi lên hình dáng (Lc) cho bằng cách thức mà Thần khí đột hiện và tác động trên Chúa Giêsu. Trạng từ ngữ "hơi như (hôsei) chim câu”bổ nghĩa cho động từ "xuống”chứ không cho danh từ "thần n khí".
 
"Người này là Con Ta": Tiếng phán ra là tiếng Chúa Cha; tiếng ấy lấy lại lời khẳng quyết của Tv 2,7: "Con là con Ta, hôm nay Ta đã sinh con "; nó cũng lấy lại lời Giavê ngỏ cùng người Tôi tớ đau khổ sẽ thể hiện ơn cứu độ cho thân thuộc mình: "Này đây Tôi tớ của Ta mà Ta nâng đỡ Tuyển nhân của Ta mà Ta sủng mộ. Ta đã ban Thần khí Ta trên Người...”(Is 42, 1). Cũng có thể đối chiếu lời công bố của Thiên Chúa với nhiều bản văn Cựu ước trong đó Giavê gọi Israel là "con”Ngài (Xh 4, 22; Hs 11, 1 v.v...) và một lần nữa kết luận rằng Mt muốn cho thấy Chúa Giêsu là Israel mới. Trình thuật Cám dỗ (4, 1 - 11) sẽ củng cố hơn nữa việc song đối này.
 
Công thức "Người này là Con chí ái Ta, kẻ Ta sủng mộ”được lấy lại từng chữ trong trình thuật Biến hình (17,5). Chắc hẳn Mt muốn thiết lập một sự tương đồng có tính cách thần học giữa hai biến cố. Thật vậy, cũng như cuộc biến hình là thể hiện trước việc tôn vinh Chúa Kitô khi Người sống lại tôn vinh là kết quả của tự hạ trong Khổ nạn), thì sự phê chuẩn của Chúa Cha và việc đổ đầy Thần khí cũng loan báo, theo cách thức riêng, việc tôn vinh Chúa ki tô (tôn vinh sẽ là kết quả không những của cuộc Tử nạn mà còn của cả đời sống tự hạ, bắt đầu từ việc hạ mình ngày chịu phép rửa). Hết thảy những điều này xác nhận rằng cảnh phép rửa thật là một cuộc thần hiện, y như cuộc biến hình, hơn là một thị kiến của riêng Chúa Giêsu. Cuộc thần hiện này nhắm tới các độc giả Tin Mừng đã trở thành môn đồ Chúa Giêsu (vì Mt không đề cập tới đám đông nào hết), y như cuộc Biến hình chỉ dành riêng cho 3 môn đồ Phêrô, Giacôbê và Gioan thôi vậy.
 
KẾT LUẬN
 
Cơ cấu văn chương và thần học của tất cả phần này (ch.3- 4) chỉ cho thấy nên tìm giáo huấn chủ yếu của các chương ở ngay trung lâm của chúng là 3,16-17. I'hần khí Thiên Chúa xuống trên Chúa Giêsu và thánh hiến Người, không những như Ngôn sứ-tôi tớ, mà còn như kẻ hiện thân cho Nước Trời, vì Người là Đấng Messia thiên hạ đợi trông. Trong Chúa Giêsu, trời xem ra nối liền với đất, vì trong Người "Nước Trời đã gần bên”(3,2). Từ nay mọi cái đều hội tụ về Chúa Giêsu, và mỗi người đều được kêu mời nghe tiếng phán từ trời, tiếng ban ý nghĩa cho những gì xảy ra; từ nay Chúa giàu có bổn phận làm cho cuộc sống, ngôn ngữ, cử chỉ Người trở nên tiếng nói Chúa Cha ngỏ với nhân loại.
 
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
 
1. Phép rửa của Chúa Giêsu cho ta thấy Người muốn sống đời mình theo viễn tượng nào, muốn được sinh động bởi não trạng nào, muốn hành động theo phương cách nào. Người đứng về phía các tội nhân mà Người đến tha thứ và cứu vớt. Người mong biến đổi nhân loại, nhưng là từ bên trong, bằng cách chia sẻ thân phận nghèo hèn và khốn khổ của họ, hơn là từ bên ngoài, bằng xét xử phán đoán. Người từ chối thống trị, chinh phục với vũ lực, bắt buộc người ta phải thừa nhận Người. Từ đầu sứ vụ Người cho thấy chỉ muốn cứu nhân loại bằng cách tự hủy mình cho đến chết trên Thập giá. Kitô hữu nào dự định thực hiện cuộc giải phóng con người cũng phải chấp nhận các phương pháp như trên.
 
2. Lúc Chúa Giêsu chìm dưới dòng nước sông Giođanô, nghĩa là trong vũ trụ của các tội nhân, dưới tận đáy khiêm nhượng, thì Chúa Cha đến gặp Người và đặt Người làm "Kitô và Chúa”(Cv 2, 33): ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên.
 
3. Chúa Giêsu muốn liên đới với con người trong nỗi khốn cùng và sự yếu hèn của họ. Người muốn đợi chúng ta chính nơi đó. Vì thế đừng luống công làm ra vẻ quan trọng, tự đắc, cho mình xứng đáng với tình yêu của Người. Chính trong đáy vực sâu tội lỗi mà Người gặp gỡ và phục hồi ta.
 
4. Ai chịu thanh tẩy là đi vào đời sống nghĩa tử với Chúa Giêsu: người ấy được làm con cái Thiên Chúa theo cách riêng của mình và cũng nhận được Thần khí Chúa Cha và Chúa Con.

 

 
Noel Quession - Chú Giải

LỄ CHÚA CHỊU PHÉP RỬA

Mt 3: 13-17


 
Các lễ Giáng sinh, Thánh Gia, và Hiển Linh vẫn còn thật gần gũi. Dẫu vậy, rất nhanh. Giáo Hội muốn làm cho chúng ta bỏ Tin Mừng tuổi thơ để đề cập cái chính yếu: tác vụ công khai... cuộc đời trưởng thành của Đức Giêsu...
 
Bấy giờ Đức Giêsu từ miền Galilê đến sông Gio-đan...
 
Chúng ta đừng quên những hoàn cảnh lịch sử của "biến cố”thà người ta có thể xác định thời gian vào cuối năm 27.
 
"Đức Giêsu”... một người vẫn không ai biết.
 
"Từ miền Galilê đến”tỉnh xa xôi này một nửa ngoại giáo bị khinh để bởi những người dân cư miền Giu-đê và Giêrusalem, lãnh địa linh thánh tiêu biểu mà Thiên Chúa cư ngụ. "Bất chợt... xuất hiện". Cái người vô danh này, đến
 
từ một làng cũng tăm tối, bây giờ vào cuộc.
 
Chúng ta những ngươi đang sống hai nghìn năm sau, chúng ta bây giờ biết Đức Giêsu sắp thay đổi bộ mặt địa cầu. Người khoảng 30 tuổi. Người ta không biết gì về ông ấy. Một cuộc yên lặng 30 năm.
 
Trên bờ sông Gio-đan. A! Con sông này, tất cả đã khởi đầu trên bờ của nó! Một con sông độc nhất vô nhị trên thế gian, kể cả nói về mặt địa lý. Tiếng "Gio-đan", trong ngôn ngữ Do Thái có nghĩa là "người đi xuống", từ gốc "yarad”"đi xuống Con sông Gio-đan, thực tế là con sông độc nhất phải xuống quá thấp! Nó bắt nguồn trên đồi Héc-môn, cao 520 mét, dài 220 cây số, chấm dứt ở Biển Chết, ở sâu 394m dưới mực nước biển. Thật là quá thấp!
 
Như thế sự xuống thấp này là cái gì vậy, con sông kỳ lạ này biểu trưng cho vực thẳm nào vậy?
 
Đức Giêsu đến gặp ông Gioan để xin ông làm phép rửa cho mình.
 
Thực sự việc vào cuộc này gây lắm hoang mang.
 
Phép rửa mà Đức Giêsu đến xin Gioan làm, đó là một phép rữa sám hối, dấu hiệu công khai chỉ là người ta hối tiếc về các lỗi lầm của mình làm, người ta muốn thay đổi cuộc đời... "Tất cả miền Giu-đê và tất cả miền Gio-đan đều xin ông Gioan làm phép rửa đồng thời xưng thú tội lỗi mình phạm".
 
Tôi dành thời gian nhìn ngắm Đức Giêsu, trong hàng người đánh cá đợi đến lượt mình. Một trực giác sáng ngời và không thể lầm lẫn được, bỗng chốc đem Đức Giêsu đến đỉnh cao của tính nhân bản, nơi đó sự hiện diện của Thánh Linh linh hoạt nhất, nơi đó sự chờ đợi của Thiên Chúa sống động nhất... Đức Giêsu tức khắc đến nhập bọn với những người tội lỗi... tại chỗ mà Thiên Chúa tác động vào lòng họ, tại chỗ mà họ quyết tâm sám hối...
 
Phép rửa của Đức Giêsu, được cả bốn sách Tin Mừng chứng thực, là một sự kiện lịch sử không thể chối cãi được? không bao giờ những Kitô hữu đầu tiên lại bịa chuyện Đức Giêsu chịu phép rửa sám hối, quá trái ngược với ý nghĩ mà họ đang tạo dựng cho họ một Đấng Mê-si-a, nếu sự kiện không bắt họ phải nhận, khiến cho người ta phải hoang mang theo các luận giải của con người.
 
Còn tôi? Có phải tôi phán đoán những người có tội trên đỉnh cao vững vàng về đạo đức của tôi không? Có phải tôi cảm thấy có liên đới về nhân loại tội lỗi không?
 
Có phải tôi lên án không? Hay là phải chăng thái độ của Đức Giêsu đòi hỏi tôi... nâng đỡ, vâ cứu thoát những người làm điều xấu chung quanh tôi ư?
 
Gioan môt mực can Người và nói: Chính tôi mới cần Ngài làm phép rửa thế mà Ngài lại đến với tôi!
 
Đúng thế, Gioan được yêu cầu có sự đổi lại ý thế nào? ông báo tin có một Đấng Mê-si-a - quan xét, sắp sửa đốn tất cả những cây cối không sinh hoa quả và đem vào lửa đốt tất cả mọi thứ rác rưởi phù phiếm (Mt 3,7-12). và Đức Giêsu đến Chịu phép rửa sám hối! Đó là thế giới đảo ngược. Chính ý tưởng của Thiên Chúa lật ngựơc. Trái ngược với mọi chờ đợi của mình, Gioan Tẩy Giả sẽ làm phép rửa cho "người con có quyền lực hơn mình”(Mt 3,11). Gioan phản đối. Đó là một sự khiêu khích! ông muốn ngăn Đức Giêsu nhận cử chỉ này.
 
Như thế có gì xảy ra trong phép rửa này? Có điều gì quan trong được tiết lộ trong đó? Ta đứng ngưng lại ở cái bề mặt của cử chỉ này. Chắc chắn có một sự mạc khải chờ đợi chúng ta đó."
 
Nhưng Đức Giêsu trả lời: Bây giờ cứ thế đã. Vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính.
 
Đó là "lời nói đầu tiên”của Đức Giêsu trong sách Tin Mừng Mát-thêu. Nó chứng tỏ môt sự trưởng thành bản vị một cách tuyệt đối đặc biệt. Quân bình biết mấy! ý thức về sứ mệnh của mình biết mấy nơi con người này! Khi Người ta giản lược Đức Giêsu chỉ là một con người mà Giáo hội đã Thiên Chúa hóa... hay là một con người đã nhận thức dần dần mình là Thiên Chúa... thì người ta đi qua một cách hoàn toàn đơn giản cái huyền nhiệm duy nhất về bản tính của người.
 
Những năm tối tăm ở Na-da-rét không phải là những năm trống rỗng. Đức Giêsu là một người Do Thái. Như tất cả mọi người Do Thái, người thấm nhiễm bộ Torah, Lời Thiên Chúa. Và này đây, một cách hoàn toàn đơn giản, Người nói lên trong lời nói đầu tiên công khai của người. Hai tiếng xác định bản chất của người; thực thi... công chính Hai từ Kinh Thánh cực kỳ xúc tích. Hai từ tiêu biểu trong các từ vựng của Mát-thêu.
 
"Hoàn tất", "pleroum"... "sự công chính "dikaiosunê"... Thuật ngữ công chính sẽ hay được nói đến (Mt 5,6-10-20 -6,11 - 21.32). Sống công chính, tức là đáp lại chính xác ý muốn của Thiên Chúa: một hành động của con người phản
 
ánh cái ý muốn của Chúa. "Hoàn tất”tức là một hành vi hoàn hảo, đầy tràn sự tinh tế ở chỗ là "giữ gìn trong khi biến đổi... hoàn thành trong khi bảo vệ". Hoàn tất là một hành vi hoàn hảo nhất mà một người có thể làm. Còn chúng ta, chúng ta chiến đấu với nhau giữa những "người luôn tiến tới”và "những người giữ truyền thống", giữa những người cải tiến và những người bảo thủ. Nơi Đức Giêsu, chính người vừa trung thành với truyền thống của mọi thời đại và đồng thời người canh tân, đổi mới, làm cho đến cùng: đó chính là nguyên tắc của cuộc sống, tức là không bao giờ gián đoạn trọn vẹn với quá khứ, mà phóng đến tương lai.
 
Này nhé, Chúa không bao giờ là một người làm cách mạng, nhưng Người biến đổi tất cả. Người xin Gioan, người cuối cùng trong các ngôn sứ của Cựu ước, đón nhận phép rửa của người, trong chuỗi người tội lỗi, với tất cả mọi người... như tất cả mọi người.
 
Nhưng chú ý! Sẽ đột ngột bùng ra một cuộc canh tân.
 
Bấy giờ ông Gioan mới để cho người làm.
 
Khiêm tốn biết mấy trong những từ quá nghèo nàn đến thế. Người ta không nói rằng Gioan đã hiểu. Chỉ đơn giản, ông để cho làm. Ong tự xóa bỏ mình đi, ông phải thay đổi cái khái niệm hiếu thắng mà ông có về Đấng Mê-si-a. Có lẽ ông đoán một con người huyền nhiệm đang đứng trước mặt ông chăng? Cả chúng ta, ta hãy bước vào huyền nhiệm này... bên ngoài tất cả.
 
Bởi vì. chính ở đó tất cả kết thúc trong câu truyện này. Ta hãy lắng nghe.
 
Ngay khi Đức Giêsu chịu phép rửa xong. Người ở dưới nước đi lên.
 
Phép rửa không được miêu tả. Người ta không mô tả một cảnh tượng. Câu. chuyện cực kỳ ít lời, dè dặt hoàn toàn. Mát-thêu chỉ kể ra sự kiện bằng một phân từ đơn giản: được làm phép Rửa... Đức Giêsu đi từ dưới nước lên. Chúng ta chỉ được nói rằng Đức Giêsu đã hoàn tất hai động tác: "Người xuống nước... Người từ dưới nước lên... động tác đi về phía sông Gio-đan, chỗ thấp nhất trên hành binh này, nhưng là động tác của Thiên Chúa đến gặp gỡ loài người tội lỗi, Đức Giêsu... Sinh ra, chịu khổ hình thập giá chết, táng trong mồ xuống nơi luyện hình... một cuộc đi xuống đến chóng mặt!... sống lại, từ trong kẻ chết và lên trời…"
 
Này đây các tầng trời mở ra...
 
Tầng trời mở ra. Thiên Chúa Hiển Linh. Cuộc hiển linh của Thiên Chúa. Thiên Chúa tỏ mình ra. Hình ảnh hình tượng về tầng trời mở ra thường thấy trong Kinh Thánh để nói rằng một sự giao thông được thiết lập giữa thiên giới và con người được chấp nhận cho sống những bí mật của Thiên Chúa (Ex 1,1; Kh 19,11; Cv 7,56...)
 
Chúng ta, chính chúng ta cứ luôn luôn nghĩ rằng trời đóng lại, không thể tới được. Dẫu vậy tất cả những tai tin vào Đức Giêsu, đều nhờ Người mà trời mở ra sẵn trên đầu họ.
 
Và Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người.
 
Chúng ta đã chú ý rằng đây không phải là việc mô tả một cảnh tượng: Đó lằ một huyền nhiệm... Mát-thêu không nói rằng đã có một con chim bồ câu. Người nói rằng Thần Khí đáp xuống có phần như một con chim bồ câu. Trạng ngữ "có phần như”không bổ nghĩa cho Thần Khí, mà là cho từ "đáp xuống". Đó là một hình ảnh kỳ diệu mang theo ý nghĩa. Một số văn bản rabbi đã so sánh động tác của Thần Khí Thiên Chúa với động tác chim bồ câu bay lượn trên chuồng của chúng nhưng không chạm xuống, đúng bằng cách như thế Thần Khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước thời nguyên thủy (St 1,2). Mũi nhọn của sự so sánh là nhấn mạnh tính cách đồng thời đến:
 
Tính chất khác biệt của Thần Khí, vẫn phân biệt với thế giới thụ tạo, mà Đức Giêsu là một phân tử có tính cách con người, do thân xác của người.... Sự dịu dàng và sự gần gũi của hành vi Thiên Chúa:phân biệt với Đức Giêsu, Thần Khí vẫn ở đó, rất gần gũi như thể người bay lượn trên chuồng của Người, từ nơi đó vùng lên mầm của sự sống. Thần Khí là Chúa và Người ban cho sự sống.
 
Và có tiếng từ Trời phán ra: Đây là Con yêu dấu Ta, Ta hài lòng về ngươi.
 
Tất cả Phương Đông tin kính Đức Giêsu chịu phép rửa, cũng như Ba Ngôi Thiên Chúa Hiển Linh. Và Thánh Cyrillee thành Giêrusalem chú giải: "muốn có một Đức Kitô (Đấng chiu Xức Dầu), phải có một Đấng nào đó Xức Dầu cho Người. tức Chúa Cha, và một Đấng nào đó là sự Sức Dầu, tức Thánh Linh. Không có Thiên Chúa Ba Ngôi thì từ Đức Kitô đã không có ý nghĩa gì!".
 
Chính vì thế mà tượng Thiên Chúa hiển linh biểu thị Đức Giêsu đứng dưới sông Gio-đan... ở trên cao một bàn tay biểu trưng Đấng đến Xức Dầu, Chúa Cha vô hình, mà tiếng của Người làm chứng cho Đức Giêsu. Đức Giêsu là một trong những ngôi vị của Thiên Chúa Ba Ngôi Tình Yêu rất thánh: Hôm nay là sự mạc khải đầu tiên của huyền nhiệm này.

 
Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

“Khi chịu phép rửa, Chúa Giêsu thấy Thánh Thần Chúa đến trên mình Người"

Mt 3: 13 – 17
 
I / Ý CHÍNH:
 
Bài Tin Mừng hôm nay kể lại biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa để giới thiệu Chúa Giêsu là Thiên Chúa Ngôi Hai, xuống thế làm người để cứu chuộc loài người.
 
II / SUY NIỆM
 
1 ) “Chúa Giêsu bỏ xứ Galilê mà đến với Gioan...":
 
Chúa Giêsu từ Galilê đến sông Giođan tìm gặp Gioan Tẩy giả để xin Gioan làm phép rửa cho.
 
+ Chúa Giêsu đến với Gioan: diễn tả một sự đích thân và tự nguyện để nói lên việc Chúa Giêsu chịu phép rửa của Gioan là một sự tự hiến chứ không phải một sự đòi buộc do tội lỗi vì Người là Đấng vô tội.
 
+ Để Gioan làm phép rửa cho: đây là phép rửa thống hối, Chúa Giêsu xin chịu phép rửa thống hối là vì Ngài muốn tự đồng hoá mình với thân phận kẻ tội lỗi, mặc dầu Ngài vô tội. Và đồng thời ở đây cũng nói lên mục đích rõ ràng của Chúa Giêsu: đến “để ông làm phép rửa cho”.
 
2 ) Nhưng gioan can Người rằng:
 
+ “Chính tôi phải được Ngài rửa": nghĩa là việc Chúa Giêsu chịu phép rửa làm cho vai trò của Gioan đối với Chúa Giêsu xem ra có vẻ đảo ngược, trái với điều chính Gioan loan báo mình không đáng cởi dây giầy cho Đấng Thiên Sai.
 
+ “Thế mà Ngài lại đến với tôi sao?": phép rửa của Gioan có việc thú tội kèm theo ( Mt3, 6 ) được các tội nhân đón nhận, vậy Đức Giêsu khi cúi mình chịu phép rửa, phải chăng cũng có thức là tội nhân sao?
 
3 ) “Không sao, vì chúng ta cần chu toàn bổn phận":
 
“Chu toàn”có nghĩa là làm cho trọn nghĩa. Sở dĩ Đức Kitô khi chịu phép rửa bởi Gioan, để làm cho tròn bổn phận, đó là vì Người vừa cúi mình vừa siêu hoá và bầy tỏ ý nghĩa tròn đầy của phép rửa ấy. Ý nghĩa này được bầy tỏ qua biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa: Trời mở ra, Thánh Thần Chúa ngự xuống và có tiếng từ trời phán.
 
4 ) “Chúa Giêsu chịu phép rửa rồi bước lên khỏi nước":
 
+ “Chịu phép rửa ": phép rửa của Gioan là phép rửa thống hối, Chúa Giêsu chịu phép rửa thống hối để bầy tỏ ý nghĩa mặc dầu Ngài chẳng phạm tội, nhưng Ngài cũng phải cúi chịu phép rửa thống hối vì Ngài muốn liên đới với mọi tội nhân ( 2Cr 5, 21; Dt2, 14 - 17 ).
 
+ “Bước lên khỏi nước": người chịu thanh tẩy bước lên khỏi nước “Sự chết”vì thế, qua phép rửa, Chúa Kitô kéo hết thẩy những kẻ có lòng tin đi với mình và trong mìnhvề tùng phục lại Chúa Cha, lòng tùng phục hiếu thảo này Người sẽ bày tỏ cách đặc biệt trong cuộc tử nạn, vì thế phép rửa ở đây của Đức Kitô là dấu chỉ sự chấp nhận trước cuộc tử nạn của Người ( Mt26, 39 ).
 
5 ) “Này đây các tầng trời mỏ ra...":
 
+ Mátthêô lấy lại lời của Isaia 63, 19: “Ước gì Ngài xé trời Ngài xuống”. Lời Tiên tri này được thực hiện nơi Đức Kitô, Đấng từ trời xuống, nghĩa là Thiên Chúa đã đến với nhân loại qua Chúa Giêsu Kitô trong mầu nhiệm nhập thể.
 
+ “Người thấy Thánh Thần như chim bồ câu ngự xuống trên mình ": việc Chúa Cha chấp nhận sự tùng phục của Chúa Con, được biểu lộ rõ ràng qua việc Chúa Thánh Thần đáp xuống và nhất là qua tiếng nói từ trời. Như vậy phép rửa nàu có vẻ như một cuộc tấn phong Đức Giêsu làm Vua và Cứu Thế. Chính Isaia ( 11, 2 ) đã từng tiên báo như thế về Đấng Cứu Thế: “Sẽ đậu trên Người Thần khí Giavê, thần trí khôn ngoan và trí tuệ...”. Việc tiếp nhận Thánh Thần Chúa của Đức Kitô, được bắt đầu từ sông Gio - đan, nhưng sẽ đạt đến mức độ viên mãn, tràn đầy trong ngày lễ hiện xuống.
 
“Như một bồ câu và đậu trên Người ": trong Do thái giáo, chim bồ câu không được coi là hình ảnh của Thánh Thần Chúa, nhưng có ý so sánh chuyển động của Thánh Thần Chúa với cử chỉ của một con bồ câu mẹ bay chập chờn trên đàn con mà không đụng tới chúng, Thánh Thần Chúa cũng bay là là trên nước nguyên thủy như vậy ( St 1, 2 ).
 
Máthêô không có ý gợi lên hình dáng cho bằng cách thức mà Thánh Thần Chúa đột hiện và tác động trên Chúa Giêsu.
 
6 ) “Con là Con yêu dấu của Ta, Con đẹp lòng Ta":
 
+ Tiếng phán ra từ trời là tiếng của Chúa Cha, tiếng ấy lấy lại lời khẳng quyết của Thánh vịnh 2, 7 “Con là Con của Ta, hôm nay Ta đã sinh Con", cũng lấy lại lời Giavê ngỏ cùng người tôi tớ đau khổ sẽ thể hiện ơn cứu độ cho thân thuộc mình: “Này đây Tôi tớ của Ta mà Ta nâng đỡ, Tuyển nhân của Ta mà Ta sùng mộ, Ta đã ban Thánh Thần Ta trên Người...”( Is42, 1 ).
 
+ Công thức này được lập lại từng chữ trong trình thuật biến hình ( Mt17, 5 ) để nói lên sự tương đồng, có tính cách thần học giữa hai biến cố. Thật vậy, cũng như việc biến hình là thể hiệnỉtước việc tôn vinh Đức Kitô khi Người sống lại thì sự phê chuẩn của Chúa Cha và việc đổ đầy Thánh Thần Chúa cũng loan báo việc tôn vinh Đức Kitô(Tôn vinh sẽ là kết quả không những của cuộc tử nạn mà còn của cả đời sống tự hạ, bắt đầu từ việc hạ mình trong ngày phép rửa).
 
+ Những sự kiện trên đây xảy ra trong biến cố phép rửa của Chúa Giêsu cho thấy rằng cảnh phép rửa thật là một cuộc thần hiện, như cuộc biến hình, hơn là một cuộc thị kiến của riêng Đức Kitô. Cuộc thầnhiện này nhắm tới các độc giả Tin Mừng để trở thành Môn đồ Đức Giêsu, y như cuộc biến hình chỉ dành riêng cho 3 môn đệ Phêrô - Giacôbê - Gioan vậy.
 
III / ÁP DỤNG:
 
A / Áp dụng theo Tin Mừng:
 
Qua bài Tin Mừng hôm nay, Giáo Hội muốn chúng ta nhìn ngắm việc Chúa Giêsu chịu phép rửa để nhớ lại và ý thức về phép rửa của mình đã chịu: từ bỏ mà quỷ để tin theo Chúa, từ bỏ con người tội lỗi để sống con người mới, con người đã được tái sinh bởi Thánh Thần Chúa, để làm con cái Chúa.
 
B / Áp dụng thực hành:
 
1/ Nhìn vào Chúa Giêsu:
 
+ Chúa Giêsu đã đích thân nhận thân phận một tội nhân, mặc dầu Người vô tội, để xin Gioan làm phép rửa. noi gương Chúa mặc dầu không do khuyết điểm, thiếu sót, lỗi lầm của mình, chúng ta sẵn sàng đón nhận những hậu quả như một người thiếu sót, lỗi lầm, khuyết điểm,... do tha nhân hay hoàn cảnh gây ra để làm chứng cho cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa Kitô.
 
+ Phép rửa của Đức Kitô cho ta thấy rằng: Người đứng về phía các tội nhân mà Người đến tha thứ và cứu vớt, Người mong biến đổi nhân loại, từ bên trong bằng cách chia sẻ thân phận nghèo nàn và khốn khó của họ hơn là từ bên ngoài, bằng cách xét xử phán đoán, Người từ chối thống trị chinh phục bằng cách tự huỷ Mình cho đến chết trên Thập giá.
 
Chúng ta muốn dự định thực hiện cuộc giải phóng con người, cũng phải chấp nhận các phương pháp như trên của Chúa Giêsu.
 
2 / Nhìn vào Gioan:
 
+ Chúa Giêsu dùng Gioan làm phép rửa cho mình để “Người chu toàn bổn phận”. Mỗi người chúng ta cũng được Chúa dùng theo những gì mình đang có, để thực hiện công trình của Chúa trong công cuộc cứu chuộc nhân loại.
 
+ Gioan chiều ý Chúa, chúng ta cũng phải bỏ ý riêng để thực thi ý Chúa, nhờ đó công việc của Chúa mới được bày tỏ.
 
HTMV Khoá 10 – ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn