Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật Phục Sinh B

Tin mừng Ga 20:1-9: Nhờ việc Phục sinh, Chúa Giêsu trở thành vua và được sử dụng quyền tài phán cánh chung...
CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT I – MÙA PHỤC SINH - NĂM B


 
Học Viện Giáo Hoàng Piô X

MỒ TRỐNG (Ga 20:1-9)

1. Khi trình bày các biến cố ghi dấu và nối tiếp việc Chúa Giêsu sống lại, các thánh sử không muốn làm chóa đọc giả bằng những cách diễn tả nhằm đánh động trí tưởng tượng, nhưng chỉ muốn tập trung vào những nét chính yếu: Chúa Giêsu đã sống lại, mộ của Ngài trống rỗng từ ngày Chúa nhật, và chính Ngài nhiều lần đã hiện ra với các tông đồ của Ngài như một người sống.

Các bài tường thuật của họ luôn luôn khác nhau và mỗi người trình bày theo một nhãn giới riêng. Nếu tất cả đồng ghi nhận việc ngôi mộ được phát hiện trống rỗng từ sáng Chúa nhật do một hay nhiều phụ nữ, một hay hai thiên thần loan báo sự sống lại, thì mỗi một thánh sử sau đó lại xếp đặt câu chuyện theo sơ đồ riêng. Vì lưu tâm đến tư tưởng: Chúa Giêsu là thầy của luật mới mà Ngài đã công bố trên núi miền Galilê (Mt 5,7), Mt chỉ muốn tường thuật việc Chúa hiện ra (sau khi sống lại) trên một ngọn núi miền Galilê. Ở đó Ngài sai các môn đồ đi rao giảng khắp thế giói như những vị thầy (Mt 28,16-20). Mc thì quan tâm đến việc minh chứng Chúa Giêsu là Con TC mà không tìm cách xác định vị trí các sự kiện được kể lại; ông chỉ vắn tắt nêu lên lần hiện ra với Madalena, với hai khách bộ hành, sau đó với nhóm 11 tông đồ trong một bữa ăn, có lẽ bữa ăn tối phục sinh, mà ông ghép luôn với việc sai các tông đồ đi truyền giáo (Mc 16,9-18). Lc chỉ trình bày sứ vụ Chúa Giêsu như một tiến trình từ Galilê về Giêrusalem và sứ vụ các tông đồ như một tiến trình khác từ Giêrusalem đến với thế giới (24,47), cho nên ông không ghi lại những lần hiện ra ở Galilê, vì sợ xáo trộn lược đồ địa dư của mình; ông kể lại rất dài dòng lần hiện ra với hai môn đệ làng Emmau, với các tông đồ trong bữa ăn vào chiều Phục sinh mà ông ghép luôn với việc sai đi truyền giáo (Lc 24,13-49).

Gioan thì xếp đặt câu chuyện về sứ vụ Chúa Giêsu cốt để xác định thiên tính của Ngài và trình bày các chứng nhân đã tin hay không tin vào Đức Kitô trần thế. Trong chương 20, ông vẫn đeo đuổi những mục tiêu ấy, liên quan đến việc Chúa Giêsu sống lại. Trước hết ông quả quyết Chúa Giêsu đã sống lại và tiến về Chúa Cha, sau đó, cho biết Maria Madalena và các môn đệ, ban đầu hoàn toàn không tin, nhưng dần dần đã tin vào sự sống lại, vào Đức Kitô thiên quốc thế nào. Câu chuyện bắt đầu bằng tiếng kêu thống khổ của Maia Madalena: "Người ta đã cất Chúa khỏi mộ, mà chúng tôi không biết họ đặt Ngài ở đâu!" để rồi kết thúc bằng việc tuyên xưng đức tin và hoàn hảo của Tôma, người nghi ngờ cố chấp nhất: "Lạy Chúa tôi và là TC tôi".

Trong trình thuật này, như sẽ thấy, Gioan lần lượt gặp gỡ bản thánh sử khác nhưng không quan tâm kể lại tất cả. Cũng như trong các phần khác của phúc âm, ông thu gọn chứng từ của mình vào những yếu tố quan trọng để thêm rõ ràng và mạnh mẽ hơn; trong các đoạn văn liên hệ đến những người nữ thánh thiện, ông chỉ đề cập đến một người hoạt động và nổi bật hơn hết về đức tin là Maria Madalena. Ông bỏ qua nhiều cảnh huống hấp dẫn nhưng ít quan trọng; trong các lần hiện ra ông chỉ giữ lại những lần khơi dậy niềm tin và đánh tan nghi ngờ hay cứng lòng tin. Trong trang cuối của "Phúc âm các dấu chỉ", hơn lúc nào hết, ông muốn đưa chúng ta đến hành động tuyệt vời của đức tin, là chóp đỉnh và mục tiêu của cả cuốn sách: "Lạy Chúa tôi và là TC tôi".

2. Khởi đầu câu chuyện, Gioan chỉ giới thiệu một mình Maria Madalena trên đường đến mộ, trong phúc âm nhất lãm thì nói đến nhiều người. Tuy nhiên, trên đường từ mộ về, Maria Madalena phát biểu ở ngôi thứ nhất số nhiều: "người ta đã cất chúa khỏi mộ, mà chúng tôi không biết họ đặt Ngài ở đâu" (c.2). Người ta đã tìm cách cắt nghĩa sự bất thường này bằng nhiều cách:

1.     Một vài nhà chú giải cho rằng Gioan chỉ kể tên Madalena vì bà là người đầu tiên được đề cập tới trong phúc âm nhất lãm và là người hoạt động nhất trong số các người nữ thánh thiện. Nếu Gioan không đề cập tới các người nữ khác, thì không phải là muốn cho người ta hiểu rằng Maria đã đi thăm mộ một mình đâu. Như một người chú trọng ăn thể, Gioan có thói quen đơn giản hóa: ông tách rời, rồi cho hai nhân vật chạm trán nhau để đề cao nét chính yếu của đề tài mà ông trình bày ở đây: là sự trái nghịch giữa phản ứng ngây ngô, đại lượng và đầy tình người của Maria Madalena và yêu sách của Chúa Giêsu kêu mời bà phải thấu hiểu bằng đức tin. Trong trường hợp này, tiếng "chúng tôi" của câu hai hình như được cắt nghĩa cách tự nhiên bằng sự kiện là Maria nói đại diện cho các người nữ khác cùng đi viếng mộ với bà mà đã về trước để báo tin cho Phêrô và Gioan.

2.     Wellhausen và Spitta thì nghĩ tiếng "chúng tôi" chỉ là một cố gắng của người viết để dung hòa Gioan và các phúc âm nhất lãm; nhưng trong khi câu chuyện của Gioan khác biệt với các phúc âm nhất lãm về nhiều khía cạnh, mà muốn dung hòa về một điểm nhỏ nhặt và tinh vi như thế thì thật là chuyện lạ.

3.     Bultmann và một vài nhà chú giải khác cho rằng: tiếng "chúng tôi" chỉ là một kiểu diễn tả của Do thái, có vài nét tương tự với Hy lạp. Dựa theo giả thuyết này, dalman (trong sách Grammatik des judischpalastinischen Aramaisch, xuất bản năm 1960) có viết: "trong tiếng Aramêo ở Galile, ngôi thứ nhất số nhiều được dùng để thế ngôi thứ nhất số ít". Dầu có cách cắt nghĩa văn phạm như thế cũng chưa thỏa mãn, vì trong phần nối tiếp câu chuyện (c.13) Maria vẫn nói lại câu chuyện đó nhưng lần này thì ở số ít.

Trong các lối giải thích trên, thì hình như lối giải thích thứ nhất hay và tự nhiên hơn hết.

Hai chi tiết khác của câu chuyện được các nhà chú giải giải thích khác nhau. Trước hết tại sao Gioan lại chạy đến mộ trước Phêrô? Vì Gioan trẻ và nhanh hơn. Lagrange và nhiều người khác giải thích như thế. Một lối giải thích khác cho rằng nếu Gioan chạy nhanh hơn và chạy đến trước vì ông là môn đệ Chúa yêu và tình yêu của Thầy đã thúc đẩy ông chạy nhanh hơn. Một vài nhà chú giải cổ xưa còn dám cho rằng Gioan chạy nhanh hơn vì ông là người độc thân. Người khác thấy đây là một biểu tượng đặc biệt: Gioan tượng trưng cho Kitô giáo gốc lương dân cởi mở đón nhận đức tin hơn, còn Phêrô tiêu biểu cho các tín hữu Do thái là những người đầu tiên được sát nhập vào giáo hội, mặc dầu đức tin của họ yếu kém hơn. Nhưng tiến vào ngôi mộ chưa phải là tin, hình như câu chuyện cũng muốn gợi ý là Gioan, người vào mộ sau hết lại chính là kẻ đạt đến đức tin trước hết. Trước những cố gắng giải thích rời rạc như vậy, cách khôn ngoan hơn hết có lẽ là xem như vấn đề không giải quyết được hoặc theo cách giải thích đơn giản và tự nhiên hơn hết: vì Gioan trẻ nên chạy nhanh hơn.

Chi tiết thứ hai: tại sao Gioan lại phải đợi Phêrô vào mộ trước rồi mới vào sau? Các nhà chú giải đưa ra nhiều lối giải thích khác nhau. cách thông thường hơn hết cho rằng Gioan có lẽ đã chờ Phêrô vì địa vị tối cao của Phêrô trong cộng đoàn các môn đệ. Người khác lại thấy trong chi tiết này một dấu vết của truyền thống trong Lc 24,12 theo đó thì chỉ có Phêrô chạy đến mộ mà thôi. Cách đơn giản hơn hết có lẽ nghĩ rằng: vì bàng hoàng trước cửa mộ rộng mở và những giải khăn liệm còn ở dưới đất nên Gioan đã chần chờ một vài giây phút trước sự kiện lạ lùng này, và như thế Phêrô đã đủ thì giờ bắt kịp; ông này thì tính tình nóng nẩy có lẽ đã chun vào mộ trước khi Gioan hết sững sờ. Cũng như trong các chi tiết khác thuộc loại này, việc tìm hiểu một biểu tượng để cắt nghĩa một sự kiện là điều không luôn luôn thích hợp mấy. Chắc hẳn, cách giải thích hay hơn hết thường là xác nhận rằng nếu như người chép sách Kinh thánh đã nghĩ rằng mình phải nêu lên một chi tiết không mấy quan trọng nào đó là vì sự kiện đã xảy ra như thế. Nằm trong biến cố quan trọng của cuộc đời Chúa Giêsu, một chi tiết đã đánh động ông, chi tiết tự nó không quan trọng, nhưng đã khắc sâu vào trong trí nhớ của ông vì có liên quan với biến cố quan trọng trên. Ngồi suy tưởng lại biến cố ấy, thánh sử cũng đồng thời nhớ lại chi tiết trên và ghi vào trong phúc âm mình để nói lên cái nét sống động và đích thật của biến cố.

Bên trong mộ, các khăn liệm vẫn còn. Khác với Lazarô khi sống lại (11,43), Chúa Giêsu không cần đến sự giúp đỡ nào của con người. Như Ngài đã lăn tảng đá đóng kín mộ ra thế nào, thì Ngài cũng tự tháo gỡ các khăn liệm và khăn phủ mặt thể ấy. Sự kiện các khăn liệm vẫn còn "đặt đó" và khăn phủ mặt "được buộc riêng ra một chỗ", loại bỏ giả thiết cho rằng xác Chúa bị đánh cắp vội vã hoặc là bị đánh cắp một cách nào đó, vì không lẽ những người trộm xác lại có thể nghĩ đến chuyện lột trần xác chết như vậy. Chi tiết này là một dấu chỉ việc Chúa sống lại. Thực vậy khi chỉ nhìn dấu chỉ này thôi, Gioan liền tin vào Chúa sống lại, nhờ đức tin sống động của ông...Nếu không cần thấy Chúa đích thân sống lại để tin, thì ông cũng cần đến sức mạnh của dấu chỉ đó: "ông đã thấy và tin". Ông thú nhận mình đã không thực hiện hoàn toàn lời chúc phúc của thày: "phúc cho ai không thấy mà tin" (20,29). Chỉ một mình Mẹ Chúa Giêsu, người đã tin ở con mình trước khi được thấy bao phép lạ (2,36), là đã chứng tỏ một đức tin hoàn hảo, đến độ người không xuất hiện tất cả các biến cố này. Người đã không cần đến bằng chứng hoặc dấu chỉ nào đề tin vào sự sống lại của con mình. Nếu Chúa Giêsu có hiện ra với người sau khi sống lại, thì hầu như chắc chắn là không phải để tỏ bằng chứng sống lại cho người, nhưng đúng hơn là để chia sẻ với người nguồn vui và chiến thắng vinh hiển của mình. Có lẽ có người chống lại giả thuyết cho rằng Chúa Giêsu vinh hiển đã hiện ra với mẹ Người, vì bản văn Mc nói rõ ràng: "Chúa Giêsu hiện ra trước hết với Maria Madalena (16,9), cả trước khi hiện ra với hai người nữ thánh thiện khác lúc họ đi loan báo cho các môn đệ; nhưng không có gì ngăn trở việc nghĩ rằng Chúa Giêsu hiện ra trước hết với mẹ Ngài như lòng đạo đức của các người tín hữu xưa nay vẫn thường tin như vậy. Nếu các tài liệu đã không thuật lại việc Chúa Giêsu hiện ra với mẹ Ngài, là vì nó có tính cách riêng tư. Còn về phần Phêrô, thì thánh sử không nêu lên việc ông đạt đến niềm tin nhờ vào dấu chỉ khăn liệm. Theo Lc và Phaolô, ông là người đầu tiên được diễm phúc thấy Chúa hiện ra với mình (1Cr 15,6; Lc 24,34). Có phải vì thế mà Lc và Phaolô muốn gián tiếp cho rằng Phêrô phải thấy Chúa sống lại đã rồi mới tin không?

5. Môn đệ yêu dấu của Chúa Giêsu, một khi đã vào mộ thì thấy rõ điều mà Phêrô đang quan sát và chính ông khi mới tới mộ cũng thoáng thấy: đó chính là khăn liệm vẫn còn nguyên vẹn, ngôi mộ vẫn còn thứ tự không bị xáo trộn: giả thuyết xác bị mất trộm như vậy bị loại bỏ. "Ông tin".

Một vài người nghĩ rằng kiểu nói này tương đương với "ông xác tín" và cần phải nối ghép câu ấy vào lời nói của Maria Madalena. Ông xác tín rằng bà đã nói thật và thêm tin tưởng vào lời bà hơn (khi đã thấy khăn liệm). Lối giải thích đó của W.Nank xem ra không thể đứng vững được. Trước hết nó không để ý đến sức mạnh của kiểu nói "thấy và tin" của thánh Gioan, hơn nữa, còn mâu thuẫn với toàn bộ câu chuyện. Thật vậy, Maria Madalena không chỉ nói Chúa không còn đó nữa mà còn quả quyết là họ đã "lấy mất" xác rồi. Mà chính điểm này đã bị loại bỏ vì khăn liệm và khăn phủ mặt còn nguyên. Sau hết giải thích như thế là làm suy yếu đi tầm quan trọng của việc sùng kính đối với đức tin vào sự sống lại của môn đệ Chúa Giêsu yêu và giản lược đức tin này vào việc hùa theo lời nói của Maria Madalena. Khi nhìn thấy ngôi mộ trống, khăn liệm và khăn khăn phủ mặt, người môn đệ Chúa Giêsu yêu liền tin rằng Chúa Giêsu đã sống lại.

Còn Phêrô thì sao? Phúc âm không nói gì. Lc 24,12 cho biết là ông trở về nhà, kinh ngạc về việc xảy ra. Một số đông các nhà chú giải nghĩ rằng: ý hướng của thánh sử, dĩ nhiên là Phêrô cũng tin. Có lẽ người ta suy diễn điều đó từ câu sau đây: "Là vì họ chưa hiểu lời kinh thánh là Ngài phải sống lại từ cõi chết" (Ga 20,9). Theo các nhà chú giải khác, thì hầu như thánh sử muốn biện minh cho người Chúa Giêsu yêu dấu, cố đề cao đức tin nhanh chóng của ông với sự chậm chạp của Phêrô: ông đã đến mộ trước tiên, thì cũng thế ông đã đạt được niềm tin phục sinh trước hết, và hồng ân này là do tình thương đặc biệt của TC. Dầu vậy, nói như Cha Lagrange là bản văn không đề cập đến Phêrô thì có lẽ đúng hơn. Nếu "môn đệ kia" chỉ nói cho mình thôi, thì phải là ông muốn nghi ngờ đức tin của ông đã nghiệm lòng: ông chỉ nói lên điều mình đang sống và cảm nghiệm.

Có nhiều lý lẽ vững vàng không cho phép nghi ngờ giá trị lịch sử và truyền thuyết liên quan đến việc khám phá mồ trống. Trước tiên là truyền thuyết này được xây dựng trên chứng từ của các người nữ. Mà chứng từ của phái nữ thì được coi là không thể chấp nhận (x.Lc 24,11), và các thánh sử đều đồng ý đặt chung từ đó dưới sự kiểm soát của các môn đệ, đặc biệt là thánh Phêrô. Ta không thấy lý do mà cộng đoàn Kitô hữu đã nêu lên vấn đề khó khăn đó nếu như thực tế không buộc như vậy. Đàng khác, cuộc tranh luận với người chống đối đã không bao giờ bàn về sự kiện ngôi mộ được phát hiện trống trơn, nhưng chỉ bàn về cách giải thích (x. Mt 27,62-66). Những kẻ nghịch đạo thời xưa cũng không bao giờ chối cãi sự kiện ấy. Qua bao nhiêu đổi thay của truyền thuyết phục sinh, sự xác quyết "mồ trống" vẫn không thay đổi.

KẾT LUẬN

Đoạn phúc âm này dẫn đưa chúng ta đến hai nền tảng thiết yếu của đức tin phục sinh: kinh thánh đã mạc khải chương trình TC, và chứng từ của các tông đồ, dựa trên kinh nghiệm mồ trống và các lần hiện ra, xác quyết rằng ý định TC đã được thực hiện trong Đức Giêsu Kitô, Con TC (20,3031; Ga 1,1). Cho dẫu được căn cứ trên kinh nghiệm mồ trống và các lần hiện ra, đức tin phục sinh chỉ đạt mức độ sung mãn và chân lý hoàn toàn khi được đào sâu và kiện toàn trong sự thông hiểu ý định của TC mạc khải trong kinh thánh. Vì thế cho nên, câu tuyên xưng đức tin Kitô giáo cổ xưa nhất cũng mang khoản này: "...theo lời kinh thánh" (1Cr 15,3-4); ngay chính Chúa Giêsu trên đường Emmau cũng "khởi từ Môisen và lướt qua hết thảy các tiên tri, Ngài dẫn giải cho họ (môn đệ) các điều đã viết về Ngài trong toàn bộ kinh thánh" (Lc 24,27.32). Chính nhờ sự thông hiểu ý định TC mà người môn đệ Chúa Giêsu yêu đã có trực giác ngay khi thấy dấu chỉ đầu tiên. Với ông dù chưa thấy Chúa, nhưng ý định của TC đã tỏ lộ; lời chúc phúc của Chúa được thực hiện cho ông rồi.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Điều gì đã đi sâu chừng nào vào đời sống của con người thì khó diễn tả chừng ấy. Kinh nghiệm đức tin vào Chúa Giêsu sống lại cũng vậy. Đối với người ngoại giáo, sự sống lại của Chúa Giêsu chỉ có thực trong niềm tin của các Kitô hữu. Còn đối với người Kitô hữu, sự sống lại của Chúa Giêsu là một thực tại còn xác thực hơn một sự kiện lịch sử đã được kiểm chứng cách chắc chắn nhất. Người Kitô hữu có thể biểu lộ niềm tin của mình thế nào trước người ngoại giáo hoặc giản dị hơn, trước đòi hỏi chính đáng của lý trí mình? Ai tin vào sự sống lại của Đức Kitô thì rồi cũng phải mặc lấy thái độ của các tông đồ. Nhờ vào ngôn ngữ và cách suy tư riêng của họ, các vị này chứng thực rằng họ đã quen biết Chúa Giêsu trước khi Ngài chết, họ đã gặp thấy lại Ngài đang sống. Họ làm chứng, nghĩa là họ quả quyết điều họ đã sống và thấy. Biến cố xảy ra thế nào, họ không hiểu. Chúa Giêsu vượt qua từ sự chết đến sự sống thế nào, Ngài làm thế nào mà hiện ra trong cách sống không còn như xưa nữa, các tông đồ không nói gì hết. Nhưng họ xác nhận sự kiện một cách chắc chắn tuyệt đối. Cũng vậy đức tin của người Kitô hữu hôm nay xác quyết sự chết và sự sống lại của Chúa Giêsu, nhưng không thể trả lời những vấn nạn đòi hỏi nó phải tường trình về cách thế sống lại. Tuy nhiên, nhờ vào sự hiện diện và hành động của Chúa Giêsu sống lại trong đời sống của mình. Họ có thể làm chứng cho Đức Kitô sống lại, nhưng không thể giải thích. Đó là mầu nhiệm, nhưng là một mầu nhiệm làm cho sống.

"Cả hai cùng" Phêrô và Gioan vội vã chạy đến mộ, sau khi được Maria Madalena báo tin. Trong sự vội vã và nao nức ấy, hãy xem đó là một dấu hiệu tượng trưng. Chúng ta có bị thu hút về Chúa Giêsu sống lại và hiện đang sống không? Với Phêrô và Gioan, ngôi mộ biểu hiện cho sự thất bại hoàn toàn từ chiều thứ sáu. Thế mà giờ đây họ đang hướng về một niềm hy vọng, chắc chắn còn mơ hồ, nghi ngại, nhưng hoảng chạy. trong cuộc sống của chúng ta, có những lần thất bại mà chúng ta bị cám dỗ cho là tuyệt vọng không? Một ước vọng nào đó mà chúng ta đã không thể thực hiện được, một công việc tông đồ nào đó không có kết quả, một hạnh phúc chính đáng nào đó đã chìm mất trong thất bại... chúng ta có nguồn hy vọng để biết nhìn thấy quyền năng sống lại của TC trong các cơn thử thách không? Chúng ta là môn đệ của Đấng Sống lại, Ngài kêu mời chúng ta đừng bao giờ đặt hòn đá thất vọng trên bất cứ sự gì, nhưng luôn luôn hy vọng. Có lẽ điều sống lại sẽ khác với điều ta mơ ước, nhưng chắc chắn là điều tốt đẹp hơn.

"Ông thấy và tin". Câu nói này về Gioan. Bản văn thêm rằng, lúc ấy ông mới hiểu lời kinh thánh. Kinh thánh đây là CƯ. Thật vậy con người và cuộc đời Chúa Giêsu là ánh sáng chiếu soi CƯ. Người ta có thể nói như vậy về TƯ. Phải đọc Thánh kinh như thế nào? Phải tìm gặp Chúa Giêsu Kitô, là chân lý, là sức mạnh, là cố vấn, là đạo đức, là chính cuộc sống của chúng ta.

4. Sự sống lại của Chúa Giêsu vô hiệu hóa sức quyến rũ của những thắng lợi trần thế, bằng cách minh chứng rằng sự sống đích thực không tọa lạc nơi dương thế nhờ định luật đào thải hủy diệt, nhưng chính là sự trung thành với Thần khí, Đấng tác tạo con người mới của sự công chính và tình yêu Chúa Cha. Trong ý hướng ấy, Chúa Giêsu đã hủy diệt quyền lực tội lỗi cho dù ảo vọng của con người vẫn chưa tiêu tan, cho dù sự vô ý thức của chúng ta vẫn còn nặng nề khó lay chuyển; thực tế đã như thế rồi từ sáng phục sinh, lúc mà trong tiếng động đất, Chúa Giêsu con ông Giuse và bà Maria đã chỗi dậy khỏi mồ và tiến vào sự sống thật. Như thế một lần thay cho tất cả, Ngài minh chứng cho chúng ta rằng: con đường đưa tới hạnh phúc thật, con đường dẫn đến sự sống lại, không đi qua tội lỗi song qua lòng yêu mến TC và tha nhân vô điều kiện.

 
Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải
 
MỒ TRỐNG HIỆN RA CHO MARIA MAĐALÊNA
Ga 20: 1- 18


(xem thêm Chú Giải Phúc âm Chúa Nhật năm B và C. Thật ra bản văn phụng vụ chỉ gồm từ câu 1 đến 10. Nhưng chúng tôi xin trích dịch cả phần chú giải câu 11- 18 (không được đọc trong phụng vụ) để làm tài liệu học hỏi và để liên tục với phần chú giải Tin Mừng Chúa Nhật 2 Phục sinh (Ga 20, 19-31). Trong nguyên bản, tác giả (Van den Bussche) chú giải toàn thể chương 20 trong một bài với tựa đề "Việc Phục Sinh").

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Trong nhãn giới của Gioan, việc Sống lại có ý nghĩa nào? Đấng Phục sinh ra đi? trở lại? hay đến với các môn đồ Người?
2. Sự hiện diện của Đấng Phục sinh, theo Gioan có những tính cách gì?

3. Sáng ngày Phục sinh, việc khám phá dịch thực xảy ra lúc nào?

4. Thánh sử ngụ ý gì khi bảo: "Ông (người môn đồ dấu yêu) đã thấy và ông đã tin. Là vì họ chưa hiểu lời Kinh Thánh..." (c.8b- 9a)?

5. Maria Mađalêna có thật sự tin vào việc Phục sinh khi thấy Chúa hiện ra không?
6. "Đừng động đến Ta" (c. 17), lối dịch này có trung thành với nhãn giới của Gioan chăng? Phải thay thế bằng cách dịch nào?
7. "Vì Ta chưa lên cùng Cha Ta" (c. 17). Câu này đúng ra là lời của ai?

1. Ý NGHĨA TỔNG QUÁT CỦA BIẾN CỐ PHỤC SINH TRONG TM THỨ 4.

Trong tư tưởng Gioan, một chương về Phục sinh thuộc về bản chất của cuộc Tử nạn chặt chẽ đến nỗi thánh sử không dời việc tôn vinh Chúa Giêsu vào lúc sống lại mà là đặt nó ngay từ khi Người chịu treo thập giá. Việc phục sinh chẳng phải là một biến cố tiếp theo cái chết, nhưng là một yếu tố của Giờ được xét như một bản thể Giờ Chúa Giêsu qua khỏi thế gian này để đến cùng Cha. Thánh sử mô tả giá trị mặc khải và giá trị cứu rỗi của Giờ đó không phải tiếp theo cuộc Phục sinh, song từ trước lúc Chúa Giêsu chết, vì thần học của ông bao gồm toàn thể các sự kiện. Ngay đầu diễn từ giã biệt, ông trình bày cho thấy Chúa Giêsu đang giải thích làm sao việv Người ra đi chẳng phải là ra đi nhưng là đến thật sự với môn đồ. Vì thế các lần hiện ra của Chúa Giêsu phục sinh, đối với Gioan, không hẳn là những bằng chứng hộ giáo về thực tại Phục sinh cho bằng là những giai đoạn mặc khải trong đó biểu lộ ý nghĩa đích thực của việc Người ra đi: ra đi là đến với thuộc nhân của Người.

Ngay từ đầu, việc khám phá mồ trống (20, 1- 9) đã đòi hỏi cái nhìn đức tin. Nỗi lo sợ trộm xác, những lần di đi về về bồn chồn trọn con đường dẫn tới mộ, tất cả bầu khí của buổi sáng hôm đó chứng tỏ các môn đồ kính yêu sâu xa vị Thầy đã khuất - và có lẽ cũng đắng cay thất vọng trước sự sụp đổ của Vương quốc Thiên sai nhưng không mấy biểu lộ cho thấy là họ am hiểu đúng đắn mọi sự kiện. Sự hiểu biết này chỉ bùng lên trước mồ trống nhờ ánh sáng của đức tin và lời Kinh thánh mà thôi.

Sau đó là ba lần hiện ra của Chúa Giêsu phục sinh, mỗi lần tương ứng với một ý hướng riêng biệt của Thánh sử. Cả ba đều đặt dưới dấu hiệu sự hiện diện của Chua Giêsu. Ca nhập lễ Phục sinh tóm tắt chúng như sau: "Ta đã sống lại và còn ở với chúng con!": Hay đúng hơn: Chúa Giêsu đã sống lại và chỉ bây giờ Người mới thực sự ở với thuộc nhân của Người. Thánh sử đào sâu sứ điệp đó theo phương pháp vòng đồng tâm của ông. Cho Maria Mađalêna, Chúa Giêsu mặc khải rằng sự hiện diện ngày xưa, xét cho cùng, chỉ là một sự cận kề, một sự hiện diện nửa vời, về phía Người cũng như về phía họ. Quả vậy, sự hiện diện lúc đó của Người còn mặc hình thức che dấu, chưa phát lộ trong chiều kích đích thực và tròn đầy. Giờ đây nó mới thực bày tỏ ra. Với người, sự hiện diện trọn vẹn của Thiên Chúa đã được thể hiện (20, 10- 18).

Sự hiện diện ấy từ lúc này cũng tràn đầy hiệu lực. Suốt cuộc đời công khai, Chúa Giêsu đã hoàn thành nhiều công việc và phép lạ để chuẩn bị sơ bộ cho việc Người đến lần sau cùng với tư cách Thiên sai mà hôm nay đã bắt đầu. Giờ đây, Chúa Giêsu đang ở trong chức vụ Con Người, này Người đã trở thành Con Thiên Chúavới quyền năng (Rm 1, 4), này Vương quốc đã đến (Mc 9, 1), này là thời của những công việc còn vĩ đại hơn các việc đầu tiên (1, 50- 51 ; 5, 20 ; 14, 12). Trên môn đồ đang tụ họp, người thổi Thần khí để ban cho họ quyền năng giải phóng thế gian khỏi ách nô lệ tội lỗi (20, 19- 23).

Và sau cùng, Chúa Giêsu hiện ra với Tôma (Ga 20, 24-29). Thánh sử kể lại sự kiện bất ngờ này chẳng phải để giảm uy tín bạn đồng liêu nhưng chỉ vì cái câu kết luận: Phúc cho ai không thấy mà tin! Sự hiện diện của Chúa Giêsu đâu dành cho những kẻ mà ta thường nghĩ là hạng ưu đãi của giờ đầu tiên, những kẻ đã được thấy người sống động thực. Không! Mọi thế hệ Kitô hữu đều sẽ có thể sống sự hiện diện của Chúa Giêsu, cũng trực tiếp như Tôma và mấy môn đồ khác. Các độc giả đầu nên của cuốn Tin Mừng này đều thuộc về thế hệ thứ hai và thứ ba, nhưng họ không chịu thua những người đi trước. Chúa cũng ở với họ, trực tiếp và hiệu lực không kém gì.

Chúa Giêsu đã công bố trước Đại Công nghị rằng từ nay thiên hạ sẽ thấy Con Người ngự bên hữu quyền năng và đến trên mây trời (Mt 26,24; Mc 14,62; Lc 22,69). Lời ấy, trong, tư tưởng Gioan, được thực hiện rõ ràng trong các lần hiện ra sau Phục sinh. Cuộc Quang lâm, tực sự hiện diện của Thiên Chúa mà ngày Chúa Giê-su trở lại sẽ hữu hình hoá, từ nay đi vào trong trật tự các thực tại vô hình: nó biểu lộ một cách thoáng qua trong những lần hiện ra. tuy nhiên không vì thế mà gạt bỏ niềm mơ ước một cuộc trở về hữu hình. trái lại, việc Chúa Giê-su hiện diện trong Giáo Hội là bảo chứng chắc chắn nhất của việc Người trở lại trong vinh quang. Các tín hứa bấy giờ sẽ thấy vinh quang mà nay đã được chia sẻ cho (17,22-24), bấy giờ sẽ tỏ lộ ra bản tính Con Thiên Chúa của họ, bản tính họ đã được từ lúc này đây (1 Ga 3, 1-2). Các cuộc hiện ra của Đấng phục sinh đã có đó để bảo đảm không hẳn sự sống lại cho bằng là sự hiện diện bền lâu của Chúa Giêsu. Chúa đã hiện ra cho các môn đồ đầu tiên, chính Người cũng ở trong Giáo Hội đến tận cùng thời gian, đến ngày sẽ thực sự biểu lộ trong vinh quang sung mãn tước vị Con Người của Người. Nói theo ngôn ngữ chuyên môn, đó là thực hiện trước cuộc cánh chung (eschatologie mticipée). Mối hy vọng, nỗi mong chờ ngày Quang lâm, Gioan chuyển thành sự chắc chắn - chắc chắn theo đức tin, dĩ nhiên rồi? "trạng huống của thời sau hết từ bây giờ đã được thể hiện, tuy nhiên vẫn không loại trừ một nỗi ngong ngóng đợi chờ cuộc Quang lâm hữu hình. Người Kitô hữu nào mong mỏi ngày tận cùng tất nhiên cũng hy vọng và ao ước sự hoàn thành sau hết, ao ước cái lúc mà Thiên Chúa sẽ trở nên mọi sự trong mọi người (1 Cr 15,28).

Sau cùng các cuộc hiện ra đó chỉ là áp dụng, vẽ ra, cụ thể hóa những gì Chúa Giêsu đã nói và lặp đi lặp lại trong diễn từ giã biệt. Việc ra đi của Người mặc ý nghĩa đầu tiên là đến cùng Cha, và ý nghĩa thứ hai tương ứng với ý nghĩ thứ nhất, là về gặp lại các môn đồ. Và đó không phải là một cuộc trở về tạm bợ, một buổi tái ngộ mau qua làm như để an ủi, song là việc đến thực sự, dứt khoát, chất chứa sự hiện diện trọn vẹn và tràn đầy hiệu lực của Thiên Chúa. Quả vô ích khi lấy lại mọi bản văn lần nữa; chỉ cần đọc lại 14, 12- 24, 16, 16- 27 ; 17, 20- 24. Hai trong ba cuộc hiện ra có một từ ngữ chủ chốt: Chúa Giêsu "đã đến " hay "đến" (20, 19.24.26). Đấy chính là đề tài của toàn chương. Việc Chúa Giêsu đến như thế mặc ý nghĩa nào? Các trình thuật không được viết ra để thỏa mãn cái khoái kể chuyện: Chúng đáp lại một ý định thần học; chúng minh giải thần học về sự hiện diện của Chúa Giêsu trong thời gian nằm giữa việc Người đến thực sự (việc Người ra đi) và việc Người trở lại vinh quang.

Dù nặng chất thần học đến đâu, các trình thuật này vẫn không kém sống động. Chúng chẳng những nói lên một kinh nghiệm sống động phi thường trong mọi chi tiết, mà còn đặc biệt diễn tả lột cảm giác ngỡ ngàng còn kéo dài mãi về sau. Chúng thật sự làm sống lại cuộc khám phá sau đây: phục sinh có nghĩa là Chúa Giêsu hiện diện mãi mãi. Cùng với các môn đồ đầu tiên, chính độc giả cũng cảm nhận được cú va chạm mở tung cho mình sự hiểu biết trong đức tin. Một bút pháp rời rạc, một diễn từ trực tiếp, một mở hỗn tạp thì hiện tại và bán quá khứ, từng ấy các yếu tố đều góp phần làm nổi bật cách mạnh mẽ cảm thức của một kinh nghiệm sống. Thánh sử đã sống trong bao năm trường sự hiện diện của Chúa Kitô; thế nhưng ông vẫn không quên được ấn tượng của giây phút ban đầu ấy. Với tài khéo léo đã lừng chứng ló nhiều nói khác, ông giữ lại được ở đây giây phút của sự' khám phá đó, giây phút duy nhất trong muôn ngàn. Các trình thuật làm ta bỡ ngỡ vì tính chất tươi mát, vì bút pháp trực tiếp, vì nồng độ tình người của chúng. Dù chú tâm chiêm ngửng trong đức tin cái thực tại sâu xa của việc Thiên Chúa hiện diện qua các biến cố, bản văn vẫn không vì đầy tính trở thành một suy tư thần học. Chúa Giêsu đứng đó, thình lình, trước mặt những con người đích thực, và lộ những phản ứng đầy tính chất người đến nỗi về sau có kẻ trách là không mấy hợp lý. Chúa Giêsu tỏ ra rất nhân bản, ân cần và đầy vẻ khôi hài... đến nỗi vài nhà phê bình dã từng cho rằng Tin Mừng này là một khái luận thần học, cũng nói đến tính khôi hài của Người! Ngay cả lúc ấy, Ngôi lời vẫn nhập thể; nhưng chỉ lúc ấy, sự hiện diện thần hình trọn vẹn nới trở thành một thự( tại nhân loại mãi mãi.

2. MỒ TRỐNG (20: 1- 9)

Lễ Vượt qua Do thái trôi đi mà chẳng ai bàn đến ngôi mộ bị niêm phong của Chúa Giêsu. Đối với các môn đồ, đại lễ ấy thật là rnột lễ buồn thảm. Mộng vàng tan mây! Người mà thiên hạ tưởng là Đấng Messia nay nằm dưới ba tấc đất. Câm lặng, họ nhìn đống tro tàn hoài bão của mình. Chúng tôi đã hy vọng... các môn đồ làng Emmau sẽ nói thế (Lc 24, 21).

Ngày đầu tiên ấy của tuần lễ chỉ một nhịp mới trong trật tự thời gian: nó sẽ trở thành Ngày của Chúa (Kh 1, 10). Đó là ngày thứ ba sau vụ xử đóng đinh. Các phụ nữ đã có mặt bên thập giá (Mc 15,47 và song song ; Ga 19,25) đi đến mồ theo thói quen, để xức thuốc thơm (Mc 16,1 và ss). Gioan chỉ kể tên Maria Mađalêna, nhân vật chính của lần Chúa Giêsu Phục sinh hiện ra đầu tiên ; bà cũng là kẻ được Tin Mừng Nhất lãm xướng danh trước hết: chắc hẳn vì là người hoạt động nhất. Khi nghe người thanh niên đứng trong mồ trống báo tin là Chúa đã sống lại và nói các bà đi báo tin cho Phêrô và các môn đệ của Người.

Không tìm gì hơn, Maria vụt bỏ chạy. Bà đi báo động cho đội tiền phong của nhóm nhỏ môn đồ: Phêrô và người môn đồ dấu yêu Hai kẻ này đã từng đấu tranh để dành chỗ nhất biết mấy! Trình thuật chúng ta là một tiếng vọng xa xôi của mối tranh chấp giữa họ. Người môn đồ yêu dấu đã theo Chúa Giêsu trước Phêrô (1,37-40). Nếu ông này đã là phát ngôn viên của cả nhóm trong một giây phút khủng hoảng (6,68-69), thì Gioan vẫn là người môn đồ thân thiết nhất, gần gũi nhất với Chúa Giêsu trong bữa Tiệc cuối cùng (13,23), bữa tiệc mà Phêrô chỉ được cái là xử trí sai lầm. Tính táo bạo thiếu suy nghĩ của Phêrô còn lộ liễu ở vườn Ghetsêmani, nơi mà nhát kiếm vô ích của ông cho thấy ông kém thông minh rõ ràng (18, 10- 11). Và khi đến giây phút quyết định thì ông lại chối Chúa Giêsu (18, 17). Người môn đồ dấu yêu trái lại đứng kề thập giá và được Chúa Giêsu trao phó mẹ người cho (19,25). Nếu xét khách quan kỹ lương, thì ông này là kẻ xứng đáng cầm đầu nhóm nhất. Người đồ đệ ấn hành tác phẩm Gioan quả không lầm về điểm đó: nịnh thuật việc trao quyền cho Phêrô cố ý "hóa giải " ba lần chối Chúa và Phêrô ảnh như cũng bỡ ngỡ thấy mình được cho đứng trên người môn đồ dấu yêu (21, 15-22). Chúng ta đừng quên rằng đây là một sự tuyển chọn.

Cuộc chạy bộ đến mồ buổi sáng phản ảnh mối tranh chấp xa xưa kia. Vị thánh sử hồi tưởng chuyện cũ không một chút oán hờn. Việc rong ruổi trong buổi rạng đông đó còn sống động trong trí ông đến nỗi những tình cảm vô thức hồi xảy ra biến cố tự nhiên tái xuất hiện. Hai ứng cử viên quyền tối thượng đều được Maria Mađalêna báo đông với những từ ngữ ngụ ý việc trộm xác. Maria nói Chúa Giêsu là Chúa, theo nghĩa là rabbi: Thầy (x.20,13); nhưng chính sử lại gán cho hạn từ ấy cái nghĩa nó sẽ mặc về sau trong các lời tuyên tín: nhờ việc Phục sinh, Chúa Giêsu trở thành vua và được sử dụng quyền tài phán cánh chung. Maria thêm: Chúng tôi không biết họ đặt Người ở đâu... Tiếng số nhiều "chúng tôi" có thể xem như là một hình thức tập hợp chỉ các môn đồ, hay như một kiểu nói Sêmita, song có lẽ Maria nói nhân danh các phụ nữ đã đi theo với bà đến mộ. Phản ứng của bà bộc lộ lòng bà thương mến sâu xa: lần tiếp sẽ xác nhận điều đó.

Bắt đầu chạy! Người môn đồ dấu yêu đến mộ trước tiên. Phải chăng đó là dấu hiệu của một tình yêu lớn hơn đối với Thầy? Phải chăng là vì trẻ tuổi? Một vài nhà chú giải xưa bảo bang ông chạy nhanh hơn bởi lẽ không có gia đình. Hãy gác lại những vấn đề ông thòng ấy và hãy để cho đầu tóc trắng xóa của vị thánh sử già nua hưởng niềm vui tưởng nhớ thành tích của mình? Việc hơn thua đó cũng chẳng có ý nghĩa biểu tượng gì. Người ta đã muốn cho rằng Gioan tượng trưng Kitô hữu gốc lương dân, cởi mở hơn với đức tin, còn Phêrô tượng trưng cho Ki-tô hữu gốc Do thái, là những kẻ đầu tiên vào Giáo Hội mặc dầu đức tin thua kém. Nhưng vào trong mộ không phải là tin, và trình thuật hình như ngụ ý rằng Gioan, vào mộ sau cùng, lại đạt đức tin trước hết.

Tuy nhiên niềm vui tường thuật vẫn pha lẫn một chút gì đó. Thánh sử hình như còn tiếc nuối là đã không vào lập tức. Phải chăng ông chờ Phêrô vì kính trọng, vì tinh thần đồng đội? Chúng ta đừng phê phán Gioan với một cặp kính màu hồng như thế. Vài tác giả đã chẳng nghi ông sợ ma đó sao? ông chỉ cần kiểm nhận mồ mở và vài đãi vải là đủ để suy ra rằng Maria Mađalêna đã có lý. Mồ trống không còn là một lời đồn đãi (Mc 16, 11. 13 ; Lc 24,22-23) vì sự kiện được xác nhận bởi hài chứng nhân. Công chứng này sẽ có ích về sau khi phải chống lại tin đồn người Do thái tung ra là chính các môn đồ đã đánh cắp xác (Mt 27, 64 ; 28, 12- 15).

Nhưng này Phêrô đến! ông đi vào trong mộ. Đây mới là lúc khám phá thực sự. Trong trường hợp trộm xác, ngôi mộ hẳn lộn vô cùng; thế mà dải vải, khăn liệm đều được cuốn lại gọn gàng, đâu vào đấy. Anh sáng chợt bùng lên trong trí của người môn đồ dấu yêu. Chuyện xảy ra trước mắt làm ông nhớ lại lời Kinh thánh, lời Chúa Giêsu vẫn nhắc tới thường xuyên. Bí mật được giải đáp. Không cần phải nhìn sự kiện cụ thể mới thấu hiểu được trong đức tin ; Kinh Thánh cũng có thể soi sáng cho những ai không thấy chính các sự kiện (20,29). Gioan ám chỉ lời Kinh thánh nào? Ta không rõ. Chỉ biết cộng đoàn Kitô hữu sơ khai có nhắc tới một vài Thánh vịnh, chẳng hạn như Tv 16,8-11 trong Cv 2, 24-31 ; Tv 2,7 trong Cv 13,32-37. Chính Chúa Giêsu sẽ lấy ánh sáng Kinh thánh giải thích việc phục sinh của Người (Lc 24,25-26.32.44.46). Lời rao giảng cổ kính nhất cũng có nại đến Thánh Kinh (1Cr 15,4).

Gioan chẳng bảo người môn đồ có thể lộ cho Phêrô cái trực giác đức tin đầu tiên của mình hay không; thế nhưng trình thuật xem ra ngụ ý điều đó. Phêrô có chia sẻ trực giác ấy chăng? Chúng ta không thể suy ra được. Dầu sao chính Chúa Giêsu đã phải củng cố và tăng cường đức tin chớm nở ấy. Tuy nhiên đức tin này, từ giờ trở đi có một đối tượng rõ ràng: Chúa Phục sinh.

Người môn đồ thấy và tin: nét nghịch lý của cuộc Tử nạn đã tìm được lời giải nghĩa. Tất cả đều đáp lại ý hướng của Thiên Chúa diễn tả trong Thánh Kinh. Vị thánh sử già nua mỉm cười hồi tưởng đức tin chớm nở ấy, nhớ làm sao mình đã là người đầu tiên linh cảm chân lý. Nhưng bây giờ ông cần phải đưa độc giả của ông đến, sự hiểu biết trong đức tin đó, làm cho họ hiểu lâu nhớ kỹ như ông ý nghĩa của cuộc phục sinh đối với họ: đó là một sự hiện diện tròn đầy hữu hiệu và thường xuyên của Chúa.

3. MARIA MAĐALENA (20: 10-18).

Giữa lúc ấy, Maria Mađalêna trở lại mồ. Bản văn hình như ngầm bảo hai môn đồ còn ở đó. Nhưng họ bỏ bà và ra về. Phải chăng các ông đã không chia sẻ cho Maria mối linh cảm của mình, hay bà vẫn thờ ơ với chuyện ấy?

Bà đến để than thở theo tục lệ, thành ra vẫn đứng khóc cạnh mồ, mặc dầu xác chẳng còn bên trong. Nước mắt bà chứng tỏ lòng quyến luyến sâu xa. Nhưng đây đâu phải là nơi tuôn đổ giọt lệ nhân trần? Chúng làm cho Maria không thấy rõ ràng trong ngôi mộ trống. Người môn đồ yêu dấu đã chỉ cần nhìn là đủ tin, vì nhớ lại lời Kinh Thánh.

Phần Maria, phải có sự trợ lực của hai thiên sứ. Thật là một cuộc hiện ra rất gợi hình: họ mặc áo trắng, như thói quen của các nhân vật thiên quốc (Mc 9,3 và ss; 16,5 và ss: Cv 1, 10 ; Kh 3, 4-5 ; 4, 4). Nhị vị ngồi hai đầu nơi đã đặt xác Chúa Giêsu (Lc 24, 4): nghĩa là thực tại thiên giới muốn phân định đâu là nơi đã an táng Người. Dấu hiệu này lẽ ra đủ cho Maria hiểu. Nhưng một lần nữa, phản ứng nhân loại của bà lại cản trở sự hiểu biết của đức tin. Đáp câu hỏi của thiên thần, bà trút cả nỗi niềm xao xuyến và như vậy cho thấy chẳng hiểu gì trơn. Người ta đã cất xác Chúa bà và không biết họ đặt Người ở đâu. Trên miệng bà, tiếng Chúa có nghĩa là Thầy yêu dấu. Nhưng đối với thánh sử và độc giả, đó là Đấng Phục sinh. Song Mana còn khuya mới nghĩ tới chuyện sống lại! Đấy là chủ đề "ngộ nhận" trong Gioan (.x. 11, 23-24).

Vì sự thể như vậy, nên chính Chúa Giêsu phải đích thân xuất hiện... thế mà bà'vẫn chưa nhận ra Người? Chẳng phải bởi trời còn mờ tối; song vì như hai môn đồ làng Emmau, mắt bà cũng bị "bưng bít" không thể nhận ra Người được. Chúa Giêsu Phục sinh chỉ hiển lộ rõ ràng cho những ai có đôi mắt được niềm tin mở rộng (Lc 24,16; x.Ga 21,4; Lc 24,37; Mc 16,12). Thế mà Maria còn lâu mới nghĩ đến chuyện sống lại. Cho dù có thật sự phục sinh vẫn là một chân lý đức tin. Đừng tưởng Đức Giê-su hoá trang thành kẻ làm vườn. Maria, vì chỉ biết phản ứng theo kiểu nhân loại, nên không thể nhận ra Người, và vì đang ở trong một thửa vườn, nên bà tưởng Chúa Giêsu là một người làm vườn nào đó.

Cũng câu hỏi lúc nãy được nêu lên: "Tại sao bà khóc?". Một lần nữa, Mana lại để trào ra nỗi thất vọng của mình cách mãnh liệt hơn. Bà muốn tìm xác. Phải chăng người làm vườn đã di chuyển? Bà muốn mang nó đi chôn cất ở một nơi mà bà có thể đến khóc thương mãi mãi. Bà tìm một kẻ chết, trong lúc Người lại sống!

Bà không nhận ra Chúa Giêsu, nhưng Người, Người biết bà quá rõ! Người gọi tên bà, như trước đây đã từng cho Nathanael thấy Người biết rõ ông (1,47- 48). Mắt bà sáng lên: Lạy Thầy! Tiếng rabbouni long trọng hơn "rabbi" và đặc biệt được dùng để gọi Thiên Chúa. Song Maria chưa đạt đến chỗ mà Tôma sẽ đạt tới sau khi rờ các vết thương (20, 8). Bà tràn ngập niềm vui, thế nhưng vẫn không nhận ra bản tính đích thực của Thầy. Bà nghĩ là Người đã trở lại. Ba ngày vừa qua chỉ là một cơn ác mộng ghê gớm. Sự sống có thể tiếp tục. Vì Thầy vô vàn kính yêu nay lại trở về.

Nhưng Chúa Giêsu không phải trở về! Cuộc Khổ nạn và cái chết của người đâu bỉ hủy bỏ, biến thành một thứ ảo giác! Đây không phải là Người trở về, song là đến: chỉ giờ phút này ta mới có thể bảo thật rằng Chúa Giêsu đến. Xưa kia, các môn đồ đã theo Người mà không hiểu Người; họ đã hoan hô Lời Người, đã phấn chấn vì phép lạ người, đã há hốc nhìn người như nhìn một kỳ quan của thế giới. Nhưng rốt cục Người vẫn xa lạ đối với họ, như quả thật Người đã xa lạ. Không bao giờ bạn hữu Người đã đi sâu vào bản tính đích thật của Người, đến tận Cha trong Người. Họ chỉ thấy Người ngoại diện. Nhưng bây giờ, Người ở bên họ, hoàn toàn là Người. Do đấy cái mà ta gọi là cuộc trở về của người thật ra là việc Người đến (Ga 14,3.18.23; 16,16.22.27).

Đừng cầm Ta lại như thế. Maria, trong niềm vui tái ngộ, ôm chầm lấy chân Chúa Giêsu, theo kiểu đông phương. Bà muốn kéo dài những giây phút gặp gỡ này. Nhiều người dịch: "Đừng động đến Ta", như thể Đấng Phục sinh cảm thấy bị xúc phạm vì người trần chạm tới. Vậy Tôma thì sao?... Không phải Đấng Phục sinh bị tổn thương, nhưng là đức tin của Maria Mađalêna: nếu Chúa Giêsu để bà làm, bà sẽ càng chìm sâu vào ngộ nhận... Vì Ta chưa lên cùng Cha Ta, Chúa Giêsu bảo, và tiếng này có giá trị cho bà hơn là cho Người. Đối với bà, Chúa Giêsu chưa phải là Đấng đã trở về cùng Cha.

Vì trong tư tưởng Gioan, việc sống lại không phải là một chặng trên con đường dẫn từ mồ đến nơi trú ngụ thiên quốc. Cái chết của Chúa Giêsu là thăng thiên: việc hiện ra của Đấng Phục sinh có mục đích làm cho các môn đồ hiểu rằng cái chết của Người thực ra là một cuộc thăng thiên và thăng thiên thực ra là việc Người đến với môn đồ. Maria bấu víu Người, không cho Người lên với Cha là vô ích: Người đã ở bên chúa Cha rồi. Cử chỉ của Maria muốn kéo dài một sự hiệp thông nhân loại vô nghĩa và vô dụng. Trong tâm trí bà, Chúa Giêsu còn ở trên trần gian và đã không có việc trở về với Cha. Bởi thế Chúa Giêsu dùng những hạn từ nhân ái mà bà hiểu được và bảo với bà rằng người đang lên cùng Cha. Nhưng bà cần phải đi vào và đào sâu sự hiểu biết các biến cố ấy trong đức tin. Bà phải hiểu rằng cuộc hiện ra đây chỉ là sự biểu lộ nhất thời của một trạng huống đã thực hiện dứt khoát rồi. Chúa Giêsu ở với Cha; là hình ảnh của Cha, Chúa Giêsu cũng ở với thuộc nhân, bằng một sự hiện diện vô hình, nhưng xác thực và hữu hiệu.

Maria thấy mình được trao nhiệm vụ mang đến cho các môn đồ sứ điệp phục sinh của mọi thời: Ta lên cùng Cha Ta (từ nay trở thành) Cha các con. Có người đã muốn coi sứ điệp này là một sự phân biệt giữa tử hệ thần linh của Chúa Giêsu, Con độc nhất, với từ của các tín hữu. Nhưng chẳng ai trong Tân ước, kể cả Gioan: hồ ghi. Sự khác biệt giữa tử hệ tự nhiên của Chúa Giêsu và tử hệ ân sủng của chúng ta cả (1, 13), nên đấy không phải là nội dưng chính yếu của sứ điệp trao cho Maria Mađalêna. Mục đích của nó chẳng phải là dạy các môn đồ biết họ là nghĩa tử, song là mặc khải cho họ thấy từ rày họ đích thực là con, rằng Cha Chúa Giêsu đã thực sự trở thành Cha của họ. Một khi ra đi, Chúa Giêsu làm cho Cha hiện diện sung mãn tràn đầy (14,21- 23). Vì thế mà chỉ bây giờ họ mới được ban danh hiệu "anh em": lúc này cùng với người, họ là con của Ta, sống sự sống thần linh mà Chúa Giêsu đã trở thành nguồn mạch đầu tiên (14. 19). Tử hệ ấy được thực hiện nhờ ân sủng, dĩ nhiên! nhưng không vì thế mà kém đích thực. Loài người cần phải được quyền trở nên con cái Thiên Chúa (1, 12), và họ phải đón nhận quyền ấy nhờ Thiên Chúa sinh lại (1, 13 ; 1Ga 3,1 -2). Sứ điệp phục sinh nhắm tới chân lý đó, nhắm tới việc thể hiện có tính cách cánh chung của phụ tính thần linh: Cha yêu loài người như yêu Con (16, 27); loài người được thâu nhận với Con vào tình yêu phụ tử của Thiên Chúa. Tử hệ của Chúa Giêsu làm cho tử hệ của loài người thành tựu. Vì Cha chỉ yêu trong Con những ai yêu Cha trong Con (16, 27).

Như thế sứ điệp phục sinh tóm kết diễn từ giã biệt và công bố sự hoàn thành của diễn từ đó. Nó.cũng đồng thời loan báo rằng lời hứa Cựu ước, chứa đựng trong công thức giao ước sau đây, đã thực hiện: Các ngươi sẽ là dân Ta và Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi. Bởi vì từ nay Thiên Chúa là Cha, nên giao ước đã đạt tới mức độ thể hiện cao nhất. Phụ tính của Thiên Chúa theo giao ước xưa, chỉ là lời hứa một sự hiện diện bảo vệ, cứu giúp. Từ nay đó là một sự hiện diện nội tâm, thường xuyên và hiệu lực tộ độ (Ga 14, 23 ; 1, 14 ; 2, 21- 22 ; 4, 21- 24): Giavê "Ta là" của lời hứa đã trở thành, trong Giêsu, Đấng "Ta là" vĩnh viễn (8,24-28). Thiên Chúa đã thật sự trở thành Thiên Chúa của họ, bởi vì thần tính của Ngài được thể hiện trong phụ tính của Ngài.

Vững mạnh nhờ sứ điệp nên Maria, vốn là người đầu tiên đã báo động anh em, rày có thể đi trấn an họ. Không một chữ nào về phản ứng của bà trước lời Chúa Giêsu (x.Lc 24,11- 22). Trình thuật chẳng có để mô tả trường hợp Maria Mađalêna, nhưng là để mang một sứ điệp cho mọi tín hữu. Vì thế Maria phải lập tức lên đường. Bà đã thấy Chúa.

Đối với thánh sử, thị kiến này vừa hữu hình vừa thiêng liêng. Chắc hẳn Maria đã không lãnh hội ngay tất cả ý nghĩa cuộc khám phá của mình. Trước tiên bà muốn loan báo mình đã thấy Thầy tận mắt (20,2. 1 3), nhưng đói với thánh sử, dùng lời ấy có một âm hưởng phục sinh. Các hạn từ "thấy và Chúa" nằm trong một viễn tượng Kitô giáo: đó là thấy và hiểu rằng Chúa Giêsu là Chúa phục sinh, là thấy và tin rằng từ nay Người ở với chúng ta mãi mãi, rằng Người là Con người đã đi vào vinh quang của mình. Người sống và sống giữa chúng ta, vâng, trong chúng ta Maria Mađalêna đã "thấy" và đó là điều quan trọng: nhung chính những lời của Chúa mới gán cho việc hiện ra tất cả tầm mức, ý nghĩa của nó. (Xin xem tiếp bài sau).

(H. Van den Bussche, Jean. Paris, DDB, 1967. Tr. 540-549. )

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

Cuộc Phục Sinh của Chúa Kitô chắc hẳn là điểm mà đức tin ta thường vấp phải. Lời Chúa hôm nay soi chiếu ta về ba thái độ giải thích việc ta gặp khó khăn trong niềm tin.

1. Ai tin vào Người thì được lãnh ơn tha tội nhờ Danh Người (bài đọc 1: Cv 10, 34a.37- 43). Nếu ta không tin bằng một niềm tin thay đổi cả đời ta, có lẽ vì ta chưa chịu nhìn nhận mình là tội nhân, và vì đó cảm thấy không cần được cứu độ. Thế mà quá trình của cuộc Vượt qua - được thực hiện ngày hôm nay - là như sau: nhìn nhận mình là tội nhân, chấp nhận việc được cứu độ nhờ một Đấng khác, nhờ Người ta được ơn tha tội, là ơn cứu độ tuyệt hảo.

2. Lòng trí hãy hướng về những điều trên cao, đừng hướng về những điều dưới đất (bài đọc 2: Cl 3, 1- 4). Ta bị dính chặt vào những điều khả giác, mắt thảy tai nghe, vào kỹ thuật máy móc, năng suất. Các thực thể vô hình, dù không chối bỏ, nhưng ta khó công nhận chúng là những yếu tố chi phốp cuộc đời ta. Tuy nhiên ta cũng cảm nghiệm rằng một lý tưởng nào đó có thể làm cho đời thêm đẹp, một tình yêu nào đó, kín đáo nhưng chắc chắn, có thể biến đổi và tái sinh. Chìa khóa và bí quyết đời ta là chính Thiên Chúa, là tình yêu sâu đâm của Ngài đối với ta: đó. là cuộc sống đích thực của ta, cuộc sống đã được ẩn tàng nơi Thiên Chúa.

3. Lời họ chưa hiểu lời Kinh Thánh (bài Tin mừng). Lời Chúa vẫn còn làm họ chưng hứng. Nhưng kể từ các sứ đồ, nhờ chứng tá của họ, qua sứ điệp của Giáo Hội được lưu truyền từ đời này sang đời khác, năng lực của Lời Chúa đã được chuyển đến cho ta. Sau cùng, chính Chúa Giêsu, Lời hằng sống của Thiên Chúa, mà ta phải quy chiếu; chính Lời Người mà ta phải xác tín: "Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta, dù có chết, cũng sẽ sống".
Ước gì Giáo Hội, là người đã dạy ta nói lúc hãy còn thơ ấu: tôi tin xác loài người ngày sau sống lại ", hôm nay cũng giúp ta nói lại điều đó qua kinh Tin Kính ta sắp đọc.

Noel Quession - Chú Giải
Ga 20:1 -9

Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần...

Cả bốn Tin Mừng đều đồng ý về điểm lịch sử này. Đó là biến cố Phục sinh xảy ra vào hôm sau ngày Sabát, hôm sau ngày Lễ Vượt qua của người Do Thái. Là người rất nhạy cảm với các biểu tượng, Gioan cho rằng, "ngày thứ nhất" trên đây gợi lên một thế giới mới đang khởi đầu...một cuộc tạo dựng mới, một tuần lễ sáng thế mới.

Đau khổ và cái chết là những chứng cớ hiển nhiên chống lại sự hiện diện của Thiên Chúa: Làm sao lại xảy ra việc Thiên Chúa có thể tạo dựng một thế giới đầy bất hạnh như thế?

Vấn nạn đó không thể trả lời được, nếu ta phủ nhận biến cố Phục sinh. Các giáo phụ cũng như những người quen suy niệm Kinh Thánh, đều nghĩ rằng, Thiên Chúa có thể không bao giờ "dựng nên" công cuộc sáng tạo đầu tiên (mọi tạo vật đều phải chết), nếu Người đã không tiên liệu từ thuở đời đời công cuộc sáng tạo thứ hai của Người, nhờ đó sẽ không còn sự chết, cũng không còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất" (Kh 21,4).

Bà Maria Mác-đa-la đến mộ, lúc sáng sớm, khi trời còn tối.

Bốn Tin Mừng đều nhất trí về sự kiện lịch sử trên. Đó là các phụ nữ là những người đầu tiên đã khám phá ra "biến cố". Là người ở trong cuộc, Gioan đặc biệt quan tâm tới một người phụ nữ, chị Maria Mác-đa-la. Ong gán cho chị là Người đã được Đức Giêsu hiện ra đầu tiên (Ga 20,11-18).

Bà thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp ông Simon Phêrô và người môn đệ Đức Giêsu thương mến.

Chi ta "chạy". Chi tiết này rất có ý nghĩa.

Chị chưa gặp Đức Giêsu. Chị chưa tin. Chị mới chỉ đứng trước sự kiện ngôi mộ mở ngỏ! Đó là điều bất thường. Chị không ngờ được việc đó. Chị cảm thấy hốt hoảng. Chị chạy đi báo tin cho các vị có trách nhiệm. Ở đoạn văn trên, ta nên ghi nhận một tên gọi đặc biệt được gán cho "môn đệ" không nêu rõ danh tánh: "Người môn "đệ Đức Giêsu thương mến". Truyền thống vẫn thừa nhận Gioan, tác giả của trình thuật trên, là chính người môn đệ đó. Ngoài ra, trong nhóm Mười Hai, không phải là không có sự ghen tị, vì Gioan vẫn thường được Đức Giêsu quan tâm cách hết sức đặc biệt. Chi tiết này cũng rất quan trọng. Ta nên ghi nhận điều đó.

Bà nói: "Người ta đã đem Chtía đi khỏi mộ, và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu?".

Lúc này, chị mới chỉ đưa ra giả thuyết: Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ. Người ta không giải thích sự kiện theo lý trí: Vì quá mong ước Người sống lại, nên không tránh khỏi một ảo giác. Đúng ra, tất cả các bản văn đều nói ngược lại.

Rõ ràng, trình thuật trên được kể lại để giúp ta cảm thấy rằng, sự kiện ngôi mộ trống không là một bằng chứng, tự nó có khả năng khiến ta tin. Tuy nhiên, ngôi mộ trống kỳ diệu đó là một đối tượng đòi hỏi ta phải thắc mắc. Chỉ vỏn vẹn trong một trang, mà từ "ngôi mộ i được nhắc tới bảy lần! Cho đến lúc này, mới chỉ có thế!

Ông Phêrô và môn đệ kia liền đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông và đã tới mộ trước.

Gioan nhớ lại, ông đang ở đó. Nhưng giải thích chi tiết hơn, chỉ nguyên dựa vào sự kiện chưa đủ. Còn một yếu tố khác Gioan nhận ra một biểu tượng: Phêrô có thể tự để cho kẻ khác vượt qua mình... để cho các môn đệ hăng say hơn đi trước ông. Và đó không phải là trường hợp duy nhất Gioan đã đi trước Phêrô (Ga 13,24-18,12-16-21,20-23). Nhưng tại sao ở đây lại nhấn mạnh đến điểm bất thướng này?

Ong cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. Ong Simon Phêrô theo sau cũng đến nơi. Ong vào thẳng trong mộ, thấy băng vải để ớ đó, và khăn che đầu Đức Gíêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi.

Cách dịch sát nhất bản văn Hy Lạp, do Gioan đã mục kích và viết lại có thể như sau: "ông nhìn thấy băng vải bung ra, và khăn quấn đầu Ngài, không tuột ra cùng với băng vải, nhưng được cuốn lại riêng biệt, đặt đúng chỗ của nó".

Tóm lại, không có bàn tay bên ngoài nào đã tham dự vào. Chỉ thấy thân xác đã biến mất, và những khăn liệm tuột bung ra tại chỗ. Gioan cũng ghi nhận rằng, khăn quấn đầu (đó là thứ băng vải quấn chung quanh đầu để giữ quai hàm, theo như tập quán tẩm liệm của người Do thái) vẫn còn ở đó, được cuốn lại đặt đúng chỗ, bên trong băng vải.

Bấy giờ, người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào.

Gioan nhấn mạnh: chính ông cũng bước vào!

Đó không thể là một chi tiết không quan trọng, không ý nghĩa.

Ong đã thấy và đã tin.

Phêrô vẫn chưa hiểu gì. Khi thuật lại cảnh Phêrô đến thăm mộ, Lu ca nói rõ ràng, ông ta chỉ chứng kiến, nhưng trở về nhà rất đỗi ngạc nhiên, không hiểu gì hết" (Lc 24,12).

Maria Mác-đa-la đã giải thích theo kiểu nhân loại: "Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ".

Phêrô thì không hiểu gì hết.

Còn Gioan sáng suốt hơn, "ông đã thấy và đã tin".

Vây ông đã thấy những gì?

Ong đã chứng kiến cũng một sự việc như Phêrô, nhưng Phêrô không biết giải thích.

Để tin, cần phải có đôi mắt của tâm hồn... Cần những con mắt của tình yêu. Giờ đây chúng ta mới hiểu rõ, tại sao Gioan lại nói đến "người môn đệ Đức Giêsu thương mến". Vì tình yêu này mà Gioan đã chạy nhanh hơn! Vì tình yêu này mà ông là người đầu tiên đã tin sau này, trên bờ hồ Galilê, chính "người môn đệ Đức Giêsu thương mến" sẽ nhận ra Đức Giêsu... trước Phêrô (Ga 21, 7).

Ở đây chúng ta lại nhận thấy tình yêu luôn tác động tới đức tin. Những người nắm giữ quyền bính trong Giáo hội chưa hẳn đã có đặc ân này. Thay vì ganh tị nhau "quyền bính", trong Giáo hội, tất cả chúng ta được mời gọi trở nên những người đi tiên phong "trong tình yêu"... Đó là điều quan trọng hơn cả.

Ông đã thấy và đã tin.

Đối với Gioan, sự kiện khăn liệm được sắp xếp gọn gàng là một dấu chỉ còn ý nghĩa hơn ngôi mộ trống. Khi vừa nhìn thấy "băng vải tuột ra" và "khăn quấn đầu vẫn ở nguyên tại chỗ", nhờ một thứ trực giác soi sáng, ông đã nhận ra ngay rằng, Người đã không thể dùng tay chân mà di động thân xác ra khỏi mộ, nhưng chỉ có thể Người đã hết hiện hữu cách thể lý bên trong những khăn băng tẩm liệm vẫn còn y nguyên.

Thế mà những dấu chỉ đó đã không nói lên điều gì với Phêrô.

Dấu chỉ không có khả năng "trao ban đức tin" cho một ai. Dấu chỉ không tuyệt đối thúc ép ta. Cần phải vượt qua "cái thấy được", để đi tới "điều tin nhận". Chính Đức Giêsu sắp tuyên bố: "Phúc thay những người không thấy mà tin" (Ga 20,29). Như thế, Gioan đã tỏ ra là một môn đệ tuyệt vời: Ong tin... dù không thấy.

Đức tin cũng tương tự như những thực tại thâm sâu của con người. Chúng ta không bao giờ thấy được tình yêu mà những người yêu chúng ta. Chúng ta chỉ nhận được những dấu hiệu của tình yêu. đó. Do đó, những dấu chỉ trên đây chỉ thông tỏ ý nghĩa cho những ai biết đoán nhận ra chúng. Một cử chỉ, một lời nói, một sự vật... là những cử chỉ còn hàm hồ, bấp bênh! Chúng cần phải được giải thích, nhưng không phải là không có nguy cơ sai lầm: "Sự việc đó muốn nói với tôi điều gì đây? Tôi cần phải hiểu cử chỉ đó thế nào?" Đó là điều rất cảm động trong mọi cuộc gặp gỡ của con người. Cuộc gặp mặt nào cũng đòi buộc những kẻ tham dự phải ở trong tình trạng cởi mở và quan tâm chú ý. Tất cả chúng ta đâu có kinh nghiệm chua xót, vì đã ra một dấu hiệu mà không được hiểu biết, đã phát biểu một lời mà không được đón nhận, đã làm một cử chỉ mà người ta giải thích sai... Hai người cần phải yêu thương nhau hết tình thì sứ điệp trao đổi mới được nhận biết trọn vẹn ý nghĩa.

Vì thế, sự kiện "mộ trống" và "những khăn liệm được sắp xếp gọn gàng", chỉ những ai "yêu nhiều, mới có thể hiểu được.
Ta cũng cần hiểu các bí tích, như những dấu chỉ giống thế..

Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng: "Theo Kinh Thánh, Đức Giêsu phải chỗi dậy từ cõi chết".

Đúng hơn, ta nên dịch câu trên như sau: "Các ông không hiểu Kinh Thánh nói rằng, Ngài phải Phục sinh kẻ chết".

Thực vậy, các sự kiện chưa đủ! "Ngôi mộ trống" chỉ là một dấu chỉ đối với Gioan, trước khi ông gặp Đức Giêsu trong những lần hiện ra, bởi vì ông đã để cho Thánh Thần lay chuyển, mạc khải cho ông ý nghĩa của dấu chỉ. Trước những chứng cớ ông ghi nhận, Gioan còn biết nhớ lại những đoạn Kinh Thánh của Đức Giêsu đã trích dẫn cho các ông (Hs 6,2 ; Tv 2,7 ; Gn 2,I).

Ta cũng nên hành xử như thế, trước những biến cố của đời sống... Chúng ta chỉ có thể hiểu sâu sắc các biến cố đó, nếu ta làm sáng tỏ chúng, nhờ việc luôn suy niệm Lời Chúa, trong Thánh Thần.

Chính tình yêu làm cho ta hiểu rõ chân lý: Muốn tin, cần phải yêu mến.

Giáo phận Nha Trang - Chú Giải
 
" Người phải sống lạo từ cõi chết "

Ga 20: 1 - 9

I / Ý CHÍNH:

Bài Tin Mừng hôm nay thánh sử Gioan thuật lại câu chuyện về ngôi mộ trống của Chúa Giêsu để minh chứng Chúa Giêsu đã sống lại sau ba ngày chết chôn trong mồ.

II / SUY NIỆM:

Trong câu chuyện Chúa Giêsu phục sinh đã được bốn thánh sử diễn tả: Mt 28, 1 - 10 ; Mc 16, 1 - 8 ; Lc24, 1 - 12 ; Ga 20, 1 - 9. Nhưng mỗi người trình bầy theo nhãn giới của mình. Ơ đây thánh Gioan trình bày cốt để xác định về thiên tính của Chúa Giêsu. Vì thế, qua cách diễn tả những sự kiện về ngôi mộ trống, thánh Gioan muốn quả quyết Chúa Giêsu đã sống lại và trở về với Chúa Cha.

1 / " Ngày đầu tuần Maria Madalena đi ra mộ...":

+ Ngày đầu tuần hay cũng gọi chiều ngày Sabát ( Mt 28, 1 ) hoặc hết ngày Sabát ( Mc 16, 1 ), hoặc ngày thứ nhất trong tuần ( Lc24, 1 ). Tuy cách diễn tả khác nhau nhưng ý nghĩa đều có ý diễn tả ngày khởi đầu trong tuần theo kiểu gọi ngày của Cựu ước, còn cách gọi " ngày Chúa nhật " chỉ bắt đầu dùng từ sau khi Chúa Giêsu phục sinh. Vì thế ngày Chúa nhật bây giờ là ngày của Chúa.

+ " Maria Madalêna": các Tin Mừng nhất lãm nêu tên Maria Madalena trước các phụ nữ khác, còn Gioan ở đây chỉ nêu tên một mình Madalena. Điều này chứng tỏ Madalena giữ vai trò quan trọng trong biến cố Chúa phục sinh, vì bà là người đầu tiên thấy ngôi mộ trống và về báo tin cho Gioan và Phêrô đang khi các phụ nữ khác đến sau và về báo tin cho các tông đồ và các môn đệ khác ( Lc24, 10 ).

+ " Từ sáng sớm khi trời còn tối": về thời gian lúc các phụ nữ đến mộ, các thánh sử diễn tả khác nhau: Mt 28, 1 " Ngày bắt đầu sáng - Mc 16, 2 " Mặt trời hé mọc" - Lc24, 1 " Vừa tảng sáng", còn đối với Gioan ở đây, trong quãng thời gian chuyển tiếp giữa bóng tối và ánh sáng, ông nhấn mạnh đến bóng tối " Lúc trời còn tối" chi tiết khác nhau cho thấy rằng nơi Mt và Mc, ta được chứng kiến sự vươn lên của ánh sáng phục sinh, còn nơi Gioan bóng tối vẫn còn bao phủ trái đất mà sự sống là Chúa Giêsu, đã an nghỉ trong suốt ngày Sabát, dầu vậy ta đã ling cảm được trước ánh sáng đã gần tới.

+ " Bà thấy tảng đá được lăn ra ngoài mồ": ở đây muốn nói Madalena đã chứng kiến sự việc mồ trống thực, vì hòn đá lấp cửa mồ đã lăn ra ngoài, khiến những ai đã chứng kiến cũng đều nhận thấy rõ mồ đã trống rồi.

+ " Bà liền chạy về tìm Simon Phêrô...": ở đây nói lên vai trò đặc biệt của Phêrô, là đầu Giáo Hội, người cần biết rõ và biết trước mọi người về việc Chúa Giêsu phục sinh.

+ " Người môn đệ khác được Chúa yêu mến": ở đây Gioan muốn đồng hoá rõ ràng: " Người môn đệ khác " với " Môn đệ Chúa yêu" vì hai cách gọi này đều chỉ về Gioan tông đồ. Hơn nữa Gioan thường có thói quen không nhắc đến tên mình, nên đã gọi mình theo kiểu đó.

2 / " Người ta đã lấy xác Thầy khỏi mồ":

Khi thấy mồ trống, Madalena không nghĩ đến việc Chúa phục sinh như nhiều lần Chúa đã báo trước mà bà chỉ nghĩ theo lẽ tự nhiên là có ai đã lấy xác Thầy mình khỏi mồ.

" Chúng tôi không biết ": chữ " Chúng tôi" chứng tỏ Madalena không đi ra mồ một mình, nhưng cùng đi với các bà khác nữa ( Mt 28, 1 ).

3 / " Phêrô và môn đệ kia đi ra mộ":

Khi được báo tin mộ trống, hai ông không bàn hỏi gì với Madalena nhưng đã vội vã chạy ra mộ, điều này chứng tỏ lòng nhiệt thành và trách nhiệm của hai ông đối với việc Chúa Giêsu sống lại.

4 / " Môn đệ kia chạy nhanh hơn và đến mộ trước ":

Gioan chạy nhanh hơn và đến mộ trước vì ông còn trẻ và nhất là do sức mạnh của tình yêu đã thúc đẩy ông.

5 / " Ông cúi mình xuống thấy những khăn niệm còn đó":

+ Khăn niệm: tấm vải lớn bao toàn thân xác Chúa Giêsu ( tấm khăn này còn được giữ lại tại nhà thờ thánh Gioan ở Turin Bắc Ý ).

+ " Nhưng ông không vào": có nhiều cách giải thích khác nhau: cách thông thường hơn hết cho rằng Gioan có lẽ đã chờ Phêrô vì địa vị tối cao của Phêrô trong đoàn tông đồ. Tuy nhiên cách giải thích đơn giản hơn cả cho rằng: vì bàng hoàng trước cửa mộ rộng mở và những dải khăn liệm còn ở dưới đất, nên Gioan đã chần chờ một vài giây phút trước sự kiện là lùng này và như vậy Phêrô đã đủ thời giờ bắt kịp Phêrô vốn tính nóng nảy nhiệt thành, nên có lẽ khi tới nơi ông đã nhanh chân chui vào mộ trước khi Gioan hết sững sờ.

6 / " Và thấy những giây băng nhỏ để đó... ":

Bên trong mộ các khăn liệm vẫn còn, khác với Lazarô khi ông sống lại ( Ga 11, 43 ). Chúa Giêsu không cần đến sự giúp đỡ của con người như Người đã lăn tảng đá đóng kín mộ thế nào, thì Người cũng tự tháo gỡ các khăn liệm khăn phủ mặt thế ấy.

Sự kiện các khăn liệm còn đó, và khăn phủ mặt được buộc lại để riêng một chỗ, loại bỏ giả thiết cho rằng xác Chúa Giêsu bị đánh cắp, vì không lẽ những người trộm xác lại có thể nghĩ đến việc trấn lột xác chết như vậy.

7 / " Ông thấy và ông tin":

Sự kiện khăn liệm và khăn che mặt còn đó là một dấu chỉ Chúa sống lại. Thự vậy, mới qua dấu chỉ này thôi Gioan đã tin ngay là Chúa sống lại rồi. Đây là đức tin sống động của Gioan. Nếu không cần thấy Chúa đích thân sống lại để tin, thì ông cũng đến sức mạnh của các dấu chỉ đó.

Ơ đây chứng tỏ Gioan đã không thực hiện hoàn toàn lời chúc phúc của Chúa Giêsu " Phúc cho ai không thấy mà tin" ( Ga 20, 29 ). Chỉ có mình Đức Maria, người đã tin ở con mình trước khi thấy phép lạ ( Ga 2, 3 - 5 ) là chứng tỏ một đức tin hoàn hảo đến độ Người không xuất hiện trong tất cả các biến cố này người đã không cần đến bằng chứng hoặc dấu chỉ nào để tin vào sự sống lại của con mình, Chúa Giêsu hiện ra với Mẹ Người sau khi sống lại là dẻ chia sẻ niềm vui và chiến thắng vinh quang của Con cho Mẹ hơn là làm bằng chứng.

+ " Vì chưng các ông còn chưa hiểu...": các ông chưa hiểu, dĩ nhiên là trước khi chứng kiến sự kiện xảy ra trong mộ. Điều này chứng tỏ Phêrô và Gioan tin Chúa sống lại vì bằng chứng trước mắt chứ không phải vì các ông đã nhận ra lời Kinh Thánh tiên báo.

III / ÁP DỤNG:

A / Áp dụng theo Tin Mừng:

Giáo Hội muốn dùng bài Tin Mừng hôm nay trong ngày lễ mừng Chúa Giêsu phục sinh để một đàng là làm sống lại niềm tin của chúng ta vào mầu nhiện Chúa phục sinh, đàng khác thúc đẩy chúng ta noi theo con đường tử nạn của Chúa Giêsu để hy vọng vào sự sống lại của mình sau này.

B / Áp dụng thực hành:

1 / Nhìn vào Maria Madalena:


+ Bà là người đã được Chúa Giêsu trừ bảy quỷ ( Mc 16, 6 ).

+ Bà đã cùng một số người khác theo các tông đồ đi giúp việc truyền giáo ( Lc8, 2 - 3 ).

+ Bà hiện diện dưới chân Thánh giá ( Mt 27, 56 ) và ở mồ Chúa Giêsu lúc tản sáng ( Mt 26, 61 ).

+ Bà được Chúa đích thân hiện ra và bà nhận ra Chúa khi Người gọi tên bà ( Ga 20, 11, 28 ).

Noi gương bà Madalena chúng ta cũng được Chúa giải thoát khỏi quỷ qua Bí tích Giải tội. Vậy ta hãy nhiệt thành phục vụ Giáo Hội, trong việc truyền giáo và tông đồ, cản đảm trong sự trung thành với Chúa khi gặp thử thách cũng như lúc may mắn...

2 / Nhìn vào Phêrô và Gioan:

+ Cả hai ông chạy đến mộ của Chúa trước khi Chúa sống lại, làm một sự thất bại và nỗi thất vọng cho các ông, nhưng sau khi Madalena báo tin, hai ông vội vã chạy đến mộ: chứng tỏ hai ông được khơi dậy niềm hy vọng qua dấu chỉ ngôi mộ trống của Chúa. Trong cuộc sống, chúng ta có những lần thất bại đến tuyệt vọng. Hãy noi gương hai vị tông đồ biết đặt hy vọng vào Chúa sau những lần thất bại để tiếp tục công việc cho đến khi hoàn thành.

+ Ông thấy và tin: những dấu chỉ của ngôi mộ trống giúp Gioan tin và hiểu Thánh Kinh Lời Chúa soi đường chỉ lối cho ta, nhưng đôi những thực tại của cuộc sống giúp ta xác tín vào Lời Chúa hơn. Vì thế chúng ta tập thói quen lấy ánh sáng Lời Chúa soi chiếu vào mỗi thực tại để ta nhận ra ý Chúa qua các thực tại đó.

3 / Qua việc long trọng mừng lễ Chúa phục sinh:

Lòng trí Chúa hãy hướng tới những điều trên cao, đừng hướng về những điều dưới đất ( Cl 3, 1 - 4 ).

Năng lực thúc đẩy ta đón nhậ hy sinh là niềm vui phục sinh. Tin vào Chúa phục sinh là cửa mở để tin vào sự sống lại của mỗi người chúng ta, nhưng phải qua khổ nạn mới tới phục sinh.

4 / Ngay từ cuộc sống trần thế: người tín hữu đã sống trước phần nào mầu nhiệm phục sinh, tất nhiên vẫn còn phải sống trong tình trạng chờ đợi. Chúng ta sống mầu nhiện phục sinh bằng cách:

a) Nghe Lời Chúa: " Bấy giờ là chính lúc các kẻ chết sẽ nghe tiếng Con Thiên Chúa và những kẻ nghe thì sẽ được sống " ( Ga 5, 25 ).

b) Bằng cách thực hiện bác ái: " Chúng ta đã qua sự chết mà vào sự sống là vì chúng ta thương yêu nhau. Ai không thương yêu thì ở trong sự chết" ( 1Ga 3, 14 ).

c) Rước Mình Thánh: " Ta là bánh bởi trời, ai ăn bánh này sống đời đời " ( Ga 6, 50 ).

 
Lm Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc - Bài Giảng Lễ
 
"Chúa đã sống lại, alleluia!"

Cv 10,34.37-43 ; Cl 3,1-4 ; Ga 20,1-9

Một cuốn phim mang tựa đề "Thế giới trong tăm tối" diễn tả câu chuyện về một nhà khảo cổ danh tiếng tổ chức một cuộc khai quật khoa học ở Giêrusalem:

Ngọn đồi Gôlgôta được cẩn thận đào bới, kể cả những phiến đá và các hang động của một nghĩa trang bên cạnh cũng được thăm dò khám xét kỹ lưỡng. Vì theo Tin Mừng Thánh Gioan, xác của Chúa Giêsu được chôn cất trong một phần mộ gần nơi Ngài bị án tử hình thập giá. Sau bao công khó đào bới khám xét, một ngày kia nhà khảo cổ tuyên bố: "Tôi đã tìm được xác ông Giêsu". Rồi ông tổ chức một cuộc họp báo rầm rộ, qui tụ hàng trăm ký giả và nhiếp ảnh viên để trìng bày kết quả mĩ mãn của bao ngày tháng đào bới khảo cứu vất vả. Ông đã trưng dẫn trước mặt mọi người một xác người đã khô đét, nhưng còn có thể nhận ra là tay chân của xác người này bị đâm thủng, cạnh sườn bị đâm thâu và cả những dấu chứng tỏ thân xác ấy bị nhuốm máu qua những vết trong trên tấm khăn liệm xác.

Cuốn phim quay lại cảnh mọi người im lặng theo dõi bài thuyết trình của nhà khảo cổ. Tình cờ có một phụ nữ phát biểu lớn tiếng: "Đây là sự thật hiển nhiên. Ông ta đã bị đóng đinh, đã chết và đã được táng xác" và nhà khảo cổ tiếp lời: "Vâng, đúng thế, bị đóng đinh, chết và được an táng. Nhưng làm gì có chuyện phục sinh, bởi vì xác ông ta vẫn còn nằm đây".

Tiếp đến, cuốn phim diễn tả hâu quả của cuộc tìm được xác ông Giêsu:

-Không ai còn mừng lễ Phục Sinh nữa.

- Một Linh mục tắt đèn Nhà Chầu, cất Minh Thánh Chúa và đóng cửa nhà thờ.

- Chuông các thánh đường im tiếng.

- Các nữ tu cởi khăn trùm đầu.

- Thánh giá tại nhiều nơi bị hạ xuống.

- Đèn bên những ngôi mộ bị dập tắt.

- Thế giới chìm đắm trong màn đêm u tối dày đặc.

Cuốn phim kết thúc với cảnh chính nhà khảo cổ đang hấp hối. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, ông ta đã thú nhận: "Tôi đã đánh lừa thế giới. Chính tôi đã làm giả xác của ông Giêsu và bí mật đặt vào trong mộ mấy năm trước khi khởi sự cuộc đào bới tìm kiếm này".

Sau lời tuyên bố đó là cảnh hàng ngàn người tuôn đến ngôi mộ thánh ở Giêrusalem như chúng ta chứng kiến hàng năm trong Tuần Thánh. Những ngọn nến được thắp lên và các tín hữu mang những ngọn nến được thắp sáng, ngọn nến của niềm hy vọng đi khắp nơi soi sáng con đường tăm tối. Chuông các nhà thờ ngân vang như báo tin Chúa Giêsu đã phục sinh: Tình yêu mạnh hơn tội lỗi. Sự sống mạnh hơn cái chết.

Anh chị em thân mến,

Câu chuyện phim giả tưởng trên đây mang sứ điệp của lễ Phục Sinh mà những người kitô hữu chúng ta tưởng niệm và mừng kính hôm nay. Đó là cuộc Phục Sinh của Chúa Giêsu không chỉ liên hệ đến cuộc đời của Ngài mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến vận mạng của toàn thể nhân loại cũng như ảnh hưởng mật thiết đến cuộc sống niềm tin và hy vọng của tôi và của anh chị em. Vì nếu Chúa Kitô không sống lại thì chúng ta vẫn còn mang tội lỗi trong mình và không ai giải cứu được chúng ta, không ai đem chúng ta đến gặp Thiên Chúa được. Nếu Chúa Kitô không sống lại, chúng ta sẽ là kẻ vô phúc nhất, ngu đần nhất, vì chúng ta đặt tin tưởng vào một chuyện hão huyền. Nếu Chúa Kitô không sống lại, thì thập giá chỉ là dấu hiệu của ô nhục, những đau khổ của con người không có lối thoát và cái chết của con người là ngõ cụt là đường cùng.

Nhưng Chúa Kitô đã sống lại. Ngài đã cho chúng ta niềm hy vọng. Ngài đã đem theo những đau khổ của loài người qua bên kia bờ tuyệt vọng, làm cho những quằn quại đau thương của con người không còn là nỗi quằn quại của kẻ sắp bị cái chết tiêu diệt, nhưng là nỗi đau của người mẹ đang sinh con, nỗi đau làm phát sinh sự sông mới.Chúa Giêsu sống lại,thâp giá không còn là dấu hiệu của ô nhục, nhưng là dấu hiệu của vinh quang.

Mừng Chúa sống lại, người kitô hữu cũng mừng sự sống lại của chính mình bằng cách đồi mới cách sống của mình, như Thánh Phaolô đã kêu gọi: "Nếu anh em sống lại với Đức Kitô, anh em hãy nghĩ đến những sự trên trời chứ đừng nghĩ đến những sự dưới đất". Đây không phải là lời khuyên xa lánh các thực tại trần thế. Trái lại, đây là lời mời gọi mỗi người Kitô hữu hãy tìm và thể hiện những giá trị mới của cuộc sống mà Chúa Giêsu đã mạc khải qua các giáo huấn, qua cuộc sống cũng như cái chết của Ngài.

Một em bé kia thường nghe mẹ em buột miệng thốt lên: "Chúa đã sống lại, ta hãy vui lên!". Mội khi gặp điều gì khó khăn trong cuộc sống, bà tự nhủ: "Chúa đã sống lại, hãy vui lên!". Thường bà tự nhủ trong lòng, nhưng một khi bà thốt lêm thành tiếng, con trai của bà cũng nghe được. Em bé bắt chước mẹ, em thốt lên câu đó mỗi khi em gặp điều bất bình, khi bạn bè chơi xỏ, khi gặp đièư không được như ý… Và thú thật, khi thốt lên câu: "Chúa đã sống lại, ta hãy vui lên!" thì em bình thản trở lại. Hành động của bà mẹ và em bé kia nói lên cố gắng sống niềm vui phục sinh một cách cụ thể, đem một chân lý nền tảng nhất của đạo Kitô vào trong cuộ sống hằng ngày, qua đó, biểu lộ niềm tin và hy vọng. Tình yêu mạnh hơn tội lỗi. Sự sống mạnh hơn cái chết.

Thưa anh chị em,

Người Kitô hữu mừng Chúa sống lại cũng được mời gọi làm chứng cho niềm tin về sự sống mới này.Chúa Kitô đã chết và đã sống lại vì chúng ta, chíng là để chúng ta không cón sống cho mình nữa, không còn khư khư giử lấy mạng sống, giữ lấy sự an toàn ích kỷ cho mình, nhưng là sống cho Chúa và như Chúa, hoàn toàn vì Thiên Chúa và cho mọi người. Ước chi thánh lễ phục sinh hôm hay cũng như thánh lể mỗi ngày Chúa Nhật giúp chúng ta thực thi cụ thể trong cuộc sồng lời chúng ta tuyên xưng: "Chúng con loan truyền Chúa đã chịu chết. Chúng con tuyên xưng Chúa đã sống lại. Chúng con đợi chờ ngày Chúa quang lâm"./.

Ngôi mộ trống

Cv 10,34.37-43 ; Cl 3,1-4 ; Ga 20:1-9

 
Tại một nghĩa trang bên Đức, có một ngôi mộ rất được chú ý, đó là một ngôi mộ được làm bằng đá hoa cương, bên dưới đúc xi măng cốt sắt rất kiên cố. Ngôi mộ được nhiều người chú ý vì đó là ngôi mộ của một người đàn bà giàu có. Trong chúc thư, bà yêu cầu người ta xây cho bà một ngôi mộ kiên cố, để nếu có sự sống lại của người chết, thì bà vẫn nằm yên dưới mộ. Trên mộ, bà ta xin được ghi: "Đây là ngôi mộ sẽ không bao giờ mở ra".

Thời gian trôi qua, ngôi mộ xem ra vẫn kiên cố. Thế nhưng một hôm có một hạt giống rơi vào khe đá của ngôi mộ, gặp đất bên dưới, nó bắt đầu nảy mầm, lớn lên thành cây, rễ của nó đâm xuyên qua ngôi mộ để rồi cuối cùng làm cho quan tài của người đàn bà vỡ ra.

Câu truyện trên đây có thể là một dụ ngôn về tình yêu vô bờ của Thiên Chúa đối với con người, khi Ngài cho Đức Kitô sống lại từ trong cõi chết để mở lối cho con người vào sự sống vĩnh cửu với Ngài. Con người có thể chối bỏ và khước từ Thiên Chúa, nhưng với muôn ngàn cách thế mà con người không lường được, Thiên Chúa vẫn tiếp tục theo đuổi con người. Con người tưởng mình có thể lẫn trốn được Thiên Chúa, nhưng như một hạt giống nhỏ bé, tình yêu của Ngài vẫn tiếp tục len lỏi vào tâm hồn con người. Thiên Chúa là Chúa của sự sống. Vinh quang, danh dự và niềm vui của Ngài là con người được sống. Cho dù con người có loại bỏ Thiên Chúa để đi tìm cái chết, Ngài vẫn đeo duổi và chờ đợi con người.

Anh chị em thân mến,

Chúa Giêsu đi vào cõi chết của con người. Người ta đã chôn Ngài trong mộ đá. Nhưng rồi sáng ngày thứ nhất trong tuần, người ta không thấy xác Ngài ở đó nữa. Bà Maria Mađalêna ra thăm mộ đã hoảng hốt kêu lên: "Người ta đã lấy mất xác Thầy rồi!" Hai môn đệ Phêrô và Gioan chạy ra mộ kiểm chứng. Hai ông thấy ngôi mộ mở toang. Nhìn vào trong thấy khăn liệm còn đó, nhưng xác Ngài đã biến mất. Phêrô im lặng suy nghĩ, còn Gioan, người môn đệ Chúa yêu đã thấy và đã tin: "Đúng như Thầy đã nói, Thầy đã sống lại thật rồi".

Thưa anh chị em,

Tất cả khởi đầu với ngôi mộ trống. Nhưng nếu chỉ có ngôi mộ trống mà thôi thì cũng chẳng làm nên chuyện. Câu chuyện chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó có nội dung, và nội dung ở đây là: "Ngài không còn ở trong mộ nữa, vì Ngài đã sống lại như Ngài đã nói". Từ ngôi mộ ấy đã bật lên sự sống. Đó là niềm tin của chúng ta. Cả cuộc đời kitô hữu là những cuộc mai táng liên tục, những cái chết và từ bỏ liên tục. Đừng sợ những ngôi mộ. Đừng sợ chôn đi điều phải chôn, mất đi điều phải mất. Đừng sợ bị thối rữa hay bị tảng đá to che chắn đời mình. Ước gì mọi ngôi mộ của chúng ta cũng giống như ngôi mộ của Chúa Giêsu: bị mở tung để sự sống bừng dậy.

Nếu Chúa Kitô đã không sống lại, thì mọi sự sẽ vẫn như cũ: sự sống có nghĩa lý gì, nếu bao giờ nó cũng kết liễu bằng cái chết như một trái thúi rơi nát dưới gốc cây? Con người có nghĩa là gì, nếu mọi cố gắng đạt hạnh phúc chỉ bảo tồn được ảo tưởng của hạnh phúc, của những hạnh phúc luôn bị cái chết đe dọa từ bên trong? Tình yêu có nghĩa là gì, nếu mọi cú sét ái tình sẽ tắt nghẽn trên nấm mộ phân ly? Sống mà giả quên sự chết hiện diện khắp nơi, phải chăng là một trò chơi không xứng với một con người? Trò chơi của cuộc sống ấy sẽ phi lý và thất vọng, nếu Chúa Kitô đã không sống lại.

Thánh Phaolô đã nói: Nếu Chúa Kitô đã không sống lại, thì chúng ta là những người vô phúc nhất, ngu đần nhất, vì chúng ta đặt tin tưởng vào một chuyện hão huyền. Nếu Chúa Kitô đã không sống lại thì chúng ta vẫn còn mang tội lỗi ở trong mình và không ai giải cứu được chúng ta, không ai đem chúng ta đến gặp Thiên Chúa được. Nếu Chúa Kitô không sống lại, thì thập giá chỉ là dấu hiệu của nhục nhã, đau khổ của con người sẽ không có lối thoát và cái chết của con người sẽ là đường cùng, là ngõ cụt. (x.1Cr 15,12tt).

Nhưng, Chúa Kitô đã sống lại thật rồi. Ngài đã đem theo những đau khổ của loài người qua bên kia bờ tuyệt vọng. Ngài đã làm cho những quằn quại đau thương của con người không còn là nỗi quằn quại đau thương của người sắp bị cái chết tiêu diệt, nhưng là nỗi đau của người mẹ đang sinh con, nỗi đau sẽ phát sinh sự sống mới, một niềm vui mới. Ngài đã làm cho cuộc sống trần gian không còn là một ảo tưởng, nhưng là một phản ảnh và là con đường đưa tới cuộc sống vĩnh cửu.

Chúa Kitô đã sống lại: Từ nay thập giá không còn là dấu hiệu của nhục nhã, nhưng là dấu hiệu của vinh quang. Chúa Kitô đã sống lại, cái chết của con người không còn là đường cùng, là ngõ cụt, vì ánh sáng của Chúa Kitô đã bừng lên trong đêm tối, đã chiếu sáng ở cuối con đường hầm. Chúa Kitô đã sống lại, niềm hy vọng phục sinh của thân xác chúng ta không phải là hão huyền, vì Ngài đang ngự bên hữu Thiên Chúa, Ngài đang điều khiển giòng lịch sử và khi Ngài xuất hiện trong vinh quang, thì chúng ta cũng được xuất hiện trong vinh quang cùng với Ngài.

Chúa Kitô là người chiến thắng chung quyết trên đau khổ, tội lỗi và sự chết. Trong Ngài, mỗi người và cả nhân loại, quá khứ, hiện tại và tương lai đều đã chết và đã sống lại. Không còn người nào, không còn một tội nào, không còn một giây phút nào của cuộc sống chúng ta thoát khỏi cuộc chiến thắng của Chúa Kitô. Không có gì nằm ở ngoài cuộc cứu độ mà Chúa Kitô đã vĩnh viễn hoàn thành. Ngài là Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại.

Anh chị em thân mến,

Chúa Kitô đã phục sinh, Ngài đang sống trong vinh quang của Chúa Cha. Chính vì chúng ta tin rằng chúng ta đã được phục sinh trong Chúa Kitô và sau này sẽ được phục sinh như Ngài, nên chúng ta đón nhận cuộc đời, kể cả đau khổ và cái chết, một cách tích cực, chủ động và vui tươi. Đau khổ không còn phi lý nữa, bởi vì thập giá đã được đưa vào vinh quang phục sinh. Không còn gì là tuyệt đối bi đát, tuyệt đối hư hỏng, vì từ cái chết, Thiên Chúa đã làm phát sinh sự sống trong Chúa Kitô. Nếu chúng ta đã tin vào sự phục sinh, vào chiến thắng chung quyết của Chúa Kitô, thì chúng ta sẽ không còn lo âu, buồn phiền, không còn sống ích kỷ hẹp hòi, mà dám từ bỏ, hy sinh, xả thân, liều mạng vì sự sống và hạnh phúc của mọi người. Phục sinh không chỉ nhằm ngày mai, nhằm bên kia thế giới, nhằm thiên đàng đã được hứa ban. Phục sinh cũng nhằm và còn nhằm hôm nay, nhằm chính cuộc sống cụ thể của chúng ta.

Chúng ta có thể thực hiện trước kỳ hạn lễ Vượt Qua của chúng ta trên miền đất chúng ta đang sống hằng ngày bằng cách sống cho tình yêu, chết vì tình yêu: yêu Chúa, yêu anh em, yêu quê hương, yêu đồng bào, đó phải là chương trình mới của cuộc sống vượt qua của chúng ta ở cõi đời này: chương trình Phục Sinh.

Đức Kitô Phục Sinh, niềm vui cuộc sống

Cv 10,34.37-43 ; Gl 3,1-4 ; Ga 20:1-9

Giáo Hội Chính Thống có một truyền thống rất ý nghĩa về lễ Phục Sinh: Sau Thánh lễ mỗi người được phát cho một quả trứng gà đã được làm phép. Khi đến chúc mừng lễ cho nhau, người ta đập vỡ quả trứng và nói: "Đức Kitô đã sống lại". Người kia cũng đập quả trứng và đáp lại: "Quả thật, Đức Kitô đã sống lại, Halleluia".

Ngày nay, ở các nước Âu Châu, vào dịp lễ Phục Sinh, người ta vẫn thấy trưng bày các quả trứng được trang trí tô vẽ đủ màu sắc rực rỡ, thậm chí có cả những quả trứng chocolat lớn nhỏ đủ cỡ dành để làm quà tặng mừng Chúa Phục Sinh.

Thưa anh chị em,

Quả trứng có vỡ ra, con gà mới có thể chào đời. Cũng thế, ngôi mồ có mở ra, Đức Kitô mới sống lại từ cõi chết. Trước khi đập vỡ quả trứng để chào đời, con gà đã phải ngủ vùi trong quả trứng. Cũng thế, Đức Kitô đã bị chôn vùi trong mồ ba ngày rồi mới sống lại. Tin Mừng hôm nay đã cho chúng ta thấy ngôi mồ trống và loan báo tin Đức Kitô đã sống lại.

Ngài đã chết. Người ta đã chôn Ngài trong mồ đá. Cửa mồ mở ra. Xác Ngài không còn đó nữa. Maria Mađalêna hoảng hốt kêu lên: "người ta đã lấy mất xác Thầy rồi!". Hai môn đệ Phêrô và Gioan chạy ra mồ kiểm chứng. Hai ông thấy mồ mở toang. Nhìn vào trong thấy khăn liệm còn đó, nhưng xác Ngài đã biến mất. Gioan, người môn đệ Chúa yêu, đã thấy và đã tin: Chúa đã sống lại thật như Ngài đã tiên báo.

Chúa đã sống lại. Chúa đã từ trong cõi chết sống lại. Ngài sống lại thật sự chứ không phải chỉ sống trong tưởng tượng, trong lòng tin của chúng ta, tuy chúng ta không thấy Ngài, tuy chúng ta chỉ nhận ra Ngài nhờ đức tin. Nhưng Ngài đang sống thật, dù chúng ta không tin. Ngài cũng đang sống thật, đang điều khiển dòng lịch sử.

Chúa Giêsu đã sống lại. Ngài đã không tỏ mình cho quần chúng từng đi theo Ngài khi Ngài đi rao giảng, nhưng chỉ cho một số người được tuyển chọn để làm chứng nhân, được thấy Ngài, được ăn uống với Ngài, sau khi Ngài từ cõi chết sống lại.

Người Do Thái không chịu tin, đút tiền cho lính canh để lấp liếm. Người Hy Lạp cười khinh bỉ khi nghe Thánh Phaolô nói đến hai tiếng "Phục Sinh". Nhưng đối với chúng ta thì Chúa Giêsu sống lại đem ý nghĩa cho cuộc sống của chúng ta: Nếu Chúa Kitô không sống lại, chúng ta vẫn còn mang tội lỗi trong mình và không ai giải cứu được chúng ta, không ai đem chúng ta đến gặp Thiên Chúa được. Nếu Chúa Kitô không sống lại, chúng ta sẽ là những người vô phúc nhất, ngu đần nhất, vì chúng ta đặt tin tưởng vào một chuyện hão huyền. Nếu Chúa Kitô không sống lại, thì thập giá chỉ là dấu hiệu của ô nhục, những đau khổ của con người không có lối thoát và cái chết của con người là ngõ cụt, là đường cùng.

Nhưng Chúa Kitô đã sống lại. Ngài đã cho chúng ta niềm hy vọng. Ngài đã đem theo những đau khổ của loài người qua bên kia bờ tuyệt vọng, làm cho những đau thương quằn quại của con người không còn là nỗi quằn quại của kẻ sắp bị cái chết tiêu diệt, nhưng là nỗi đau của người mẹ đang sinh con, nỗi đau làm phát sinh sự sống mới. Chúa Kitô đã sống lại, thập giá không còn là dấu hiệu của ô nhục, nhưng là dấu hiệu của vinh quang. Tin Mừng theo Thánh Gioan quan niệm thập giá là nơi Chúa Giêsu được tôn vinh. Cái "Giờ" mà Chúa Giêsu vừa trông đợi vừa lo sợ, chính là giờ Ngài được giương cao trên thập giá để kéo mọi người lên cùng Ngài. Chúa Giêsu đã sống lại, khiến cho cái chết của chúng ta không còn là ngõ cụt, không còn là đêm tối tuyệt đối nữa, vì ánh sáng của Chúa Kitô đã bừng lên trong cõi chết. Chúa Kitô đã sống lại, niềm hy vọng của chúng ta không phải là hão huyền, vì Ngài đang ngự bên hữu Thiên Chúa, Ngài đang điều khiển dòng lịch sử, và khi Ngài xuất hiện trong vinh quang, thì chúng ta cũng được xuất hiện cùng với Ngài trong vinh quang bất diệt.

Anh chị em thân mến,

Chúng ta đã được sống lại với Chúa Kitô Phục sinh. Nhờ phép Rửa, chúng ta đã được tham dự vào sự chết và sự sống lại của Chúa Kitô, được mang mầm sống mới trong mình, mầm sống ấy phải lớn lên trong cuộc sống mỗi ngày và sẽ đưa chúng ta vượt qua chính cái chết tự nhiên của con người để vào cuộc sống vinh quang với Chúa Kitô. Sự sống của chúng ta, vinh quang của chúng ta được dấu ẩn trong Chúa Kitô. Hiện giờ chúng ta chưa thấy vinh quang ấy như thế nào, nhưng khi Chúa Kitô xuất hiện, chúng ta sẽ thấy. Vì Ngài thế nào thì chúng ta cũng sẽ giống như vậy.

Chúa Kitô đã chết và đã sống lại vì chúng ta, chính là để chúng ta không còn sống cho mình nữa, không còn khư khư giữ lấy mạng sống, giữ lấy sự bảo đảm an toàn ích kỷ của mình nữa, nhưng là phải sống cho Chúa Kitô và như Chúa Kitô, hoàn toàn vì Thiên Chúa và cho tha nhân. Nếu đã được sống lại với Chúa Kitô, chúng ta đừng tìm những gì con người ích kỷ hẹp hòi, con người theo xác thịt xui chúng ta tìm kiếm ; nhưng hãy nhìn thẳng về cùng đích của chúng ta mà tiến lên. Chúa Kitô đã đem lại cho những đau khổ của con người một ý nghĩa, đã làm cho cuộc sống trần gian nầy không còn là một ảo tưởng, nhưng là một phản ảnh và là con đường đưa đến cuộc sống vĩnh cửu.

Nếu chúng ta tin như vậy, thì hơn ai hết, chúng ta phải làm chứng cho niềm tin phục sinh nầy bằng cách dám chấp nhận gian khổ, chấp nhận hy sinh, để cùng với mọi người xây dựng một xã hội tốt đẹp, cho mọi người được sống xứng đáng phẩm giá con người hơn. Nếu chúng ta tin rằng, mọi sự từ bỏ đều được Chúa đền bù, mọi hy sinh đều là tham dự vào hy sinh cao cả của Chúa Kitô, thì tại sao chúng ta không dám từ bỏ, không dám hy sinh? Nếu chúng ta tin rằng: Chúa Kitô đã giải thoát chúng ta khỏi ách tội lỗi, khỏi con người theo xác thịt ích kỷ hẹp hòi và cho chúng ta một Thần Khí mới, một tinh thần mới, thì tại sao chúng ta cứ tiếp tục sống ích kỷ hẹp hòi? Tại sao chúng ta cứ khư khư giữ lấy sự an toàn bản thân, không dám liều mạng, xả thân vì anh em, vì tha nhân? Hạt giống chỉ có thể nẩy mầm khi nó có thể phá hủy được cái vỏ bao bọc nó. Con gà chỉ có thể ra đời khi phá vỡ vỏ trứng. Con tằm phải phá ổ kén mới thành con bướm. Có cuộc chuyển hóa hay vượt qua nào mà không đau khổ, rướm máu?

Trong ngày mừng Chúa Phục Sinh, chúng ta hãy kiểm điểm xem: chúng ta đã thật sự sống niềm tin phục sinh chưa? Chúng ta đã đánh giá đúng những thực tại trần gian hay chưa? Chúng ta đã nhìn gian khổ, hy sinh, nổ lực của con người bằng cặp mắt nào, cặp mắt của một người chỉ tin vào của cải vật chất hay của một người tin vào một cuộc sống vượt trên cuộc sống trần gian nầy và làm cho cuộc sống trần gian nầy có ý nghĩa cao cả thật sự của nó?

Trong Thánh Lễ Phục Sinh hôm nay, khi chúng ta mừng Chúa Kitô đã chết và đã sống lại vì chúng ta, chúng ta hãy cầu xin Ngài cho chúng ta biết sống như Ngài: sống cho Chúa và sống cho mọi người anh em.

 
Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng - Bài Giảng Lễ
 
ĐỨC KITÔ THỰC SỰ ĐƯỢC PHỤC SINH

Hãy sám hối và tin vào Tin mừng, giáo huấn mà chúng ta đã nghe ngay từ đầu mùa Chay, đã mang đầy đủ ý nghĩa, đã được hiểu thấu đáo nhờ mầu nhiệm Phục sinh mà chúng ta cử hành hôm nay.

Phục sinh (Pâques), một từ ngữ có nghĩa là vượt qua. Đức Kitô, đã ra khỏi mồ và vượt qua cái chết để đi vào cõi sống. Chính nhờ Người, chúng ta là những môn đệ của Người cũng sẽ vượt qua bóng tối để vào miền ánh sáng ; từ thất vọng đi qua hy vọng ; từ cái chết bởi tội lỗi đi đến sự sống ân sủng. Con người được phục sinh với Đức Kitô. Đó chính là Tin mừng cho con người và toàn thể vũ trụ.

I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

1. Bài đọc I: Tđcv 10, 37-43

Thánh Phêrô xác nhận trước viên quan bách quản Corneille và gia đình ông: Đức Kitô đã Phục sinh.

a. Corneille là quan bách quản của Rôma nghe biết về Chúa Giêsu Kitô đã đến xin Thánh Phêrô cho gia nhập Giáo hội và được rửa tội với cả gia đình của ông.

b. Sau khi đã tuần tự trình bày về đời sống của Chúa Giêsu, Thánh Phêrô đã đưa người nghe đến đỉnh cao nhất trong bài giảng của mình là việc Chúa Giêsu chịu chết trên thập giá và phục sinh vinh hiển.

c. Sự phục sinh của Chúa Giêsu Kitô chính là trung tâm của lịch sử nhân loại, là điểm tựa, là nền tảng cho niềm tin Kitô giáo.

2. Bài đọc II: Cl 3,1-4

Sự bận tâm quan trọng nhất của Kitô hữu

Thánh Phaolô nhắc nhở các tín hữu Côlôsê: vì liên đới với Đức Kitô, các Kitô hữu cần phải quan tâm hàng đầu đến việc tìm kiếm những sự thiện thiêng liêng trên trời.

a. Măc dầu còn sống dưới trần gian, vẫn phải chịu sự chi phối của những nhu cầu thể chất, nhưng Kitô hữu một khi đã được sống lại với Đức Kitô thì phải tìm kiếm và sống những giá trị Nước Trời. Đó mới là những giá trị đích thực của cuộc sống tại thế cũng như mai hậu.

b. Vì đã được cùng chết với Đức Kitô và sự sống của Người đã tiềm tàng nơi Kitô hữu nên Kitô hữu phải sống một đời sống mới, đời sống của những người con cái Chúa. Đời sống này là đời sống theo ơn gọi và ân sủng của Bí tích Thánh tẩy.

c. Tìm kiếm và chọn lựa những giá trị Nước Trời trong cuộc sống tại thế luôn là những thách đố cho Kitô hữu. Mỗi người cần phải tín thác vào Chúa, gắn bó với Chúa để sự phục sinh của Người triển nở trong cuộc đời của mình.

3. Tin mừng: Ga 20:1-9

Ngôi mộ trống

Được Maria Madalêna báo tin thấy ngôi mộ trống, Phêrô và Gioan đã đến mộ và đã chứng kiến một sự thật: sự thật đó đã giúp hiểu rằng Chúa Giêsu đã phục sinh.

a. Trong tư tưởng của Gioan, việc khám phá ngôi mồ trống đòi hỏi phải có nhãn giới đức tin, bằng không sẽ không thể đón nhận được mầu nhiệm phục sinh. Sự kiện ngôi mộ trống cần phải có ánh sáng đức tin và lời Kinh thánh mới có thể đọc được nội dung mầu nhiệm phục sinh được công bố nơi sự kiện ấy.

b. Sự kiện ngôi mộ trống không đủ dữ kiện để kết luận Chúa Giêsu đã phục sinh. Chính người Do Thái đã không tin vào sự kiện này và còn tung tin các môn đệ đã lấy cắp xác Thầy mình. Ngay khi phát hiện ngôi mộ trống thì Maria Mađalêna đâu có tin mà hoảng hốt: Phêrô không có phản ứng gì cho thấy ông đã tin Thầy phục sinh.

c. Chính Gioan đã thấy và đã tin: ông là người yêu Chúa và được Chúa yêu, chính nhờ tình yêu này mà ông đã tin vào những gì mình thấy để khẳng định Thầy mình đã sống lại.

II. GỢI Ý BÀI GIẢNG

1. Phục sinh, cuộc khải hoàn của sự sống:

Những người lên án tử hình Chúa Giêsu khi thấy Người đã chết trên thập giá tin rằng cuộc đời Người đã kết thúc, một kết thúc nhục nhã. Người đã mãi mãi bị che lấp trong mồ bởi tảng đá lấp cửa mồ. Thế nhưng, tất cả đã đảo lộn, Chúa Giêsu đã phục sinh và sống một cuộc sống bất tử. Người đã chiến thắng cái chết. Đây chính là sự kiện quan trọng nhất trong Kitô giáo chúng ta. Không có sự phục sinh của Chúa Giêsu, đức tin của các Tông đồ sẽ hoàn toàn sụp đổ. Sự phục sinh của Chúa Giêsu đã tuôn đổ một sự sống mới trên nhân loại. Sự sống ấy càng triển nở và gia tăng trong đời sống của con người trải qua dòng lịch sử của nhân loại cho đến hôm nay và mãi mãi. Sự sống mới của Chúa Giêsu đã được tôn vinh khải hoàn trong thế giới qua biết bao nỗ lực loan báo Tin mừng của Hội thánh, qua nỗ lực của mọi Kitô hữu thành tâm thiện chí xây dựng hòa bình, bảo vệ sự sống.

Ngày nay, sự sống mới của Chúa Giêsu vẫn khải hoàn nơi thế giới và con người. Dẫu rằng thế giới hôm nay đang chứng kiến nền văn minh của sự chết với biết bao hệ quả tai hại của nó: chiến tranh, tẹ nạn, dịch bệnh… Chính Kitô hữu, chính Hội thánh sẽ là những nhân tố chủ yếu, quan trọng và cần thiết để làm cho sự sống mới của Chúa Giêsu Phục sinh tuôn tràn trên trái đất này. Sự sống của Chúa Giêsu Phục sinh là nguồn mạch, là động lực để mọi người chung tay xây dựng nền văn hóa sự sống và nền văn minh tình thương.

2. Phục sinh, sự kiện lịch sử xác thực:

Cho dù có nhiều người bên ngoài, không cùng niềm tin như những anh em Do Thái cho rằng: Chúa Giêsu không sống lại. Họ nói các môn đệ lấy xác Chúa rồi tung tin đồn Người sống lại ; cho dù có những nơi, những người và những lúc niềm tin Chúa Giêsu phục sinh bị nghi ngờ, bị lung lạc bởi các lạc giáo. Thế nhưng sự kiện Chúa Giêsu phục sinh vẫn là một sự kiện lịch sử. Sự kiện này đã mở ra một kỷ nguyên mới cho nhân loại, kỷ nguyên cứu độ. Sự kiện lịch sử ấy có lẽ sẽ không được ghi nhận bằng nhãn giới của khoa học lịch sử hiện đại, cũng không thể minh chứng bằng những vết tích của khoa khảo cổ học. Sự kiện lịch sử này được trình bày, được giải thích và minh chứng bằng chính lịch sử của Hội thánh Chúa Giêsu Kitô, bằng chính sự trường tồn của Giáo hội, bằng chính đời sống của mỗi Kitô hữu trong Giáo hội. Sự phát triển của Giáo hội hơn hai ngàn năm qua là lý chứng hùng hồn, sống động nhất cho sự kiện Chúa Giêsu phục sinh. Như Thánh Phaolô đã khẳng định nếu Đức Kitô không sống lại thì lời rao giảng Tin mừng là trống rỗng, Giáo hội và Kitô hữu là những người giả dối (x. 1Cr 15, 12-20).

Trong nền khoa học kỹ thuật phát triển hôm nay, vấn nạn về sự phục sinh của Chúa Giêsu sẽ là những thách đố không dễ giải đáp thỏa đáng. Điều này đòi hỏi Kitô hữu cũng như toàn thể Giáo hội phải nỗ lực học hỏi và sống Lời Chúa hơn nữa để làm chứng cho Chúa Giêsu Phục sinh.

3. Phục Sinh, ánh sáng và niềm vui hy vọng cho con người:

Sự phục sinh của Chúa Giêsu mang ý nghĩa nhân sinh quan trọng cho toàn thể nhân loại. Thân phận con người mỏng dòn yếu đuối phải chịu đau khổ, phải chịu nhiều thử thách và phải chết. Nhưng tất cả chỉ là thoáng qua, là một khoảng khắc nhất thời. Sự sống của Thiên Chúa nơi Đức Kitô phục sinh mới là vĩnh cửu. Sự sống ấy Thiên Chúa đã ban tặng cho nhân loại: Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban tặng Con Một Ngài, để những ai tin vào Người Con ấy thì sẽ được sống đời đời. Chúa Giêsu phục sinh đã mở ra một quang lộ mới đi tới sự sống vĩnh cửu của Thiên Chúa. Người đã chiến thắng tử thần để mở đường cứu độ cho toàn thể nhân loại. Con người đang đi trong tối tăm của bi quan, thất vọng của sự kềm hãm trong tội lỗi, trong nô lệ cho ma quỉ và sự chết đã thấy ánh sáng huy hoàng, đã tìm thấy được niềm vui, niềm hy vọng. Chúa đã sống lại, ai tin vào Người cũng sẽ được sống với Người. Những ai đang đau khổ, bất hạnh là đang vác thập giá và cùng chịu chết với Người sẽ được sống lại với Người.

Sự phục sinh của Chúa Giêsu khơi lên niềm hy vọng vui sống cho con người và thế giới khổ lụy hôm nay. Là Kitô hữu, chúng ta có nhạn thức và cảm nghiệm được điều này hay không? Chúa Giêsu đã phục sinh và trao ban sự sống mới của Người vào tay Giáo hội, vào tay Kitô hữu. Tất cả đã và đang làm gì để sự sống ấy bừng lên trong thế giới hôm nay?

III. LỜI NGUYỆN TÍN HỮU:

Mở đầu: Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu đã sống lại khải hoàn. Trong niềm hân hoan, chúng ta cùng dâng lời nguyện xin lên Thiên Chúa, Đấng đã phục sinh Chúa Giêsu.

1. Giáo hội được Chúa Giêsu trao phó trách nhiệm phân phát kho tàng sự sống vĩnh cửu. Chúng ta cùng cầu nguyện cho Giáo hội luôn luôn kiên định với lập trường bênh vực và bảo vệ sự sống, bảo vệ và phát triển phẩm giá con người.

2. Ngày nay, nhân loại đang chứng kiến cuộc hủy hoại sự sống khủng khiếp nhất với nạn phá thai, các tệ nạn xã hội, các cuộc chiến tranh lôi kéo không biết bao nhiêu người đi vào con đường tự hủy hoại cuộc sống và phẩm giá con người. Chúng ta cùng cầu nguyện cho các nỗ lực thăng tiến con người, các chương trình giáo dục của xã hội, các quốc sách phát triển con người của các quốc gia thu hoạch được nhiều kết quả khả quan.

3. Kitô hữu nhờ Bí tích Thánh tẩy đã được cùng chịu chết và phục sinh với Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người, mọi gia đình trong cộng đoàn chúng ta luôn nỗ lực sống Tin mừng để sự sống mới của Chúa phục sinh ngày càng gia tăng nơi mỗi người, mỗi gia đình.

Lời kết: Lạy Chúa Giêsu phục sinh, Chúa đã chiến thắng sự chết, mở ra nguồn sống mới và niềm hy vọng cho chúng con. Xin cho chúng con được dồi dào sự sống của Chúa, để từ nơi cuộc đời mỗi người, mỗi gia đình chúng con trổ sinh nhiều hoa trái bác ái, hoan lạc và bình an cho con người và xã hội hôm nay. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.

Lm Vũ Phan Long OFM - Bài Giảng Lễ
 
Ngôi mộ trống

Lm. Vũ Phan Long OFM

Phụng vụ ngày Chúa nhật hôm nay tập trung vào cuộc Phục sinh của Đức Kitô, trung tâm và chóp đỉnh của đức tin chúng ta. Trong bài tường thuật của sách Công vụ (10,34.37-43), chúng ta thấy Phêrô nhắc lại cho các thính giả hoàn cảnh sống trần gian của Đức Giêsu: mọi người đều đã thấy Người làm việc thiện ; mọi người cũng đều đã thấy cuộc sống của Người kết thúc thế nào. Tuy nhiên Người đã sống lại. Còn Phaolô, trong thư Côlôsê (3,1-4), nhắc lại rằng các tín hữu đã sống cuộc Vượt qua với Đức Kitô trong phép Rửa, do đó họ hãy tìm kiếm các sự trên cao, nghĩa là một đời sống mới với các giá trị Tin mừng. Đức Kitô đã sống lại trong hoàn cảnh nào, bài Tin mừng Gioan sẽ trình bày cho chúng ta.

I. Khám phá sứ điệp Tin Mừng: Ga 20:1-9.

Các môn đệ biết rằng Đức Giêsu đã chết và đã được mai táng. Ngôi mộ và thi hài là dấu vết cuối cùng của Đức Giêsu trần thế. Tất cả những gì tác giả Tin mừng Thứ tư qui chiếu đến ở đây, đều diễn đi từ ngôi mộ này và liên hệ đến thi hài của Đức Giêsu. Đối với các môn đệ, chặng cuối cùng của Đức Giêsu là ngôi mộ ; các ông không hề quay hướng về cuộc Phục sinh của Người. Các ông không hề hiểu những loan báo Người đã cung cấp, cũng chẳng hiểu những gì được viết trong Kinh thánh. Ở đây tác giả cho thấy những bước đầu đưa các môn đệ đi từ ý thức là Đức Giêsu đã chết đến hiểu biết là Người đã sống lại. Con đường đi từ nỗi kinh ngạc này đến nỗi kinh ngạc khác, và không phải tất cả các môn đệ đều đạt tới mục tiêu cùng một lúc.

1. Thời gian: Sáng sớm ngày thứ nhất, Maria Madalena ra mộ (1-2)

Lúc tảng sáng, Maria Madalena đã đi ra mộ Đức Giêsu, thì thấy là tảng đá đã được lăn khỏi mộ và cửa mộ đã mở. Dựa vào điểm quan sát đó, bà giải thích: bà nghĩ rằng thi hài của Đức Giêsu đã được mang đi khỏi mộ. Đó là lời giải thích hợp lý nhất, theo những tiêu chí loài người, khi đứng trước một ngôi mộ đã mở và trống không. Một thi hài thì ở thế hoàn toàn thụ động: đã được người ta đưa vào đặt trong mộ, nay có thể lại đã được người ta đưa đi. Vì hết sức bận tâm tìm biết là ai đã mang xác Đức Giêsu đi và nay đã đặt ở đâu, Maria đi tìm Phêrô và người môn đệ Đức Giêsu thương mến. Lối xử sự này chứng tỏ bà rất thương yêu Đức Giêsu. Nhưng trong khi bà còn bận tâm về thi hài Đức Giêsu, Người đã sống lại rồi. Khởi đi từ ngôi mộ của Người, các môn đệ còn phải đến gặp Người trên nẻo đường mà chính Người đã đi qua. Hai người môn đệ đến mộ là hai người đặc biệt gắn bó với Người khi Người còn sống: Phêrô là người đã được Đức Giêsu đổi cho một tên mới (1,42) và luôn được để ý trong nhóm các môn đệ (6,68-69 ; 13,6-10.35-38) ; người môn đệ kia là người đặc biệt gần gũi với Đức Giêsu (13,23-24 ; 18,15-16 ; 21,20-23).

2. Hành động chính: Phêrô và Gioan ra mộ (3-10).

Tin tức Maria Madalena đưa đến khiến các môn đệ hốt hoảng. Phêrô và Gioan muốn chính mình đi kiểm chứng sự việc, hai ông chạy ra mộ. Tốc độ khác nhau không có nghĩa là lòng nhiệt thành khác nhau, nhưng là khả năng thể lý khác nhau. Các hành động tiếp đó của hai ông đan quyện vào nhau và càng lúc càng vượt xa điều Maria Madalena đã quan sát được. Người môn đệ Đức Giêsu yêu thương đến mộ trước. Ngài không chỉ nhìn từ bên ngoài, mà còn nghiêng mình nhìn vào bên trong và thấy những băng vải. Phêrô đi vào trong mộ, thấy các băng vải và khăn liệm gấp lại để riêng ra một góc. Những gì Phêrô ghi nhận được thì đi ngược lại với cách giải thích của Maria: không thể cho rằng người ta mang một thi hài đi mà lại tháo gỡ các tấm vải bọc thi hài ra trước, và còn gấp lại để riêng ra. Gỡ mình khỏi các tấm vải liệm là hành vi ngược lại với việc bọc thi hài trong các tấm vải (x. 19,40). Như thế, việc tẩn liệm đã tan thành mây khói. Ngôi mộ trống và các dải vải cuộn để riêng không phải là một bằng chứng, nhưng là một dấu chỉ cho biết rằng Đức Giêsu đã rời bỏ ngôi mộ và đã chiến thắng cái chết. Phêrô ghi nhận chính xác tình huống, nhưng có tin chăng, bản văn không khẳng định. Người môn đệ kia đi vào mộ sau ông, cũng thấy tình cảnh như thế và thực hiện được một bước xa hơn: đã thấy và đã tin. Nhưng chỉ những lần Đấng Phục Sinh hiện ra mới làm cho dấu chỉ mộ trống không còn mang tính hàm hồ nữa và sẽ đưa tất cả các môn đệ đến chỗ tin vào Người.

II. Chiêm ngắm Chúa Giêsu:

Những điều vừa được kể ở đây đã được kiểm chứng vào "lúc tảng sáng" (20,1). Trong Tin mừng Thứ tư, giờ và các biến cố tương ứng với nhau. Vào lúc tảng sáng, có nhiều điều tiên báo một sự thay đổi tận căn: đêm đang qua đi, chân trời rạng sáng dần, các sự vật rõ nét thêm. Ai chưa bao giờ thấy mặt trời, thì không thể biết điều gì đã gần kề. Mặt trời lên soi sáng tất cả và làm cho mọi điều đã được tiên báo nên sáng tỏ. Các môn đệ còn đang ở trong tình trạng tranh tối tranh sáng, ở trong tình trạng gồm những dấu chỉ tiên báo và chờ đợi. Chỉ khi họ gặp Đấng Phục Sinh, mặt trời mới mọc lên cho họ, mọi sự mới nên sáng tỏ. Đêm đen và bóng tối, cái chết và niềm đau, sự bần khốn và yếu đuối đều được ánh sáng của Đấng Phục Sinh, được vinh quang của sự sống vĩnh cửu của Người, chiếu rọi.

III. Gợi ý bài giảng:

1. Tảng đá đã được lăn ra khỏi mộ.

Trong cuộc sống, có lắm phen chúng ta nếm cảm những thất bại đau đớn, chúng ta muốn buông xuôi, chúng ta muốn im lìm bất động, y như ngôi mộ đã được một tảng đá lấp kín và được niêm phong lại, chẳng còn gì để hy vọng, ngoài một niềm nuối tiếc khôn nguôi. Tâm trạng của các môn đệ sau khi đã chứng kiến cái chết của Đức Giêsu trên thập giá cũng có phần nào như thế: chẳng còn gì để hy vọng, để chờ đợi nữa. Thế là hết! Nhưng "tảng đá đã lăn ra khỏi mộ"! Đây không chỉ là một ghi nhận sự kiện ; đây còn là tiếng reo vui của Tin mừng Thứ tư. Kiểu nói ở thái bị động ấy (tảng đá đã được lăn ra khỏi mộ) là một kiểu nói quanh để không xưng tên Thiên Chúa ra. Kiểu nói ấy có nghĩa là: Chính Thiên Chúa đã lăn tảng đá ra khỏi mộ Đức Giêsu. Nếu vậy Ngài cũng lăn đi được những tảng đá đang chắn cuộc đời chúng ta lại, miễn là chúng ta đừng nhất định bám cứng vào tảng đá đó.

2. Người đã thấy và đã tin.

Maria Madalena đã thấy tình trạng ngôi mộ trống ; bà chưa vượt qua được thử thách này. Nhưng bà đã làm một hành vi đáng khen là đi giãi bày nỗi khắc khoải cho Phêrô và người môn đệ Chúa thương mến. Tức khắc hai ông đã chạy ra mộ. Người môn đệ Chúa yêu thương chạy nhanh hơn, nên đến mộ trước, nhưng ông không vào ; ông chờ vị huynh trưởng. Vừa đến nơi, Phêrô chạy ngay vào mộ và thấy tình trạng trật tự trong mộ. Tác giả Tin mừng không nói gì về tâm trạng của Phêrô, nhưng chỉ nói về phản ứng của người môn đệ Chúa yêu thương: "Ông đã thấy và đã tin". Đó là một lời chứng nhưng cũng là một lời thú nhận là ngài đã không thể hiện được trọn vẹn mối phúc Đức Giêsu sẽ công bố: "Phúc thay kẻ không thấy mà tin" (Ga 20,29). Chỉ có Đức Maria mới đã đạt được mức độ đức tin ấy: tại Cana, ghi nhận được là người ta hết rượu, dù chưa hề biết là Đức Giêsu có thể làm phép lạ, Mẹ vẫn ký thác hoàn cảnh bế tắc cho Con, với niềm tin mơ hồ là Con mình sẽ làm gì đấy để cứu chữa tình trạng nan giải: "Họ hết rượu rồi" (Ga 2,3). Quả thật, tin không phải là một chuyện dễ dàng hay dễ dãi, trốn tránh trách nhiệm, như nhiều người vẫn nghĩ!

3. Niềm tin tông truyền.

Các tông đồ chỉ có thể làm chứng rằng các ông đã biết Đức Giêsu trước khi chịu chết, đã gặp lại Ngài đang sống ; nhưng các ông không thể nói về cách thức Đức Giêsu đã sống lại. Niềm tin của Kitô hữu hôm nay cũng khẳng định Đức Giêsu đã chết và đã sống lại, nhưng không thể trả lời những câu hỏi về cách thức diễn tiến sự Phục sinh. Đây là một mầu nhiệm, một bí mật thuộc về Thiên Chúa. Nhưng không ai có thể phủ nhận được sự Phục sinh, bởi vì chính sự hiện diện và hoạt động của Đức Kitô Phục Sinh trong đời người Kitô hữu đang làm thay đổi con người họ, và họ đang trải nghiệm điều đó. Họ có thể làm chứng, chứ họ không thể giải thích, vì đây là một mầu nhiệm, nhưng là một mầu nhiệm làm cho sống.
Nếu như hai môn đệ đã ghi nhớ và tin những lời Đức Giêsu đã nói trước về cuộc Thương khó và Phục sinh của Ngài, các ông đã chẳng phải chạy trên nẻo đường đưa tới mộ, đưa tới cõi chết, đưa tới sự tuyệt vọng, trong khi Thầy của các ông đã sống lại, và nay đã "lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em" (20,17). Tuy nhiên, thái độ của hai ông lại là bài học quí cho chúng ta hôm nay, vì chúng ta cũng vẫn có thể rơi vào tình trạng tiêu cực ấy.

IV. Lời cầu chung:

Mở đầu: Anh chị em thân mến, Đức Giêsu đã sống lại. Đó là tin mừng trọng đại nhất cho chúng ta, là những con người còn đang bị sự chết khống chế. Tin tưởng vào Đức Kitô Phục Sinh, chúng ta cùng dâng lời cầu nguyện.

1. Hội thánh có sứ mạng loan báo công khai rằng Đức Giêsu đã sống lại, để cho mọi người tin rằng Đức Giêsu là Đức Chúa. Chúng ta cùng cầu nguyện cho các vị chủ chăn luôn tìm cách giúp đoàn chiên tin vào Đức Giêsu để được nhận ơn tha thứ và ơn cứu đọ, đồng thời để cho mục tử cũng như đoàn chiên hăng say làm chứng về Đức Giêsu Phục Sinh cho mọi người.

2. "Anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới". Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi tín hữu luôn luôn ra sức sống một nếp sống thấm nhuần các giá trị Tin mừng, đó là kiên nhẫn, từ bi thương xót, có lòng trắc ẩn, tức những dạng khác nhau của tình bác ái.

3. "Ông đã thấy và đã tin". Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi Kitô hữu, dù sống trong những hoàn cảnh bề ngoài đầy nghịch lý, có khi bế tắc, vẫn biết đứng vững trong đức tin tinh trong và quảng đại dấn thân như môn đệ và như chứng nhân.

Lời kết: Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, chúng con tung hô Chúa đã chiến thắng tử thần, mở lối cho chúng con vào chốn trường sinh. Xin nhận lời chúng con cầu nguyện và giúp chúng con luôn tin tưởng vào Chúa và trung thành theo Chúa mãi đến cùng. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.

 
Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng - Bài Giảng Lễ

Đức Kitô Đã Phục Sinh Đích Thực

Phục Sinh, đó là sự chiến thắng của Đức Kitô trên tội lỗi và sự chết. Phục sinh, đó là niềm vui từ trời tuôn đổ trên trái đất. Phục sinh, đó là ánh sáng hy vọng xé toang và làm tiêu đi nỗi đau khổ của nhân loại. Chúa Giêsu đã sống lại làm bùng nổ niềm vui của chúng ta và chiếu tỏa nơi chúng ta vinh quang phục sinh.

I. Tìm Hiểu Lời Chúa

1. Tin mừng: Ga 20:1-9

Được Maria Mađalêna, người phát hiện thấy ngôi mộ trống cấp báo, Phêrô và Gioan theo cách ghi nhận sự kiện của mình, các ông đã hiểu rằng Đức Kitô đã phục sinh.

a) Đến mộ Chúa Giêsu từ sáng sớm để ướp xác Người, một vài người phụ nữ đạo đức thấy ngôi mộ trống. Hốt hoảng Maria Mađalêna đã chạy đi tìm Phêrô và Gioan báo tin.

b) Các ông chạy đến mộ thì quả thật, xác Chúa Giêsu không còn ở đó. Họ hiểu và tin vào Lời Chúa đã nói: sau khi bị đóng đinh Người sẽ phục sinh. Mộ trống tự nó không đưa đến đức tin vào sự phục sinh của Chúa Giêsu, nhưng lại là dấu chỉ để các môn đệ tin và hiểu những lời Kinh Thánh, những lời Thầy mình đã tiên báo. Chỉ còn đợi Chúa phục sinh hiện ra là hoàn toàn xác tín.

c) Cuộc sống của Kitô hữu thể hiện niềm tin vào Đức Kitô phục sinh. Mọi người phải tuyên xưng Người đang sống. Đức tin làm nên cuộc đời sống động của mỗi người.

II. Gợi Ý Suy Niệm

1. Màu nhiệm Phục sinh, màu nhiệm của niềm tin: Đoạn Tin mừng hôm nay đưa chúng ta đến hai nền tảng thiết yếu của niềm tin Phục Sinh là Kinh Thánh và kinh nghiệm đức tin của các Tông đồ dựa vào chứng cứ ngôi mộ trống và các lần hiện ra của Chúa Giêsu. Dựa trên các chứng cứ, niềm tin vào Chúa Giêsu phục sinh sẽ đạt được khi đào sâu tìm hiểu những mặc khải của Thiên Chúa trong Kinh Thánh. Hai yếu tố này kiện toàn cho nhau và giúp hiểu cũng như gắn bó với màu nhiệm phục sinh. Gioan khi thấy các dấu chỉ của ngôi mộ trống ông đã tin vào Lời Chúa, vào Kinh Thánh. Chính nhờ sự thông hiểu Lời Chúa, và lòng yêu mến Chúa mà trực giác của ông trở nên bén nhạy, khiến ông chỉ nhìn ông đã tin. Trong cuộc sống thường ngày, nhất là với thời đại hôm nay, khi mà con người có những kinh nghiệm bi đát, đau khổ cùng cực về sự chết, thì khát vọng sống của con người càng mạnh mẽ hơn. Thế nhưng, càng khao khát càng thấy bất lực trước tử thần. Kinh nghiệm của con người có được là sau cái chết không nhận thấy mần của sự sống, có chăng chỉ biết cậy dựa vào khoa học kỹ thuật tiên tiến để hy vọng kéo dài tuổi thọ mà thôi. Do đó, niềm tin vào Chúa Phục sinh khó mà có thể diễn tả và thuyết phục được người ngoại đạo, người chưa tin. Mỗi Kitô hữu phải làm chứng cho niềm tin của mình dựa trên Kinh Thánh và trên chính những kinh nghiệm trong đời sống đức tin của mình. Kinh nghiệm chỉ có thể bằng chính việc đào sâu học hỏi và sống Lời Chúa. Tin để rồi mặc lấy niềm tin vào trong cuộc sống. Đức tin phải chi phối toàn bộ cuộc sống của mình qua thái độ, qua cách ăn nết ở.

2. Màu nhiệm Phục sinh, niềm hy vọng của Kitô hữu: Khi được Maria Mađalêna báo tin, Phêrô và Gioan vội vã chạy đến mồ. Có thể xem đây là một dấu hiệu tượng trưng cho niềm hy vọng. Nhất là khi Gioan vào ông thấy ngôi mộ trống và các khăn liệm đã cuốn gọn ghẽ thì ông liền tin. Tất cả các môn đệ đã hoàn toàn thất vọng vào chiều ngày thứ sáu. Thập giá trở nên biểu tượng của sự thất bại, mọi mơ ước hoài bão đã tan theo mây khói. Nhưng giờ đây niền hy vọng lại được nhóm lên, chắc chắn là còn mơ hồ, còn nghi ngờ nhưng hy vọng đã sống lại. Chạy vội vã thấy và tin như thế, mọi hy vọng đã trở lại. Chúa đã sống lại rồi. Niền hy vọng ấy tưởng đã mất đi nay lại tìm thấy để rối thúc đẩy các môn đệ can đảm ra đi làm chứng cho niềm tin phục sinh. Trong cuộc sống có biết bao lần thất bại; không hiếm những đau khổ ập xuống và không ít lần biết bao nhiêu niềm hy vọng đã biết thành thất vọng, thận chí tuyệt vọng. Những lúc ấy, niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô phục sinh có tác dụng gì không? có lôi kéo chúng ta chạy đến với Người không? Chúng ta là môn đệ của Đức Kitô, Đấng đã phục sinh, Người kêu mời chúng ta đừng bao giờ thất vọng phải luôn luôn hy vọng. Hy vọng là thái độ của những người biết tin vào Thiên Chúa, vào Đức Giêsu Kitô. Trong niềm hy vọng này chúng ta sẽ kín múc được sức sống, nguồn lực và tình yêu từ nơi Thiên Chúa để vượt qua đau khổ, vượt qua khắc nghiệt cuộc đời và vượt qua ngay cả cái chết để đạt tới hạnh phúc nơi Thiên Chúa.

3. Màu nhiệm Phục Sinh, niềm vui cho đời hôm nay: Ngày nay nền văn minh của sự chết đang đe dọa con người và thế giới, khiến cho mọi người, nhiều nơi, nhiều dân tộc đang sống trong lo âu sợ hãi. Chiến tranh, khủng bố, tai nạn, tệ nạn xã hội … đã và đang cướp đi hàng ngày không biết bao nhiêu sinh mạng. Thế giới như chìm đi trong đau buồn, thất vọng và u tối.Tất cả đều khao khát được hạnh phúc trong hòa bình, trong tình yêu để vui sống. Giáo Hội chúng ta cũng đang nỗ lực hết mình để đấu tranh cho hòa bình, cho công lý, cho hạnh phúc của cả nhân loại. Sự nỗ lực của Giáo Hội bắt nguồn từ sứ mạng loan báo tin mừng phục sinh của mình. Chúa Giêsu Kitô đã chết, nhưng Người đã thực sự sống lại mở ra cho nhân loại một niềm vui vô tận. Vì Người đã chiến thắng tử thần, đã thực sự mang sự sống của Thiên Chúa đến với toàn thể nhân loại. Tin vào Chúa Phục sinh, thì mỗi người Kitô hữu chúng ta phải cùng với toàn thể Giáo Hội mang niềm vui phục sinh đến cho đời, cho người hôm nay. Niền vui phục sinh được thể hiện ngay trong chính cuộc sống của người Kitô hữu với niềm lạc quan, tin tưởng và hết lòng xây dựng gia đình, xây dựng Giáo Hội và xây dựng một xã hội của nền văn minh tình thương và sự sống. Là người mang tin mừng phục sinh thì cuộc đời Kitô hữu là cuộc sống của niềm vui chứ không thể là cuộc sống của nỗi u buồn và thất vọng.

III. Lời Cầu Chung

* Lời Mở: Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu Kitô đã sống lại hiển vinh. Trong niềm hân hoan của đại lễ Phục sinh chúng ta cùng dâng lên Chúa những tâm tình cầu nguyện của chúng ta.

1.     Chúa Giêsu Kitô đã uỷ thác sứ điệp Phục sinh để Giáo Hội loan báo cho toàn thể nhân loại. Chúng ta cùng cầu nguyện cho sứ điệp phục sinh được Giáo Hội loan báo đi vào được những miền u tối, những tâm hồn thất vọng, đau buồn để thắp sáng lên niền vui, niền hy vọng cho thế giới hôm nay.

2.     Ngày nay trên thế giới vẫn đang sảy ra biết bao cuộc chiến tranh, khủng bố và bạo lực làm suy kiệt xã hội, gây bao dau khổ và chết chóc. Chúng ta cùng cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo các quốc gia, các tổ chức, các phong trào biết nỗ lực ngồi lại với nhau trong tinh thần thông cảm, hiểu biết và thiện chí để mang lại hòa bình, công lý và tự do đích thực cho thế giới và nhân loại.

3.     Chúa Giêsu đã phục sinh mang lại niềm hy vọng, niềm vui và ơn cứu độ cho mọi người. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta luôn biết sống Tin mừng phục sinh bằng một đời sống lạc quan yêu đời và yêu thương nhau.

* Lời Kết: Lạy Thiên Chúa là Cha Toàn năng, Chúa đã phục sinh Chúa Giêsu Con Một của Chúa. Xin thắp lên trong tâm hồn chúng con ngọn lửa phục sinh của Chúa, để chúng con luôn tràn trề niềm vui phục sinh trao ban cho nhau và xây dựng Giáo Hội cũng như xã hội mỗi ngày một tốt đẹp hơn. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.

Hành Trang Mục Vụ - Khoá 10 ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn