Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật Lễ Lá - Năm A

Tin mừng Mt 26:14 -27,66: Việc Chúa Kitô tiến vào thành thánh một cách khiêm nhường; hòa bình nhắc cho ta nhớ mình phải học đòi bắt chước Đấng hiền lành và khiêm nhường trong lòng, Đấng không bẻ gẫy cây sậy đã dập, không tắt tim đèn còn ngút khói
CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT LỄ LÁ – NĂM A

 
Kiệu lá: Mt 21, 1- 11
 
Thánh Lễ: Is 50,4-7; Pl 2,6-11; Mt 26:14 -27,66
 

 
Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải
 


 
BÀI TIN MỪNG KIỆU LÁ 
 
CHÚA GIÊSU VÀO THÀNH GIÊ-RU-SA-LEM
  
CÂU HỎI GỢI Ý
 
1. So sánh bản văn chúng ta đây với Mt 1,18-25. Chúng được bố cục như thế nào?
 
2. Dựa vào bản vằn nào trong Cựu ước mà ta biết việc Chúa Giêsu tạm trú trên núi Cây dầu mang một tính cách thiên sai?
 
3. Con lừa có ý nghĩa gì trong thế giới Trung Đông cổ thời. Tại sao Chúa Giêsu sử dụng một con lừa chưa bao giờ được dùng?
 
4. Mt muốn nhấn mạnh tới điều gì khi trích dẫn Dcr 9, 9?
 
5. Cách gọi Đấng Messia là”Đấng đến”có lạ lùng không? Bản văn nào trong Tin Mừng còn gọi Đấng Messia bằng danh hiệu đó?
 
6. Hai tước hiệu”Con Đavít”và”Chúa”nằm trong văn mạch nào? và được liên kết với nhau ra sao? (x. Mt 20, 29- 34; 21, 12- 17).
 
7. Cảnh tiến vào Giêrusalem mặc đầy đủ ý nghĩa trong bối cảnh nào?
 
Cả bốn Tin Mừng đều tường thuật lại việc Chúa Giêsu vào thành Gìêrusalem. Khác biệt có rất nhiều; một vài cái đập vào mắt ngay từ đầu, vài điềm khác tinh vi hơn, đòi hỏi nhiều chú ý . Mỗi một dị biệt này chỉ có ý nghĩa xét trong toàn bộ cách thức biên soạn mỗi bản văn. Để quán triệt ý nghĩa mỗi một trang Tin mừng, điều quan trọng là phải làm quen với những phản ứng của tác giả, những phản ứng tiềm tàng trọng bản văn và làm cho bản văn đực phong phú nhờ những tiềm năng của chúng. Cũng cần tham chiếu văn mạch để xác định mỗi một yếu tố với toàn thể hệ thống chung.
 
Dựa vào các nguyên tắc trên, chúng tôi bắt đầu nghiên cứu bằng cách phân tích ngôn ngữ được dùng trong bốn trình thuật Tin mừng, sau đó sẽ khảo sát mỗi một bản văn trong viễn thông riêng của nó. (Chúng tôi chỉ trích phần liên hệ tới bản văn của năm A (Mt). Về bản văn Mc và Lc, xin xem Chú giải Phúc âm năm B và C. Lời người dịch).
 
CÁC NGUỒN CỦA MỘT NGÔN NGỮ
 
Các trình thuật khác nhau về việc tiến vào Giêrusalem sử dụng cùng một ngôn ngữ chung, gồm nhiều nét có tính cách biểu tượng và văn hóa, mà chúng ta trước hết phải phân tích ra. Kết quả của cuộc phân tích này, cho dù khiêm tốn đến đâu, cũng giúp chúng ta hiểu rõ hơn mỗi một”hệ thống”Tin Mừng động lực nội tại của nó.
 
1. Núi Cây dầu và Đấng Messia.
 
Dưới ánh sáng của các quan niệm Do thám đương thời, việc Chúa Giêsu đến và tạm trú trên núi Cây dầu có thể mang một tính cách thiên sai. Bản văn sau đây của Dacaria Đệ nhị có thể là khởi điểm của một truyền thống hoặc là chứng tá của một niềm tin liên hệ tới Đấng Messia:
 
"Ngày ấy, Ngài sẽ dừng chân trên núi Cây dầu, núi đối diện với Giêrusalem về phía đông. Núi sẽ bị xẻ ra chính giữa từ đông sang tây, làm thành một thung lũng thật lớn .."(14,4).
 
Những lời này mô tả việc Giavê đích thân can thiệp trong trận chiến cánh chung mà Giêrusalem sẽ là chiến trường (x Ed 11 ,23).
 
F.Josèphe, sử gia Do thái nổi tiếng và đương thời với các tác giả Tin mừng, đã làm âm vang cho trào lưu tư tưởng này trong một đoạn cuốn Antiquités judaiques: Lúc bấy giờ có một người Ai cập tự xưng là ngôn sứ đến tại Giêrusalem và khuyên bảo dân chúng cùng với ông tiến lên núi được gọi là núi Cây dầu đối diện với thành phố, cách xa năm dặm. Thật vậy, ông đã nói với dân chúng rằng: chính từ đó ông muốn cho họ thấy là theo lệnh truyền của ông, các bức thành của Giêrusalem sẽ sụp đổ và ông hứa sẽ khai thông cho họ một lối đi”(XX, 169- 170).
 
Như thế, vào thời Chúa Giêsu và các tác giả Tin mừng, có lẽ sấm ngôn của Dacana 14,4 đã được liên kết với các cách trình bày quen thuộc về biến cố thiên sai. Trong. sách chú giải (midrash haggadique)”Sepher Eliyahu”thời sau đó, người ta nhắc lại vai trò quan trọng của chương 14 Dcr giữa các bản văn thiên sai khác của Cựu ước; mà trong chương này, núi Cây dầu (c.4) là trung tâm điểm. Như vậy, người ta thấy ngay là việc Chúa Giêsu cùng với các môn đồ lưu lại trên núi Cầy dầu, trong trình thuật Mc về sứ vụ tại Giêrusalem (11, 11tt), mang một ý nghĩa thiên sai thực sự.
 
2. Bêthania là Bethphagé.
 
Cũng như vị trí địa dư của chúng, nguyên ngữ của hai địa danh này thật giúp rất nhiều cho việc tìm hiểu bản văn. Bêthama (hy bá: Beti-am) có nghĩa là”nhân của người nghèo", (của người khiêm nhu”hay”của người đau khổ": trong văn mạch của Mc nói về việc tiến vào Giêrusalem (nghĩa là toàn thể trình thuật Khổ nạn), các nghĩa của địa danh này rất thích đáng. Dù được dân chúng hoan hô, Chúa Giêsu vẫn không dừng lại tại Giêrusalem mà chỉ đi qua; ngay buổi tối chiều (ngày vào thành long trọng (Mc 11, 11), Người lui về Bêthania.
 
Bethphagé (tiếng Aram: Bet-paggo) có thể hiểu là”nhà của trái vả": đây là một dữ kiện khác cần chú ý, nếu ta biết trong, trong Mc, những đoạn nói về việc vào thành Giêrusalem và việc trú ngụ ban đêm ở Bêthania được tiếp nối bằng đoạn nói về cây vả không trái (11, 12- 14).
 
3. Con lừa.
 
Ở Trung đông cổ thời, con lừa được liên kết với các thần thoại và tế tự của nhiều thần linh: Chẳng hạn thần thoại Ai cập về Typhon (hay sét), thần dữ: đối thủ của Osiris, thần linh: Con vật linh thánh của Typhon là con lừa, và vị thần đôi lúc cũng được trình bày như một người có đầu lừa. Lừa cũng là con thú thần. Dionysios cưỡi.
 
Trong Cựu ước, con lừa có mặt trong nhiều trình thuật về truyền thuyết các tổ phụ; nó cũng là con vật để vua cưỡi và từ đó là con vật để Đấng Messia cưỡi. Cần phải trích dẫn hai bản văn đã được truyền thống Do thái giải thích thời chiều hướng thiên sai: sấm ngôn của Giuđa trong St 49, 11:”Người cột lừa con vào gốc nho ...”và Dcr 9, 9: này đây vua ngươi đến với ngươi, Người công minh, chiến thắng khiêm tốn và cưỡi trên một con lừa".
 
Văn chương chú giải (liuérature miđrashique) đã liên kết hai bản văn này trong các bài giảng giải về Đấng Messia và về việc Người giá lâm. Ta có thể đọc thấy trong Bereshit- Rabbah 98 như sau:”Người cột lừa con vào gốc nho ...”(St 49,11). Câu này được các Thầy giải nghĩa là: Thiên Chúa phán:”Ta bị cột vào vườn nho (nghĩa là Israel) và vào trái nho thượng hạng của thành nó (tức là Giêrusalem); một con lừa con, nghĩa là khi sẽ giá lâm Đấng mà người ta (Dcr 9,9) gọi là: khiêm tốn và cái trên lưng con lừa ...”Chắc hẳn những giáo huấn này được viết ra nhiều thế kỷ sau khi các Tin Mừng đã được biên soạn, nhưng các phản ứng thần học, vốn đã ảnh hưởng đến việc hình thành và truyền đạt các giáo huấn đó, chắc hẳn là xa xưa và đồng thời với những thập niên sau cùng của ách sử Đền thờ Đệ nhị. Vì thế chúng cũng có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn việc hình thành trình thuật của chúng ta.
 
4. Con vật linh thánh, chưa bao giờ được dùng.
 
Chi tiết này chỉ được Mc và lê minh nhiên ghi nhận. Nhờ ánh sáng của khoa lịch sử các tôn giáo, người ta thấy được tính cách linh thánh của một con vật chưa bao giờ được sử dụng. Con vật được dùng cho việc hy tế hay cho những việc thánh, phải là trinh nguyên, chưa bị sứ dụng cách trần tục. Văn chương ngoại giáo làm chứng điều đó, như đoạn”Metamorphoses”của Ovide sau đây:
 
Phoebus nói cùng con của Agénor rằng: Ngươi sẽ gặp trong các cánh đồng trơ trụi một con bò cái tơ chưa bao giờ mang ách và kéo cày. Hãy theo đường nó đi, và, trong các cánh đồng đầy cỏ xanh tươi nơi nó nghỉ ngơi, ngươi hãy đào móng xây thành lũy và đặt tên là Béotienne".
 
Mệnh lệnh Chúa Giêsu ban cho các môn đồ có thể xuất phát từ một văn mạch như thế. Nhưng nhất là nó trực- tiếp cảm hứng từ pháp chế Thánh kinh như ta đọc thấy trong Ds 19, 2 (Một con bò cái ... không tì ố, tật nguyền, và chưa bao giờ mang ách ...), Đnl 15 ,19; 21, 3; 1 Sm 6, 7 .
 
5. Âm vang những cuộc đăng quang trong Thánh Kinh.
 
Trình thuật Tin Mừng về việc vào thành Giêrusalem gợi nhớ nhiều bản văn Cựu ước, như 2V 9, 1 3: lập tức, họ lấy áo trải ra dưới chân ông trên đầu thềm cấp. đoạn thổi tù và và hô lớn: Giêsu là vua". nhưng nhát là IV 1, 33, trong đó Đavít ban các lệnh liên quan đến việc tấn phong Salomon:”Hãy đem theo đội thị vệ, hãy đặt Salomon con ta ngồi trên (epibibasate) con la riêng của ta mà hộ giá xuống Gihôn".
 
Động từ”epib.ibazô”(đặt lên trên) chỉ tìm thấy trong Tân ước nơi Luca và Công vụ sứ đồ (Lc 10, 34; 19, 35; Cv 23, 24). Động từ này còn có trong, trình thuật của Luca nói về việc vào thành Giêrusalem (19, 35):”Họ để Chúa Giêsu cỡi lên”(epibibazan). Còn ba thánh sử kia viết:”người ngồi”(ekathisen; Mt 21, 7; Mc 11, 7; Ga 1,14).
 
6. Việc”giá lâm”của các hoàng đế Hy La.
 
Không thể tách rời Mc 11, 1- 10 và các bản song song khỏi bối cảnh các cuộc tiếp đón hoàng đế trong các đô thị Hy lạp. Đoạn văn sau đây, trích từ cuốn”Guerre des Juits”của F.Josèphe, là một mẫu điển hình.
 
Khi biết Titus gần đến, dân Antiokia vui mừng, không chịu ở lại trong thành; tất cả đổ xô ra đón (épi tôn hypantêsin) hoàng tử. Họ đi gần 30 dặm, và không chỉ đàn ông thôi, nhưng cả đàn bà và con nít nữa. Khi thấy Titus tiến đến, họ đứng hai bên đường, vừa đi vừa chúc tụng”(VII, 100- 104).
 
Thành ngữ”ra đón”được lấy lại hầu như nguyên văn trong trình thuật của gian nói về việc vào thành Giêrusalem (Ga 12, 13:”ra đón Người”, eis hypantê sinautôi; x. Mt 8, 34 và 25, 1).
 
Trong thế giới Hy La, một cuộc tiến vào như thế là một phần trong nghi lễ”Giá lâm”(Parousia), việc nhà vua chính thức thăm viếng một tỉnh hay một thành phố. Vào thời mà việc tôn thờ hoàng đế được thiết lập, từ ngữ này mang một ý nghĩa vừa chính tri vừa tôn giáo. Trong chiếu chỉ của một thành phố thuộc vương quốc Pergame, chiếu chỉ ra lệnh phải long trọng đón tiếp vua Attale III ( 138- 133 trước công nguyên), có đoạn viết:”Các tư tế nam nữ đã nói ở trên phải tiến ra đón hoàng đế. Vì thế, Lucien Cerfa.ux đã có thể bảo:”Nghi lễ của những cuộc nhập thành long trọng tự nhiên cho Kitô hữu những hình ảnh giúp họ hình dung việc giá lâm của Chúa. Việc Chúa chúng ta tiến vào thành Giêrusalem có cùng những tính cách của việc Đấng Messia viếng thăm kinh đồ của Người”(Le Christ đanh la théologie ae saint Paul, Paris).
 
7. Hosanna.
 
Các câu 25 và 26 của thánh vịnh 118 đều được cả bốn thánh sử trích dẫn và được sửa chữa theo quan niệm riêng mỗi vị (Mt 21, 9; Mc 11, 9; Lc 19, 38; Ga 12, 13). Thánh vịnh 118 là Thánh vịnh cuối cùng của kinh”Hallel", tên mà một hội đường xa xưa gán cho một nhóm thánh vịnh (113- 118) dùng để”ca tụng”Thiên Chúa trong một vài đại lễ, hành hương (dịp lễ Vượt qua, Ngũ tuần, trong 8 ngày Lễ Lều và Cu.ng hiến), vào lúc hy tế ban sáng. Tiếng hát của kinh”Hallel”đặc biệt đánh dấu những cuộc hội hè ngày. Lễ Vượt qua, nhất là nghi thức bữa ăn (x.Mt 26, 30; Mc 14, 26).
 
Trong dịp Lễ Lều, bài ca này mang một vẻ rất long trọng. Sau một vài câu, cả cộng đoàn lắc”luiab”là bó hoa gồm nhiều lá dừa và lá liễu, theo như Lêvi 23,40 (các nhánh của”lulab”đôi lúc được gọi là”Hosanna"). J.T.Nelis viết:”Về thời Tân ước; tập Sukkat còn giữ lại cho tá một vài tập tục đặc biệt. Trước hết, người ta lắc”lulab". Nghi thức này xảy ra lúc hy tế ban sáng, trong khi các thầy Lêvi xướng kinh Hallel bắt đầu bằng Thánh vịnh 118, và khi họ hát đến câu 25 và 28 của Thánh vịnh đó, x.2Mcb 10,7”(Dictionnaire enoyolopédique de la Bible, Tumhout. pan, 1960, tr.1798).
 
"Hosanna”là phiên âm Hy lạp của tiếng ram”hosha-na”dịch từ tiếng hy bá”hoshi'a-(n)na”có nghĩa:”Xin hãy cứu”Tiếng này nói lên lời van nài liên h hay lời tung hô có tính cách phụng vụ. Trong Lễ Lều, đó là lời cầu đảo trời đổ mưa; nhưng trong văn chương Tin Mừng, đó là tiếng ngợi khen.”Như Hallelula, Hosanna là một . trong những thuật ngữ của phụng vụ Ki-tô giáo thời biên soạn Tin mừng", P. Bonnard đã viết như thế (L'evangile se lon saint Matthieu, Neuchâtel, 1963, tr 304).
 
8. Đấng đến.
 
Phân từ này (ho erchomenos) chỉ xuất hiện trong một câu trích dẫn; dầu sao nó vẫn nổi bật trong trình thuật tiến vào Giêrusalem. Cũng như trong Mt 11, 2 và Lc 7, 19 (việc Gioan sai các môn đồ mình đến cùng Chúa Giêsu), kiểu nói nây chắc chắn nhắm đến Đấng Messia.”Tuy nhiên cách gọi Đức Méssia như là”Đấng đến”không phải là thường xuyên; người ta tự hỏi phải chăng nó phản ãnh một quan niệm thiên sai nựng biệt nào đó”J.Dupont đã viết thế, sau khi đa đưa ra một bản điều tra chi tiết về các”nguồn phệu của từ ngữ này (L'ambassade de xoan Baptiste, Mt 11,2-6; Lc 7,18-23 trong NRT 88, 1961, tr. 814). Được dùng làm tước hiệu của Đấng Messia một cách nào đó, phân từ này chắc chắn đã góp phần, trong trào lưu sống động của truyền thống, vào việc móc nối St 49,10-11 ("Vương trượng không rời xa Giuđa ... cho tới khi đến ... Người cột lừa vào gốc nho:..") với Dcr 9, 9 ("Này đây vua ngươi tiến đến cùng ngươi ...”.
 
9. Lá vạn tuế
 
Chỉ trình thuật Gioan đề cập đến lá vạn tuế. Như đã nói, theo Lv 23,40 và các dư âm của nó sau này trong Do thái giáo, những cành lá vạn tuế (kallythra phoinikôn) làm thành”lulab”được dùng đến trong Lễ Lều (so sánh với Nh 8,15). Liên hệ giữa lá vạn tuế với Lễ Lều Tạm được thấy trên các hình trang trí nhà hội Do thái cổ xưa.
 
Việc dùng lá vạn tuế có một hếch sử lâu dài, liên hệ tới cổ tiền học, và ý nghĩa tượng trưng của nó thay đổi tùy địa điểm và thời đại. Người.ta thấy hình lá vạn tuế trên đồng tiền của Vespasien và Nerva, đồng tiền kỷ niệm cuộc chiến thắng các người Do thái nổi loạn (năm 70-71). Khi nổi loạn lần thứ hai, người Do thái trả đũa bằng cách khắc lên đồng tiền của họ hình lá vạn tuế, ám chỉ niềm hy vọng dân tộc sẽ chiến thắng. Theo các nguồn văn chương thời kỳ ấy, cây vạn tuế là biểu tượng của Israel; trước cuộc nổi loạn lần thứ nhất (dưới thời vua Hêrôđê Antipas), nó hoàn toàn không có giá trị biểu tượng chính trị nào.
 
Việc dùng lá vạn tuế trong phụng vụ đưa chúng ta trở lại thời hưng thịnh của chủ nghĩa quốc gia của Maccabê. Tiếng baion (cành vạn tuế) chỉ gặp thấy nơi lmcb 13, 51, trong trình thuật nói về Simon vào thành Giêrusalem cách khải hoàn: dân Do thái vào Thượng đồn ngày 23 tháng thứ hai năm 171 giữa những tiếng hoan hô và cành vạn tuế (mo ta aineméôs hai baiôn) ... vì một đối phương vĩ đại đã bị đuổi ra khỏi Israel".
 
Còn tiếng phoinix (cây vạn tuế, cây chà là, cành vạn tuế), nếu có được dùng nhiều lần trong Cựu ước, thì trong Tân ước ta chỉ gặp ở Ga 12, 13 và Kh 7, 9. Sách Macabêo thứ hai đề cập đến nó trong nghi thức của lễ Cung hiến, một lễ được thiết lập để kỷ niệm việc thanh tẩy và cung hiến đền thánh sau chiến thắng của anh em Macabêo (x. 1 Mcb 4, 54tt). Nghi thức cố ý bắt chước nghi thức của Lễ Lều Tạm:
 
"Họ hân hoan mừng lễ 8 ngày theo kiểu Lễ Lều Tạm: Họ cầm những cành cây và lá vạn tuế (phoinikas) mà hát ca vãn dâng lên Đấng đã cho xuôi thuận, thành đạt việc thanh luyện thánh điện của Ngài”(2Mcb 10, 6- 7).
 
Thành ngữ”cành lá vạn tuế”(Bais phoinikon) của Gioan được gặp lại nguyên văn trong ngụy thư”Di chúc của Nephtali”(5,4- 5). Đoạn ngụy thư này kể lại việc trao lá vạn tuế cho Lêvi như là biểu tượng tẩy quyền của ông trên toàn Israel.
 
Vậy chắc lá vạn tuế là một biểu hiệu của chiến thắng, của khải hoàn vương đế và của uy quyền Israel; nhưng nhờ được dùng làm”lulab”, nó cũng có tương quan với một vài cử hành phụng vụ.
 
Kết luận: Việc nghiên cứu ngắn gọn trên đây giúp ta hiểu hơn các ký hiệu văn hóa khác nhau mà bốn trình thuật khải hoàn vào Giêrusalem đã dùng. Mỗi một trình thuật đều đặc sệt màu sắc thiên sai: quang cảnh núi Cây dầu với tất cả những gì mà nó tượng trưng đối với người Do thái đương thời Chúa Gỉêsu, hình ảnh con lừa với các truyền thuyết liên quan đến nó, và kể cả tước hiệu đấng đến". Mỗi một thánh sử thay đổi chút ít màu sắc đó tùy cảm thức và ý hướng' riêng tư của mình. Như Luca phản ảnh hơn các trình thuật cổ xưa về việc đăng quang hay tấn phong trong Kinh Thánh, còn Gioan cảm tính từ những nghi lễ giá lâm”của các hoàng đế hy la.
 
Là một biến cố thiên sai, cảnh này cũng rõ ràng mặc lấy trong bốn Tin mừng, một đặc tính phụng vụ. Việc trích dẫn thánh vịnh 118 làm liên tưởng đến các đại lễ của Israel và ca kinh hallel. Việc đề cập tới lá vạn tuế, chỉ có nơi Gioan, hình như muốn xác định theo chiều hướng một cử hành có tính cách quốc gia và do đố có tính cách chính trị hơn.
 
Dù hội tụ hay khác biệt, tất cả những dữ kiện này chỉ là một khai đoạn cho việc chú giải đích thực các bản văn.
 
TRÌNH THUẬT CỦA Mt 21: 1- 9
 
1. Hiện tại hóa Kinh Thánh.
 
Dù cảm hứng trình thuật Mc, trình thuật của Matthêô vẫn khác xa Matcô; tuy nhiên, ông lại có một điểm chung với Gioan là việc dùng nguyên văn một phần DCR 9,9.
 
Bản đối chiếu sau đây cho ta thấy rõ một trong những nét độc đáo của việc Mt tái diễn tả câu chuyện tiến vào Giêrusalem. Nó giúp ta thấu hiểu cách sử dụng các kỹ thuật, cơ cấu biên soạn mà tác giả Tin Mừng thứ nhất dùng ngay từ trang đầu tiên của tác phẩm.

 
Mt 1: 18- 25 Mt 21:1- 7
1. Hoàn cảnh (cc.18-19) Chúa Giê-su Kitô sinh ra thế này Maria, mẹ Người đã đính hôn 1. Hoàn cảnh (c.1a) Khi họ đã tới gần Giêrusalem và đến Betphagê, ở núi Cây dầu.
2. Sấm ngôn-mệnh lệnh (cc.20- 21)
 
Sau khi ông đã quyết tâm như vậy thì này Thiên thần Chúa…
2. Sấm ngôn-mệnh lệnh (cc. 1- 3)
 
Bấy giờ Chúa Giêsu sai hai môn đồ và bảo họ rằng:”các ngươi hãy đi đến làng trước mặt các ngươi; và tức khắc các ngươi sẽ gặp cột sẵn một lừa mẹ cùng một lừa con bên cạnh; các ngươi hãy cởi lấy và dẫn về cho Ta. Nếu có ai nói gì với các ngươi.
3. Trích dẫn Cựu Uớc (cc.22- 23) Sự đã xảy ra tất cả là để được nên trọn điều Chúa đã phán . . . 3. Trích dẫn Cựu Uớc (cc.4-5)
 
Điều ấy đã xảy ra là để nên trọn điều đã phán nhờ vị sứ ngôn nói rằng:”Hãy báo cho nữ tử Sion: Này Vua ngươi ...
4. Thi hành (cc. 24-25)
 
a-Tỉnh giấc, Giuse
 
b- đã làm như Thiên thần Chúa truyền cho ông
 
c - và ông đã rước vợ về nhà; và giữa ông và bà không có…
4. Thi hành (cc.6-7)
 
a- Môn đồ đã đi
 
b- Và làm theo lời Chúa Giêsu đã truyền dạy họ.
 
c- Họ dẫn lừa mẹ cùng lừa con về, trải áo choàng lên chúng.
   
   

Trong hai bản văn trên, Mt sử dụng cùng một kiểu thức, văn chương và giáo huấn. Câu trích dẫn Thánh kinh (3) được đặt giữa sấm ngôn-mệnh lệnh (2) và việc thi hành (4). Kết cấu của phần cuối cùng này (4) chắc hẳn cảm hứng từ những”công thức thi hành”mà ta gặp trong bản Thánh Kinh Hy lạp, chẳng hạn trong Xh 12,35 và G 42,9. Câu cố định của yếu tố b rất quen thuộc với bản 70: ta tìm thấy nó trong Xh 1, 17; 12, 35; Lv 8, 4; Ds 20, 27 v.v...
 
Việc khảo sát lời trích dẫn này rất ích lợi. Thật ra, đây là một bài thơ được cấu tạo một phần do Is 62, 11 ("Hãy báo cho nữ từ Sion") và phần khác do Dcr 9,9. Bản văn Dcr bị cắt bớt chữ incipit ("Hãy nhiệt liệt nhảy mừng, hỡi nữ tử Sion") và câu:”Người công chính và vinh thắng”(dikaios khi sôizôn autos) là câu trong Dcr đi trước mấy chữ khiêm tốn (praus) và cỡi trên một con lừa". Hơn nữa, câu Dcr 9, 9 do Mt ghi lại không phản ảnh đúng bản Massorètes lẫn bản 70. Như W Grudmann đã viết:”Bản văn của Mt là một bản văn hỗn hợp giữa bản Massorètes và bản 70”.
 
Việc làm sáng tỏ vấn đề các nguồn liệu của bản văn Dacaria trong Mt không phải là mục đích của bài này. Vả lại gần đây có nhiều cuộc khảo sát bàn đến đề tài đó. Nhưng vấn đề ấy kéo theo nhiều vấn đề khác liên hệ, chẳng hạn như việc Mt tái biên soạn trình thuật tiến vào Giêrusalem nay có tùy thuộc vào lời trích dẫn hay không, hay là lời trích dẫn mang dấu vết của toàn thể văn mạch Tin Mừng của nó? Việc Mt thay đổi chút ít Dcr 9,9 có thể giải thích như là việc trích dẫn phóng khoáng một bản văn Cựu ước được truyền thống sửa lại? Hay những kiểm thay đổi này là chứng tích của một quá trình biên soạn trong đó lối giải thích Kitô học đã ảnh hưởng trên việc đào sâu bản văn Kinh Thánh và trên việc hiện tại hóa bản văn vào trong một giai đoạn của lịch sử Chúa Giêsu? Mỗi nhà chuyên môn về Mt đều có ý kiến riêng về vấn đề này, mà phạm vi vượt hẳn trình thuật nhập thành Giêrusalem rất nhiều. nhưng ta có thể coi giả thiết phong phú nhất là giả thiết cố gắng cho thấy rằng ở đây không thể phân biệt công việc thần học và công việc văn chương.
 
Dù sao, ý hướng của Mt là muốn nhấn mạnh sự tự hạ và khiêm nhu của Chúa Kitô khi Người tiến vào với tư cách Thiên sai trong thành của Vua cao cả (x.Mt 5,35). Chúa Giêsu là Vua, nhưng trước hết là”vua khiêm nhu”(basileus praus). Chính một vị vua như thế mà phúc thật của”những người hiền lành”(pracis) trong Mt 5, 5 nhắm tới đầu tiên. Vị vua này cũng tuyên bố”Ta hiền lành (praus) và khiêm nhượng trong lòng”(Mt 11, 29). Chúa Giê-su tiến vào Giêrusalem để tấn bi kịch khổ nạn được thực sự diễn ra, vì nếu không có tấn bi kịch này, Người sẽ không thể là vua đích thực. Ta hiểu Mt đã muốn”Kitô hóa”đến chừng nào sấm ngôn của Dcr 9,9, sấm ngôn rất quen thuộc với người Do thái. việc bỏ câu”Hãy nhiệt liệt nhảy mừng hỡi nữ tử Sion”làm mất đi nét vui tươi; nhưng bù lại, việc thay thế bằng những lời đầu tiên của Is 62, 11 gợi lên cái nhìn cánh chung về Giêrusalem được phục hưng mãi mãi (Is 60, 1-62, 12), ngay trong lúc Chúa Giêsu chuẩn bị chịu đau khổ tại thành đó.
 
2 . Hai con vật , một thú để cưỡi.
 
Khó khăn lớn nhất của trình thuật Mt là sự có mặt của hai con vật:”lừa mẹ”và”lừa con”(cc.2.5.7). Sấm ngôn Dcr 9,9 chắc chắn chỉ nói đến một con vật thôi. Trong tiếng hy bá, hai từ ngữ”lừa”và”lừa con”(hamor và ir) đều là giống đực (trong hy ngữ, onos có thể là giống đực hay giống cái): từ ngữ, thứ nhất chỉ con vật đã lớn, có thể dùng; từ-ngữ thứ hai chỉ con vật còn tơ, chưa được sử dụng. Có người phỏng đoán Mt đã không am hiểu cách chơi chữ của câu thơ sêmita, đã bỏ quên lối song đối và cho là có hai con vật, mẹ và con, trong lúc tác giả nguyên thủy chỉ thấy là một con thôi, một con được nhìn dưới hai khía cạnh khác nhau 'nhưng bổ túc cho nhau: lợi ích và trẻ trung. Cho nên cách đọc sai lầm bản văn ngôn sứ này đã có ảnh hường trên việc soạn thảo trình thuật và kéo theo việc nói đến hai con vật. Thế nhưng nếu giả thiết rằng Tin Mừng Mt đã được viết cho ki tô hữu gốc Do thái, thì lập trường này gặp khó khăn; là vì trong những chú giải khác nhau về Dcr 9,9, Do thái giáo của các giáo sĩ chỉ thấy y một con vật thôi (như Gioan).
 
Đàng khác không chắc chữ onos của câu trích dẫn (mà ta có thể dịch”lừa đực”hay”lừa cái, lừa mẹ”cũng được) có thể đồng hóa với chữ onos của trình thuật, ở câu 2, là chữ rõ ràng ở giống cái. Hơn nữa, khi chọn cách đọc”con vật chở đồ”nghĩa là chọn cách đọc của bân Massorètes, chứ không theo cách đọc của bản 70 lừa tơ", neo), là người ta muốn nhấn mạnh đến khả năng hữu dụng của con vật, trong trường hợp lừa con. Vậy nếu đọc”lừa”chứ không đọc”lừa mẹ”trong câu Mt trích đẫn Dcr, người ta sẽ thấy ý nghĩa của lối đong đối: đó chỉ là một con vật duy nhất, có thể được con người sử dụng, nhưng thật sự chưa bao giờ được sử dụng (lừa con), vì biến cố thiên sai đặc biệt thiêng thánh này đòi hỏi thế. Chính đặc tính sau cùng này của con lừa là điểm mà Mc đã nhấn mạnh tới ("một lừa con ... mà chưa ai ngồi lên"). Trong trình thuật của ông (c. 2) khi nhắc đến con mẹ bên cạnh con vật, chắc chắn Mt không có ý hướng nào khác hơn là nhấn mạnh đặc tính linh thánh của lừa con.
 
Tuy nhiên, vẫn còn có một khó khăn: ở câu 7, các môn đồ trải áo trên hài con vật và Chúa Giêsu ngồi trên cả hai cơn cùng một lúc. ở đây, ta thấy rõ là không nên đánh giá sự mạch lạc của một trình thuật Tin Mừng nguyên theo những tiêu chuẩn. Thật sự hợp lý. Do tính chất năng động của bản văn, phải đặt các kiểu nói vào trong một hệ thống sâu xa hơn thì mới thấy- chúng mạch lạc. Ta cũng đừng quên là số”hai”được Mt đặc biệt ưa chuộng. Tác giả Tin Mừng ở đây phải chăng không bị thúc đẩy bởi cùng những phản ứng đã khiến cho ông kể đến hai người bị quỷ ám ở Gađara (8,28) và hai người mù ở Giêricô. (20,20- 34) sao? Khi đọc bản văn, ta phải tìm cho ra, một cách nào đó, các tiềm năng của những phản ứng này.
 
3.”Con Đavít”là”Chúa".
 
Ngay từ câu đầu tiên, Mt đã in lên trình thuật của chúng ta một dấu vết văn chương riêng biệt của ông. Trước hết, ba động từ được dùng đều ở thì aoriste (ôggisan;”tới gần"; êlthon,”đến"; aposteilon,”sai"). Công thức”bấy giờ Chúa Giêsu”(toe Jêsous) cũng là riêng của Mt. Nó thường đi theo hoặc”Chúa Giêsu”hoặc một động từ là chủ từ là”Chúa Giêsu".
 
Những nhận xét sơ khởi này cho thấy rằng, nhờ vài điểm sửa chữa thêm bớt ấy, thánh sử đã muốn nối kết một cách mạch lạc cảnh vào thành Giêrusalem với đoạn văn những người mù thành Giêricô ngay trước đó. Trong trình. thuật phép lạ chữa lành này (Mt 20,29-34), việc đề cập đến”dân chúng”(ho ochlos, 20,3 1; Lc 18, 39 thì viết:”những kẻ đi trước”) là mũi tên nhắm đến việc tiến vào Giêrusalem. Nơi Mt 21, 1- 9, trước hết người ta gặp lại”dân chúng rất đông đảo”(c.8); rồi”dân chúng kẻ trước người sau”(c. 9; có nghĩa là:”tất cả mọi người đã đi theo Chúa Giêsu không trừ ai”) Cũng như hai người mù, đám đông này”kêu lên”(ekrason, ở thì imparfait chứ không ở aoriste):”Con Đavít"; chi tiết riêng của Mt này (xem những công thức khác biệt trong Mc 11, 9-10 và Lc 19, 38) nhấn mạnh đến các mối liên hệ mật thiết và sâu xa giữa Mt 20,29- 34 và Mt 21, 1 . Đó là hai giây phút long trọng đánh dấu hai giai đoạn của cùng một cuộc đăng trình: một trên con đường từ Giêricô đến Giêrusalem, hai vào lúc nhập thành Giêrusalem.
 
Giai đoạn thứ ba của cuộc đăng trình này - ăn khớp với việc tiến vào Giêrusalem - đó là Đền thánh. Mt loại bồ tất cả mọi bản văn trung gian giữa việc tiến vào Giêrusalem và việc liến vào đền thánh giai thoại cây vả không sinh trái được đưa về sau trong Mt 21 ,18- 19: so sánh với Mc 11, 12- 14) để hai giai đoạn này - hoặc là ba nếu kể cả cảnh người mù thành Giêricô = được kế tiếp và móc nối hoàn toàn với nhau. Trong đoạn về đền thánh, Mt đưa vào hai yếu tố riêng của ông: việc chữa lành”những người mù lòa và què quặt", đối lại với 2 Sm 5, 6- 10 trong một hình thức chú giải, và giai thoại lũ trẻ hoan hô Chúa Giêsu bằng tiếng kêu:”con Đavít". Như thế, bản văn được nối kết một cách sâu xa với hai đoạn văn đi trước nó vậy.
 
Điều đáng chú ý ở đây không phải là sự hiện diện của các trẻ nhỏ, nhưng là nội dung của lời chúng hoan hô ("Con Đavít"), là địa điểm xảy ra lời hoan hô (Đền thánh, trung tâm thành của Vua cao cả), và là việc quy chiếu mặc nhiên nhưng đích thực vào thánh vịnh 8:”Lạy Chúa (Kyrie), Chúa chúng con, danh Chúa thật đáng chúc tụng trên toàn trái đất là chừng nào. ...”(c.2 bản 70). Người ta gặp lại việc liên kết tước hiệu”Con Đavít”và”Chúa", việc liên kết đã thấy có trong lời nài van của hai người mù ("Lạy Chúa, lạy Con Đavít, xin thương xót chúng tôi"), việc liên kết mà trình thuật tiến vào Giêrusalem đã làm nổi bật một cách chói lọi. Không phải chính trong cuộc tiến rước có tính cách phụng vụ theo ba giai đoạn này, trong cuộc hành hương được kết thúc với lễ Đăng quang của Đấng Messia trong cung"điện duy nhất của”Chúa", Thiên Chúa Israel này mà trình thuật tiến vào Giêrusalem mặc đầy đủ ý nghĩa đó sao?
 
Trình thuật cuộc Khổ nạn sẽ làm cho lễ đăng quang này có đầy đủ ý nghĩa đích thực. Vì thật ra,”Con Đavít”mà người ta tưng hô, trước tiên là một”ông vua ... khiêm nhưỡng”như câu trích dẫn ở Mt 21, 5 đã ám chỉ Người cũng là”Con Người”"tiến lên Giêrusalem để bị nộp”(20, 1 8: loan báo Thương khó lần thứ ba). Và đó là điều cho phép Chúa Kitô, Con Đavít, tự xưng là”Chúa”(Mt 21,3).”Con Đavít”là”Chúa”khi trở nên”Vua khiêm nhường": đấy là ba cao điểm của bản văn này vậy.
 
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
 
1. Thánh Gioan giải thích cho chúng ta biết: một trong những nguyên do chính của sự bùng vỡ niềm vui và của việc tung hô có tính cách thiên sai này là việc phục sinh Ladarô Chúa Nhật tuần trước). Việc phục sinh Ladarô đã làm dân chúng xao động mãnh liệt, khiến họ chạy từng đoàn lũ đến với Đấng trả lại sự sống cho người đã chết (Ga 12,17-18). Cuộc khải hoàn tạm bợ này sắp đưa đến thảm kịch, vì nhóm Biệt phái băn khoăn giận dữ sẽ dốc toàn lực kết án và xử tử Chúa Giêsu.
 
2. Chúng ta lặp lại tiếng kêu vui mừng và biết ơn của dân chúng ngày xưa trong Lễ Lá hôm nay và trong mỗi Thánh lễ chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến"). nhưng chúng ta đừng bất nhất như họ, đừng có ý phản bội Chúa Giêsu trong tâm hồn ngay lúc vừa tuyên xưng đức tin trong phụng vụ.
 
3. Nếu tâm hồn chúng ta được khoác lên vẻ chói lọi của ơn thánh hóa, thì khi cầm cành lá trên tay, chúng ta đã được đứng vào hàng ngũ đông đảo, có tính cách quốc tế của những ngườì được chọn, những kẻ mặc áo dài trắng và tay cầm cành lá đang tung hô Thiên Chúa cùng Chiên Con (Kh 7, 9- 10). Ta đừng làm cho mình bị loại trừ, vì tội trọng', khỏi nghi lễ phụng vụ thiên quốc ấy.
 
4. Việc Chúa Kitô tiến vào thành thánh một cách khiêm nhường; hòa bình nhắc cho ta nhớ mình phải học đòi bắt chước Đấng hiền lành và khiêm nhường trong lòng (Mt 11, 29), Đấng không bẻ gẫy cây sậy đã dập, không tắt tim đèn còn ngút khói (Mt 12, 20).
 
5. Như chủ nhân của đôi lừa, chúng ta hãy để cho Chúa sử dụng tất cả những gì Người cần, ngay cả bản thân chúng ta.
 
6. Chúa Giêsu tiến vào Giêrusalem để cho tấn bi kịch Khổ nạn xảy ra. Tấn bi kịch đó sẽ làm cho Người thành vị vua đích thực, vua chiến thắng bằng đường lối khiêm nhường, bằng phương tiện đau khổ. Ai muốn chiến thắng với Chúa Kitô muốn cho Đạo Chúa, chân lý Chúa hiển trị, cũng phải dùng đường lối của Người.

 
Noel Quession - Chú Giải
 
CUỘC KHỔ NẠN
 
Mt 26: 14 -27:66
 
Trong khi viết câu truyện về Cuộc Khổ Nạn, Mát-thêu trước hết không thực hiện một bài phóng sự, hay một biên niên xử án, về hai mươi bốn giờ sau cùng của Đức Giêsu. Ong thực hiện một giải thích thần học về một biến cố chính yếu. Khi ông biên soạn, thì ông biết rằng người chịu khổ hình thập giá là người được sống lại. Ong nêu ra, trong truyện kể nhiều trích dẫn Kinh Thánh để chứng minh rằng Thiên Chúa hướng dẫn tất cả lịch sử ông không tìm cách làm cho chúng ta xúc động, nhưng làm cho chúng ta thờ phượng: chịu biết bao tủi hổ Đức Giêsu vẫn là Đức Chúa uy nghi và chủ tể là người làm chủ các biến cố...
 
Ngày thứ nhất trong Tuần Bánh không men, các môn đệ thưa với Đức Giêsu: 'Thầy muốn chúng con dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu?”Người bảo:”Các anh đi vào thành đến nhà một người kia và nói với ông ấy: Thầy nhắn, thời của Thầy đã gần đến. Thầy sẽ đến nhà ông ấy để ăn mừng Lễ Vượt Qua với các môn đệ của Thầy."
 
Cuộc giáo đầu thật trang trọng. Sự thấy trước thuộc về Thiên tính của Đức Giêsu được nhấn mạnh:”thời giờ của Thầy đã gần”Người biết rằng điều gì đang đến... đó là Lễ Vượt Qua. Cuộc đi qua.
 
Tính vô danh của ngôi nhà này, ngôi nhà của một”ai đó , mời chúng ta trở nên”người đó". Đức Giêsu ước ao ăn lễ Vượt Qua với các môn đệ của Người.
 
Thầy bảo thật anh em, một người trong anh em sẽ nộp Thầy”"Có phải con không, Thưa Thầy?”"Chính anh là người đã nói điều đó.”
 
Đức Giêsu không phán đoán, không kết án: Chính anh là người đã nói điều đó. Người có tội tự chỉ mình. Đức Kitô chỉ khiến người ta trở về với lương tâm mình. Hai lần khác chúng ta sẽ nghe từ miệng Chúa nói ra câu này: Chính anh là nói đã nói điêu ấy; về chuyện thượng tế (Mt 26,64), và về Philatô (Mt 27,11). Mỗi người phải nhận lấy trách nhiệm của mình. Bạn phải thấy, bạn phải nhận lấy trách nhiệm của mình. Bạn phải thấy, bạn phải quyết định! Điều đó được nhắc lại cho chúng ta.
 
Trong bữa ăn, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng. rồi bễ ra, trao cho môn đệ và nói:”Anh em hãy cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy". Rồi Người lấy chén, dâng lời tạ ơn trao cho môn đệ và nói:”Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu Giao ước, đổ ra cho muôn người được tha tội. Thầy bảo cho anh em biết: từ nay Thầy không còn uống thứ sản phẩm này của cây nho, cho đến ngày Thầy cùng anh em uống thứ rượu mới trong Nước của Cha Thầy."
 
Đức Giêsu hoàn toàn biết Người sắp chết: đó là bữa ăn cuối cùng của Người... ly rượu tình bạn hữu cuối cùng, Người nói: Thầy không còn uống thứ sản phẩm của cây nho này nữa. Thế mà cái chết gần kề này lại không gây nên nơi Người một tình cảm hồi hộp hay sợ hãi nào; Người chúc tụng Cha, cảm tạ... Người”cử hành lễ Thánh Thể", Người cám ơn Cha. Tại sao? Trong khoảnh khắc này, nội dung của lời cảm tạ này là gì? Những tiếng được nhấn mạnh trong câu Đức Giêsu thốt ra cho chúng ta đối tượng của lời khen ngợi này, lời được phát ra từ cõi lòng Người vào giờ phút cô đọng ngoại lệ này, và cũng chính là lời, trong các nghi thức Thánh Thể Chúa nhật, mãi mãi được thực hiện. Đức Giêsu cảm tạ vì Giao ước kỳ diệu giữa Thiên Chúa và loài người... vì sự phong nhiêu trong cái chết của Người sẽ cứu giải nhiều người... vì sự tha tội mà thập giá của người tác động... vì sự hoàn tất của Nước Chúa, một ngày kia, trong ánh sáng của Thiên Chúa, khi sẽ không còn nước mắt, kêu khóc và tang chế.
 
Tiệc Thánh Thể, chính là bữa ăn của những người tội lỗi. chính là sự thứ tha được dành cho mọi người... Đức Giêsu biết rằng tất cả mọi người đều là những tội nhân (tất cả họ sắp bỏ Người trong ít phút nữa, ngay sau lễ hiệp thông đầu tiên của họ). Đức Giêsu biết rằng cộng đoàn Giáo Hội của Người gồm có những đàn ông và đàn bà không trung tín, một tập đoàn những tội nhâ, thực như thế. Các Kitô hữu không phải là những người tốt hơn những người khác, họ chỉ có một cơ may duy nhất, là đến dùng bữa ăn và lễ hiến tế được dâng lên để tha tội, để tha thứ tội lỗi của họ.
 
Hát Thánh Vịnh xong, Đức Giêsu và các môn đệ ra đi lên núi Ôliu.
 
Bằng tình yêu có lẽ chúng ta phải hát Thánh Vịnh, những bài Thánh ca được linh ứng mà chính Đức Gìêsu đã hát: chiếu tồi hôm ấy, tôi nghe thấy tiếng thật hay của Người đang hát.. . và tôi ngâm nga lập lại những tiếng Ngài đã hát. Giờ lệnh Thánh Vịnh, chính là lời cầu nguyện của Đức Giêsu.
 
Đức Giêsu nói với các ông:”Đêm nay tất cả anh em sẽ vấp ngã vì Thầy... Nội đêm nay, gà chưa gáy, thì anh đã chối Thầy ba lần."
 
Tất cả những ai theo Đức Giêsu đều được thử thách. Thử thách đặc biệt của các môn đệ Đức Giêsu, chính là thử thách về Đức Tin ngã xuống, vấp té trên những đau khổ của Đức Kitô. Chính ông Phêrô, cho dù vai trò của ông và sự vững vàng của ông, không thoát khỏi thử thách này.
 
Đức Giêsu đi cùng với các ông một thửa đất tên là Ghết-sê-ma-ni. Người nói với các môn đệ:”Anh em ngồi lại đây, Thầy đến đàng kia cầu nguyện". Rồi Người đưa ông Phêrô và hai người con ông Zêbêđê đi theo. Người cảm thấy buồn rầu xao xuyến. Bấy giờ Người nói với các ông:”Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy”Người đi xa hơn một chút, sấp mặt xuống đất mà cầu nguyện rằng:”Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha."
 
Cơn hấp hối của Đức Giêsu tại Vườn Ôliu chỉ là lời nguyện lâu dài; theo Thánh Mát-thêu... Năm lần, người nói lên tiếng: cầu nguyện? Đức Giêsu hấp hối đang lúc cầu nguyện. Đức Giêsu hấp hối trong lúc sống kết hợp mãnh liệt với Cha Người. Nhưng vì thế, Đức Giêsu cũng sống cơn hấp hối với những thân thuộc của Người: ba lần Người trở lại với họ để mời họ cùng cầu nguyện với Người, canh thức với Người (Mt 26,36; 88,40).
 
Khi đó Giuđa, một người trong Nhóm Mười Hai đã đến…cùng với đám đông người mang theo gươm giáo gậy gộc...”Này bạn, bạn đến đây làm gì thì cứ làm đi"... Anh tưởng là Thầy không thể kêu cứu với Cha sao? Người sẽ cấp ngay cho Thầy hơn mười hai đạo binh thiên thần. Nhưng như thế thì lời Kinh Thánh ứng nghiệm sao được? Vì theo đó mọi sự Phải xảy ra như vậy."
 
Và Mát Thêu đã đan dệt chuyện ông kể bằng những đoạn trưng dẫn Kinh Thánh. Không, cuộc Khổ Nạn của Đức Giêsu không phải là một tai nạn lịch sử bất hạnh. Đó là hoàn tất một dự tính huyền nhiệm của Thiên Chúa, đã được tiên liệu và lưu ý từ lâu. Thiên Chúa không bị bất ngờ bởi thập giá. Chính Người đã muốn và đã quyết định Như thế... Người sẽ không phái các cơ binh thiên thần đi, người cũng không cần đến phép lạ. Như thế, làm sao chúng ta có thể nghĩ rằng tất cả mọi chuyện có thể phải diễn ra một cách khác trong cuộc đời chúng ta... Lạy Chúa, xin giúp chúng con sống những thử thách của chúng con, những bó buộc chúng con, ngõ hầu chúng con tuân phục một cách tự do ý chí nhiệm mầu của Chúa Cha... Đấng không ngừng yêu thương chúng con... không ngừng yêu mến Con của Người trên thập giá... Đấng chịu đau khổ với Người, Đấng Cứu Độ cùng với Người.
 
Bấy gi các môn đệ bỏ Người mà trốn đi hết. Họ bắt Đức Giêsu rồi điệu đến thượng tế Caipha. c kinh sư và kỳ mục tề tựu snđó.
 
Phêrô theo xa xa, và bước vào trong sàn để xem sự việc kết thú thế nào... những nhân chứng gian trá cáo giác Đức Giêsu đã nói rằng Người có thể phá huỷ Đền Thờ và xây lại trong ba ngày.
 
Nhưng Đức Giê sư vẫn làm thinh. Vị thượng tế nói với Người:”Nhân danh Thiên Chúa hằng sốn, tôi truyền cho ông phải nói cho chúng tôi biết ông có phải là Đức Kitô Con Thiên Chúa không?”Đức Giêsu trả lời:”Chính Ngài vừa nói. Hơn nữa tôi nói cho các ông hay: từ nay, ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến.."
 
Vâng đấy vẫn là một câu trích dẫn Kinh Thánh. Người ta trịnh trọng khẩn khoản xin Người đừng nhận căn tính của mình, Đức Giêsu đã dùng một câu trích từ ngôn sứ Đanien (7,13) để trả lời. Người nhận mình là Đấng Mê-si-a được người ta trông đợi, nhưng Người cũng làm cho người ta cảm thấy rằng Người không phải là Mêsia theo các chuẩn mực của các phán quan về Người: chính trong tư thế của người bị cáo tử hình, mà Người dám tuyên bố rằng từ nay trở đi sự hiện tỏ của người, sự Quang lâm của Người gần đến. Chính khi đó xảy đến việc Phêrô chối Chúa và ông đã sám hối..- rồi đến việc Giua tuyệt vọng... sắp tự treo cổ vì lòng hối bận khi thấy Đức Giêsu bị kết án, và anh thú nhận:”Tôi đã phạm tội giao nộp một người vô tội cho cái chết.”Giuđa thật đáng thương! Đức Giêsu có lẽ đã quá tốt với anh, nếu anh đã biết khóc lóc thảm thiết, như Phêrô đáng thương. Huyền nhiệm tự do của con người, có thể tự nhận mình có tội, và đó là một điều trọng đại khi nói được tôi đã phạm tội... nhưng cũng có thể tuyệt vọng, nghĩa là không tin vào lòng thương xót của Thiên Chúa.
 
Sau vụ kiện thÚ nhất. về tôn giáo, trước thướng tế Caipha và Thượng Hội Đồng... Bây giờ là vụ kiện thứ hai, về dân sự, trước viên tổng trấn Roma là Philatô. Khác với các nhà chức trách Do Thái, viên chức ngoái giáo này, đã làm mọi cách để cứu Đức Giêsu: ông ta cố thả Đức Giêsu bằng cách đánh đổi một tù nhân khác, là Ba-ra-ba...
 
Người vợ của Philatô đến biện hộ với chồng bà để ông ta không nhúng tay vào cái chết này...
 
Sau cùng, Philatô ra ta, để có ý nói rắng ông ta không chịu trách nhiệm về tội ác ( của giới lãnh đạo tôn giáo)…
 
Thực sự trong chính cơn tuyệt vọng không làm cho Đức Giêsu miễn tố mà viên tổng trấn cuối cùng phải thuận theo những tiếng kêu gào của đám đông. Trong cuộc khổ Nạn, chính Đức Giêsu là trung tâm điểm. Dầu vậy cũng cần phải lưu ý về những danh hiệu được người ta đặt cho Người. Bốn mươi lần, người đã được gọi tên Giêsu. Như muốn nói cho chúng ta, vào thời điểm đặc biệt này, ý nghĩa theo nguyên tự của tiếng này (Yeshoua, tiếng Do Thái) và đó cũng là tên mà các thiên thần đã đặt ngay từ đầu: Thiên Chúa Cứu Độ
 
(Mt 1,23). Và về sau, người ta cũng đặt tên Người bằng danh hiệu Con Thiên Chúa (Mt 26,63; 27,40-43-54) và hai tiếng”cha tôi”có tác dụng nhấn mạnh đến sự hiệp thông trọn vẹn với ý muốn của Thiên Chúa, tức là tập trung ý nghĩa vào Cuộc Thụ Nạn ( Mt 26,29 – 39-42-53).
 
Sau hết, nạn nhân bị nhạo báng bởi con người lại được chào bằng”Đức Chúa”(Mt 26,22). Và Đức Giêsu, thực sự, không ngừng hành xử theo phẩm giá thần thánh này. Người biết, Người ra lệnh, Người thống trị hoàn toàn các biến cố (Mt 26,10-19-25-50-52-54). Mátthêu, muốn gợi cho chúng ta thấy sự vĩ đại khôn tả của Đấng chịu đau khổ và chết, đã khiến xảy ra một hiện tượng địa chấn, cuộc động đất, và nhấn mạnh đến chiều kích vũ trụ của sự cố diễn ra (Mt 27,51-54). Ba lẫn khác, ông xử dụng từ địa chấn này (Mt 8,24 – 21,10 - 28,2). Khi nghe đọc về cuộc khổ nạn khi suy niệm một cách cá nhân, ta đừng nên chỉ dừng lại mức độ nhạy cảm và đau khổ của con người mà thôi. Ta hãy để cho tâm tình thờ phượng và cảm tạ hồng ân cuốn hút chính ta đi nữa!
 
Giáo phận Nha Trang - Chú Giải
 
“Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến”
 
Mt 21:1 - 11
 
I - Cả bốn Tin Mừng đều thuật lại việc Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem ( Mt 21, 1 - 11; Mc 11, 1 - 10; Lc19, 28 - 44; Ga 11, 12 - 19 ) . Vì thế phần suy niệm chi tiết xin xem lại bài Tin Mừng Chúa nhật Lễ Lá năm B và C . Ở đây xin bổ túc thêm một vài chi tiết của riêng Máthêô .
 
1 /”Đến gần Giêrusalem”:
 
Trong cuộc đời công khai, Chúa Giêsu lên đền thánh Giêrusalem nhiều lần: Ga 2, 13 . 5, 1 . 7, 2 - 10 . 12, 12 , những lần này Chúa Giêsu lên Giêrusalem có tính cách đặc biệt để xác nhận mình là Vua Thiên sai .
 
+”Địa hạt Bêtphagê":
 
Theo địa danh, đây là một xóm nhỏ, nằm khuất trong một chỗ thấp trên sườn núi Cây Dầu về phía Đông . Nhưng theo nguyên ngữ có nghĩa là”Nhà của trái vả”. Ơ đây có liên quan đến cây vả không có trái ( Lc11, 12 - 14 ): Chúa Giêsu đã đóng vai xin khoan vãn một thời gian để Người chăm bón cho cây vả sinh trái, thì ở đây qua ý nghĩa xóm nhỏ Bêtphagê, Người cũng đóng vai một người có sứ mệnh cứu thoát như vậy, đó là sứ mệnh cứu thế của Người .
 
+”Núi Cây Dầu":
 
Dựa theo sấm ngôn của Giacaria 14, 4”Ngày ấy Người sẽ dừng chân trên núi Cây Dầu, núi đối diện với Giêrusalem về phía Đông ...”thì việc Chúa Giêsu và các môn đệ tạm lưu lại trên núi Cây Dầu mang một ý nghĩa có tính cách Thiên sai .
 
2 /”Con lừa mẹ cọt ở đó với con lừa con":
 
+ Ơ đây Mátthêô nói đến hai con vật: lưa mẹ và lưa con, đang khi các thánh sử khác Mc - Lc - Ga chỉ nói đến một con vật là con lừa . Tại sao có sự khác nhau này?
 
+ Sấm ngôn của Giacaria 9, 9 chỉ nói đến một con vật thôi . Những trong tiếng Hy Bá hai từ ngữ”Lừa”và”Lừa con”đều là giống đực . Từ ngữ thứ nhất chỉ con vật đã lớn, có thể sử dụng, từ ngữ thứ hai chỉ con vật còn tơ chưa được sử dụng . Vì thế có người cho rằng Mátthêô không am hiểu cách chơi chữ của tiếng Hy Bá, nên đã cho là có hai con vật: mẹ và con, còn các tác giả nguyên thủy chỉ thấy có một con thôi, nhưng được nhìn dưới hai khía cạnh khác nhau là bổ túc cho nhau: đó là sự lợi ích và chưa được sử dụng của con lừa con .
 
Hơn nữa cả bốn Tin Mừng đều thuật lại câu chuyện này và cả ba thánh sử Mc, Lc, Ga nói đến chỉ một con vật thôi, nên Mt tuy nói đến hai con vật, nhưng cũng chỉ có ý diễn tả đến một con vật thôi, trích dẫn sấm ngôn Giacaria 9, 9 , Mt chỉ có ý nói đến con vật có thể sử dụng, nhưng thực tế chưa bao giờ dùng: đó là con lừa con chưa ai cưỡi, vì biến cố Thiên sai đặc biệt linh thánh này đòi hỏi thế .
 
+ Một đàng kiểu nói của Mátthêô:”Hai môn đệ dẫn lừa mẹ và lừa con về, trải áo lên mình chúng và đặt Chúa ngồi lên trên”cũng không có ý nói hai con vật khiến Chúa Giêsu phải ngồi lên hai con một trật, nhưng chỉ có ý nói đến một con lừa con có thể dùng được rồi, mà trước đây chưa bao giờ sử dụng, mà bây giờ dành riêng cho Chúa sử dụng, đàng khác kiểu nói”lừa mẹ và lừa con”là kiểu nói”con số hai”mà Mátthêô thường qủn dùng như trường hợp hai người bị quỷ ám ở Gadara ( Mt 8, 28 ) và hai người mù ở Giêricô ( Mt 20, 29 - 34 ) , đang khi thực sự chỉ có một người quỷ ám ( Mc 5, 1 - 20; Lc8, 26 - 39 ) và một người mù ( Mc 10, 46 - 52; Lc18, 35 - 43 ) .
 
3 /”Phần đông dân chúng trải áo xuống đường”:
 
+ Dân chúng đây có lẽ phần đông là người Galilê đi dự lễ vì họ thường nghỉ trong các quán trọ trên con đường lên Giêrusalem hoặc trên các chỗ tạm trú ngay trên sườn núi Cây Dầu . Họ náo nức theo Chúa Giêsu vì đã được chứng kiến hoặc đã được nghe nói về các phép lạ Chúa đã làm, nhất là phép lạ cho Lazarô sống lại ( Ga 12, 17 - 18 ) .
 
+”Trải áo xuống đường hoặc chặt cành lá":
 
Bên cận Đông, tôn kính ai thì người ta có thói quen cởi áo hoặc chặt cành lá trải trên đường cho người ấy đi . Vì con đường đi ngang qua cánh đồng trồng cây Ôliu, nên dân chúng đã chặt cành lá cây Ôliu .
 
+ Riêng thánh sử Gioan nói đến cành lá cây vạn tuế ( Ga 11, 12 - 19 ) . Cành lá vạn tuế được dùng như biểu hiệu của chiến thắng, của khải hoàn và của uy vương đế . Vì thế ở đây cũng nói đến cuộc khải hoàn của Chúa Giêsu, không là chiến thắng bằng võ lực nhưng bằng cái chết mà Người sắp đón nhận khi tiến vào Giêrusalem .
 
4 /”Con vua Đavít":
 
+ Ơ đây có liên tưởng đến lời van xin của hai người mù thành Giêricô ( Mt 29, 29 - 34 ) tuyên xưng Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế .
 
+ Đấng Cứu Thế này là”Chúa”khi trở lên vị”Vua hiền hoà, khiêm nhường”qua cuộc tử nạn và phục sinh của Người .
 
II - Áp dụng thực hành:
 
1 /”Chúng ta lặp lại lời tung hô vui mừng và biết ơn của dân chúng ngày xưa, trong Lễ Lá hôm nay và trong mỗi thánh lễ ( Chúc tụng Đấng nhân danh Thiên Chúa mà đến ) . Nhưng chúng ta đừng bất nhất như dân chúng xưa, đừng có ý phản bội Chúa Giêsu trong tâm hồn, trong lời nói và hành động ngay lúc vừa tuyên xưng đức tin trong phụng vụ, hoặc trong những việc đạo đức .
 
2 / Việc Chúa Giêsu tiến vào thành thánh một cách hiền hoà và khiêm nhường, nhắc ta nhớ phải học đòi bắt chước”Đấng hiền lành và khiêm nhường trong lòng”( Mt 11, 29 ) khi phải sử thế với những nghịch cảnh, những trái ý và những kẻ gian ác .
 
3 / Như chủ nhân của con lừa sẵn sàng cho Chúa muợn, chúng ta hãy để cho Chúa sử dụng tất cả những gì Người cần, ngay cả bản thân chúng ta nữa .
 
4 / Chúa Giêsu là vua chiến thắng, nhưng chiến thắng bằng đường lối khiêm nhương, bằng phương tiện đau khổ, ai muốn chiến thắng với Chúa Kitô, muốn cho nước Chúa được trị đến, cũng phải dùng đường lối khiêm nhương và đau khổ như Chúa Kitô .
 
5 / Dân chúng xưa cầm cành lá để tung hô Chúa, ngày nay chúng ta làm sáng danh Chúa bằng những việc lành, bằng các nhân đức, bằng đời sống gương sáng theo tinh thần Tin Mừng .
 
Hành Trang Mục Vụ - Khoá 10 ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn