Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật Tuần I Mùa Chay A

Tin mừng Mt 4: 1-11 Cám dỗ đầu tiên có thể được giải thích qua cuộc tranh chấp giữa xác thịt và tinh thần.
CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT I MÙA CHAY NĂM A


Mt 4, 1 -11

Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải


 
CÁM DỖ TRONG SA MẠC

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Đối với người Do thái thế kỷ I, "sa mạc" và "cám dỗ" gợi lên điều gì?

2.Trình thuật này liên hệ với trình thuật Phép rửa nhờ chữ nào? Chữ đó có nghĩa mạnh hay chỉ có nghĩa thuần túy thời gian?

3. Phải đọc lại Đệ nhị luật chương 8 và ý nghĩa cuộc thử thách trong sa mạc.

4. Phải hiểu như thế nào việc Chúa Giêsu vượt thắng cách vẻ vang cơn cám dỗ mà dân Do thái đã vấp ngã? Dựa trên hậu cảnh Cựu ước, hãy rút ra ý nghĩa thần học ba cuộc cám dỗ Chúa Giêsu?

5. Cơn cám dỗ phải chăng chỉ nhắm đến sự nghiệp của Đấng Messia, bằng cách gợi lên một thiên sai chủ nghĩa giả tạo thần kỳ hoặc chính trị? Hay là nhắm đến chính con người Đấng Messia, bằng cách tách Người khỏi Thiên Chúa với một thứ chủ trương vô thần thực tiễn?

6. Làm sao Chúa Kitô có thể bị cám dỗ? Điều đó có nghĩa gì? Hãy so sánh với cơn hấp hối, với Pl 2, 6 tt và Dt 5,7tt.

7. Các thiên sai chủ nghĩa bị Chúa Giêsu chống báng phải chăng chỉ là những hiện tượng lỗi thời, hay ta vẫn còn thấy giữa thế kỷ XX này quanh ta? trong ta?

8. Thân phận người Kitô hữu phải chăng là một thân phận bị cám dỗ triền miên?

1. Có lẽ Chúa Giêsu đã mặc khải cho các môn đồ Người biến cố mà ngay từ lúc bắt đầu cuộc sống công khai Người đã trải qua với một kinh nghiệm thấm thía. Giáo Hội sơ khai đã đón nhận mặc khải ấy về nguồn gốc đích thực của cám dỗ (Satan) như là lời sửa sai quan niệm Cựu ước, vốn cho rằng cám dỗ là do Thiên Chúa: Mt đã phóng đại dữ kiện giản lược mà ông đã thu nhận từ truyền khẩu. Trình thuật của ông có vẻ như là một cấu trúc văn chương, một sáng tác tưởng tượng nhằm khai thác các giá trị thần học tiềm tàng trong biến cố có thực. Đây là những dấu chỉ cho thấy trình thuật của ông thực là một sáng tác: cuộc đối thoại với Satan, việc đem Chúa Giêsu lên thượng đỉnh Đền thờ, ngọn núi cao từ đó có thể trông thấy "tất cả các nước thiên hạ", lối trích dẫn nhiều câu trong diễn từ thứ hai của Môisen nói với dân (Đnl 8, 3; 6, 16; 6, 13). Sáng tác văn chương này đặt cơ sở trên ba cuộc cám dỗ của Israel trong sa mạc:

- Sau khi được ăn manna một thời gian, Israel đòi ăn thịt (Ds 11, 4-34)

-Môisen gõ phiến đá hai lần (Ds 20, 1 -13)

-Giai thoại con bò vàng (Xh 32, 1- 8)

Mt cho thấy Chúa Giêsu tổng lược cả ba kinh nghiệm của dân Isarel và đã chiến thắng vẻ vang trong khi Israel lại vấp ngã. Xin nói qua là sách Đệ nhị luật cũng là sách chỉ nam của cộng đoàn thiên sai là Giáo Hội: các chương đầu của Công vụ sứ đồ ghi lại những bước đầu của Giáo Hội sơ khai, đã cảm hứng theo Đệ nhị luật.

2. Giữa phép rửa Chúa Giêsu và cơn cám dỗ, có một liên hệ rõ ràng: chính Thánh Thần ngự xuống trên Chúa Giêsu lúc ở sông Giođanô đã đưa người vào sa mạc, không phải để tra cứu lề luật và tìm lại tinh thần Giao ước như nhóm Essêni, cũng chẳng phải để tổ chức kháng chiến như phái Nhiệt thành, song để chịu ma quỷ cám dỗ (4, 1). Học thuyết thiên sai của Chúa Giêsu phải được thử thách. Và cuộc thử thách này là một giai đoạn cần thiết trong ơn gọi làm Israel mới của người. Vì là Đấng đáp ứng nỗi chờ mong của dân, Người phải sống tất cả chiều kích của lịch sử họ: tạm trú tại Ai cập (2,13- 15), vượt sông Giođanô (2, 13-17 - so sánh với Gs 3), cám dỗ ở sa mạc (4, 1- 11).

3. Giai thoại cám dỗ trong sa mạc xảy ra như để xác nhận việc Chúa Kitô hoàn toàn chấp nhận thánh ý Chúa Cha: gạt bỏ mọi hình thức thiên sai chủ nghĩa mà Thiên Chúa không muốn (trước hết là thứ thiên sai chủ nghĩa cánh chung có tính cách báo phục của Gioan Tẩy giả và của Qumrân, thứ đến là thiên sai chữ nghĩa xác thịt, uy hùng hay chính trị mà Israel trông chờ), Chúa Kitô chấp nhận đường lối thiên sai khổ đau, là đường lối duy nhất phù hợp với thánh ý Chúa Cha.

4. Lối giải thích mang màu sắc thiên sai về ba chước cám dỗ (tức lối giải thích liên kết trình thuật này với trình thuật phép rửa trước đây) là lối giải thích lưu ý nhiều đến chỗ đứng của đoạn văn trong văn mạch của các chương này cũng như của các vấn đề tổng quát của một. Tuy nhiên lối giải thích này không loại bỏ các lối giải thích khác đã từng được truyền thống công nhận như:

- Lối giải thích luân lý: Chúa Kitô tự nguyên chịu các chước cám dỗ lớn của nhân loại: những dục vọng của xác thịt và tinh thần, để rồi vượt thắng các cám dỗ đó cách khải hoàn, và nhờ dấy nên gương mẫu cho đời ki tô hữu; Lối giải thích song đối kiểu mẫu: Chúa Kitô, Ađam mới, chịu một cơn cám dỗ "tổ tông" mới, để nhờ lòng vâng phục hiếu thảo của Người mà chuộc lại cuộc nổi loạn nguyên thủy (x. trình thuật mạc về cuộc cám dỗ này và thần học của Phaolô về Ađam mới);

- Lối chú giải cánh chung học: qua cuộc chiến đấu này, Chúa Kitô tiên báo cuộc khải hoàn vinh thắng cuối cùng của Người trên các quyền lực sự dữ (lối giải thích của Lc).

5. Chủ đề sa mạc chiếm một chỗ đứng đáng kể trong Kinh Thánh, vì sa mạc là một dữ kiện địa lý quan trọng trong thế quân bình kinh tế và nhân chủng của xứ Palestine. Anh hưởng của địa thế này không phải là nhỏ đối với lịch sử dân Thiên Chúa. Lịch sử này lưu lại hai kỷ niệm xem ra mâu thuẫn, mà có người đã muốn coi như. là hai chủ đề có nguồn gốc khác nhau, nhưng kỳ thực chỉ là hai phương diện của một thực trạng. Cuộc lưu ngụ trong sa mạc trước tiên được trình bày như là thời kỳ lý tưởng trong cuộc sống của tuyển dân, thời kỳ mà tuyển dân được các điều kiện thuận lợi nhất ớể phát huy lý tưởng tôn giáo của mình, và đã sống lý tưởng đó cách tuyệt hảo. Đàng khác thời gian lưu ngụ trong sa mạc cũng. được xem như là một thử thách, như một hình phạt, phạt tội phàn nàn và bất tuân. Sa mạc vừa là nơi tĩnh tâm và thanh luyện, vừa là nơi phát sinh chước cám dỗ và xóa tội. Vì thế trong suốt lịch sử dân Israel, sa mạc vẫn là nơi hun đúc sức mạnh sinh động của quốc gia (tất cả các khuôn mặt lớn trong dân đều đến sa mạc lập kế hoạch, hay nung nấu lại lòng nhiệt thành) và cũng là nơi thử thách.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

"Bấy giờ Chúa Giê-su được Thần khí dẫn vào sa mạc": Chữ bấy giờ nói lên mối liên hệ giữa trình thuật này với trình thuật Chúa Giê-su chịu phép rửa. Lát nữa ta sẽ thấy mối tử hệ thần linh của Chúa Giêsu đã được công bố lúc người chịu phép rửa) hệ tại chỗ nào. Trạng từ "bấy giờ" ở đây (cũng như ở 3, 13 chẳng hạn) có một giá trị chuyển mạch hơn là giá trị thời gian. Tiếng "để chịu cám dỗ" nói rõ ràng ý định của Thiên Chúa, như trong đoạn văn trước. Bởi ma quỷ: một chữ Hy-lạp trước tiên có nghĩa là "đứa vu khống" rồi "kẻ buộc tội". Vì thế bản 70 đã dùng chữ này để dịch chữ "Satan". Ngữ vựng của phần dẫn nhập trình thuật này tương tự với ngữ vựng của Đnl 8,2 (bản 70) và ám chỉ đến cảnh huống của Israel trong sa mạc: "Hãy hồi tưởng lại tất cả con đường mà Giavê Thiên Chúa của ngươi đã dẫn ngươi đi (cùng một động từ Hy lạp như Mt) trong sa mạc, với dụng ý là hạ ngươi uống, thử thách ngươi (cùng một động từ hy lạp như Mt) và biết đáy lòng ngươi".

"Người đã giữ chay 40 ngày và 40 đêm": 40 là con số chan thường được Kinh thánh dùng để chỉ một thời gian khá dài: 40 ngày lụt đại hồng thủy (St 7,4), 40 năm Israel lưu trú trong sa mạc (Xh 16, 35; Ds 14, 33; Đnl 29, 5), 40 năm trị vì của Đavít (1 Sm 5,4), 40 ngày trước khi phá hủy thành Ninivê (Gn 3), 40 ngày giữa cuộc Phục sinh và Thăng Thiên của Chúa Giêsu... Chi tiết xác định "40 đêm " là của riêng Mt (Lc chỉ nói "40 ngày") và ám chỉ đến 40 ngày và 40 đêm mà Môisen đã trải qua trên núi của Giavê "không ăn bánh cũng chẳng uống nước" (Xh 24, 1- 8: giữ chay sau cuộc thần hiển, và trong 34, 28: giữ chay sau cuộc tái lập Giao ước). "40 đêm" có lẽ cũng ám chỉ đến cuộc chay trường của Elia trên núi Horeb (1V 19, 8: sau khi được thần hiển và trao sứ mệnh). Cả hai nhân vật lên này của Cựu ước, những vị gồm tóm trong bản thân Lề luật và Ngôn sứ, sẽ tái xuất hiện trong cuộc Biến hình của Chúa Giêsu (biến hình = thần hiển; cuộc thần hiển này được tiếp nối với việc thiết lập Giao ước mới bằng Tử nạn-phục sinh). Chắc hẳn Mt muốn cho thấy việc giữ chay của Chúa Giêsu một cách nào đó tổng lược kinh nghiệm của Môisen và Elia, cũng như cuộc cám dỗ sẽ tổng lược lịch sử Israel trong sa mạc. Ở đây không nên hỏi cơ thể con người, xét về mặt tự nhiên, có thể giữ chay trong bao lâu! Cũng như trong trường hợp Môisen (suốt 40 ngày không uống nước!), chính Thiên Chúa trực tiếp nâng đỡ Chúa Giêsu. Chúa Kitô sống nhờ lòng tín thác vào Thiên Chúa. Thành ra việc cảm thấy đói sau 40 ngày được xem như là một cuộc thử thách: Chúa Giê-su có thể nghĩ Thiên Chúa đã bỏ rơi mình. Và đó là điểm đưa đến cám dỗ đầu tiên.

Cám dỗ đầu tiên (cc. 3- 4)

"Nếu Ngài là Con Thiên Chúa". (c.3) là công thức dẫn vào chước cám dỗ thứ nhất và thứ hai. Tiếng "Con Thiên Chúa"; nhắc lại lời phán từ trời trong cảnh trước đây và đầu tiên có nghĩa là "Đấng Messia" (x.ghi chú BJ). Công thức này cho thấy ma quỷ cám dỗ Chúa Giêsu như là Đấng Messia, thủ lãnh của dân mới Thiên Chúa. "Nếu Ngài là..." không nhằm nói lên nỗi nghi ngờ của ma quỷ, nhưng cố khơi lên trong Chúa Giêsu niềm hoài nghi. Dưới chân thập giá, chính người Do thái sẽ thay thế Satan để cám dỗ Chúa Giêsu một cách tương tự: "nếu ông là con Thiên Chúa" (Mt 27,40). Hai chước cám dỗ này song song với nhau: chúng nhằm thúc đẩy Chúa Giêsu sử dụng các quyền lực thiên sai Người có để mưu cầu tư lợi, hay đúng hơn để thoát khỏi cảnh hiểm nghèo (đói trong sa mạc, chết trên thập giá).

"Hãy truyền cho các viên đá này thành bánh": Cơn đói mà Chúa Giêsu đột nhiên cảm thấy đã là một chi tiết giúp ta giải thích cơn cám dỗ đang bủa vây Người. Tuy nhiên, còn có một chi tiết giàu ý nghĩa hơn trong câu trả lời của Chúa Giêsu trích lại Đnl 8,3. Văn mạch của Đnl 8,3 cho thấy dân Israel nghi ngờ Giavê, thay vì tự hạ và chấp nhận tùy thuộc một mình Ngài:

"Hãy hồi tưởng lại tất cả con đường Giavê Thiên Chúa của người đã dẫn ngươi đi, qua sa mạc, trong 40 năm, với dụng ý là hạ ngươi xuống cùng để thử cho biết ngươi có gì nơi đáy lòng, xem người có giữ các lệnh truyền của Ngài chăng. Ngài đã hạ ngươi xuống, đã để ngươi phải chịu đói; rồi Ngài lại cho ngươi ăn manna ngươi chưa từng biết và cha ông ngươi cũng không hề biết, để dạy cho ngươi hay là người ta không sống nhờ bánh mà thôi, nhưng sống nhờ mọi điều xuất ra từ miệng Giavê " (Đnl 8, 2-3).

Chước cám dỗ mà Israel phải. chịu, đỏ là cơn đói khát Thiên Chúa cho dân trải qua để thử lòng tín thác của họ. Nhưng dân đã phàn nàn, đã hối tiếc các thức ăn của xứ Ai cập, và càu nhàu đòi lương thực. Chúa Giêsu cũng đang sống trong một tình trạng tương tự như dân Israel. Bị đói, Người có thể nghĩ Thiên Chúa đã bỏ rơi người. Ma quỷ đến dụ dỗ Người nghi ngờ Thiên Chúa và hãy cậy dựa vào chính quyền năng thần thông mà Người vừa mới nhận lúc được thánh hiến làm Đấng Messia. Có thể Chúa Giêsu sẽ dùng quyền đó để mưu cầu tư lợi trái nghịch với thánh ý Thiên Chúa. Khi dụ dỗ Chúa Giêsu nghi ngờ và bất tuân, ma quỷ muốn Người cắt đứt liên lạc với Thiên Chúa. Đáp lời lại, Chúa Giêsu xác quyết Người chẳng muốn dùng các phương thế riêng của mình để được sống, nhưng muốn hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa. Người chỉ cậy dựa vào Thiên Chúa (27,43).

Cám dỗ thứ hai (cc.5-7)

"Thành thánh" là một thành ngữ Do thái thông dụng để chỉ Giêrusalem (Mt 27, 53; Kh 11,2). Ma quỷ dụ dỗ dựa vào lại Tv 91, 11: điều đã được hứa cho mọi người đạo đức, càng phải có giá trị hơn đối với Đấng Messia: chắc chấn Thiên Chúa sẽ bảo vệ người. Chúa Giêsu trả lời bằng cách trích dẫn Đnl 6,16 là câu nhắc lại giai thoại Massa (Xh 17, 1- 7). Israel đã dám thử thách Thiên Chúa khi nói: "Có Chúa giữa chúng ta hay không?". Họ không ngại đòi Thiên Chúa ban cho một dấu chỉ là phép lạ nước đột xuất từ tảng đá. Nếu gieo mình từ thượng đỉnh Đền thờ theo như lời Satan dụ dỗ, là Chúa Giêsu đã buộc Thiên Chúa phải thực hiện một phép lạ. Cuối cơn cám dỗ thứ nhất, Chúa Giêsu đã nép mình dưới sự quan phòng chở che của Thiên Chúa. Ma quỷ dụ dỗ Người lợi dụng sự che chở này, như Israel ngày xưa, bằng cách đòi hỏi Thiên Chúa can thiệp Thành ra xét cho cùng đây là việc áp đặt ý muốn con người trên Thiên Chúa.

Một vài giới bình dân Do thái hình dung Đấng Messia như sẽ khai mào sứ vụ của mình trên chóp đỉnh Đền thờ; nơi đó Người phải loan báo việc giải phóng Israel. Vì thế có lẽ Satan đã gợi ý cho Chúa Giêsu ra mắt dân chúng theo cách phù hợp với quan niệm bình dân này, đi ngược với kế hoạch của Thiên Chúa.

Cám dỗ thứ ba (cc. 8- 10)

"Một ngọn núi cao" từ đó có thể xem thấy "tất cả các nước thiên hạ " là một điều dị thường. Sở dĩ Mt giữ lại chi tiết kỳ quái này của truyền thống Tin mừng, là vì muốn trung thành với truyền thống bao quanh con người Môisen: Thiên Chúa đã chỉ cho môi sen, đứng trên núi Nêbo, thấy toàn thể Đất hứa (Đnl 31, 1- 4). Tương quan Môisen-Giêsu, mà Mt luôn đề cập đến, còn được nổi bật ở đây. Đất hứa ở đây trở thành lãnh địa tuyệt hảo mà Chúa Giêsu sẽ tiếp nhận lúc Phục sinh mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Ta ": 28, 18) như lời hứa của Tv 2, 6- 8.

"Tôi hiến cho Ngài hết mọi điều đó, nếu Ngài phục mình bái lạy tôi". Đây là cám dỗ thờ bò vàng, thờ các ngẫu thần, là cám dỗ tự biến mình thành vị thần dễ xài, trấn an, vị thần được dùng để đem đi giao chiến, chinh phục địa cầu, vị thần mà ta có thể thương thuyết mặc cả: "Tôi hiến tất cả điều đô cho Ngài, nếu Ngài phục mình bái lạy tôi ". Chính Chúa Giêsu đã hiểu chước cám dỗ thứ ba này theo nghĩa ấy, vì câu Người trả lời Satan trích lại một đoạn Đệ nhị luật, trong đó rõ ràng đề cập đến việc thờ ngẫu thần: "Ngươi hãy coi chừng kẻo lãng quên Giavê Đấng đã đem ngươi ra khỏi Ai cập, khỏi nhà tôi mọi. Ngươi sẽ kính sợ Giavê Thiên Chúa của người; ngươi sẽ phụng thờ Ngài, sẽ thề nhân danh Ngài. Đừng đi theo các thần khác, thần của các dân ở chung quanh người, vì Giavê Thiên Chúa của ngươi, ở giữa người, là Thiên Chúa ghen tương" (Đnl 6,12- 15). Qua việc trích dẫn đoạn văn này, Chúa Giêsu xác quyết Thiên Chúa đích thực không phải là một thần tượng mà ta có thể mua chuộc các hồng ân. Giavê không mua bán mặc cả. Ngài đòi phải tin yêu và vâng phục vô điều kiện. Ngài chẳng phải là con bò vàng "đi trước chúng ta" mà người ta có thể sử dụng như một khí cụ để chinh phục. Chúa Giêsu từ chối đi vào con đường mà Thiên Chúa không muốn Đấng Messia của Ngài dấn thân, là đường vinh thắng rạng rỡ (bằng việc cậy dựa vào các ngẫu thần), đưa đến việc thống trị hoàn vũ. Vì bị tiêm nhiễm giấc mơ khải huyền bình dân, Phêrô sẽ chống đối việc tiến lên Giêrusalem để chịu tử nạn. Chúa Giêsu sẽ trả lời ông như đang trả lời ở đây: "Hỡi Satan, hãy xéo đi" (16,23 cũng có cùng động từ như 4,10 những chỉ thêm chữ "sau Ta"). Trong cả hai trường hợp, Chúa Giêsu xác quyết ý định của Người là hoàn toàn tuân theo kế hoạch của Thiên Chúa, dù "tư tưởng của Thiên Chúa không phải là tư tưởng của loài người" (16,23). Đối lại với việc Israel say mê thờ ngẫu thần (các ngẫu thần được xem như là khí cụ để chinh phục), việc Chúa Giêsu gắn bó vào Thiên Chúa hệ tại chỗ loại bỏ mọi ngẫu thần để chỉ phụng sự Thiên Chúa đích thực. Vì thế, Chúa Giêsu sẽ thể hiện kiểu mẫu Messia mà Thiên Chúa đã trù định, là làm người Tôi tớ bị lăng nhục và đau khổ mà Isaia đã loan báo. Dĩ nhiên, Người không từ chối việc chinh phục thế giới, nhưng sẽ chỉ chinh phục bằng thập giá mà thôi.

"Họ hầu hạ Người": Việc các thiên sứ hầu hạ Chúa Giêsu nói lên chân lý này: Chúa Giêsu đã được phong vương ở sông Giođanô. Họ cho thấy Nước Trời đã đến bên loài người vì triều đình thiên quốc đang chầu chực quanh Người Con Yêu Dấu. Tuy nhiên các thiên sứ này chỉ can thiệp sau khi Chúa Giêsu đã vượt thắng cơn cám dỗ. Ở đây hình như Mt tiên báo điều sẽ xảy ra trong cuộc Tử nạn. Là Đấng có thể xin cấp ngay "hơn 12 cơ binh thiên sứ" (26,53) để thoát khỏi khổ hình thập giá, Chúa Giêsu đã muốn hoàn tất Kinh thánh và phó mình cho Chúa Cha. Sau khi Người đã thắng vượt cơn cám dỗ, các thiên sư mới đến hầu hạ Người, và sau khi Người phục sinh, các thiên sứ mới đi báo tin cho các môn đồ (28,2-7).

KẾT LUẬN

Đoạn Tin Mừng này của Mt trước tiên hoàn toàn mang ý nghĩa thần học. Nó được soạn thảo và lưu truyền không nhằm cho ta biết về một giai thoại trong cuộc đời Chúa Giês.u cho bằng giúp ta hiểu cách Người đã thi hành vai trò Méssia ra sao. Satan, một thời gian ngắn trước khi Chúa Giêsu ra mắt công khai, đã cố làm cho Người bất tuân với Chúa Cha bằng cách gợi lên trong Người tâm tình tự lập, muốn từ khước địa vị làm Con để tự do sử dụng các quyền hành Người đã được ban cho. Nhưng thay vì tự chiếm đoạt quyền lực và ỷ mình được Thiên Chúa tuyển chọn như Biệt phái và Sađucêô, Chúa Giêsu đã xóa mình trước mắt Chúa Cha, như dã xóa mình trước mặt Gioan Tẩy giả và sẽ còn xóa mình suốt cả cuộc đời, cho đến lúc chết. Thay vì chiều theo quan niệm của nhân gian về Đấng Messia uy hùng, vinh thắng, Chúa Giêsu đã chấp nhận quan niệm Đấng Messia-tôi tớ khiêm cung.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Satan đã đề nghị Ađam trở thành Thiên Chúa: "Ngươi sẽ nên như các thần minh" (St 3,5). Còn đối với Chúa Kitô, nó đề nghị người sử dụng quyền năng thiên sai như một đặc quyền, một khí cụ. Xét cho cùng, tội lỗi luôn luôn là một ý muốn thống trị. Thế mà Thiên Chúa đã cứu thoát con người khỏi tội lỗi nhờ sự yếu đuối của Chúa Kitô, Đấng đã chọn lấy thân phận tôi tớ, và hoàn toàn phó thác vào tay Thiên Chúa.

2. Cám dỗ luôn luôn xoay quanh Lời Chúa, hoặc để vi phạm hoặc để xuyên tạc ý nghĩa. Con rắn quỷ quyệt trong St 3 đã nói ngược lời Chúa. Nó bảo: "Thiên Chúa đã phán: các ngươi chẳng được ăn cây nào trong vườn cả!... Các ngươi chẳng chết chóc đâu Nhưng vì Thiên Chúa biết rằng mắt các ngươi sẽ mở ra...". Tên cám dỗ trong Tin Mừng cũng yêu cầu Chúa Giêsu sử dụng Lời Chúa để biến đá thành bánh, và giải thích lệch lạc ý nghĩa Thánh vịnh để đẩy Người thử thách Thiên Chúa. Nó cám dỗ Chúa Giêsu sử dụng Lời sáng tạo, Lời cứu rỗi để mưu cầu lợi riêng. Nhưng Chúa Giêsu đã tuân phục và đón nhận Lời Thiên Chúa: "Đã chép rằng..."

3. Khi tình nguyện trở nên người Tôi tớ chứ không trở nên kẻ thống trị, Chúa Giêsu đã cứu rỗi chúng ta. Người mặc khải cho chúng ta một Thiên Chúa tình yêu, mà ta có thể bắt chước bằng cách tự hạ, tự chối bỏ chính mình. Thiên Chúa đã đến gần nhân loại trong con người của Con Ngài, không phải để bắt nhân loại làm nô lệ, nhưng để phục vụ nhân loại với tư cách là tôi tớ bị đóng đinh.

4. Chúa Giêsu bị cám dỗ, bởi vì xét như là con người, Người phải chứng minh mình là "Con yêu dấu". Chính vì thế Người phải trải qua, cách cụ thể trong nhân tính của mình, cái kinh nghiệm thế nào là sống như con cái Thiên Chúa, nghĩa là chỉ chờ đợi hạnh phúc ở nơi Thiên Chúa mà thôi. Người Ki-tô hữu cũng phải trải qua cơn cám dỗ tương tự và phải chọn lựa giữa sự tự tôn cá nhân, coi thường Thiên Chúa và anh em, với thái độ hiếu thảo phục vụ Thiên Chúa và mọi người.

Noel Quession - Chú Giải

Mt 4,1-11

Ngắt đoạn chu kỳ các Chúa nhật thường niê, hay các Chúa nhật của thời đại Giáo Hội mà chúng ta lập lại trong ba tháng rưỡi, sau Lễ Hiện Xuống, chúng ta sắp theo"một thời gian đặc ân. Đó là chu kỳ Phục sinh. Gồm có thời gian MC và Mùa Phục sinh. Như thế đây là một cơ hội nhiệt thành mới trong bước đi hằng ngày của chúng ta.

Năm A này dành hết cho việc đọc sách Tin Mừng theo thánh Mát-thêu về những cám dỗ của Đức Giêsu và sự biến hình của người. Rồi, chúng ta ssẽ có ba Tin Mừng lớn của Thánh Gioan, theo truyền thống chuẩn bị cho "Lễ Thanh Tẩy: nước hằng sống của người nữ Samari, người mù từ lúc mới sinh được sáng mắt và Ladarô sống lại. Hôm nay, đây là cuộc chiến đấu lớn lao của Đức Giêsu…sự mời gọi khẩn thiết đi vào trong cuộc chiến đấu riêng của chúng ta trong MC.

Bấy giờ Đức Giêsu được Thần Khí dẫn vào hoang địa, để chịu quỷ cám dỗ.

Ba tác giả Tin Mừng nhấn mạnh đến mối hên hệ giữa sự cám dỗ Chúa và phép rửa của Người... Về lịch sử chắc rằng Đức Giêsu đã muốn thực hiện một thứ "tĩnh tâm",trước khi khởi đầu tác vụ của mình. "Hoang địa" là nơi đã tìm thấy thật sự hay dành cho việc đó: nỗi cô liêu và thanh tĩnh mà con người thấy mình đối diện một cách khắt khe với chính mình, mà không có lối tránh né, và tất cả những mặt nạ mà xã hội đem đến cho ta. Mátthêu cũng như hai tác giả Tin Mừng kia, đều nhấn mạnh là Đức Giêsu đượcThần Khí dẫn đến hoang địa này. Cám dỗ là một phần trong dự tính của Thiên Chúa cho Con Người Và ở đây chúng ta cũng vậy, chúng ta được cho biết là phép thanh tẩy không làm cho một ai trong chúng ta được miễn trừ không phải chịu các thử thách.

Quả thực, ngoài ý nghĩa có phần ngây thơ của từ "cám dỗ", Kinh Thành sử dụng từ này để chỉ "thử thách". Theo nghĩa này, cám dỗ có một cái gì tích cực. Không phải là một tình yêu được thử thách để biết xem nó có thực sự vững bền và chân thật sao? Như thế Đức Giêsu sắp chịu thử thách bởi chính Tránh Thần của Thiên Chúa, cũng như thể xưa kia dân Do Thái trong hoang địa với cuộc Xuất Hành: "Thiên Chứa của anh em đã dẫn anh em đi suốt bốn mươi năm nay trong sa mạc, để bắt anh em phải cùng cực; như vậy người thử thách anh em để biết lòng dạ anh em, xem anh em có giữ các mệnh lệnh của người hay không? (Đnl 8,2).

Xin Thánh Thần giúp chúng ta xem xét những thử thách của chúng ta theo cách thế tích cực này. trong khi nghĩ rằng Đức Giêsu, người Con hoàn toàn, người công chính vẹn toàn, đã tìm thấy trong những thử thách của con người, sự nâng cao chính tình yêu của Người, của lòng trung tín của Người với Chúa Cha.

Người ăn chay ròng rã bốn mươi ngày và sau đó Người thấy đói.

Trong câu truyện của Mátthêu, ta không phải tìm trước hết một sự mô tả cụ thể về "điều đã xảy ra". Đàng sau những chi tiết, ta cần khám phá ra một ý nghĩa thần học. Mát-thêu rõ ràng đã đạo diễn, trong khúc đầu cuộc đời công khai của Đức Giêsu, những cám dỗ mà thực sự người đã cảm nghiệm trong suốt cuộc đời mình: lúc nào cũng vậy, Đức Giêsu phải tự bênh vực khi sử dụng thiên tính của mình để tránh cho mình khỏi những lo âu của con người (Mt 12,24-30; 16,23; 26-59 - 27-40).

Kiểu nói bốn mười ngày và bốn mươi đêm" chẳng hạn, là một phần của kiểu nói biểu tượng của Kinh Thánh: con số ước lệ chỉ thời gian cần thiết cho sự trưởng thành của đời người. "Bốn mươi" là thời gian ít-ra-en ở trong sa mạc, thời gian đi của ngôn sứ Elia đến Núi Chú, thời gian của Đấng Phục sinh hiện ra,... (Đnl 8,1-5; 1 V 19,8; Cv I,3).

Bấy giờ tên cám dỗ đến gần Người và nói: Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì truyền cho những hòn đá này hóa bánh đi!

Không cần phải làm dịu Tin Mừng đi... ngay nếu như có thể giải thích bằng nhiều cách, để có thể áp dụng vào cuộc sống chúng ta trên nhiều diện khác nhau. sự cám dỗ đầu tiên này của Đức Giêsu, chẳng hạn, không có lý do nào để nghĩ rằng nó chỉ có tính cách thiêng liêng mà thôi: Đức Giêsu đã thực sự thấy đói, trong quá trình cuộc đời mình. Người đã bị đụng chạm đến, bị nao núng, bị dày xé ở ngay chính thân xác mình... và không phải chỉ trong quá trình một cuộc ăn chay khắc khổ trong hơn một tháng. Cám dỗ đầu tiên là cám dỗ chống lại sự cậy trông":người ta lồng lộn trước thử thách, trước đau khổ... người ta xin Chúa bỏ đi tất cả những gì gây đau khổ cho chúng ta. Sự xấu mà chúng ta phải chịu, sự xấu tác động đến những kẻ vô tội, cái đói bất công của một bộ phận trong nhân loại"' đấy là sự phản kháng lớn lao và sự phản kháng đầu tiên chống lại Thiên Chúa. Lúc đó người ta bị cám dỗ cáo giác Thiên Chúa... hoặc là xin Người giải quyết trực tiếp những vấn đề của chúng ta.

Cám dỗ đầu tiên có thể được giải thích qua cuộc tranh chấp giữa xác thịt và tinh thần. Các giác quan của chúng ta cảm thấy đói, và chúng ta đi tìm các thực phẩm trần thế để làm dịu cơn đói. Và đó là điều tốt, làm đẹp lòng Thiên Chúa. Nhưng trong lãnh vực này đặc biệt, chúng ta biểu sự tự chủ cạnh ta: sự vui thỏa dễ dãi không nỗ lực xây dựng những người đàn ồng và đàn bà có một giá trị.

Xã hội tiêu thụ với chủ nghĩa duy vật thực tiễn, có nguy cơ hạ thấp con người xuống ngang mức với tầm vóc sơ đẳng nhất.
Nhưng Người đáp: "Đã có lời chép rằng: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lờii Thiên Chúa phán ra" (Đnl 8,3).

Ba câu trả lời Của Đức Giêsu cho kẻ cám dỗ được rút ra từ trong sách Đệ Nhị Luật. Kinh Thánh đề ra một cách đọc lại thần học về 40 năm cuộc đời trong sa mạc Sinai,và những đòi hỏi của Giao ước. Đức Giêsu được giới thiệu đây như một Ít-ra-en mới. Nhưng Đức Giêsu là người chiến thắng, trong khi dân Thiên Chúa, bị thử thách vì đói và khát, đã sa ngã trong khi lẩm bẩm kêu trách Chúa (Xh 6,8). Câu trả lời của Đức Giêsu luôn luôn có tính thời sự, và chất vấn chúng ta một cách mạnh mẽ: chúng ta cảm thấy đói cái gì nhất? Những thỏa mãn trần thế có thể sẽ kiến chúng ta hư mất? Hay lời Thiên Chúa có thể cứu chúng ta khỏi mọi thử thách? Lạy Chúa, xin giúp chúng con, tin cậy vào Chúa cho đến cùng. Xin ban cho chúng con lòng cậy trông.

Sau đó quỷ đem Người đến thành thánh, và đặt Người trên nóc đền thờ, rồi nói với Người: Nếu ông là Con Thiên Chúa. thì gieo mình, xuống đi! Vì đã có lời chép rằng: Thiên Chúa sẽ truyền thiên sứ lo cho bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng cho bạn thỏi vấp chân vào đá (Tv 91,11-12). Nhưng cũng có lời chép rằng: Ngươi Chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi (Đnl 6,16).

Nếu sự đau khổ (cơn đói) thử thách lòng tin của chúng ta,vào Chúa... thì bây giờ đây là cám dỗ thứ ha, có tính điển hình của dân Chúa, của Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, và của những tín hữu chúng ta; đó là thử thách về lòng tin. ít-ra-en trong sa mạc 40 năm đã xin Chúa cho những dấu hiệu lạ lùng để Thiên Chúa chứng tỏ là mình có hiện hữu không! Chúa có ở với chúng tôi không, có hay không? (Xh 17,1-7). Và Đức Giêsu, suốt cuộc đời Người đã bị cám dỗ thoát ra khỏi thân phận con người của mình, đạt tới kết quả sau cùng của sứ mệnh Người bằng các phương tiện dễ dãi là phép lạ: công luận của thời đại Người ta trông đợi một Đấng Mê-si-a siêu việt, Người sẽ tỏ ra một cách rõ ràng quyền năng của Thiên Chúa có lời cho những tín hữu bằng cách thực hiện những dấu hiệu chói lòa: họ xin Đức Giêsu cho họ một dấu chỉ xuống từ trời (Mt 16,1 -12,39 - 24,3).

Bằng tất cả sức mạnh sống động của con người trai trẻ và năng động, Đức Giêsu đã luôn bị cám dỗ để làm ra vẻ Thiên Chúa Toàn Năng. Và không phải là không bị dày xé mà Người đã chọn làm Đấng Mê-si-a nghèo nàn, bị hạ nhục bị đè nén bởi đám đông và những nhà chức trách ở thời Người.

Mọi tín hữu đến lượt mình đều phải chờ đợi lúc mình phải chịu cám dỗ "chống lại lòng tin" này: đó là sự cám dỗ và sự chân không, cái ấn tượng gieo mình vào chân không khi người ta tin vào Chúa. Người ta có lẽ muốn rằng Thiên Chúa phải hiển nhiên hơn. Và Người là Thiên Chúa ẩn giấu. Có lẽ người ta muốn cảm nghiệm sự hiện diện của Thiên Chúa trong những kinh nguyện hay trong việc phụng tự của chúng ta. Và Thiên Chúa thinh lặng... và sự "tự mập mờ" không làm cho người ta thích thú. Thiên Chúa khỏng gây thú vị lắm bởi vì Người không đáp ứng cho họ những chuẩn mực của chúng ta. Có lẽ người ta muốn tác động lên Người, làm ra một Thiên Chúa phục vụ chúng ta, một Thiên Chúa có lẽ làm chân chúng ta khỏi vấp vào đá trên đường đi. Và Thiên Chúa để cho chúng ta tự trị và tự chịu trách nhiệm: chính bạn, bạn hãy tránh những hòn đá và nếu bạn vấp phải, đừng chờ phép lạ: nhưng không phải vì thế mà Tôi không hiện hữu... bởi vì Tôi là thực thể hoàn toàn khác. Lạy Chúa, xin giúp con tin tưởng. Xin cho chúng con đức tin.

Quỷ lại đem Người lên một ngọn núi rất cao và chỉ cho Người thấy tất cẳ các nước thế gian, và vinh hoa lợi lộc của các nước ấy, và bảo rằng: Tôi sẽ cho ông tất cả những thứ đó nếu ông sấp mình bái lạy tôi. Đức Giêsu liến nói: Xatan kia, kéo đi! Vì đã có lời chép rằng: Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi. Thề rồi quỷ bỏ Người mà đi, và có các thiên sứ tiến đến hầu hạ Người.

Ta hãy lột bỏ tất cả những tưởng tượng về các biểu tượng ấu trĩ quá đơn giản. Thật hiển nhiên là Mát-thêu, không hơn chúng ta, đã không bị lừa về ngôn tự của nó. Không có ngọn núi nào ở thế gian mà từ đó người ta có thể trông thấy "tất cả" các nước trên trái đất! Đó là một cách nói. Đó là một thị kiến nội tâm, mà không phải là một hiện tượng vật lý. Sau thử thách về lòng cậy trông và lòng tin, thì đây có lẽ là " thử thách về tình yêu. Dân Ít-ra-en trong cuộc xuất hành của mình, bị can dỗ bỏ giao ước, một hôn ước tình yêu với Thiên Chúa thật, để hiến thân cho các "thần tượng" ngoại tình một cách nào đó (Xh 23,20-33). Thứ ngôn từ biểu trưng của Mát-thêu, nó có sức gợi cảm mạnh mẽ biết mấy! Xatan đã đòi các vương quốc trên thế gian làm tài sản riêng của nó. Nó là chủ, là ông hoàng của thế giới này Đức Giêsu đã lột mặt nạ đối phương. ở đây Chúa Giêsu, chỉ thẳng tên Xa-tan; đó là một tên phản Thiên Chúa! Chính y!à kẻ đòi loài người phải thờ phụng y.

Đúng thế, chúng ta bị cám dỗ Thiên Chúa hóa tất mọi sự vật. Đông đảo biết bao các thần tướng của chúng ta..., tất cả những thứ luôn cố đoạt lấy địa vị của Thiên Chúa: tiền bạc, tiện nghi, uy tín, thống trị, quyền lực, thú vui, các ý thức hệ, môi tntầng của chúng ta... hay là nhiều thứ ba láp này kia mà chúng ta gán cho tầm quan trọng lớn lao biết bao!

Chỉ một mình Thiên Chúa là Thiền Chúa! MC này được ban cho chúng ta để chúng ta được giải thoát những thần linh giả.

 
Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

" Chúa Giêsu nhịn ăn 40 ngày đêm và chịu cám dỗ"

Mt 4, 1 - 11

Câu chuyện Chúa Giêsu chịu cám dỗ đã được cả ba Thánh sử kể lại:

+ Mt4, 1- 11: Suy niệm năm A.

+ Mc 1, 12 - 15: Suy niệm năm B.

+ Lc4, 1 - 13: Suy niệm Năm A.

Vì thế phần suy niệm chi tiết xin xem lại bài suy niệm Tin Mừng thứ nhất mùa chay năm B và C, ở đây xin bổ túc thêm.

1) Những kiểu giải thích khác nhau về ý nghĩa của việc Chúa Giêsu chịu cám dỗ, đã được truyền thống công nhận.

a/ Lối giải thích lý luận:

Đức Giêsu tự nguyện chịu các chước cám dỗ lớn của nhân loại: những dục vọng của xác thịt và tinh thần, để rồi vượt thắng các cám dỗ đó cách khải hoàn, và nhờ đấy, nên gương mẫu cho đời Kitô hữu.

b/ Lối giải thích song đôi kiểu mẫu:

Đức Kitô là Adam mới, chịu một cơn cám dỗ " Tổ tông" mới, để nhờ lòng vâng phục, hiếu thảo của Người mà chuộc lại cuộc bất tuân phục của Adam cũ.

c/ Lối giải thích theo ý nghĩa cánh chung:

Qua cuộc chiến đấu này, Đức Kitô tiên báo cuộc khải hoàn vinh thăng cuối cùng của Ngài trên các quyền lực sự dữ.

2) Mátthêô kể lại câu chuyện Chúa Giêsu chịu cám dỗ dựa theo kinh nghiệm ba cuộc cám dỗ của Israel trong sa mạc:

a/ Sau khi được ăn Manna một thời gian, dân Israel đòi ăn thịt (Ds 11, 4 - 34).

b/ Maisen gõ phiến đá hai lần (Ds 20, 1 - 13).

c/ Giai thoại con bò vàng (Xh 32, 1 - 13).

Mátthêo cho thấy Đức Kitô tổng hợp cả ba kinh nghiệm của dân Israel và đã chiến thắng vẻ vang trong khi Israel lại vấp ngã. Vì vậy ở đây muốn nêu cao sự chiến thắng của Chúa Giêsu như một kiểu mẫu cho các Kitô hữu về việc chiến đấu và chiến thắng các cơn cám dỗ của Maria quỷ, thế gian và xác thịt.

3) Giữa phép rửa của Chúa Giêsu và cơn cám dỗ có một liên hệ rõ ràng rằng chính Thánh Thần ngự xuống trên Đức Kitô lúc ở sông Giođan đã đưa Người vào sa mạc để chịu ma quỷ cám dỗ, sự liên hệ này nói lên rằng:

a/ Việc Chúa Thánh Thần khởi xứng và chủ động (Mt1, 21; 3, 16) cho thấy ma quỷ không có quyền gì trên Chúa Giêsu, nó chỉ có ảnh hưởng trên Ngài từ bên ngoài mà thôi.

b/ Chúa Giêsu có ý chịu cám dỗ, trong khi biến cố chịu phép rửa cho ta thấy Chúa Giêsu là " Con yêu dấu" của Chúa Cha, thì biến cố cám dỗ đó cho ta biết Chúa Giêsu đến để chiến thắng ma quỷ và do đấy, để cứu chuộc nhân loại.

4) Việc cám dỗ trong sa mạc xảy ra như để xác nhận việc Đức Giêsu hoàn toàn chấp nhận đường lối thiên sai khổ hạnh, là đường lối duy nhất phù hợp với thánh ý Chúa Cha, vì trong cơn cám dỗ này Chúa Giêsu đã khước từ mọi hình thức thiên sai theo chủ nghĩa xác thịt, uy hùng hay chính trị mà Israel trông chờ.

Ơ đây Chúa Giêsu nêu gương cho chúng ta: những chiến thắng trong cuộc sống không phải bằng danh vọng, uy quyền hay vật chất, nhưng bằng sự khiêm nhường, nhịn nhục và hy sinh, trong vâng phục Thánh ý của Thiên Chúa.

5) " 40 ngày đêm": 40 là con số chẵn thường được Thánh Kinh dùng để chỉ thời gian kéo dài:

- 40 năm đi qua sa mạc (Xh 16, 35; Ds 14, 33)

- 40 năm trị vì của Vua Đavít (1Sm 5, 4)

- 40 ngày của lụt đại hồng thủy (St 7, 4)

- 40 ngày trước khi phá huỷ thành Ninivê (Gn 3)

- 40 ngày giữa cuộc phục sinh và thăng thiên của Chúa Giêsu.

- 40 ngày đêm ám chỉ 40 ngày và 40 đêm mà Maisen đã trải qua trên núi Yavê " Không ăm bánh cũng chẳng uống nước " Xh 24, 18: giữ chay trong cuộc thần hiến và trong Xh 34, 28: giữ chay sau cuộc tái lập giao ước).

- 40 đêm có lẽ cũng ám chỉ cuộc chay trường của Êlia trên núi Hôreb (1V19, 8) sau khi được thần hiện và trao sứ mệnh.

Ơ đây đây muốn nêu lên việc phải có thời gian cần thiết để huấn luyện và thử thách trước khi nhận lãnh một sứ mệnh. Việc huấn luyện ơn gọi trong Giáo Hội cũng theo đường lối này.

6) Ý nghĩa của mỗi cám dỗ:

a/ Cám dỗ thứ I (Mt4, 3 - 4):

" Nếu Ông là Con Thiên Chúa " ở đây không nhằm nói lên sự nghi ngờ của ma quỷ, nhưng ma quỷ cố khơi lên trong Đức Giêsu niềm hoài nghi. Dưới chân Thánh giá chính người Do thái sẽ thay thế ma quỷ để cám dỗ Đức Giêsu một cách tương tự " Nếu Ông là Con Thiên Chúa..." (Mt27, 40).

Hai chước cám dỗ này nhằm thúc đẩy Chúa Giêsu sử dụng quyền lực Thiên sai của Người để mưu cầu tư lợi hay đúng hơn để thoát khỏi cảnh hiểm nghèo (đói trong sa mạc, chết trên Thập giá). Đáp lời lại, Đức Giêsu xác quyết Người không muốn dùng phương thế riêng của Mình để được sống, nhưng muốn hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa (Mt27, 43).

b/ Cám dỗ thứ II (Mt4, 5 - 7)

" Nếu Ông là Con Thiên Chúa hãy gieo mình xuống đi": Trong cám dỗ thứ nhất, Chúa Giêsu đã dựa vào sự quan phòng che chở của Thiên Chúa để chiến thắng ma quỷ. Trong cơn cám dỗ thứ 2 này ma quỷ lại lợi dụng sự che chở ấy để dụ dỗ Chúa Giêsu đòi hỏi Thiên Chúa can thiệp để che chở cho Mình (Tv 91, 13) và như vậy, đây là cám dỗ có tính cách áp đặt ý muốn con người trên Thiên Chúa, vì nếu gieo mình xuống từ thượng đỉnh Đền thờ theo như lời Satan dụ dỗ, thì Đức Giêsu đã buộc Thiên Chúa phải thực hiện một phép lạ, tức là thử thách Thiên Chúa vậy.

Đôi khi chúng ta cũng bị cám dỗ thử thách Thiên Chúa. Đó là những lúc chúng ta muốn Chúa làm phép lạ để biểu dương quyền năng của Ngài.

c/ Cám dỗ thứ III (Mt4, 8 - 10):

" Nếu Ông xấp mình xuống thờ lạy tôi" cám dỗ này gợi lại hình ảnh Maisen trên núi Sinai: Thiên Chúa cho Maisen xem tất cả đất hứa (Đnl 31, 1 - 4). Sau này, khi phục sinh, Chúa Giêsu cũng đã nói đến một Đất hứa mới: " Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Ta" (Mt28, 18) như lời hứa của Tv 2, 6 - 8.

Đây là cám dỗ thờ ngẫu thần đã bị ngăn cấm từ xưa (Đnl 6, 14 - 15), Chúa Giêsu đã từ chối thờ ngẫu tượng để được vinh quang trần thế. Đổi lại, Ngài sẽ chinh phục thế giới không phải bằng cách " Xấp mình thờ lạy Satan" nhưng bằng Thập giá.
Chúng ta cũng thường bị cám dỗ về sự ham chuộng vinh quang theo kiểu trần thế: sụp lạy Satan, tức là chiều theo Ma quỷ, thế gian và xác thịt. Nhưng là con cái Thiên Chúa, noi gương Chúa Giêsu, chúng ta tìm vinh quang bằng con đường thập giá: vì ai mất mạng sống ở đời này vì Ta, thì sẽ được sống đời đời. Chính sự sống đời đời mới được vinh quang đích thực và trường tồn.

7) " Bấy giờ ma quỷ bỏ Người ":

Ơ đây nói lên sự thất bại của ma quỷ và nói lên sự chiến thắng của Chúa Giêsu, nhưng theo Lc4, 13 thì ma quỷ rút lui để chờ dịp khác. Điều này cho thấy ma quỷ luôn luôn tìm mọi lúc, mọi cách, mọi nơi, để cám dỗ. Vì thế đòi hỏi ta luôn tỉnh thức đề phòng và chiến đấu để chiến thắng ma quỷ.

" Và khi Thánh Thần tiếnlại hầu hạ người ":

Sau khi Chúa Giêsu đã chiến thắng các chước cám dỗ của Satan, thì các Thiên thần mới đến hầu hạ Người. Cũng như sau khi Chúa Giêsu phục sinh, các Thiên thầm mới đi loan tin cho các môn đệ (Mt28, 2 - 7).

Ơ đây cho thấy:

- Có qua Thập giá mới tới vinh quang.

- Có tử nạn mới phục sinh.

Như vậy có thực hiện tinh thần mùa chay là xám hối và ăn chay đền tội thì mới đạt tới vinh quang trong sự hoàn thiện của đời sống con cái Thiên Chúa.

8) Mấy áp dụng thực hành:

a/ Cám dỗ thử thách thường được Chúa dùng để huấn luyện và thanh tẩy chúng ta. Hãy xin ơn lướt thắng: " Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ".

b/ Nhờ những chiến đấu dũng cảm trong những cám dỗ hàng ngày, chúng ta sẽ mau chóng tiến đức và lớn mạnh trong đời sống thánh thiện.

c/ Khi bị cám dỗ vì tiện nghi vật chất, về danh vọng quyền thê, chúng ta hãy noi gương Chúa Giêsu sống khó nghèo khiêm tốn, phó thác vào bàn tay quan phòng của Thiên Chúa.

d/ Cám dỗ luôn luôn soay quanh Lời Chúa hoặc để xúc phạm hoặc để xuyên tạc Lời Chúa. Như kiểu Satan trong bài Tin Mừng hôm nay. Cầu phải hiểu đúng Lời Chúa, dừng uốn nắn Lời Chúa theo ý riêng mình, nhưng hãy dùng Lời Chúa để chống lại các cám dỗ.

 
Lm Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc - Bài Giảng Lễ

Khởi đầu từ điều nhỏ mọn.

St 2, 7-9, 3.1-7; Rm 5,12.17-19; Mt 4,1-11

 
H
ắn là một tên sát nhân. Hắn đã giết một cảnh sát viên. Bây giờ hắn phải trả giá bằng hình phạt: Người ta cột hắn vào ghế điện trong nhà tù. Người ta buộc những miếng kim khí vào cái vòng trên đầu hắn và bắp chân hắn. Một lát nữa, dòng điện mạnh sẽ chạy qua thân xác hắn, đủ gây nên sự mất ý thức ngay lập tức và chết luôn. Viên chức phụ trách hỏi tên tử tội xem hắn có muốn nói lời gì cuối cùng không. Hắn nói buột ra với giọng điệu đau đớn cực độ: "Đây, tất cả đã khởi đầu khi tôi ăn cắp 1 đồng 5 xu ở túi áo của mẹ tôi. Rồi tôi ăn cắp 2 đồng 5 xu. Sau đó, tôi đã bắt đầu ăn cắp đồ vật ở trường học, ở tiệm tạp hóa, tiệm thuốc. Rồi, với hai đứa bạn, tôi bắt đầu tập luyện, món kiếm được càng ngày càng lớn hơn. Cuối cùng, chúng tôi quyết định cướp ngân hàng, và lần đó tôi đã bắn viên cảnh sát. Đó, tất cả bắt đầu với 1 đồng 5 xu".

Thưa anh chị em,

Đó là câu chuyện thường của tội ác. Đó là câu chuyện thường của lỗi lầm, nó thường khởi sự bằng một điều nhỏ mọn - 1 đồng 5 xu - một điếu thuốc, một ly rượu, một tư tưởng không tốt, một ước muốn dơ bẩn hay sự tò mò, đánh người nhỏ tuổi, không vâng lời trong những điều nhỏ mọn. Khi không được ngăn chặn, nó sẽ dẫn tới vụ ăn cướp, lạm dụng ma túy, nghiện ngập say sưa, trụy lạc đủ loại, bạo lực hành hung…

Tin mừng hôm nay kể lại việc Chúa Giêsu bị ma quỉ cám dỗ. Qua đó, chúng ta thấy được chiến thuật quỉ quyệt ngàn đời của ma quỉ: Hắn luôn luôn bắt đầu tấn công con người ở khía cạnh thấp hèn nhất: sự tham ăn hay nói cách khác, sự tìm kiếm thỏa mãn xác thịt với những dục vọng đê tiện. Sau khi tấn công khía cạnh xác thịt đê hèn của con người, ma quỉ tiếp tục tấn công đến tư tưởng và tinh thần của con người. Một khi đã mù quáng trong những dục vọng đê tiện của thể xác, con người sẽ đánh mất đi mọi ý hướng, mọi ý chí tốt lành để chỉ biết ngụp lặn trong việc tìm kiếm danh vọng, chức quyền và của cải, tức là con người đi vào vòng nô lệ của những ước vọng hảo huyền.

Đây cũng là chiến thuật cũ của ma quỉ để tấn công Chúa Giêsu. Thế nhưng, nếu hắn đã thành công với hai ông bà nguyên tổ loài người thì hắn ta đã thất bại nặng nề với Chúa Giêsu, Ađam mới của loài người. Ba đợt cám dỗ của Satan đều nhằm đánh lạc hướng sứ mạng cứu thế của Chúa Giêsu. Satan đã khôn khéo đưa ra dụ dỗ Chúa ba kế hoạch hấp dẫn để chinh phục dân chúng dể dàng: Trước hết là cứ việc biến sỏi đá thành cơm bánh, cứ việc làm phép lạ cho dân chúng được ăn no thì ai lại không ham, ai lại không muốn chạy theo Ngài. Rồi đến kế hoạch thứ hai có vẻ hấp dẫn hơn trò xiếc quốc tế: đó là chỉ cần Chúa biểu diễn quyền phép của Thiên Chúa cho dân chúng thấy mà lóe mắt thán phục, bằng một pha nhào lộn ngoạn mục từ trên tháp đền thờ Giêrusalem xuống đất mà không sợ gãy cổ què chân, vì đã có các thiên thần nâng đỡ Ngài. Cuối cùng Satan lại bày ra một kế hoạch thứ ba, đó là chỉ cần Chúa quì xuống phục lạy hắn ta một cái là sẽ đổi lấy tất cả danh vọng, giàu sang, quyền thế, thống trị muôn dân nước trên thế giới, bá chủ hoàn cầu…

Trước các đợt tấn công của Satan, Chúa Giêsu đã dứt khoát gạt bỏ cả ba kế hoạch hấp dẫn, dể dàng đó. Chúa không muốn chinh phục người ta bằng miếng ăn, bằng quyền năng thần thánh hay bằng vinh quang vật chất trần gian. Chúa đến trần gian nầy là để thi hành sứ mạng cứu độ trần gian theo kế hoạch của Thiên Chúa Cha. Kế hoạch đó là: Ngài phải mang lấy thân phận con người, sống kiếp người nghèo khổ và phải đi đến tận cùng con đường gian khổ, đến cuộc tử nạn Thập giá. Đó là kế hoạch kỳ diệu của Thiên Chúa Cha mà Chúa Giêsu phải thực hiện đến hoàn thành để đưa Ngài lên đến tột đỉnh vinh quang của cuộc chiến thắng phục sinh, nhờ đó mà loài người được cứu chuộc.

Anh chị em thân mến,

Ngày nay, Satan không hiện nguyên hình để dụ dỗ chúng ta, nhưng nó ngụy trang dưới nhiều hình thức tinh vi và tràn ngập chung quanh chúng ta, để lôi kéo chúng ta ra khỏi con đường của Chúa, để sống phóng đãng theo ý muốn của mình. Đi theo Chúa Giêsu, chúng ta chỉ có một con đường Chúa Giêsu đã chọn và chúng ta phải chọn lại luôn từng ngày, từng giờ trước những cám dỗ của miếng ăn, của tiền của, của danh lợi, của quyền thế: "Con người không chỉ sống nhờ cơm bánh mà còn phải được Lời Chúa nuôi dưỡng nữa".

Chúng ta quyết tâm biến Mùa Chay nầy thành một cuộc chiến đấu và chiến thắng vẻ vang như Chúa Giêsu. Đôi khi chúng ta phải đương đầu với những cám dỗ lớn lao, nhưng thường ra, chúng ta gặp những cám dỗ nhỏ hơn, nhất là lúc khởi đầu bao giờ cũng là chuyện nhỏ mọn. Nhưng hãy kháng cự ngay lúc khởi đầu, để được tăng sức chống lại những tấn công lớn hơn sau này của ma quỉ.

Cũng vậy, nếu muốn làm điều gì lớn lao cho Chúa, chúng ta hãy khởi đầu từ điều nhỏ mọn: một tư tưởng, một ước muốn, một lời cầu nguyện. Hãy tìm cách nói hay làm những điều tốt lành. Hãy chia sẻ chút ít cho người đang túng thiếu. Hãy đi dự thánh lễ thường xuyên đều đặn. Mỗi ngày hãy dành ít phút đọc và suy niệm Tin Mừng. Hãy tìm ra phương thế cụ thể để nên giống Chúa Giêsu. Hãy bắt đầu bằng những việc nhỏ mọn nhưng rõ rệt. Rồi chúng ta có thể nói: "Tôi đã làm được điều đó hôm qua, tôi có thể làm được hôm nay, tôi sẽ còn có thể làm được ngày mai".

Tất cả chúng ta muốn đứng về phía người chiến thắng. Chúa Kitô luôn chiến thắng. Ngài chiến thắng trong trận chiến chống Satan. Ngài đã chiến thắng vào lễ Phục sinh đầu tiên. Chúng ta hãy đứng về phía Ngài trong Mùa Chay và chắc chắn chúng ta sẽ chiến thắng với Ngài vào lễ Phục sinh.

 
Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng - Bài Giảng Lễ

ƠN CỨU ĐỘ TRONG CHÚA GIÊSU KITÔ

Phụng vụ Lời Chúa trong Chúa nhật I mùa Chay này giúp cho chúng ta hiểu về bản chất của tội lỗi, đồng thời, cũng nhận ra Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót khi yêu thương ban ơn cứu độ, giải thoát con người khỏi tội lỗi. Chúng ta không thể phủ nhận tội lỗi là một trong những thực tại của thế giới, nó hiện diện nơi mỗi con người. Tuy nhiên chúng ta hy vọng nơi Thiên Chúa, Ngài không bỏ rơi con người trong vũng sâu tội lỗi nhưng đã cứu độ bằng việc sai Con Một của Ngài đến giải thoát.

I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

1. Bài đọc I: St 2,7-9

Tạo dựng con người và sự sa ngã của Ađam - Eva

Bản văn cho chúng ta thấy làm sao con người được Thiên Chúa dựng nên để hưởng hạnh phúc lại bị che phủ trong bóng tối tội lỗi và khổ đau. Tất cả là do kiêu ngạo, không muốn tôn trọng kế hoạch của Thiên Chúa.

a. Tác giả được linh hứng sử dụng hình ảnh dân gian để giúp cho người đọc hiểu rằng con người được tạo dựng giống Thiên Chúa, Đấng Sáng Tạo duy nhất, và con người hoàn toàn sống được nhờ Thiên Chúa cả về thể xác lẫn linh hồn.

b. Trong phần thứ hai của bài đọc cho thấy, con người được tạo dựng để hưởng hạnh phúc nhưng chính họ đã tạo ra đau khổ cho mình bằng sự sa ngã trước cám dỗ. Bị tách rời khỏi Thiên Chúa, con người mất đi tình nghĩa với Ngài và cũng mất luôn nguồn sự thiện hảo từ Ngài.

c. Sự bất hạnh của Ađam-Eva kéo theo hậu quả bi thảm nơi nhân loại. Con người sử dụng tự do để từ chối tuân theo Thánh ý Chúa, chỉ sống theo ý thích của mình. Từ đó, phải gánh chịu đau khổ, tội lỗi và sự chết.

2. Bài đọc II: Rm 5,12-19

Đức Kitô giải phóng con người khỏi tội lỗi

Thánh Phaolô thiết lập một bảng so sánh giữa Ađam và Đức Kitô, một đàng bởi sự bất vâng phục của Ađam mà con người đã trở nên tội nhân; một đàng nhờ sự vâng phục và sự dâng hiến của Đức Kitô mà con người tìm lại được sự sống, hạnh phúc và tình yêu.

a. Thánh Phaolô minh chứng và dẫn giải cho thấy chính tội lỗi đã đưa con người đến thảm kịch bi thương nhất: đau khổ, chết chóc và mất đi mọi điều thiện hảo tâm linh.

b. Thánh Phaolô ca ngợi vai trò của Đức Kitô, sự hy sinh chịu chết của Người lớn lao hơn tất cả tội lỗi của nhân loại. Nhờ Người mà nhân loại nên công chính, được tái lập tình trạng nghĩa thiết với Thiên Chúa và được đón nhận lại sự sống của Thiên Chúa.

c. Chính nhờ Chúa Giêsu, trong Chúa Giêsu, con người chúng ta có quyền hy vọng sẽ chiến thắng hoàn toàn tội lỗi, sự chết. Đó chính là đức tin của Kitô hữu.

3. Tin mừng: Mt 4,1-11

Chúa Giêsu chịu cám dỗ trong sa mạc

Bằng việc làm người ở giữa chúng ta, Chúa Giêsu đã đón nhận tất cả mọi tình trạng, điều kiện của con người ngoại trừ tội lỗi. Chính vì thế, ngay từ ngày đầu của sứ vụ, Người đã phải chống trả với mưu mô cám dỗ của ma quỉ.

a. Thánh Matthêu sau khi đã gợi lên một cách tổng quát về sự kiện Chúa Giêsu bị cám dỗ đã diễn tả cuộc cám dỗ này bằng ba trường hợp nối tiếp nhau ở sa mạc, thành thánh và núi cao. Ba nơi chốn này đều có ý nghĩa trong đời sống tôn giáo của người Do Thái.

b. Tựu trung ma quỉ muốn cám dỗ Chúa Giêsu thực hiện công trình cứu độ của Người bằng một đường lối khác với đường lối mà Chúa Cha muốn Người thực hiện: thay cho sự khiêm hạ và khổ nạn bằng quyền lực thế gian và sức mạnh vật chất.

c. Việc Matthêu trình bày về cuộc cám dỗ Chúa Giêsu phải chịu không nhằm mục đích cho biết về một giai thoại cuộc đời Chúa Giêsu cho bằng giúp mọi người hiểu cách Chúa Giêsu đã thi hành sứ mạng Messia như thế nào. Dầu bị cám dỗ bằng mọi cách nhưng Người vẫn trung thành với đường lối của Chúa Cha, đường lối tự hạ, hủy mình.

II. GỢI Ý BÀI GIẢNG

1. Cám dỗ - cuộc chiến đấu giữa thiện và ác:

Việc Chúa Giêsu chịu cám dỗ mạc khải cho chúng ta biết nguồn gốc đích thực của cám dỗ là từ ma quỉ; cám dỗ là cuộc chiến đấu giữa thiện và ác. Cùng đối diện với những vấn đề nhân sinh như cơm áo, danh vọng, quyền lực nhưng khác nhau ở cách nhìn về chúng và cách sử dụng. Hoăc là theo thánh ý Chúa để nhận thấy tất cả không có giá trị gì ngoài Thiên Chúa; hoặc là nuông chiều theo cám dỗ để sống và hành động theo dục vọng cá nhân. Vần đề cám dỗ giữa việc theo Chúa hay theo dục vọng luôn là một cuộc chiến đấu căng thẳng nơi mỗi người và toàn thể nhân loại từ cổ chí kim. Từ Ađam cho đến người cuối cùng. Chính Chúa Giêsu khi mặc lấy thân phận con người cũng phải chấp nhận chịu cám dỗ. Chính Chúa Thánh Thần đã hướng dẫn Người vào trong sa mạc để chịu cám dỗ. Phải chăng đây là một lời tuyên chiến với cái ác? Thực chật sâu xa của cám dỗ chính là cuộc chiến đấu giữa thiện và ác ngay từ trong lương tâm mỗi người cho đến bình diện của cả nhân loại. Nếu theo Chúa, cùng với Ngài chiến đấu thì cái thiện sẽ chiến thắng và ngự trị còn ngược lại buông mình theo cám dỗ của ma quỉ thì cái ác sẽ chiến thắng và ngự trị.

Cuộc sống con người không thể không có cám dỗ, thế nhưng mỗi ki bị cám dỗ thái độ của Kitô hữu chúng ta như thế nào? Chúng ta có đứng về phía Thiên Chúa, theo giáo huấn của Ngài để chiến đấu và chiến thắng cám dỗ hay buông mình để cho cái sai, cái xấu, cái ác ngự trị?

2. Cám dỗ Chúa Giêsu chịu cũng là cám dỗ con người phải chịu:

Chúa Giêsu chịu cám dỗ với những cơn cám dỗ không khác gì với con người hôm nay: Tiền tài, danh vọng, quyền lực. Tình-danh-lợi luôn luôn là những thứ quấy nhiễu đời sống con người; làm lệch huớng đi tới chân thiện mỹ của nhân loại; làm cho con người phải đi vào trong đau khổ. Mỗi thời kỳ, mỗi người những cám dỗ này có thể ẩn dấu dưới thiên hình vạn trạng do đó, luôn phải tỉnh táo để nhận diện được những cám dỗ sảy đến cho mình. Quan trọng nhất là hãy nói gương Chúa Giesu mạnh dạn chống trả cám dỗ bằng việc luôn khiêm nhu tự hạ vâng lời theo Thánh Ý Chúa. Phương thế Chúa Giêsu dùng là lòng vâng phục và áp dụng rất hiệu quả Lời Chúa đế chiến thắng cám dỗ. Dùng lời Chúa để chiến đấu là thái độ của người biết vâng lời Chúa.

Trong cụôc sống hàng ngày mỗi Kitô hữu phải biết nhận diện cơn cám dỗ lôi kéo mìn. Nếu không nhạn ra nó sẽ dễ dàng bị nó khuất phục. Vậy đâu đang là cám dỗ tôi phải chịu và đâu là phương thế tôi chiến đấu và chiến thắng?

3. Mục đích của cám dỗ là lôi kéo con người rời xa Thiên Chúa

Khi cám dỗ Adam-Eva, Satan đề nghị ông bà đừng nghe theo Chúa. Bất tuân lệnh Chúa sẽ ngang bằng với Thiên Chúa vì biết được mọi sự. Khi cám dỗ Chúa Giêu, ma quỉ cũng cám dỗ Người dùng những phương thế trần gian để thực hiện công trình cứu độ, đi ngược lại với Thánh ý của Chúa Cha. Như thế, có thể nói được rằng mục đích của cám dỗ chính là lôi kéo con người ra khỏi Thiên Chúa, để mình trở nên người thống trị, không lệ thuộc vào thiên Chúa mà lệ thuộc vào ma quỉ, vào dục vọng xác thịt. Từ đó, con người trở thành nô lệ lúc nào không hay. Khi đó ma quỉ đã chiến thắng. Nhận định mục đích của cám dỗ là tìm mọi cách để lôi kéo con người rời xa khỏi Thiên Chúa, chống lại Ngài, giúp xác định được hướng chọn lựa của mình trước cám dỗ: chọn lựa và đứng về phía Thiên Chúa. Nhờ đó, sẽ biết phải chạy đến với Chúa, biết tránh xa cám dỗ, tránh xa dịp tội, để trung thành với đức tin của mình và tiến tới trên đường nhân đức.

Là Kitô hữu thì cuộc sống luôn thuộc về Chúa, ở trong Chúa và vâng theo Chúa, do đó, chắc chắn luôn phải đối đầu với cám dỗ. Cần phải bình tĩnh, tin tưởng cậy trông và can đảm chiến đấu chống trả. Mỗi lần chiến thắng một cơn cám dỗ là tiến tới gần Chúa hơn, nên người con yếu dấu của Chúa hơn.

III. LỜI NGUYỆN TÍN HỮU

Mở đầu: Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu chịu cám dỗ, Người đã chiến đấu và chiến thắng. Tin tưởng vào ơn Chúa, chúng ta cùng dâng lời cầu xin.

1. Ngày nay Giáo hội đã và đang phải đương đầu với biết bao cám dỗ và thử thách. Chúng ta cùng hiệp lời cầu nguyện cho Giáo hội hoàn vũ và địa phương luôn được tràn đầy ơn Chúa để vượt qua tất cả để luôn mãi là Giáo hội của Chúa Giêsu Kitô.

2. Con người và xã hội hôm nay đang phải đối diện với biết bao khó khăn thử thách từ thiên tai đến chiến tranh, nghèo đói, bất công, bạo lực. Chúng ta cùng hiệp lời cầu nguyện cho mọi người, mọi dân tộc, mọi quốc gia trên thế giới luôn biết đoàn kết cùng nhau xây dựng một thế giới có tình yêu, tự do, hòa bình và công lý.

3. Không thể không có cám dỗ trong cuộc sống con người. Chúng ta cùng hiệp lời cầu nguyện cho mọi người trong chúng ta luôn biết sống kết hợp mật thiết với Chúa qua việc thực hành Lời Chúa và năng đến với Chúa Giêsu Thánh Thể để có sức mạnh chiến đấu, chống trả và chiến thắng cám dỗ, hầu tất cả được hưởng hạnh phúc thực sự và tình yêu của Thiên Chúa.

Lời kết: Lạy Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót. Xin thương nhìn đến chúng con là con cái đang phải vất vả với biết bao cám dỗ trong cuộc sống hằng ngày. Xin ban Thánh Thần để chúng con can đảm và vững vàng trước những cám dỗ. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.

Hành Trang Mục Vụ - Khoá 10 ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn