Clock-Time

Chú giải tin mừng - Chúa Nhật Lễ Lá mùa Chay năm C

Tin mừng Lc 22,14-23,56 "Cả bốn phúc âm đều ghi lại việc Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem, nhưng có rất nhiều khác biệt. "

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT LỄ LÁ - NĂM C



Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải
 

CHÚA GIÊSU VÀO THÀNH GIÊRUSALEM (Lc 19,28-40)
 

Cả bốn phúc âm đều ghi lại việc Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem, nhưng có rất nhiều khác biệt. Có những khác biệt có thể nhận ra ngay từ đầu, có những khác biệt tinh vi, đòi hỏi nhiều chú ý hơn. Mỗi một dị biệt này chỉ có ý nghĩa trong mỗi phúc âm. Để quán triệt ý nghĩa mỗi trang phúc âm, điều quan trọng là phải làm quen với những phản ứng của tác giả tiềm tàng trong bản văn và làm cho bản văn được phong phú nhờ những tiềm năng của chúng. Cần tham chiếu văn mạch để xác nhận một yếu tố với toàn thể của nó.
 

Dựa vào những nguyên tắc trên, chúng tôi bắt đầu nghiên cứu bằng cách phân tích ngôn ngữ được dùng trong bốn trình thuật phúc âm.
 

I. CÁC NGUỒN CỦA NGÔN NGỮ
 

Các trình thuật khác nhau về việc vào Giêrusalem có dùng một ngôn ngữ chung, gồm nhiều điểm biểu tượng và văn hóa, mà chúng ta phải phân tích trước hết. Kết quả của cuộc phân tích này, cho dù nhỏ bé đến đâu cũng giúp chúng ta hiểu rõ hơn các "hệ thống" phúc âm và sức hoạt động nội tại của chúng.
 

1/ Núi cây dầu và Đấng Messia
 

Dựa trên các quan niệm Do thái đương thời, việc Chúa Giêsu đến tạm trú trên núi cây dầu có thể mang một tính cách thiên sai. Bản văn sau đây của Zacaria đệ nhị có thể là khởi điểm của một truyền thuyết, hoặc là chứng tá của một niềm tin liên hệ với Đấng Messia: "Ngày ấy, chân Ngài đứng trên núi cây dầu, đối diện với Giêrusalem về phía đông. Núi cây dầu sẽ bị rẽ ra chính giữa từ đông sang tây, làm thành một thung lũng thật lớn..." (14,4).
 

Những lời đó mô tả việc Giavê can thiệp trong trận chiến cánh chung mà Giêrusalem sẽ là chiến trường (x. Ez 11,23). F. Josèphe, sử gia Do thái nổi tiếng, đương thời với các tác giả phúc âm đã nói đến trào lưu tư tưởng này trong cuốn "Antiquites juives": "Lúc bấy giờ một người Ai cập tự xưng là tiên tri đến tại Giêrusalem và khuyên bảo dân chúng cùng với ông tiến về núi cây dầu đối diện với thành phố cách xa năm dặm. Thật vậy, ông đã nói cho dân chúng rằng: theo lệnh truyền của ông, các bức thành Gierusalem sẽ sụp đổ và từ đó ông hứa sẽ khai thông cho họ một lối đi".
 

Như thế, vào thời Chúa Giêsu và các tác giả phúc âm, có lẽ sấm ngôn của Zac 14,4 đã được liên kết với cách trình bày quen thuộc về biến cố thiên sai. Trong sách chú giải (midrash haggadique) "Sepher Eliyahu", ta nhắc lại tầm quan trọng của chương 14 Zac trên các bản văn thiên sai khác của CƯ mà núi Cây Dầu (c.4) là trung tâm điểm. Từ đó, ta nhận ra ý nghĩa thiên sai trong trình thuật của Mc nói về hoạt động của Chúa Giêsu tại Giêrusalem và việc Ngài cùng với các môn đệ lưu lại trên núi Cây dầu (Mc 11,11tt).
 

2/ Bêthania và Bethphagé
 

Cũng như vị trí của chúng trên bản đồ, nguyên ngữ của 2 địa danh thật có lợi cho việc tìm hiểu bản văn. Bêtania
 

(tiếng Do thái: Bet - ani) có nghĩa là "nhà của người nghèo", "của người khiêm nhu" hay "của người đau khổ": trong mạch văn của Mc nói về việc tiến vào Giêrusalem (nghĩa là toàn thể trình thuật khổ nạn), các ý nghĩa của địa danh này rất quan trọng. Dù được dân chúng tung hô, Chúa Giêsu không dừng lại ở Giêrusalem; ngay buổi tối sau khi vào thành cách trọng thể (Mc 11,11), Ngài lui về Bêtania.
 

Bethphagé (theo tiếng aramêô: Bet-pagge) có thể hiểu là "nhà của trái vả", đây là một dữ kiện khác cần chú ý, nếu ta biết rằng trong Mc, những đoạn nói về việc vào thành Giêrusalem và việc trú ngụ ban đêm ở Bêthania được tiếp nối bằng đoạn nói về cây vả không có trái (11,12-14).
 

3/ Con lừa
 

Thời cổ xưa ở Trung Đông, con lừa được gắn liền vối thần thoại và tế tự thần linh, chẳng hạn thần thoại Ai Cập của Typhon (hay Set) thần sự dữ, đối thủ của Osiris, thần sự lành. Trong thần thoại này con vật linh thánh của Typhon là con lừa. Lừa vẫn là con thú thần Dionysios cưỡi ...
 

Trong CƯ, con lừa có mặt trong nhiều trình thuật của truyền thuyết các tổ phụ; nó cũng là con vật để vua cưỡi và từ đó là con vật để đấng Messia cưỡi. Cần phải trích dẫn hai bản văn được truyền thống Do thái giải thích theo hướng thiên sai: sấm ngôn của Giuda trong St 49,11: "người cột lừa con vào gốc nho..." và Zac 9,9: "Này đây vua ngươi đến với ngươi, Ngài công minh, chiến thắng, khiêm tốn cưỡi trên lừa mẹ".
 

Văn chương chú giải (midras) liên kết hai bản văn này trong các bài giảng giải về Đấng Messia và việc Ngài đến. Ta có thể đọc thấy trong Bereshit Rabbah 98 như sau: "người cột lừa con vào gốc nho..." (St 49,11). Câu này được các thầy giải nghĩa là: Tc phán: "Ta cột vào vườn nho (nghĩa là Israel) và vào trái nho của thành nó (tức là Giêrusalem) một con lừa con, để khi Đấng (được Zac 9,9 gọi là Đấng khiêm tốn và cưỡi lừa) sẽ đến..."
 

Chắc hẳn giáo huấn này được viết ra nhiều năm sau khi phúc âm đã được biên soạn. Nhưng các phản ứng thần học đã ảnh hưởng đến việc hình thành và truyền đạt các phúc âm cũng có thể giúp chúng ta đang nghiên cứu.
 

4/ Con vật linh thánh, chưa bao giờ được dùng

 

Chi tiết này chỉ được Mc và Lc minh nhiên ghi nhận. Dưới ánh sáng lịch sử các tôn giáo, người ta thấy được ý nghĩa linh thánh của con vật chưa bao giờ được xử dụng. Con vật được dùng cho việc hiến tế hay cho việc thánh, phải là thanh khiết, chưa bị xử dụng cách trần tục. Văn chương ngoại giáo làm chứng điều đó, như đoạn "Metamorphoses" của Ovide sau đây: "Phoebus nói cùng con là Agénor rằng: con sẽ gặp trong các cánh đồng trơ trụi một con bò cái tơ chưa bao giờ mang ách và kéo cày. Con hãy theo đường nó đi và trong các đồng cỏ xanh tươi nơi nó nghỉ ngơi, con hãy đào móng xây thành lũy và đặt tên là Béotien".
 

Mệnh lệnh Chúa Giêsu ban cho các môn đệ có thể xuất phát từ một văn mạch như thế, nhưng nhất là được trực tiếp cảm nhận từ khoản luật trong kinh thánh mà Ds 19,2 ghi lại: "Một con bò cái..không tì ố, và chưa bao giờ mang ách..." (X.Đnl 15,19; 21,3; 1S 6,7).
 

5/ Dư âm lễ đăng quang trong Kinh thánh.
 

Trình tuật về việc vào thành Giêrusalem nhắc lại nhiều bản văn CƯ, như 2V 9,13: "Lập tức, họ lấy áo trải ra, đồng thời thổi tù và và hô lớn: Jehu là Vua", nhưng nhất là 1V 1,13: khi Đavit ban các lệnh liên quan đến việc tấn phong Salomon: "Hãy đem đội thị vệ, hãy đưa Salomon con ta lên ngồi trên lưng con la riêng của ta và rước về Gihôn".
 

Động từ "épibibazô" (đưa lên) chỉ tìm thấy trong TƯ nơi Lc và Công vụ (Lc 10,34; 19,35; Cv 23,24). Động từ này còn có trong trình thuật của Lc nói về việc vào thành Giêrusalem (19,35): "Họ đưa Chúa Giêsu lên" (epibizah). Còn ba tác giả phúc âm kia viết: "Ngài ngồi" (ékathisen: Mt 21,7; Mc 11,7; Ga 12,14).
 

6/ Việc "giá lâm" của các hoàng đế Hy lạp

 

Không thể tách rời Mc 11,1-10 và các bản song song khỏi bối cảnh các cuộc tiếp đón hoàng đế trong các đô thị Hy lạp. Bản văn sau đây trích từ cuốn "Guerre des Juifs" của F.Josèph là một ví dụ sống động: "Khi biết Titus gần đến, dân Antiokia vui mừng, không chịu ở lại trong thành; tất cả đổ xô ra đón hoàng tử. Họ đi gần ba mươi dặm, và không chỉ đàn ông thôi, nhưng cả đàn bà và con nít nữa. Khi thấy Titus tiến đến, họ đứng hai bên đường, đưa tay phía hoàng tử và hoan hô, rồi theo hoàng tử vào thành, vừa đi vừa chúc tụng. Thành ngữ "ra đón" được thấy lại hầu như nguyên văn trong trình thuật của Gioan nói về việc vào thành Giêrusalem (Ga 12,13; x. Mt 8,34 và 25,1)
 

Trong thế giới Hy la, cuộc tiến vào đó là một phần trong nghi lễ "giá lâm" (Parousia); "Giá lâm" là việc nhà vua chính thức thăm viếng một tỉnh hay một thành phố. Vào thời tôn thờ hoàng đế, từ ngữ này mang một ý nghĩa vừa chính trị vừa tôn giáo. Trong chiếu chỉ của một thành thuộc vương quốc Pergame, có đoạn viết: "Các tư tế nam nữ phải tiến ra đón hoàng đế". Vì thế, L.Kerfaux đã có thể viết: "Việc Chúa Giêsu tiến vào thành Giêrusalem có cùng một đặc điểm như việc Messia viếng thăm kinh đô của Ngài"
 

7/ Hosanna
 

Các câu 25 và 26 của thánh vịnh 118 đều được cả bốn tác giả phúc âm trích dẫn và được sửa chữa theo quan niệm riêng của mỗi vị (Mt 21,9; Lc 19,38; Ga 12,13). Thánh vịnh 118 là thánh vịnh cuối cùng của "Hallel" là chữ mà một hội đường xa xưa gán cho một nhóm thánh vịnh (113-118). Những thánh vịnh này được dùng để ca tụng Thiên Chúa trong một vài đại lễ hay hành hương (dịp lễ Vượt qua, ngũ tuần, trong tám ngày Lễ Lều và Cung hiến), vào lúc hiến tế ban sáng. Điệu hát của "Halleluia" đặc biệt nhấn mạnh nghi lễ vượt qua, nhất là nghi thức bữa tiệc (x. Mt 26,30; Mc 14,26)
 

Trong dip lễ lều, điệu hát này mang một vẻ rất long trọng. Sau một vài câu, cả hội đường lắc "lulab" là bó hoa gồm nhiều lá dừa và lá liễu, theo như Lv 23,40 (những nhánh của "lulab" đôi lúc gọi là "hosanna"). J.T.Nelis viết: "Vào thời TƯ, cuốn biên khảo Sukkat (3,9) đã ghi lại một vài tập tục đặc biệt. Trước hết người ta lắc "lulab". Nghi thức này xuất hiện lúc hiến tế ban sáng, khi các thày Lêvi xướng Halleluia, bắt đầu thánh vịnh 118 và khi họ hát đến câu 25 và 28 của thánh vịnh đó (x. 2M0,7)
 

"Hosanna" là phiên âm Hy lạp của tiếng arameô
 

"hosha-na" dịch từ tiếng Hy bá "hoshi"a-(n)na" có nghĩa "hãy cứu". Tiếng này nói lên lời van nài liên lỉ hay lời tung hô có tính cách phụng vụ. Trong Lễ Lều, đó là lời xin trời đổ mưa; nhưng trong các phúc âm, đó là tiếng ngợi khen: "Cũng như chữ Halleluia, Hosanna là từ ngữ trong phụng vụ Kitô giáo thời biên soạn phúc âm", P.Bonnard đã viết như thế.
 

8/ Đấng đang đến
 

Cũng như trong Mt 11,2 và Lc 7,19 (việc Gioan sai các môn đệ mình đến cùng Chúa Giêsu), phân từ: ho erchomenos, đấng đang đến, chắc chắn nhắm đến Đấng Messia. Tuy nhiên cách ám chỉ Messia như "Đấng đang đến" không phải là thường xuyên. Sau khi được dùng làm tước hiệu của Đấng Messia, phân từ này chắc chắn đã góp phần vào việc móc nối St 49,10-11 (vương trượng không rời xa Giuda...cho tới khi Ngài đến...Ngài cột lừa vào gốc nho ...) với Zac 9,9 "Nầy đây vua ngươi tiến đến cùng ngươi".
 

9/ Lá vạn tuế
 

Chỉ Gioan nói đến lá vạn tuế. Như đã nói, theo Lv 23,40 và những dư âm sau này trong Do thái giáo. Những cành lá vạn tuế làm thành "lulab" được dùng đến trong lễ lều (so sánh với Neh 8,15). Liên hệ giữa lá vạn tuế với Lễ Lều Tạm được thấy trong việc trang hoàng nhà hội Do thái cổ xưa.
 

Việc dùng lá vạn tuế có một lịch sử lâu dài, có liên hệ với tiền tệ, và ý nghĩa tượng trưng của nó thay đổi tùy không gian và thời gian. Người ta thấy hình lá vạn tuế trên đồng tiền của Vespasien và Nerva, để kỷ niệm cuộc chiến thắng các người Do thái nổi loạn lần thứ hai, đồng tiền của họ có hình lá vạn tuế, ám chỉ một hoài bão hy vọng dân tộc sẽ chiến thắng. Theo các nguồn văn chương sau này, cây vạn tuế là biểu tượng của Israel, trước cuộc nổi loạn lần thứ nhất (dưới thời vua Hêrođe Antipas) biểu tượng của cây này không có tính cách chính trị.
 

Việc dùng lá vạn tuế trong phụng vụ đưa chúng ta trở lại thời hưng thịnh của chủ nghĩa quốc gia của Macabeô. Tiếng Baion ("cành vạn tuế") chỉ tìm thấy trong thánh kinh nơi 1M,51 khi nói về Simon vào thành Giêrusalem cách khải hoàn: "Dân Do thái vào (thành thánh) ngày 28 tháng thứ hai năm 171 với những tiếng hoan hô và cành lá vạn tuế... vì một đối phương vĩ đại đã bị đuổi xa khỏi Israel.
 

Còn tiếng phoinix (cây vạn tuế, lá vạn tuế), nếu được dùng nhiều lần trong CƯ, thì trong TƯ chỉ có ở Ga 12,13 và Kh 7,9. Sách Macabê thứ hai nhắc đến nó trong nghi thức Cung hiến, nghi thức được thiết lập để kỷ niệm việc tinh luyện và cung hiến đền thánh sau chiến thắng của Macabeô (x. 1M 4,54tt). Nghi lễ đã dựa vào nghi thức của lễ lều tạm: "Họ hân hoan dâng lễ trong suốt 8 ngày theo cách lễ lều tạm...cầm những cành cây và lá vạn tuế (phoinikas), họ dâng lên lời ca lên Đấng đã thanh luyện thánh điện của Ngài" (1M 10,6-7).
 

Thành ngữ "cành lá vạn tuế" (baia phonikon) của Gioan được giữ lại nguyên văn trong ngụy thư ("Testament de Nephtali" 5,4-5). Đoạn ngụy thư này kể lại việc trao lá vạn tuế cho Lêvi như là biểu tượng uy quyền của ông trên toàn Israel. Vậy chắc chắn lá vạn tuế nói lên cuộc chiến thắng, cuộc khải hoàn vương đế và đồng thời biểu hiện cho quyền uy của Israel. Nhưng nhờ việc rung hoa (lulab) lá vạn tuế cũng có tương quan với việc cử hành lễ nghi phụng vụ.
 

Việc nghiên cứu trên đây giúp chúng ta hiểu thêm các tài liệu mà 4 trình thuật của 4 phúc âm đã dùng để ghi lại việc Chúa Giêsu tiến vào thành Giêrusalem. Mỗi một trình thuật nói lên một mầu sắc sống động về Đấng thiên sai: việc nhìn núi Cây dầu với tất cả ý nghĩa Do thái của nó, hình ảnh con lừa với những truyền thuyết về nó, kể cả tước hiệu "Đấng đang đến". Mỗi tác giả phúc âm làm nổi bật màu sắc đó tùy cảm thức và ý hướng riêng tư của mình. Như vậy, Lc phản ảnh các trình thuật cổ xưa về việc đăng quang hay phong vương trong kinh thánh, còn Gioan cảm hứng từ những nghi lễ "Giá lâm" của các hoàng đế Hy la.
 

Là một biến cố thiên sai, cảnh này cũng mặc lấy, trong bốn phúc âm, một đặc tính phụng vụ không thể chối cãi. Việc trích dẫn thánh vịnh 118 làm liên tưởng đến các đại lễ lớn của Israel và điệu hát "Halleluia". Việc nhắc đến lá vạn tuế, chỉ có nơi Gioan, hình như muốn xác định đó là một cử hành có tính cách quốc gia và do đó có tính cách chính trị hơn.
 

Dù giống hay khác nhau, tất cả những dữ kiện này chỉ là cái đà giúp giải thích các bản văn đứng đắn hơn.
 

(người dịch đã bỏ 3 trình thuật kia vì không có trong năm C. Xin xem chú giải phúc âm Chúa nhật năm A,B)
 

II. TRÌNH THUẬT LUCA 19,28-40
 

1. Không tiến vào thành Giêrusalem
 

Trong phần đầu của trình thuật (c.28-35), Lc theo khá sát bản văn Mc, nhưng có sửa đổi đôi chút. Các câu 37-40 thì thuộc một nguồn cảm hứng khác và tạo cho toàn thể diễn từ Lc nét độc đáo và sống động riêng biệt.
 

Trước hết, cần để ý rằng Lc không nói đến cuộc "tiến vào thành Giêrusalem". Ông chỉ nói (c.28 và 41) Chúa Giêsu tiến về hướng hay tới gần thành ấy. Chính "trong đền thờ" (c.45, eis to hieron) mà tác giả phúc âm mới đưa Chúa vào. Nhận xét này thật quan trọng đối với toàn bộ tác phẩm Lc; thật vậy, phúc âm thứ ba bắt đầu và kết thúc trong đền thờ (chương 1 và chương 24,53).
 

Một nét khác đáng chú ý trong câu đầu của trình thuật là việc dùng tiếng Hy lạp "Hierosolyma" để chỉ thành thánh. Lc ít dùng chữ đó hơn các tác giả phúc âm khác. Tiếng ông quen dùng là tiếng "Hierousalêm", là chữ chỉ gặp được một lần nơi ba tác giả phúc âm khác, trong Mt 23,27 (ngược lại: 26 lần trong Lc và 39 lần trong Cv). Hình như Lc dùng chữ "Hierousalem" khi muốn nói đến ý nghĩa thần học của Thành, nghĩa là khi muốn nói nó đóng một vai trò rõ ràng trong lịch sử cứu rỗi mà Chúa Giêsu là trung tâm.
 

Luật trừ này còn củng cố luật chung không? Và phải chăng Lc muốn lưu tâm đến đền thờ hơn Giêrusalem ? Nếu có, thì tại sao ? Những phân tích sau đây sẽ trả lời. Một hiện tượng tương tự đã xảy ra trong trình thuật dâng Chúa Giêsu vào đền thờ (2,22tt). Trình thuật này là đoạn duy nhất (trong 6 đoạn của các chương 1-2) dùng chữ Hy lạp "Hierosolyma". Không phải chính trong đền thờ mà Simeon "đã được Thánh Thần thúc đẩy" (2,27) đi đến gặp Chúa Giêsu đang được cha mẹ bồng đến...để làm theo điều lệ Luật dạy" và loan báo "ơn cứu độ" (2,30) đã đến cho muôn dân sao?
 

Đàng khác, Lc 19,28-40 là dư âm của Lc 13,35: "Nhưng Ta bảo các ngươi, các ngươi sẽ chẳng thấy Ta cho đến khi các ngươi nói: "Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến". Câu này thật đáng lưu ý vì là câu kết luận lời than trách Giêrusalem ("Giêrusalem, Giêrusalem..."). Mt đặt lời than trách này (được kết thúc như nơi Lc bằng Thánh vịnh 118,26), ngay trước bài diễn từ cánh chung, nghĩa là sau việc tiến vào thành Giêrusalem (23,37-39). Bây giờ, cần phải rút tỉa mối tương quan giữa Lc 13,35 và Lc 19,28-40.
 

Câu 37 là một câu có nhiều chi tiết đặc biệt của riêng Lc. Trước hết, là việc nói đến núi Cây Dầu mà ông đã tiên báo trong c.29 (x. Mt và Mc song song): việc ghi lại địa danh này cho thấy một biến cố mới sắp bắt đầu. Cũng thế, động từ "đến gần" ("khi Ngài đã đến gần", eggizontos de autou) cũng chỉ là lặp lại của c.29 ("khi Ngài đã tới gần" hôs êggisen).
 

Thành ngữ "tất cả đoàn lũ" (hapan to plêthos) cũng đặc biệt thuộc về Lc. Từ ngữ "đoàn thể các môn đồ" (to plêthos tôn mathetôn) trong Cv 6,2 được dùng để chỉ cộng đoàn Kitô hữu. Liên quan giữa phác âm thứ ba và Cv rất hữu ích để hiểu rõ Lc 19,37. Thật vậy, trong toàn bộ tác phẩm Lc, Kitô học và giáo hội học xem lẫn nhau ở mỗi một trang, đến nỗi cần phải đọc Lc và Cv một lượt mới có thể hiểu rõ hệ thống các ý nghĩa tạo nên tác phẩm của ông. Như thế, người ta tự hỏi phải chăng trong Lc 19,37, "đoàn lũ môn đệ" đã không ám chỉ cộng đoàn tín hữu của dân TC mới, được Chúa Giêsu thành lập sao?
 

Động từ "ca ngợi" cũng là của riêng Lc. Mối liên lạc giữa động từ "ca ngợi" và "thấy" thật đáng lưu tâm; người ta còn thấy liên lạc này nơi khác, chẳng hạn trong Lc 2,20; 18,43 và Cv 3,9. Bảng sau đây nêu lên tương quan mật thiết giữa bốn bản văn:

 

Lc 2,20 Lc 18,43

Lc 19,37

Cv 3,9

Các mục dồng Toàn dân (1)

(1)

Đoàn lũ môn

đồ (1)

Toàn dân (1)

tôn vinh và thấy vậy (4)

bắt đầu…

thấy nó đi (4)

ca ngợi (2) ngợi khen (2)

ca ngợi (2)

và ngợi khen

(2)

Thiên Chúa Thiên Chúa (3)

(3)

Thiên Chúa (3)

Thiên Chúa (3)

vì mọi điều

vì mọi phép lạ

đã được nghe

họ đã được

thấy (4)

thấy




Mỗi đoạn đều được kết cấu bởi bốn yếu tố giống nhau: chủ từ (1) thay đổi nhưng có một chủ từ được lặp lại (Lc 18 và Cv) mỗi khi nói đến việc chữa bệnh: "toàn dân"; một đối tượng không thay đổi: "TC" (3); một hoạt động (2): "Ngợi khen" (TC); và một động lực (4) diễn tả qua động từ "thấy" (những công việc của TC). TC là đối tượng của lời ngợi khen, và vì các sự nghiệp vĩ đại Ngài thực hiện, Ngài cũng là nguồn mạch và nguyên nhân của việc ngợi khen đó.
 

Như thế, theo nhãn giói của Lc, Chúa Giêsu và các tín hữu liên đới với số phận Ngài đã không muốn vào Giêrusalem như một ông vua vì những hoài bão trần tục. Vì vậy, người ta hiểu được lý do tại sao Lc đã bỏ việc tiến vào thành Giêrusalem và qua đó ông đã làm nổi bật việc tiến vào đền thờ, nơi cư ngụ của TC; và hiểu được tại sao Tv 118,26 ("chúc tụng Đấng...") được trích ra ở đây lần thứ hai và lần cuối cùng khác hẳn với Mt. Tiếng "cho đến khi" của Lc 13,35 đã đạt đến mục đích và cao điểm của nó ở đây rồi.
 

2. Những nhân vật của một phụng vụ thiên quốc
 

Câu 38 với công thức "Ngài là Vua" (ho Basileus), chắc chắn là chìa khóa để hiểu đoạn này. Ý nghĩa và tầm quan trọng của tước hiệu này - khác hẳn nơi Mt, Mc và Ga - được hiểu nhờ câu 37 (đã được phân tích) và câu 38b: "Bình an rên trời và vinh quang trên chốn cao vời". Tính cách song song đối với Lc 1-2 ở đây còn rõ ràng hơn nữa:

Lc 2,13-14

Lc 19,37-38

Đoàn lũ (plêthos) cơ binh

Đoàn lũ (plêthos)

trên trời…

môn đồ…

Vinh quang Thiên Chúa

Bình an trên trời

trên trời cao thẳm

bình an dưới đất

và vinh quang trên

cho kẻ người thương

chốn cao vời



Đầu đời cũng như cuối đời Chúa Giêsu, khung cảnh đều như nhau. Chắc chắn có tương quan giữa "đoàn lũ (plêthos) cơ binh trên trời" và "đoàn lũ (plêthos) môn đồ"; trong cả hai trường hợp, người ta đang đứng trước các nhân vật của một phụng vụ thiên quốc. Ngoài ra, Lc là tác giả phúc âm duy nhất đã loại bỏ chữ "Hosanna" trong trình thuật tiến lên Giêrusalem (19,38) như để tránh những gì có thể gợi lại những cuộc hành hương trần tục và những âm hưởng chính trị. Nhưng qua những dấu chỉ cho thấy mối liên hệ giữa hai bản văn này ("vinh quang... trên các tầng trời") cần phải để ý những gì tạo nên sự khác biệt giữa hai bản văn. Một bên, "bình an dưới đất" (2,14), một bên, "bình an trên trời" (19,38). Trong động lực duy nhất mạc khải vinh quang TC, người ta thấy hai chuyển động tự hạ và nâng lên. Cũng thế, "TC" (2,14) nhường chỗ của ngài cho "Vua" (trong 19,38): đây là một thay đổi tất có ý nghĩa. Cũng vậy, những lời chúc tụng và vinh quang đi từ miệng các thiên thần (2,14) sang miệng "các môn đệ" (19,38); qua sự kiện này, các môn đệ vừa thay thế mục đồng, vừa thay thế các thiên thần. Xa nhau khi Chúa Giêsu tự hạ sinh ra ở Belem, hai loại người này giờ đây, lúc Ngài được nâng lên, nối kết thành một, thành "đoàn lũ môn đệ", nghĩ là, như trong Cv 6,2, các tín hữu của Chúa Giêsu Kitô. Bảng sau đây nêu rõ các yếu tố này:

 

Lc 2,14.20

Lc 19,37-38

Cơ binh trên trời (c.14)

Đoàn lũ môn đệ (c.37)

* vinh quang trên trời cao thẳm

* thấy hết các phép lạ

/ Thiên Chúa

* bình an dưới đất cho người

* ngợi khen Thiên Chúa

Các mục đồng (c.20)

Đoàn lũ môn đệ (c.38)

* thấy mọi điều

* vinh quang trên chốn cao vời

/ Vua

* ngợi khen Thiên Chúa

Bình an trên trời




Văn mạch của đoạn Lc 19,28-40 có liên hệ đến bản văn diễn tả lại cách độc đáo việc tiến vào thành Giêrusalem đó. Câu 28 ("Nói thế rồi...") liên kết trình thuật này với dụ ngôn các Yến bạc (19,11-27) là dụ ngôn riêng của phúc âm thứ ba. Lời nhập đề của dụ ngôn này cho thấy dụ ngôn muốn diễn tả một cách ẩn dụ (allégoriquement) việc Chúa Giêsu Kitô được nâng lên (c.12), biến cố mà trình thuật Lc về việc tiến vào (hay đúng hơn: việc - không - tiến - vào) Giêrusalem không còn là lời ẩn dụ (allégorie) mà là trình thuật tiên báo, tiên báo việc nâng lên đích thật của ngày phục sinh.

 

Bản Pháp ngữ của André Paul,

Assemblées du Seigneur số 19.


Noel Quession - Chú Giải

CHÚA NHẬT LỄ LÁ

Lc 22,14-23,56
 

Khi đề cập đến Cuộc Thương khó, cả bốn Tin Mừng, thường rất khác biệt nhau, lại ăn khớp với nhau trên tổng thể diện tiến. Tuy nhiên, vẫn là hữu ích khi nhấn mạnh đến những gì mà mỗi soạn giả muốn làm nổi bật. Hơn các thánh sử khác, Luca nhấn mạnh đến vẻ thanh thản kỳ diệu của ông Thầy và gợi lên một thái độ của "môn đệ" mà ta có thể dùng để suy niệm. Đó là hai điểm nổi bật mà chúng sẽ cố gắng đào sâu.
 

Thầy những khát khao mong mỏi ăn lễ Vượt Qua này với anh em trước khi chịu khổ hình. Bởi vì, Thầy nói cho anh em hay, Thầy sẽ không bao giờ ăn lễ Vượt Qua này nữa cho đến khi lễ này được tên trọn vẹn trong nước Thiên Chúa... Rồi Người lấy chén, dâng lời tạ ơn. Rồi Người cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn ! Đây là Mình Thầy hy sinh vì anh em... Chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em... Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy.
 

Đây là bữa ăn cuối cùng của Đức Giêsu tại trần gian.
 

Người biết điều đó. Người nói lên điều đó. Do đó, ta không thể không ghi nhận sự bình an tuyệt vời trong tâm hồn Đức Giêsu vào hôm trước ngày Ngài biết phắc mình sẽ phải chết!
 

Đức Gìêsu muốn sống cái chết của Người trong tâm hồn, trước khi nó xảy đến nơi thân xác. Đó là ý nghĩa của cử chỉ tượng trưng trên, của bữa tiệc ly. Có thể nói, Người đã thực hiện cái chết của Người trước. Người đã đặt nó trên bàn ăn, như bánh miến và rượu nho được trao hiến cho những kẻ Người thường yêu. "Này là Mình Thầy, hy sinh vì . . . Này là Máu Thầy, sẽ đổ ra . . . " .Thực vậy, ngày mai Máu Người sẽ lìa khỏi thân Người, như chiều nay bánh và rượu tách rời nhau.
 

Ngay từ chiều hôm trước, Đức Giêsu sống cái chết.
 

Người cách ý thức và tự do. Người diễn tả cái chết như một thứ của ăn dưỡng nuôi cho những người đang cần đến để sống.
 

Đức Giêsu biểu lộ hai tình cảm chứng tỏ tinh thần tự chủ của Nói thật phi thường :
 

Người bước vào tiến trình dẫn tới cái chết một cách hăng say : "Thầy khát khao mong mỏi..."
 

Người đương đầu với cái chết trong một niềm vui mừng ngược đời : "Người dâng lời tạ ơn". Thái độ này, được lặp lại hai lần, mang một tính chất rất đặc biệt : "dâng lời tạ ơn", nói "lời cám ơn" (tiếng Hy Lạp là 'reucharistia"). Những "cử hành Thánh Thể" của chúng ta chỉ là sự kéo dài của việc mà Đức Giêsu đã làm chiều hôm đó. "Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy".
 

Cách đương đầu với cái chết như thế, thật là vô cùng hữu ích cho chúng ta. Thực vậy, trong mọi hành vi của con người, cái chết là hành vi đăt vấn đề một cách triệt để nhất. Mọi hành vi khác (làm việc, ăn uống, chơi đùa, đọc, yêu. . . ) có thể tự chúng có một ý nghĩa không cần phải nhờ Thiên Chúa can thiệp. Nhưng chết là một hành vi chỉ mang một ý nghĩa, nếu Thiên Chúa hiện hữu. Không có Thiên Chúa, cái chết là sự kết thúc mọi sự. Thế nên, trong thân phận con người, Đức Giêsu thực sự là kẻ đã coi Thiên Chúa là nguyên nhân, đã hoàn toàn phó thác đời Người nơi Thiên Chúa. Vì thế, Người đã biến cái chết của Người trở thành hành vi cô đọng nhất trong suốt đời sống làm người của Người. Chiều hôm đó, Người đã nói, cái chết của Ngài, là khởi đầu cho "Triều đại Thiên Chúa", cho Nước Thiên Chúa. Trong lúc đó, Đức Giêsu đã hướng tới "ngày hoàn tất", ngày mà Thiên Chúa sẽ hoàn toàn thống. trị, bởi vì sẽ không còn đau khổ không còn chết chóc nữa.
 

Ta cũng hiểu được rằng, đối với Đức Giêsu, cái chết của Người không thể là một điều trống rỗng, tiêu cực, vô ý nghĩa : Người đã biến cái chết thành cuộc "'Vượt qua trở về với Chúa Cha" . Va do ad Patrem. . . Thầy sẽ về cùng Cha. . Thầy sẽ về với Tình yêu của Thầy... ôi, lạy Chúa Giêsu, vào giờ giây phút đó đến với con, xin giúp con sống cái chết của con với thái độ thanh thản như thế.
 

Vua của các dân thì lấy quyền mà thống trị dân... Anh em thì không như thế trái lại, kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ...Thầy đây Thầy sống giữa anh em như một người phục vụ.
 

Với một cách khác, Đức Giêsu còn nêu lên ý nghĩa cái chết của Người sẽ xảy ra ngày mai : Người là kẻ phục vụ mọi người và Chúa Cha . . . Người yêu chuộng. . . hiến dâng.
 

Chiều hôm đó, mười hai con người đáng thương ngồi vào bàn ăn. Dù không hay biết, nhưng họ đang là mầm mống của một nhân loại mới. Một cuộc mạo hiểm mang tính lịch sử đang bắt đầu. Đó là một trật tự mới, một xã hội mới, mà Đức Giêsu mô tả như là "sự đảo ngược" thế gian. Người nói, trong thế gian, người đứng đầu sẽ thống trị. Nơi anh em thì không thư thế ? Chính những kẻ nghèo hèn lại đồng bàn với Đức Giêsu. Vì thế, toàn thể xã hội loài người thực sự sẽ bị đảo lộn bởi họ : Đó là cuộc cách mạng của tình yêu phục vụ ? Khả năng duy nhất có thể làm cho một thế giới công bằng hơn trong tương lai, đó là thái độ mới mà Đức Giêsu đã cổ vũ như trên : Đừng thống trị nhưng phục vụ . . Và toàn thể cuộc Thương khó của Người sẽ là mô hình cho người nào muốn yêu thương "như Thiên Chúa yêu đến tận cùng!
 

Simon ơi, kìa Xa-tan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo. Nhưng Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin. Phần anh, một khi đã trở lại hãy làm cho các anh em của anh nên vững mạnh…Này anh Phêrô, Thầy bảo cho anh biết, hôm nay gà chưa kịp gáy, thì đã ba lan anh chối là không biết Thầy.
 

Nếu Đức Giêsu có báo trước, người bạn của mình là Phêrô sẽ chơi Người, thì chính là để tố giác kẻ phạm tội đích thực : Xa-tan ! Xa-tan đã xin được sàng anh em ! Nhưng đồng thời, Đức Giêsu cung loan báo, Người sẽ chiến thắng ơn tha thứ đã được trao ban , trước khi tội lỗi xảy ra. Phêrô được tha thứ trước khi chối Thầy cách hèn nhát : "Thầy đã cầu nguyện cho anh... phần anh, một khi đã trở lại hãy làm cho các anh em của anh nên vững mạnh..."
 

Rồi Người đi ra núi Ô liu như đã quen. Các môn đệ cũng theo Người. Đến nơi, Người bảo các ông : "Anh em hãy cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ". Rồi Người đi cách các ông một quãng, chừng bằng ném một hòn đá, và quỳ gối cầu nguyện rằng : "Cha ơi, nếu Cha muốn, xin tha cho con khỏi uống chén này. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, mà xin theo ý Cha.. Và mồ hôi Người như những giọt máu rơi xuống đất".. Cầu nguyện xong, Người đứng lên, đến chỗ các môn đệ, thấy các ông đang ngủ vì buồn phiền, Người liền nói với các ông : "Sao anh em lại ngủ ? Dậy mà cầu nguyện, kẻo sa chước cám dỗ".
 

Cầu nguyện. Bốn làm được nhắc đến. Đức Giêsu cầu nguyện. Nhờ đó, Ngài tìm được cho mình mọi xác tín, mà đối với ta chúng có thể gây ngỡ ngàng. Nhờ cầu nguyện, Đức Giêsu kín múc được sự thanh thản siêu phàm mà Người sắp chứng tỏ. Nếu năm nay, ta chấp nhận theo Luca trong hướng suy tư của ông, thì không phải âu lo lúc hấp hối sẽ bao trùm Ghếtsêmani, nhưng đó là sự "thanh bình" của một người, luôn biết rằng mình sắp phải chết, nhưng được Thiên Chúa yêu thương. Việc ghi nhận sự kiện Thiên sứ đến tăng cường sức mạnh cho Đức Giêsu, (chỉ thấy trong bản văn của Luca) cũng muốn diễn tả theo ngôn ngữ kinh thánh về sự có mặt của thế giới thần linh. Vâng, Thiên Chúa đang ở đó, bên cạnh tôi, khi tôi đau khổ. Bình an biết bao ! Vui mừng biết bao !
 

Trong nhà vị thượng tế, bên ánh lửa, một người tớ gái nhìn Phêrô chòng chọc và nói : Cả bác này cũng ở với ông ấy đấy !". Ông liền chối : "Tôi có biết ông ấy đâu, chị !". Chừng một giờ sau, ông chối Đức Giêsu lần thứ ba.
 

Ngay lúc ông còn đang nói, thì gà gáy. Chúa quay lại nhìn Phêrô. Phêrô sực nhớ lời Chúa đã bảo ông... ông ra ngoài, khóc lóc thảm thiết.
 

Trong cảnh này cũng vậy, Luca là người duy nhất trong bốn Thánh sử đã ghi lại cái nhìn của Đức Giêsu trên Phêrô. Tin Mừng, đúng là Tin Vui về lòng xót thương. Khi tôi phạm tội, Đức Giêsu không kết án tôi. Người nhìn tôi với lòng âu yếm. Và mọi người, nếu chấp nhận cái nhìn đó, đều được "cứu thoát" khỏi mọi phản bội, mọi tội lỗi của mình.
 

Xét xử theo tôn giáo.
 

Trước Thượng Hội đồng, biên bản hỏi cung ; "ông có phải là Đấng Mêsia, thì nói cho chúng tôi biết ?" - "Từ nay Con Người sẽ ngự bên hữu Thiên Chúa toàn năng" – 'Vậy ông là Con Thiên Chúa sao ?".
 

Trong các dự kiến lịch sử đã nhận được từ truyền thống, Luca đã tuyển chọn và làm nổi bật ba tước hiệu sau đây của Đức Giêsu:
 

"Đấng Mêsia" : tước hiệu hàm hồ. Đức Giêsu không thích dùng vì dễ gây âm vang chính trị.
 

"Con Người" : tước hiệu trong Kinh thánh, rút ra từ sách Đa-ni-en, được Đức Giêsu ưa thích hơn cả.
 

"Con Thiên Chúa" : tước hiệu được Đức Giêsu chấp nhận, không phải do chính Người tuyên bố, nhưng do phía những kẻ tin nói' Người vì những công việc của Thiên Chúa mà Người đã thực hiện... Cuộc Phục Sinh của Người sẽ gắn bó tước hiệu cuối cùng này vào trong lòng tin một cách rạng rỡ. Việc , xử án đó không chỉ là một vụ việc như những vụ việc, được ghi đầy dấy trên báo chí mỗi ngày. Cũng không chỉ ,là việc bắt giữ, kết án không chút rầm rộ một con người vô danh tiểu tốt, xuất thân từ một làng quê tối tăm miền Galilê . Đây chính là cuộc "Xét xử Thiên Chúa". Một cuộc xử thường xuyên. Con người tin rằng mình có thể lên án tử hình cho Thiên Chúa . . . Ngày nay cũng như khi xưa.
 

Nhưng Đức Giêsu biết rõ mình sẽ "ngự bên hữu Thiên Chúa toàn năng". Chúng ta đừng hạ thấp Cuộc Thương khó xuống mức độ nhân loại nhỏ bé của chúng ta. Vụ việc không nằm trong phạm vi tâm lý hay xã hội.
 

Xét xử theo dân sự:
 

Trước Philatô, biên bản hỏi cung : "ông là vua dân Do Thái sao?" - "Chính Ngài nói đó". . . Ta xét thấy người này không có tội gì.
 

Trong cuộc xét xử này, Luca đã ba lần nhấn mạnh đến tính cách vô tội của bị báo. "Không có cớ nào để kết tội" (Lc 23,4-14-22) : Phiiatô, tổng trấn Roma, người dân ngoại, thẩm phán công minh... đứng ngoài những cuộc tranh chấp tôn giáo của người Do Thái, đâ phán quyết như vậy.
 

Đó cũng thường là phán quyết của nhiều người. Hôm nay, ít là đối với mọi người không thiên kiến Người ta cảm phục Đức Giêsu như "con người" : đó là một người vô tội mà người ta đã đánh đòn. Nhưng người môn đệ đích thực không thể bằng lòng với điệu đó…
 

Khi điệu Đức Giêsu đi họ bắt một người từ miền quê lên, tên là Simon, gốc Ky-rê-nê, đặt thập giá lên vai cho ông vác theo sau Đức Giêsu. Dân chúng đi theo Người đông lắrn, trong số đó có nhiều phụ nữ vừa đấm ngực vừa than khóc.
 

Đó là thái độ của người môn đè đích thực! Trước "sự kiện – Giêsu", ta không thể giữ thái độ trung lập, hay chỉ động lòng thương cách đa cảm trước những cuộc tra tấn Người chịu. "Đừng khóc thương tôi" : Đức Giêsu đã nói với các phụ nữ than khóc bên lề đường. Tôi đứng về phía nào? Tôi có lập trường ra sao? Tôi có "vác thập giá" cùng với Đức Giêsu không?
 

Trên thập giá, Đức Giêsu cầu nguyện rằng : "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm". Người nói với tên gian phi, chịu đóng đinh với Người : "Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng".
 

Vâng, đó là một cái chết an bình. Theo Thánh Luca, Đức Giêsu đã kết thúc cuộc đời trần gian của Người trong một lời cầu nguyện liên tục, trong một cuộc đàm đạo dịu dàng và thân mật với Tình Yêu của Người, với Chúa Cha.
 

Chúa Cha . . . thiên đàng. . . Chúa Cha . . . ơn tha thứ được trao ban cho mọi người, kể cả những người có ý định "giết Thiên Chúa mà không biết việc họ làm. . . ơn cứu rỗi đời đời được hiến tặng cho mọi người, kể cả những kẻ gian phi... Hoan hô Tình Yêu ! Vạn tuế Thiên Chúa. Sự dữ sẽ thất bại?
 

Chắc chắn như thế! Vui mừng biết bao! Thập giá, đó là dấu chỉ rực sáng, đó là mạc khải cao cả về Thiên Chúa.
 

Tất cả những người đã tụ tập đông đảo để xem cảnh tượng đó đều đấm ngực trở về nhà.
 

Cuộc Thương Khó của Đức Giêsu bắt đầu đơm hoa kết trái.

Lm Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc - Bài Giảng Lễ


 

Chúa Nhật Lễ Lá

Rước Lá

Lc 19,28-40


Anh chị em thân mến,

 

Với Chúa Nhật Lễ Lá hôm nay, Tuần Thương Khó đẵ bắt đầu. Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem để hoàn tất mầu nhiệm Vượt Qua đem lại ơn cứu độ cho loài người.
 

Bề ngoài, cuộc tiến vào thành Giêrusalem giữa tiếng tung hô của đám đông dân chúng nô nức phất cao cành lá : "Hoan hô Con Vua Đavít" có vẻ là một cuộc toàn thắng vang dội. Nhưng thực ra, đây là một cuộc mở màn Thương Khó mỉa mai nhất và có lẽ cũng là giai đoạn bi thương nhất của cuộc Thương Khó. Bởi vì Chúa biết rõ rằng trong niềm phấn khởi chóng qua của dân chúng, đã chứa chất một sức phản bội sẽ bùng nổ dữ dội trước mặt Tổng trấn Philatô trong tiếng kêu gào với những bàn tay nắm chặt đưa lên : "Đả đảo ! Đóng đinh nó vào Thập giá".
 

Thưa anh chị em,
 

Rước lá đi theo Chúa Giêsu trong vài giờ không phải là một điều khó khăn lắm. Đi theo Chúa giữa lúc Ngài đã bị mọi người bỏ rơi và lên án, điều đó khó hơn nhiều. Tin Mừng không thấy nói đến một ai dám lên tiếng bênh vực cho Chúa Giêsu vào lúc đó, mà chỉ thấy lên tiếng đòi phóng thích cho tên đạo tặc Baraba mà thôi.
 

Nếu kitô hữu được định nghĩa là người đi theo Chúa Giêsu, thì chắc chắn chúng ta sẽ có lúc nghiệm thấy nỗi khó khăn khi phải đến nơi mà mình không muốn đến. Con đường bước theo Chúa có lúc vui, lúc buồn. Chúng ta phải có mặt ở trong đám đông hoan hô Chúa khi vào thành và cũng không được vắng mặt khi Ngài hấp hối trên thập giá.
 

Thử hỏi : nếu tôi là người đương thời có liên quan đến vụ án Chúa Giêsu, tôi sẽ đứng trong nhóm người nào ? và với thái độ nào ? Phải thú nhận rằng, tôi không dễ gì làm như ông Simon thành Syrênê được đâu. Ông đã vác thập giá đỡ Chúa Giêsu. Nhưng cũng đừng vội quả quyết rằng, tôi không thể đứng về phía đám quần chúng đả đảo Chúa, không thể là Phêrô chối Chúa, hoặc là nhóm tông đồ trốn chạy, hoặc là Philatô lên án người vô tội, hoặc là đám quân lính đánh đòn và đóng đinh Chúa.
 

Trái lại, kinh nghiệm bản thân tôi cho thấy rõ rằng tôi rất yếu đuối, dễ đứng về phe kẻ mạnh thế, không dám can đảm bênh vực công lý và dễ trung thành với Chúa trên môi miệng cũng như khi mọi sự đều xuôi chảy, nhưng lại phản bội Chúa dễ dàng trong hành động cụ thể, tương tự hành động của Giuđa. Thật vậy, chúng ta không ai vô tội trước cái chết của Con Thiên Chúa. Ngài vẫn còn hấp hối cho đến ngày tận thế.
 

Anh chị em thân mến,
 

Trong những ngày thánh nầy, chúng ta hãy tìm thời giờ đọc lại chậm rãi cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Hãy bước theo Chúa qua từng chặng đường, từ tòa đạo đến tòa đời, và hãy ở lại thật lâu trên Núi Sọ. Đừng theo Chúa như một người lạ quay video cho đám tang, bởi lẽ mọi sự Chúa chịu là vì chúng ta và cho chúng ta. Hãy để cho tâm tình, lời nói và hành động của Chúa Giêsu thấm nhuần và biến đổi chúng ta.
 

Trong cuộc khổ nạn của Chúa, chúng ta bắt gặp rất nhiều tình huống tăm tối của đời thường : vu khống, phản bội, ghen tương, bất công, nhục nhã, đau khổ, sợ hãi, cô đơn, hèn nhát, cái chết. Nhưng trên hết, chúng ta bắt gặp một tình yêu. Tình yêu vô cùng lớn của Chúa Giêsu đối với Cha và nhân loại. Chỉ có tình yêu mới làm cho mọi khổ đau có giá trị cứu độ. Vậy chúng ta hãy cảm nếm thật sâu nỗi khổ đau thân xác và tinh thần của Chúa Giêsu, nhưng đừng quên nhận ra tình yêu bao dung nằm ẩn dưới từng phản ứng của Ngài. Ước gì chúng ta có thể đón nhận những gai góc của cuộc đời với thái độ của Chúa Giêsu. Càng suy niệm về cuộc khổ nạn, chúng ta sẽ thấy mình càng yêu thánh giá của Chúa hơn, yêu thánh giá của mình hơn và kính trọng thánh giá của người khác hơn.
 

BÀI THƯƠNG KHÓ
 

Đám đông dưới chân thập giá

Lc 22,14-23,56
 

Một trong những bức tranh nổi tiếng nhất của danh họa Rembrandt, người Hòa Lan, sống vào thế kỷ 17, đó là bức tranh "Ba Thập giá".

 

Nhìn vào tác phẩm, ai cũng bị thu hút ngay vào trung tâm : giữa thập giá của hai người bất lương, thập giá của Chúa Giêsu trổi lên một cách ngạo nghễ. Dưới chân thập giá là cả một đám đông mà gương mặt nào cũng biểu lộ hận thù oán ghét… Tác giả như muốn nói rằng : không trừ một người nào mà không dính líu vào việc đóng đinh Chúa Giêsu.
 

Nhìn kỹ vào đám đông, người ta thấy có một gương mặt gần như mất hút trong bóng tối, nhưng một vài nét cũng đủ để cho các nhà chuyên môn chuẩn đoán rằng đó chính là khuôn mặt của danh họa Rembrandt (Tác giả của bức tranh).
 

Tại sao giữa đám đông của những kẻ đằng đằng sát khí khi tham dự vào cuộc thảm sát Chúa Giêsu, Rembrandt lại chen vào khuôn mặt của mình ? Câu trả lời duy nhất mà người ta có thể đưa ra để giải thích về sự hiện diện của tác giả giữa đám người lý hình : đó là ý thức tội lỗi của chính ông. Rembrandt muốn thú nhận rằng : chính tội lỗi của ông đã đóng góp vào việc treo Chúa Giêsu lên thập giá. Và qua sự có mặt của ông, tác giả cũng muốn nói rằng, họ cũng dự phần vào việc đóng đinh Chúa Giêsu.
 

Thưa anh chị em,
 

Dưới cái nhìn lịch sử thì quả thực cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá là hành động tội ác của những người Do Thái và La Mã cách đây 2000 năm. Phêrô đã chối bỏ Ngài. Philatô đã rửa tay để chối bỏ trách nhiệm của ông. Những người Do Thái đã cuồng tín kêu gào đóng đinh Ngài vào thập giá. Các binh sĩ La Mã đã đánh đập, hành hung Ngài và cuối cùng treo Ngài lên thập giá.
 

Nhưng dưới cái nhìn của người có niềm tin, thì cái chết của Đức Kitô trên thập giá là một Mầu Nhiệm. Mầu nhiệm, bởi vì chúng ta không thể hiểu được tại sao Con Một Thiên Chúa đã phải trải qua một thân phận đớn đau như thế ? Mầu nhiệm, bởi vì một cách nào đó, người có niềm tin cũng cảm thấy mình đã thực sự tham dự vào việc đóng đinh ấy. Chúng ta tuyên xưng rằng Ngài đã chịu đóng đinh vì chúng ta và để cứu rỗi chúng ta, nghĩa là chính do tội lỗi của chúng ta mà Ngài đã phải bị treo trên thập giá. Tội lỗi của chúng ta ngày nay, cho dầu cách xa 2000 năm, vẫn là một chối bỏ, một tiếng reo hò, một sĩ vả hoặc chính một cái đinh đóng vào thân thể Ngài…
 

Nhưng Chúa Giêsu mời gọi chúng ta nhìn lên thập giá của Ngài. Nhìn lên thập giá của Ngài để thấy được án phạt của tội lỗi. Nhìn lên thập giá của Ngài để thấy được tình yêu bao la của Chúa. Phải, bên kia sự độc ác của tội lỗi, Chúa Giêsu chỉ muốn chúng ta nhìn thấy được tình yêu của Thiên Chúa : một tình yêu không ngừng tha thứ, một tình yêu vượt lên trên mọi tư tưởng, mọi tiêu chuẩn phán đoán, mọi khát vọng của chúng ta.
 

Nhìn lên thập giá Chúa không phải để thất vọng vì gánh nặng của tội lỗi, mà trái lại để cảm nếm được hồng ân bao la của Chúa, để cho tâm hồn được phấn khởi, tin yêu hơn…
 

Nhìn lên thập giá Chúa để cảm nếm được ơn tha thứ của Ngài. Chúng ta cũng được mời gọi để cảm thông, để tha thứ hơn đối với người anh em của chúng ta. Càng nhận ra được tình yêu tha thứ của Chúa, chúng ta càng được mời gọi để tha thứ nhiều hơn. Càng tha thứ nhiều hơn, chúng ta càng dễ cảm nếm được ơn tha thứ của Chúa hơn.
 

Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng - Bài Giảng Lễ


Sự Điên Dại của Tình Yêu


 

Với Chúa nhật lễ lá, chúng ta bước vào tuần Thánh cử hành màu nhiệm Vượt Qua, bằng một cuộc rước trọng thể tưởng nhớ đến cuộc khải hoàn vào Giêrusalem của Chúa Giêsu Kitô.
 

Chúa Giêsu tiến vào Giêrusalem như với tư cách một Vị Vua được dân chúng tiếp rước long trọng để rồi sau đó lại là khổ hình Thập giá, là án tử hình nhục nhã. Tất cả thật khó hiểu, thật nhiệm màu. Tất cả chỉ nói lên một điều rất đơn giản đó là chặng đường lên đến đỉnh cao của tình yêu Giêsu. Một tình yêu cứu độ, một tình yêu dám chết cho người mình yêu.

I. Tìm Hiểu Lời Chúa
 
1. Bài đọc I : Is 50, 4-7

Bài Ca Của Người Tôi Tớ Đau Khổ
 

Bản văn trích trong sách Tiên Tri Isaia này được gọi là : 'bài ca của Người Tôi Tớ đau khổ'. Bản văn giúp chúng ta mặc lấy tâm tình của của Đức Kitô trong cuộc thương khó của Người : đau khổ, muộn phiền, cô đơn nhưng đồng thời lại can đảm không bị khuất phục, vẫn vui nhận khổ đau vì tin vào Thiên Chúa.
 

1. Bản văn này là Bài ca thứ ba về Người Tôi Tớ Đau Khổ. Trong Isaia có bốn bài ca về Người Tôi Tớ : 42, 1-4; 49, 1-6; 50, 4-9 và 52, 13-53, 12. Bốn bài này trình bày dung mạo của một Người Tôi Tớ trọn hảo của Thiên Chúa : Qui tụ dân Chúa, rao giảng lòng tin đích thực, chịu đau khổ, chịu chết để xóa tội lỗi của dân và đựơc Thiên Chúa tôn dương.
 
2. Trong bài ca thứ ba này, Tiên Tri Isaia nói về một người Tôi Tớ của Thiên Chúa bất chấp những sự quấy rầy, những sự tra tấn vẫn luôn trung thành với sứ mạng của mình và trung tín với Thiên Chúa.
 
3. Đức Giêsu đã đón nhận nơi Người những bản văn về Người Tôi Tớ này ( Lc 22, 19-30; Mc 10, 45). Giáo Hội sơ khai đã nhận ra nơi Đức Giêsu Người Tôi Tớ đau khổ trọn hảo đựơc Isaia loan báo ( Mt 12, 17-21; Ga 1, 29)
2. Bài đọc II : Pl 2, 6-11

Sự Tự Hạ Và Tôn Vinh Của Đức Giêsu Kitô
 

Sự tự hạ cùng cực và tôn vinh khải hoàn đó là hai sự tương phản nhau của bài thánh thi ca ngợi vinh quang của Đức Kitô mà Thánh Phaolô đã gợi lên trong lá thư gửi tín hữu Philipphê.
 

1. Có những sự tranh chấp và ghen ghét nổ ra trong lòng cộng đoàn Philipphê, để chấm dứt tình trạng này Thánh Phaolô nêu mẫu gương của Đức Kitô, Đấng đã vâng lời Chúa Cha hạ mình cho đến độ chết nhục nhã trên thập giá. Vì thế nên, mọi người phải biết sống khiêm nhu tự hạ như Người để biết tôn trọng và biết sống vì nhau.
 
2. Thánh Tông Đồ trình bày sự tự hạ ( Kénosis) của Đức Giêsu thật ngắn gọn nhưng nói lên đầy đủ màu nhiệm Nhập Thể và Cứu Độ của Người. Người hạ mình chấp nhận đau khổ và chết vì tình yêu vâng phục Chúa Cha. Chính sự tự hạ này mà Chúa Cha đã siêu tôn Người, cũng nhờ đó mà con người được cứu độ.
 
3. Màu nhiệm tự hạ nơi Đức Giêsu cũng chính là đường lối mà Thiên Chúa muốn cho con người đi vào để được chia sẻ vinh quang của Đức Giêsu Kitô. Chúng ta phải yêu mến vâng lời Thiên Chúa, Cha chúng ta; phải biết can đảm đón nhận trong tình yêu những đau khổ, thử thách vì anh em và phải biết khiêm nhu tự hạ phục vụ mọi người bằng lòng mến chân thành.
 
3. Tin mừng : Lc 22, 14 – 23, 56

Cuộc Thương Khó Của Chúa Giêsu Kitô
 

Tất cả bốn Tin mừng đều trình thuật lại cuộc thương khó của Chúa Giêsu Kitô. Tuy nhiên, mỗi bản văn lại có những góc nhìn và những sắc thái riêng. Thánh Luca nhấn mạnh đặc biệt đến:
 

1. Lòng nhân từ tốt lành của Chúa Giêsu : đón nhận kẻ phản bội, tha thứ cho Phêrô, an ủi những người phụ nữ, cầu nguyện cho những người giết mình.​
 
2. Vai trò hy sinh chuộc tội của Người : Mang trên mình tất cả mọi tội lỗi của nhân loại, Người không tránh né đòn roi và khổ đau. Đã vui lòng đón nhận và hy sinh vì tình yêu. Cuộc thương khó của người trở nên chiến thắng và là nguồn mạch ơn cứu độ.
 
3. Kitô hữu chúng ta cũng được mời gọi dấn thân đi vào cuộc thương khó của Chúa Giêsu bằng việc vác thập giá mình theo Người vì yêu. Cuộc thương khó của Chúa Giêsu đã và đang cần đựơc tiếp nối nơi mỗi người để ơn cứu độ của Người tiếp tục tuôn đổ trên con người và thế giới hôm nay.
 
II. Gợi ý Suy Niệm
 
1. Đức Giêsu Kitô đã đau khổ. Đau khổ cùng cực !
 
Ngày lễ Lá chúng ta kỷ niệm việc Chúa Giêsu tiến vào Giêrusalem trong vinh quang của một vị Vua. Người được dân chúng tung hô, ca tụng, chào đón nồng nhiệt. Nhưng trớ trêu thay chỉ ít ngày sau Người lại phải chịu biết bao đau khổ : bị bắt, bị môn đệ bỏ rơi, bị hành hạ, phải vác thập giá và chịu chết nhục nhã trên thập tự. Chính những người dân khi Người vào thành tung hô Người thì sau đó lại nghe lời kẻ xấu dật giây quyết tâm đóng đinh Người vào thập giá. Từ khi vào thành Giêrusalem cho đến khi trút hơi thở cuối cùng trên thánh giá Chúa Giêsu đã thực sự đau khổ, đau khổ đến cùng cực từ thể xác cho tới tinh thần. Nỗi đau thể xác vì đòn roi, vì vác nặng chắc không thể nào so với nỗi đau tinh thần. Trong vượn Cây Dầu Người đã phải thốt lên xin với Chúa Cha cất chén đắng, phải chăng vì quá đau khổ? Trên thập tự Người cũng đã phải thốt lên tiếng kêu rên xiết : Lạy Cha sao Cha bỏ con, phải chăng vì quá đau khổ? Vâng! Người quá đau khổ. Đau khổ vì lòng người thay đổi, đau khổ vì tội lỗi nhân loại.
 

Ngày nay Người vẫn tiếp tục chịu đau khổ vì lòng chúng ta chai đá, vì tội lỗi chúng ta phạm, vì sự đối xử ác nghiệt thiếu tình bác ái với anh em đồng loại. Chúa đã chấp nhận đau khổ đến cùng cực để mang lại hạnh phúc cho nhân loại. Ngày nay, Người mời gọi chúng ta cùng Người đón nhận khổ đau vì anh em. Người mời gọi chúng ta hãy mang niềm vui, hy vọng và hạnh phúc cho nhau. Người đã khổ rồi không muốn cho ai phải khổ nữa. Chúng ta hãy yêu thương nhau để không phụ sự hy sinh đau khổ của Người.
 

2. Đức Giêsu Kitô đã chết. Chết thay cho tất cả!

Thập giá và cái chết là đỉnh cao của đau khổ Chúa Giêsu phải chịu. Chính từ cái chết của Người mà sự sống đã tuôn đổ cho nhân loại. Không như những cái chết của mọi con người khác, những cái chết của huỷ diệt, hậu quả của tội lỗi, cái chết của Chúa Giêsu đành rằng về mặt thể lý cũng như bao cái chết khác nhưng sự chết của Chúa Giêsu là khởi điểm cho một cuộc sống mới, khởi đầu cho một sáng tạo mới. Từ đây, con người lại được khơi lên niềm hy vọng được sống và sống muôn đời. Tử thần đã hoàn toàn bị khuất phục, ơn cứu độ của Thiên Chúa đã hoàn tất và được trao ban cho nhân loại. Người đã thực sự chết một lần thay cho tất cả. Chính khi bị treo lên Người đã lôi kéo mọi người lên cùng Người, lên tận ngai Thiên Chúa Cha, để ở nơi đó con người tội lỗi phải chết lại đựơc tái sinh, được làm nghĩa tử của Chúa Cha, đồng thừa tự sự sống và vinh quang với Người.

Chúa Giêsu đã chết để cho chúng ta đựơc sống và sống dồi dào. Đến lượt chúng ta ngày nay không chỉ hưởng sự sống Người ban tặng mà con được mời gọi ban tặng sự sống ấy qua chính sự hy sinh, yêu thương phục vụ anh em khổ đau bên cạnh. Chúng ta được mời gọi đón nhận sự sống qua chính việc biết yêu thương tôn trọng sự sống của bản thân, biết quí trọng những phẩm giá làm người con Chúa mang trong mình sự sống bất diệt của Chúa Giêsu Kitô.
 

3. Đức Giêsu Kitô đã yêu. Tình yêu tuyệt đối !

Thập gía thể hiện trọn vẹn tình yêu của Chúa Giêsu dành cho nhân loại, một tình yêu dám chết cho người mình yêu. Một tình yêu lớn lao nhất như Người đã từng dạy, lời dạy của Người chính Người đã thực hiện cách trọn hảo. Đối diện với thập gía, một khổ hình thảm khốc, một khổ hình nhục nhã chỉ có thể yên lặng mà chiêm ngưỡng một tình yêu vĩ đại nhất. Làm sao lý giải nổi vì đâu mà một Vì Thiên Chúa lại có thể hạ mình đến độ như thế? Làm sao lý giải nổi vì sao thập giá lại trở nên một biểu tượng cao quí đến thế? Chỉ có thể lý giải bằng tình yêu, một tình yêu xem ra là điên dại trước mắt người đời. Một tình yêu dám chết cho người mình yêu mà lại chọn cái chết ô nhục, cái chết đớn đau. Có thể nói Chúa Giêsu yêu đến điên dại, đến si mê dại khờ chăng? Và tình yêu ấy nảy sinh tình yêu, nẩy sinh sự sống và hạnh phúc cho người mình yêu. Một tình yêu không trở lại với mình nhưng lại phát triển cùng khắp nhân loại, nối kết mọi cõi lòng, nối kết đất và trời.

Chúa Giêsu dạy phải yêu : Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy yêu anh em. Người đã thực hiện trọn vẹn lời dạy này trên thập giá. Mọi Kitô hữu ngày nay cũng phải sống tình yêu ấy, phải thực hiện bằng được lời dạy yêu thương của Người.
 

III. Lời Cầu Chung
 

* Lời Mở : Anh chị em thân mến, chúng ta bắt đầu bước vào Tuần Thánh, Giáo Hội mời gọi chúng ta tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa Giêsu Kitô, nhờ Người chúng ta đựơc cứu độ, trong tâm tình cảm phục chúng ta cùng dâng lên Chúa những lời cầu xin.
 

1. Toàn thể Giáo Hội sắp sống lại cuộc khổ nạn của Đức Kitô. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi thành phần dân Chúa biết sống màu nhiệm khổ nạn của Chúa mỗi ngày với tất cả lòng sốt mến.
 
2. Chúa Giêsu đã bước vào cuộc thương khó với tư cách của một vị Vua. Chúng ta cùng cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo Quốc gia luôn biết xả thân phục vụ dân nước, đưa đất nước ngày càng phát triển thịnh vượng, có công lý, tình yêu và hoà bình.
 
3. Các bí tích được Chúa Giêsu thiết lập và khơi nguồn từ thập giá của Người. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta luôn sốt sắng qui tụ đông đảo tham dự những cử hành Thánh trong Tuần Thánh này.

* Lời Kết : Lạy Thiên Chúa là Cha giàu lòng nhân ái, Chúa đã muốn mọi người được thánh hóa, được cứu độ nhờ cuộc tử nạn và phục sinh vinh hiển của Con Một Chúa. Xin Chúa mở lòng, mở trí chúng con để mọi người hiểu biết, mến yêu màu nhiệm thập giá của Chúa Giêsu. Xin ban cho chúng con sức mạnh của tình yêu để chúng con can đảm vác lấy thập giá đời mình theo Chúa Giêsu. Đầng hằng sống và hiển trị muôn đời.

Học viện Piô Giáo Hoàng