Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật Tuần I Mùa Chay B

Mc 1: 12-15: Bài Tin Mừng hôm nay có hai ý tưởng chính: Chúa Giêsu chịu cám dỗ để nêu lên lòng trung tín của Người đối với sứ mệnh Chúa Cha trao phó. Chúa Giêsu khởi sự Tin Mừng bằng việc rao giảng để nói lên mệnh của Người ở trần gian...
CHÚ GIẢI TIN MỪNG

NGÀY 17 THÁNG 02

THỨ BẢY SAU THỨ TƯ LỄ TRO



 
Tin mừng  Mc 1: 12-15

Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

CHIẾN THẮNG Ở SA MẠC – CHIẾN ĐẤU

TẠI GALILÊ



CÂU HỎI GỢI Ý

1.Trình thậut kép này (Chúa Giêsu chịu cám dỗ- Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng Tin Mừng) là kết luận của Bài tựa Tin Mừng Mc. Phải hiểu điều ấy ra sao?

2.Đâu là văn thể của trình thậut? Thần thoại? Khải huyền? Lịch sử? Thần học –lịch sử?

3.Các yếu tố chính của trình thuật được xếp đặt quanh yếu tố chủ chốt nào?

4. Trong ngôn ngữ biểu tượng của Mc, "dã thú" và "thiên thần" có ý nghĩa gì?

5. Dựa vào đâu để biết trình thuật có nền tảng lịch sử?

6. Trình thuật có thể đưa ra sứ điệp nào cho con người thời nay?

(Xin lưu ý: các tiểu đề trong bài này là của dịch giả)

Với vẻ vắn gọn của trình thuật, Mc đã nhắm trình bày Chúa Giêsu như là một con người đã từng đương đầu với hoàn cảnh bi đát chung của nhân loại hay không? Để biết được ý hướng Mc về điểm này, cần tìm hiểu ý nghĩa của ngôn ngữ biểu tượng ông dùng khi nói đến thiên thần và dã thú, cùng khảo sát xem tại sao Chúa Giêsu, vừa được loan báo báo, bởi Gioan Tẩy giả và được xác nhận trong phép rửa như Đấng Messia, lại phải chịu thử thách như thế.

Ít nhất, có một điểm khá rõ rệt là thánh sử không nhắm mục đích thỏa mãn mọi hiếu kỳ của độc giả ông, vì ông không tường thuật ngay cả cuộc cám dỗ. Điều này đã khiến các nhàchú giải đặt ra câu hỏi như sau: phải chăng Mc đã loại bỏ phần này của trình thuật, vốn có trong Mt và Lc, hay Mt và Lc đã tán rộng yếu tố căn bản mà họ có chung với thánh sử thứ hai? Đặt vấn đề như vậy, ý hướng Mc, theo các nhà chú giải ấy sẽ lộ ra dễ dàng; nhưng điều quan trọng vẫn là ông đã đưa ra bản văn như hiện thấy và chính vào cái hình thức dứt khoát này mà ta phải chú ý hơn cả.

Giai thoại cám dỗ, trong sách bài đọc hiện tại, được một câu nói về việc rao giảng của Chúa Giêsu đi kèm theo. Sự chắp nối này có thể làm vài người ngạc nhiên, vì giọng văn có vẻ thay đổi. Xin độc giả hãy xem đó như một lời mời gọi đừng lướt nhanh qua các câu vốn có một tầm mức và ý nghĩa rất hiện thực này.

I. VĂN MẠCH CỦA TRÌNH THUẬT

Nếu rảo qua văn mạch trực tiếp của hai trình thuật "cám dỗ" và "Chúa Giêsu rao giảng" hôm nay, ta sẽ thấy chúng là kết luận của Bài tựa Mc gán cho Tin mừng của ông, và chính đấy là điểm làm cho ý nghĩa của chúng được sáng tỏ.

Cuộc cám dỗ là thành phần của bài nhập đề cho "Tin mừng Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa" (1,1). Nó rõ ràng gắn liền với phép rửa nhờ chi tiết "Thần khí", Đấng can thiệp trong cả hai trường hợp. Thành thử phải hiểu nó trong tương quan với việc ban Thần khí biểu lộ nơi kẻ mà Gioan Tẩy giả đã loan báo như là "Đấng quyền thế hơn". Sở dĩ Chúa Giêsu được mặc khải trong phép rứa như là kẻ Thần khí chiếm lấy, chính là để tỏ ra "mạnh mẽ" trước Satan. Thành thử mục đích của trình thuật là phải cho thấy Người chiến thắng, để Tin mừng không chỉ được loan báo nhưng còn tỏ ra là đang được thể hiện. Đấy là điều được xác nhận trong giai thoại tiếp theo

giai thoại cho thấy sức mạnh của Chúa Giêsu bộc phát thành hành động trong việc xua trừ ma quỷ (1,23). Tin mừng là sự tỏ mình cụ thể của Đấng thánh Thiên Chúa, Đấng chiến thắng sự dữ, Satan.

Còn bản tóm tắt hoạt động rao giảng của Chúa Giêsu thì xuất hiện như một suy tư rút ra từ những kết luận từ những điều được đề cập trong hai giai thoại trước là phép rửa và Cám dỗ: nếu Nước Thiên Chúa (Triều đại Thiên Chúa) đã bắt đầu hoạt động trong giai đoạn mời và dứt khoát của nó, và Nước ấy là mạnh nhất, thì phải công nhận và tin vào Tin Mừng. Các câu này hai lần nhấn mạnh đến Tin mừng vì kêu mời hối cải; chúng lặp lại, dưới hình thức đóng khung, điều đã được nói ở nơi các câu 1 và 4. Thành thử rõ ràng chúng nằm đúng trong văn mạch, không thể chối cãi, và ta nên lấy làm hối tiếc là, trong một vài bản dịch, chúng xem ra quá bị tách rời với những gì đi, về phép rửa cũng như về cơn cám dỗ Chúa Giêsu chịu, các độc giả Tin Mừng đã biết Chúa Giêsu là ai, quyền lực Người thế nào và một thời đại mới đã bắt đầu với Người ra sao, thì ta hiểu được Tin mừng đó sẽ gây nên những gì cho con người, khi nó bắt đầu được loan báo cho họ. Mỗi một chi tiết của bản văn đều đáng giải thích để làm nổi bật tất cả ý nghĩa của giai đoạn này.

Trước hết là những chi tiết thời gian và không gian mở đầu cho lời kêu gọi Chúa Giêsu tung ra. Để hiểu tất cả tầm quan trọng của các chi tiết này, phải tìm xem đâu là ý nghĩa thần học chúng có thể chứa đựng. Lời Chúa Giêsu kêu gọi sắp đánh dấu khởi điểm cho một thời đại mới. Thời gian đi trước là Cưu ước mà tâm điểm là Gioan Tẩy giả, với những yếu tố phải nói là riêng biệt của ông. Thật vậy, Gioan không còn ngỏ lời, như các ngôn sứ tiền bối, cho một dân tộc, nhưng cho những cá nhân là thêm vào lời mình một phép rửa; sau cùng, ông loan báo một người mà trên đó Thần khí sẽ đậu lên. Suốt một thời gian ngắn, Chúa Giêsu đã đồng hành với ông, nhưng phép rửa Người chịu đã dẫn một trật tự cũ đến chỗ hoàn hảo của nó, thành thử đã đến lúc mặc khải thời đại mới đang bắt đầu: thời đại của "Triều đại, cánh chung trong con người Chúa Giêsu. Từ ngữ "Triều đại này xem ra đáng chuộng hơn từ ngữ "Vương quốc" (nước) là tiếng đúng ra chỉ thực tại phát xuất từ triều đại đó. Bảo rằng Chúa Giêsu đến trong một vùng khác và rằng việc này trùng hợp với việc tống giam Gioan Tẩy giả, ấy là gợi lên những tương đồng dị biệt giữa lối sống và lời rao giảng của hai con người tương ứng với hai thời đại. Cả hai đều loan báo một biến cố đảo lộn sắp xảy ra; cả hai cùng rao giảng sự hối cải. Nhưng, ngoài việc đã làm những điều trên với một sắc thái riêng, Chúa Giêsu còn mang đến nhiều yếu tố mới. Gioan đã nói ở thì tương lai: "người sẽ thanh tẩy các ngươi" (c.8), Chúa Giêsu nói ở thì hiện tại: "Nước Thiên Chúa đã gần đến" (c 15); hơn nữa, Người yêu cầu hãy "Tin vào Tin mừng". Thành ra không còn vấn đề chuẩn bị cho một biến cố, nhưng là tiếp đón nó vì nó đã ở đấy rồi.

Còn về vùng đất mới nơi xảy ra cuộc tấn công đầu tiên nhằm giải phóng con ngươi khỏi đau khổ, sự ác và cái chết, làm sao lại không thấy có ý nghĩa đối với Kitô hữu? Theo truyền thống mà Mc tùy thuộc, chẳng phải là ở tại Galilê mà Chúa Giêsu đã hẹn tái ngộ với các môn đồ để cho thấy mình vẫn sống sau Phục sinh sao (16,7)? Đối với thánh sử, vùng đất này có một ý nghĩa thần học. Ông coi nó là nơi mà cuộc sống Chúa Giêsu đạt tới một cao điểm. Đó là nơi đã bắt đầu việc rao giảng Nước Trời" (cc. 14-15), nơi mà các môn đồ đầu tiên được kêu gọi (1,17), nơi dân chúng từ khắp chốn tuôn đến (3,7-8), nơi mà sự thống nhất đất nước sẽ được tái lập (7,31). Rồi nó tạm thời xuống giá vì cái chết Gtêrusalem. Nhưng sau đó một thời đại mới sẽ bắt đầu trên dân Galilê, nghĩa là trên mọi nơi mà Tin mừng Thiên Chúa sẽ vang dội. Thành ra thánh sử, đầy niềm xác tín như vậy khi đọc lại lịch sử quá khứ, muốn làm nổi bật điều này là Tin Mừng đó, trong thực tế, dã bắt đầu vang dội từ thời gian sống tại thế của Chúa Giêsu khi, lần đầu tiên, Người khởi sự tại Galilê sứ vụ của Người. Vì vậy ông thêm câu "rao giảng Tin Mừng Thiên Chúa" (c.14) và đặt trong những chữ này tất cả nội dung toàn vẹn của đức tin Kitô giáo.

Nhưng Tin Mừng này đã bắt đầu như thế nào? Thời buổi đã mãn và Nước thiên Chúa đã kề bên", bản văn nói. Các từ ngữ này chất chứa nhiều ý niệm chính xác và nhiều mầu nhiệm. Nhiều ý niệm chính xác vì nước Thiên Chúa" là một yếu tố cốt yếu của Cựu ước nói lên quyền tối thượng của Thiên Chúa trong việc hiện diện giữa lịch sử con người là ta thu hút tất cả niềm hy vọng của lịch sử đó. Ban đầu, nỗi mong chờ được quy hướng về việc xuất hiện của một người con Đavít, từ thời lưu đày là của một tôi tớ chưa mang ơn cứu rối và niềm vui Is 61, 11 và, sau cùng trong giai đoạn gần nhất là của một "Con người", hữu thể thiên giới, sự nhân cách hóa của thế giới con người được thông ban chính các ân huệ thần linh, và là Đấng sẽ xét xử mọi vương quốc trần thế (Đn 7,13-l4) khi thời buổi đã mãn. Niềm hy vọng này càng trở thành mãnh liệt hơn khi dân phải đương đầu với những nghịch cảnh và khốn khó đủ loại. Nhưng nó đã mang hình thức sự mong chờ một biến cố khả giác, có tính cách đảo lộn bên ngoài.

Chính Gioan, theo lời Mt và Lc, cũng tỏ ra chia sẻ quan niệm này (Mt 3, 12 ss). Thế mà đó chính là chỗ nổi bật khía cạnh mầu nhiệm của nước Chúa Giêsu nói. Người không trình bày nó như trên; Người bảo nó "đã tới rồi" và tuy thế "vẫn còn sẽ đến". Thật vậy, đấy chính là ý nghĩa của thành ngữ "đã gần bên" (hay đang đến gần"), một động từ hy lạp ở thì parfait, nghĩa là ở một thì diễn tả một hành động đã xảy ra song hiệu quả còn tồn tại. Thành thử đây là một thực tại mọi, tự phô bày một cách chẳng ai ngờ. Không hẳn là vô hình hay nội tâm, đặc điểm của thực tại này là đang xuất hiện. Nó xem ra nhắm chính Chúa Giêsu nhắm bản thân của Người, vốn đang khởi sự mặc khải một điều gì đó về thần tính ở trong Người, về tình yêu vô biên đang xuất hiện dưới hình thức dấu chỉ qua các hành vi và lời Người nói. Thành ra Nước Trời đã có đó với Người. Nhưng để sinh công hiệu, nó cần phải được tiếp đón.

Mầu nhiệm Nước Trời nằm trong thái độ của con người đứng trước việc nó xuất hiện. Nó là hồng ân ban nhưng không cho con người dầu-con người chẳng đáng. Nhưng nó chỉ trở nên hữu hiệu nếu đtíợc tiếp đón và, do đó, tất cả đều tuỳ thuộc con người. Nó được trao ban chứ không được áp đặt. Muốn tiếp nhận nó thì phải cưỡng bức chính mình (như Mt 11,12 có nói), phải chấp nhận chiến đấu vì chính mình, phải cởi mở ra với một thực tại vượt quá tất cả những gì mà con người có thể đạt tới tự sức riêng.

Chính so với thực tại này mà tất cả mọi thành ngữ khác như "thời buổi đã mãn", "hãy hối cải" mới có được ý nghĩa.

"Thời buổi đã mãn là thành ngữ lấy lại một trong những tiếng mà các cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên đã áp dụng (x Gl 4,4; Ep 1,10) vào việc Chúa Giêsu thực hiện ơn cứu độ trong cuộc khổ nạn vinh hiển của Người. Khi đưa từ ngữ này về lời rao giảng đầu tiên của Chúa Giêsu, thánh sử muốn nói lên, như khi dùng chữ "Tin mừng của Thiên Chúa", cái suy tư của Kitô hữu về tính cách thời sự của các sự kiện và cử chỉ Chúa Giêsu. Ông lấy lại, để khai triển, ý nghĩa của thời sau cùng" là Cựu ước đã chờ mong, hay nói cách khác của "việc Thiên Chúa giá lâm" để chia sẻ cách dư tràn các điều thiện hảo của Ngài cho nhân loại. Như vậy lịch sử có hai chiều kích; một thuộc thời gian thực tế mà con người có thể ghi dấu bằng dụng cụ hay bằng tâm lý, và một thuộc thời gian thần học, thời gian được sống khi đón nhận Nước Trời, nghĩa là khi mặc cho hoạt động nhỏ bé nhất của nó một giá trị vĩnh cửu. Thời gian này không thuộc về niên biểu: bất cứ lúc nào nó cũng gần gũi con người. Để đi vào đó, chỉ cần đón nhận Nước Trời. Nhưng đi vào đó là đi vào trong một biến chuyển, bởi vì Nước Trời là một thực tại không ngừng đến là chẳng phải được đón nhận một lần là xong nhưng cứ luôn mãi. Nó là một thực tại đang triển nở, một lịch sử phải hoàn thành cách tự do chứ không là một cái gì đóng kín, chỉ nhận một lần là xong xuôi. Chúa Giêsu không ngừng đến. Cái xuất hiện bên ngoài, chính là các dấu chỉ, các lời kêu gọi của thế giới thời mới mà Người mang tới, những đau khổ, tội ác và sự chết vẫn không biến mất đi. Thành thử thời đại "cuối cùng" đã đến nhưng nó chỉ mới bắt đầu và những kẻ đi vào đó bằng đức tin thì vẫn luôn hướng về sự hoàn thành dứt khoát của nó. Tin, chính là tung mình vào cuộc mạo hiểm đó vậy.

Đứng trước thực tại này, ta có thể hiểu ý nghĩa lời rao giảng hãy hối cải. Động từ Hy lạp dịch ra như thế chẳng có nghĩa là "hối tiếc lỗi lầm" những tiên vàn là "thay đổi tất cả não trạng". Đây là lời mời gọi chọn một thái độ trước cái tin chưa từng nghe: trong Chúa Giêsu tỏ hiện một quyền năng siêu phàm, quyền năng của chính Thiên Chúa, một quyền năng phục vụ con người bất cứ mọi lúc. Nói cách khác, một địa hạt được mở ra cho con người, để họ đi vào một sự sống cao hơn. Họ phải làm gì trước cái đang trình bày cho họ như một biến cố hiện thực ấy? Họ hãy hối cải! Thật vậy, "hãy hối cải chính là lời của những người đầu tiên rao giảng tin vui "Chúa Giêsu phục sinh" (x.Cv 2,38; 3,19...). Sở dĩ họ kêu gọi hối cải, chính là vì họ loan báo trước tiên một biến cố có tính cách chất vấn, mời gọi.

"Hãy tin vào Tin mừng''. Đây là tất cả chương trình được thảo theo cách nói Kitô giáo, của những chiến dịch Chúa Giêsu tung ra tại Galilê. Người kêu gọi hãy tin vào cái tin này là: Thiên Chúa ở đây, bây giờ, với Người, để đưa nhân loại vào một thực tại có sức đánh đổ đau khổ. Sự ác và cái chết mà họ không ngừng vấp phải. Con người được kêu mời tin tưởng hơn hết vào sự sống, là quyền năng đang hoạt động trong thế gian nhưng không bị giam hãm trong thế gian, mà còn vượt lên trên nó và đang hiện diện trong biến cố Giêsu. Tóm lại, đây là một lời kêu gọi hãy tin vào Chúa Giêsu. Đang liên kết và hiệp thông với một vị cao cả hơn loài người mà Người gọi là Thiên Chúa.

IV. NỀN TẢNG LỊCH SỬ CỦA TRÌNH THUẬT

Như ta đã thấy, trình thuật Cám dỗ, được Mc thu gọn thật đơn giản, và bản toát yếu dẫn vào giai đoạn tiếp theo đều phản ảnh một suy tư của cộng đoàn Kitô giáo. Phải chăng vì thế mà chúng thiếu nền tảng lịch sử?

1. Nếu cuộc cám dỗ Chúa Giêsu chịu xảy ra lúc người ở "trong sa mạc", thì không ai khác chứng kiến được ngoài người. Thành thử để sự kiện được biết, Người đã cần phải nói

cho hay. Trong trường hợp này, các thánh sử có thói quen chỉ rõ bằng cách đặt giáo huấn trên miệng Chúa Giêsu. Vậy mà ở đây chẳng có gì như thế. Trình thuật ở ngôi thứ ba, thành thử người ta bắt buộc phải tìm trong Tin mừng xem chỗ nào xuất hiện một lời tâm sự của Chúa Giêsu liên quan đến chướng ngại mà sứ mệnh Người phải chịu do sa tan. Và tự nhiên, quang cảnh Xêdarê hiện ra trong trí (8,27-34). Chắc chắn chính nhân cơ hội điều chỉnh những quan niệm quá ư nhân loại của các sứ đồ về sứ mệnh Messia của Người, mà Chúa Kitô đã mặc khải được tính cách chiếu đấu của sứ mệnh đó hầu may ra giáo huấn Người ít nhất được giữ lại. Và vẫn biết sau đó, trong ánh sáng dứt khoát của Phục sinh, giai thoại cám dỗ đã mặc ý nghĩa một cuộc chiến đấu điển hình mở đầu cho mọi cuộc chiến đấu khác Chúa Giêsu đã phải trải qua cho đến lúc lìa đời. Nhưng chỗ đứng của nó ở nơi này có lẽ đã chẳng được truyền thống bịa đặt. Chắc chắn nó bắt nguồn từ một sự kiện Chúa Giêsu đã sống. Ngoài ra kể cũng lạ nếu cộng đoàn sơ khai, vốn xác tín vào quyền năng của Chúa mình, lại sáng tác một câu chuyện cho thấy Người phải khổ sở với thân phận chung của nhân loại.

Có nhiều lý do bắt ta phải nhận là sự kiện đã có. Vì Chúa Kitô đến thiết lập trong bản thân Người một Israel mới, nên ta hiểu được là theo gương của Israel cũ sau khi vượt qua biển đỏ. Người cũng nếm biết thử thách của sa mạc và cơn cám dỗ sau khi chịu rửa xong. Sự kiện có tính cách biểu tượng thật, nhưng chỉ bộc lộ tất cả ý nghĩa nếu nó đã thực sự xảy ra.

Nó nằm trong đường hướng của một ý thức hy sinh của Chúa Giêsu về sứ mệnh mình. Thường thường nơi mỗi còn người sắp bước vào một cuộc đời chiến đấu, thì trước lúc đó, bao giờ họ cũng cảm thấy phải thử sức mình đã. Tại sao Chúa Giêsu lại không tuân theo định luật nhân loại này? Ngược lại, ta có thể nghĩ rằng Người đã ám chỉ điều đó trong dụ ngôn của Người về kẻ mạnh (3,27).

Sau hết, nếu nhìn lại bối cảnh lịch sử của việc Chúa Giêsu xin Gioan làm phép rửa và ý thức một cách dứt khoát sứ mệnh Người sẽ như thế nào, thì ta sẽ có thể hiểu được cám dỗ của Chúa Giêsu. Thật vậy, dầu đã tiêm nhiễm những trào lưu nào chăng nữa não trạng bình dân vào quan niệm Đấng Messia như là kẻ đến biểu dương một quyền lực trực tiếp có tính cách chính trị và xã hội. Thành thử Chúa Giêsu thấy mình bị bắt buộc phải từ khước nhtĩng ngụy tạo về sứ mệnh mà chung quanh sẽ không ngừng khiêu khích Người.

Trên bình diện lịch sử tính, chẳng có gì lạ lùng nếu ta đi xa hơn nữa và đặt câu hỏi xem trong cụ thể, cuộc cám dỗ Chúa Giêsu trải qua đã xảy ra như thế nào. Kitô hữu mọi thời đã không lầm lẫn khi đặt vấn đề như vậy. Câu trả lời của Tin mừng không nằm trên bình diện tâm lý, nhưng trên bình diện xác quyết thần học: Chúa Giêsu tỏ mình như tôi tớ, nghĩa là như kẻ liên đới với nhân tính mà Người đã nhận, kể cả việc có thể ở trong tình trạng thử thách chung của mọi người. Bối cảnh của những lời người tâm sự và việc chống trả Satan cho thấy rằng cuộc thử thách, luôn luôn có trong người và như vậy ngay từ đầu sứ mệnh người, là sự chống đối mà Tin mừng Người mang trong bản thân, đã gặp Phải. Thành thử cám dỗ hẳn là cám dỗ dùng các phương tiện để tránh thất bại ấy, hay đơn giản hẳn, để từ chối sứ mệnh ấy; tựu trung là tách khỏi Đấng Người vẫn gọi là Thiên Chúa Cha. Thế mà Tin mừng bảo: dù đã ở trong những điều kiện cám dỗ như vậy, Chúa Giêsu vẫn không siêu lòng, khiến cho thử thách của Người chẳng những trở thành một gương mẫu cho nhân loại, mà còn là một biến cố mà hiệu lực tính là có thực và bao gồm các cơn cám dỗ của hết thảy mọi người.

2. Còn bản toát lược về thời đầu sứ vụ Chúa Giêsu tại Galilê, thì mặc dầu phản ảnh những cách nói ("hãy tin nào Tin mừng"... ) của Kitô giáo và rõ ràng có lối trình bày theo hình thức lược đồ, vẫn không kém cho thấy nền tảng lịch sử trên đó nó đã dựa vào.

Vẫn biết chi tiết Gioan Tẩy giả "bị nộp" (nghĩa là bị tù) và chi tiết về Galilê được Mc nêu lên với một ý nghĩa biểu tượng. Nhưng chúng vẫn đưa ta tới những sự kiện rất chắc chắn, có tính làm sáng tỏ nhờ so sánh với các Tin mừng khác.

Thật vậy, giữa lúc Chúa Giêsu chịu rửa và chịu cám dỗ với lúc Gioan Tẩy giả bị tống ngục có một thời gian. Chính Tin mừng thứ 4 cung cấp nhiều tin tức về thời kỳ này (Ga 4,1-2): Chúa Giêsu, cho đến lúc đó, hãy còn được liên kết với vị Tẩy giả đồng thời thành công hơn ông. Việc ông này bị bỏ tù do đó có thể hiểu như là sự kiện bắt buộc vị ngôn sứ đi ra khỏi thời kỳ sửa soạn và bắt đầu một cách công khai những cuộc chiến đấu tiên khởi của Người. Có thể hiểu như thế trong bối cảnh lịch sử của nó cái câu nói "thời buổi đã mãn...''.

V. SỨ ĐIỆP BẢN VĂN

Hai đoạn văn tí xíu này của Tin mting Mc như vậy xem ra có một tầm mức nghịch với tính cách vắn gọn của chúng. Chúng chất vấn độc giả về một điểm nằm trong chuỗi những lời kêu gọi đã được đưa ra qua trình thuật Phép rửa, một điểm liên hệ với Tin mừng, nghĩa là với cái đặc biệt nhất của đức tin Kitô giáo.

Trước hết, đối tượng của đức tin là nhìn thấy trong Chúa Giêsu con người theo chương trình của Thiên Chúa, là tin rằng vào một lúc nào đó của lịch sử, trong một nơi xác định, đã hiện hữu một con người từng giao tranh với những quyền lực của sự ác và đã chiến thắng chúng. Do đó là tin rằng mỗi một phần tử của nhân loại, mà Chúa Giêsu liên đới và bao hàm trong Người, có thể đi qua lỗ hổng mà người đã mở để đạt tới một đời sống cao hơn.

Đối tượng của đức tin nhắm vào cái tin hạnh phúc đó. Tin, chính là thừa nhận Chúa Giêsu không chỉ là kẻ mạnh nhất trong loài người, nhưng đặc biệt là con người mang lấy trong mình chính mãnh lực thần linh, để chiến thắng một cách chắc chắn, an toàn và tự do.

Nhận ra trong mình khả năng đi đến một đời sống cao hơn, nghĩa là đến tự do đích thực, và nhận biết Chúa Giêsu là Đấng vừa kêu mời vượt qua ngưỡng cửa đó vừa cho phép mỗi con người trở nên hữu hiệu, đó là nét riêng biệt thứ hai của đức tin Kitô giáo.

Dầu thái độ này có biểu lộ một cách nào đi nữa, thì cái con người phải đương đầu trong cuộc chiến đấu nội tâm với những mãnh lực thù nghịch đang hoạt động trong thế giới, có thể nhận ra trong tình thế bi thảm là tình thế của mình đây, một lời mời gọi hãy "vượt lên" và tin rằng sự "thắng vượt" này có thể có một nơi nào đó trong thế giới. Lúc ấy Nước Trời gần với họ.

Nhưng, và đây là nét đặc biệt thứ ba của đức tin Kitô giáo, kẻ đón nhận Tin mừng ấy của Thiên Chúa, cái Tin mừng về chính Chúa Giêsu và về Lời mà sứ mệnh Người đã khiến Người công bố ra, thì bắt đầu được sống một kinh nghiệm mới đánh dấu bằng một niềm hy vọng đặc biệt.Kinh nghiệm này thay đổi một cái gì đó trong thái độ của kẻ ấy, nhưng nó vẫn luôn luôn trên đường chuyển thành, vẫn luôn là cuộc mạo hiểm không ngừng tái diễn và quy hướng về sự thực hiện trọn vẹn trên kia thế gian.

Nói cách khác, niềm hy vọng của Kitô hữu vừa không ngừng thúc đẩy họ tham gia cuộc chiến đấu cho một thế giới tốt đẹp hơn, vừa giúp họ thắng vượt cơn cám dỗ muốn giam hãm mãi lý do hiện hữu của mình trong thế giới hiện tại.

Gilles Becquet, Lecture d'évangiles…année B. Trang 168-181

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1.Chúa Giêsu, Con thiên Chúa, đã mang lấy tất cả điều kiện hiện sinh của con người: vui sướng, đau khổ, chết chóc, tủi nhục..., tình trạng bị tách ra khỏi nguồn sống, tình trạng phóng thể, nhưng vẫn luôn luôn nối kết mình với Thiên Chúa. Chính nhờ đó mà Người đã vượt thắng Satan, đã vượt lên tội lỗi, vượt lên mọi phóng thể và trở lại với yếu tính của mình; trở lại với Thiên Chúa, với tình trạng thanh bình hạnh phúc, được sống lại trong mảnh vườn tình yêu của Thiên Chúa và của vũ trụ mà Mc, mượn tư tưởng Is 11.8-9, đã diễn tả qua câu: "Người sống chung với các dã thú và được các thiên thần hầu hạ". Nếu ta luôn bám vào Thiên Chúa, đặt Ngài như cùng đích đời mình, thì dù phải trải qua thân phận, hoàn cảnh bi đát nào chăng nữa, ta cũng luôn chiến thắng và được bình an trong nơi sâu thẳm. Và chiến thắng cùng bình an này sẽ chiếu tỏa chung quanh ta. Hãy xem cuộc đời các thánh.

2. Những yếu tố: thinh lặng, khổ chế, cầu nguyện, được nói lên qua hình ảnh sa mạc, đều là những điều kiện giúp con người dễ dàng tiếp xúc với Thiên Chúa, dễ dàng nghe thấy và nhận ra đường lối Ngài muốn ta đi. Các tổ phụ, tiên tri, sứ đồ, thánh nhân, và nhất là chính Chúa Giêsu đều đã trải qua sa mạc ấy đời sống Kitô hữu cũng phải vậy. Mỗi ngày, ta phải rút vào sa mạc của lòng mình, tạm lại gác mọi ưu tư, lo lắng, hoạt động, để gặp gỡ Thiên Chúa, múc lấy nguồn lực nơi Ngài, thanh lọc lại ý hướng, hầu có thể thi hành sứ vụ cách hữu hiệu và đúng ý Thiên Chúa hơn giữa trần gian.

3. "Thời giờ đã mãn và Nước Thiên Chúa đã gần bên. Hãy hối cải và tin vào Tin mừng". Với Chúa Giêsu, bắt đầu một thời đại mới. Nước Trời, nước hạnh phúc đã đến với và trong Ngài. Nhưng Nước ấy chỉ đến cho mỗi người chúng ta khi chúng ta ăn năn sám hối và tin vào Tin mừng", khi ta biết biến đổi đời sống, biết loại trừ những tư tưởng ích kỷ, vụ lợi. Ơn cứu độ đã được Chúa Kitô mưu cầu sẵn cho ta, nhưng chính ta phải sẵn sàng tiếp nhận bằng những thái độ thích hợp như Chúa đòi hỏi. Thiên đàng chỉ được ban cho những ai muốn chọn lấy.


 

Noel Quession - Chú Giải

Đức Giêsu vừa chịu phép rửa.



Thực vậy, cần phải lưu ý mối liên hệ giữa cảnh cám dỗ và cảnh chịu phép rửa. Ba Tin Mừng nhất lãm đều đã đặt hai cảnh trên gần kề nhau.

"Vừa lên khỏi nước. Đức Giêsu liền thấy các tầng trời mở tung ra, và thấy Thần khí tựa như chim bồ câu ngự xuống trên mình Lại có tiếng từ trời phán rằng: "Con là con yêu dấu của Cha. Cha hài lòng về Con" (Mc 1,10)

Trong ngôn ngữ thông thường, từ "Cám dỗ" thường bị giảm nghĩa và mang vẻ ấu trĩ. Đối với trẻ nhỏ, "bị cám dỗ" nghĩa là "thèm làm một điều gì mà cha mẹ cấm đoán": như ăn mứt, ăn kẹo... lấy cắp tiền... Đối với người lớn, vì được huấn luyện trong khung giáo dục cấm ky, nên "bị cám dỗ" quen hiểu là "thèm làm những việc tình dục bị cấm đoán". Trong Tin Mừng cám dỗ mang vẻ quan trọng khác hẳn thế! Cám dỗ cơ bản nhắm tới thái độ "tin " hay "không tin" nơi Thiên Chúa. Cơn cám dỗ đích thực liên hệ tới "Phép rửa": đó là một cám dỗ của "những con cái Thiên Chúa". Đức Giêsu sẽ yêu cầu ta chiến thắng cơn cám dỗ này, bằng cách cầu nguyện mỗi ngày: "Xin Chúa đừng để cho con lâm cơn thử thách... tin Chúa để chúng con đừng thua cơn cám dỗ…"

Người Do Thái, thính giả đầu tiên của Đức Giêsu... và những Kitô hữu tiên khởi, vào lúc mà Mác-cô viết trình thuật cám dỗ này... cũng như chúng ta hôm nay, đều phải thú nhận rằng, chúng ta đã vỡ mộng về Thiên Chúa l Đáng lẽ ra Người phải tỏ mình ra một ít nữa, phải tỏ ra Người là ai! Cơn "cám dỗ" này căn bản, và thường xuyên: chúng ta có khuynh hướng coi thường ông Giêsu, Con Thiên Chúa này, mà tư cách Mê-si-a không được hiển nhiên, nhất là vào lúc Người chết trên thập giá. Thực sự, chính chúng ta, người "tín hữu" lại thử thách Thiên Chúa, bằng cách yêu cầu Người thể hiện khác với điều Người đã chọn để hiện diện: một Thiên Chúa kín ân... Cơn thử thách tiêu biểu trong Kinh thánh đó là yêu cầu Chúa làm phép lạ": xin Người ra khỏi nơi kín ẩn! "Trong hoang địa, cha ông các người đã từng cám dỗ Ta và khiêu khích ta..Trong suốt bốn mươi năm, thế hệ này đã làm ta thất vọng (Tv 94,9). Biết bao lần, họ đã thách thức ta trong hoang địa... và một lần nữa, họ lại thử thách Thiên Chúa (Tv 77, 40-41). Đó cũng là cớn cám dỗ thường xuyên của những người đồng thời với Đức Giêsu: "Một nhóm Pha-ri-sêu kéo đến và bắt đầu tranh luận với Đức Giêsu. Để thử người, họ xin Người một dấu lạ từ trời" (Mc 8,11).

Vậy hãy tỏ ra ông là Con Thiên Chúa đi! Chính ông vừa mới được công bố là Người con đó, nhờ các tầng trời mở ra và qua việc Thánh Thần đáp xuống mây? "Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá xem coi!" (Mt 27,40). Cơn cám dỗ của các tín hữu, cơn cám dỗ của Giáo Hội, đó là làm cho Đức Giêsu xuống khỏi thập giá: biểu lộ một Thiên Chúa quyền năng hơn, một Thiên Chúa hiển nhiên, một Thiên Chúa thống trị, một Thiên Chúa không còn "kín ẩn" nữa, một Thiên Chúa không còn "nhập thể" và trở nên "yếu đuối" nữa (1 Cr 1,25), một Thiên Chúa hợp với suy luận, hợp với lý trí nhiều hơn. Thiên Chúa quen thuộc của mọi tôn giáo... chớ không phải một Thiên Chúa bị đóng đinh! "Trong khi những người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy-lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ (1 Cr 22-23).

Ngay sau khi dược tuyên bố là: "Con Thiên Chúa" lúc chịu phép rửa, Đức Giêsu được Thánh Thần thúc đẩy vào hoang địa.

Động từ được dịch ở đây là "thúc đẩy" nhưng trong bản văn Hy Lạp còn có nghĩa mạnh hơn nhiều. Mác-cô đã viết: "Đức Giêsu đã bị Thánh Thần xua đuổi vào hoang địa". Ong cũng dùng từ này để chỉ Đức Giêsu "Xua đuổi quỷ".

Thật vậy trong Kinh thánh Thần khí Thiên Chúa thường xuất hiện như một thứ "sức mạnh", Cơn giông bão thổi tới, mãnh liệt như sấm sét không thể cản nổi". Cơn cám dỗ Đức Giêsu chịu đựng, hẳn là rất quan trọng, cần thiết trong cuộc đời của Người, nên chính Thần Khí Thiên Chúa mới dẫn Người vào trong hoang địa.

Lạy Chúa, xin giúp chúng con đừng sợ cám dỗ: Vì cám dỗ là điều không thể tránh được, là cần thiết và hữu ích cho mọi người. Giao chiến thiêng liêng là một yếu tố cần thiết của đời sống tín hữu. Người của Xa-tan cũng là một thành phần của trần đời chúng ta. Xa-tan không ngừng khơi gợi cho ta biến Thiên Chúa thành cái gì khác với Người. Khác với những gì Người đã mạc khải về Người trong Đức Giêsu Kitô... biến Thiên Chúa thành một Đấng có thể giải quyết mọi vấn đề của ta với "quyền lực" của Người.

Nếu Đức Giêsu đã nhượng bộ cơn cám dỗ đó, nếu Người đã nghe theo lời yêu cầu của ta, nếu Người đã thuận theo lời đề nghị của Xa-tan, thì Người đã tỏ lộ cho ta một Thiên Chúa giả tạo.

Nhưng Thần Khí Thiên Chúa đích thực, thuộc Thiên Chúa duy nhất chân thật, đã thúc đẩy Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, thoát - khỏi những quảng cáo rầm rộ, xa hẳn đám đông, tránh những thành công ồn ào trước mắt... để bước vào hoang địa! Thiên Chúa duy nhất đích thực, chính là Thiên Chúa "kín ẩn". Thánh Vịnh đã nói: Chúa còn giấu ẩn đến bao giờ nữa?" (Tv 88,47). Tôi chiêm ngưỡng Thiên Chúa "trong hoang địa"... Đức Giêsu cô độc...

Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày.

Thật là một thời gian dài!

Nếu chúng ta đã làm quen đôi phút với Kinh thánh, từ điều biết rằng người Phương Đông cổ rất thích những con số... Những con số không có nghĩa toán học như chúng ta ngày nay thường gán cho chúng: Chúng thường có giá trị "tượng trưng". Chẳng hạn, theo ước định, con số "40" chỉ "thời gian của một thế hệ con người": và như thế, con số này ám chỉ "một thời kỳ khá dài mà ta không rõ độ dài chính xác". Từ "Mùa chay" là một biến thể của từ "Bốn mươi ngày chay tịnh", nói gọn là "Bốn mươi". Một người Do Thái, hiểu biết Kinh thánh, mỗi khi nghe nói đến tiếng "Bốn mươi" đều nghĩ ngay đến cuộc xuất hành, đến cuộc giải phóng, đến thời gian hành trình trong hoang địa kéo dài "Bốn mươi năm". Môsê đã ở lại miền núi "Bốn mươi ngày" (Xh 34,28). Ngôn sứ Ê-li-a đã bước đi trong hoang địa "Bốn mươi ngày" (I V 19,8).

Trong Mùa chay này, chúng ta có đủ khả năng "hành trình" 40 ngày không?

Người ở đó bốn mươi ngày, chịu Xa-tan cám dỗ.

Máccô không nói đến "chay tịnh" như Mát-thêu và Luca đã bàn. Ong cũng không nói cơn cám dỗ đã xảy ra vào gian đoạn cuối của khoảng thời gian bốn mươi ngày...mà trong suốt thời gian Đức Giêsu ở trong hoang địa...Người chịu.Xa-tan cám dỗ trong bốn mươi ngày". Người còn chịu trong suốt cuộc đời trần gian... đặc biệt trong lúc người bắt đầu thi hành sứ vụ của "Con Thiên Chúa".

Chúng ta đừng quên rằng, Đức Giêsu đã ở "một mình" trong hoang địa. Không có một người nào khác đã chứng kiến những cơn cám dỗ của Người, cơn cám dỗ khiến Người "Làm Người Con" theo quan niệm trần gian, theo quan điểm của Xa-tan. Vì thế, chắc một ngày nào đó, chính Đức Giêsu đã tâm sự kể lại biến cố đó cho các bạn hữu Người. Nhiều giáo phụ của Giáo Hội nghĩ rằng, đó là dịp "Phêrô tuyên tín ở Xê-da-rê", chính lúc Phêrô nhận ra Đức Giêsu là Con Thiên Chúa và lúc Đức Giêsu loan báo thập giá, Con Người sẽ bị đóng đinh... cũng chính lúc đó Đức Giêsu đã găp cơn cám dỗ do Phêrô bịa ra và Người buộc phải lập lại với ông: "Đồ quỉ sứ Xa-tan? xéo đi, lui ra đàng sau (Mc 8,27-33).

Chúng ta có lý để nghĩ ra rằng, trong trường hợp đó Đức Giêsu đã "thú nhận" với các tông đồ, Người thường bị cám dỗ "thể hiện những dấu hiệu của Đấng Cứu độ cách lạ thường", không còn giữ vai trò của Thiên Chúa nhập thể trong sự yếu đuối của xác thịt"... tự rơi vào bẫy mà Xa-tan không ngừng giăng bủa (và ngay cả môn đệ của Người cũng như Giáo Hội vẫn còn thử thách Người như vậy!) Xui khiến Người "thể 'hiện uy quyền", biểu lộ thiên tính của Người. Thỏa mãn những mong muốn chính trị của dân chúng.

Người sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người.

Kiểu nói trên là cách nói của Kinh thánh, vẫn có vẻ khó hiểu, con phải tìm hiểu ý nghĩa. Khác với Mát-thêu và Luca, Máccô không nói rõ ra rằng, Đức Giêsu đã chiến thắng cơn cám dỗ của Người. Nhưng ông nói về tình trạng đó qua hai kiểu nói trên: "loài dã thú" và "các thiên sứ ". Đó là một kiểu nói tượng trưng cổ truyền: như Ađam xưa kia ở trong vườn địa đàng, sống cùng với dã thú (St 2,19) niềm hy vọng cứu độ cũng mong chờ cảnh "thanh bình địa đàng" đó trở lại: "Bấy giờ sói ở với chiên, beo nằm bên cạnh dê con... Bé con còn bú giỡn bên hang hổ, trẻ con hôi sữa thọc tay vào hang mãng xà" (Is 11, l-9). Vâng, trong khi con người đầu tiên là Ađam đã sa ngã trước cơn cám dỗ "làm Thiên Chúa", "trở nên như Thiên Chúa"... thì chính Đức Giêsu đã chiến thắng cơn cám dỗ đó: nhờ vậy, cuộc hòa giải vĩ đại đuợc thực hiện, và khởi sự nếp chung sống hòa bình giữa con người với tạo vật. Khi con người từ chối "thống trị", từ chối hình ảnh của một "Thiên Chúa nào đó", khi con người chấp nhận "sự bất lực" của mình, khi con người đống bằng "đức tin"... thì chỉ lúc đó con người mới tìm lại được quang cảnh địa đàng, mới làm người theo ý Thiên Chúa! Chỉ lúc đó con người mới lại sống hiệp thống an bình với anh em mình, với vũ trụ với "dã thú" và "Thiên sứ ", với "đất" với "trời"... Chỉ lúc đó con người mới thực sự là "con" Thiên Chúa, theo như lòng Người mong ước, Đấng 'không thống trị, không áp đặt ai, vì Người là tình yêu cho đến độ từ bỏ mình, chết trên thập giá vì chúng ta.

Sau khi ông Gioan bị bắt giam, Đức Giêsu đến miền Ga-li-lê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa, Người nói: "Thời kỳ đã mãn, và Nước Thiên Chúa đã đến gần rồi"

Đó là khởi sự một công cuộc sáng tạo mới, một lịch sử mới của loài người. Xa-tan đã bị đánh bại. Đức Giêsu đã chiến thắng nó. Không phải Xa-tan là 'Thiên Chúa. Không phải kẻ "thống trị" là Thiên Chúa! Không phải kẻ thù nghịch" là Thiên Chúa? Vì Thiên Chúa đích thực chính là Tình Yêu... Và đó là trước Thiên Chúa duy nhất đích thực. Đó là Tin Mừng.

Anh em phải sám hối và tin vào Tin Mừng.

Cuộc giao chiến "đức tin" không bao giờ chấm dứt.

Xa-tan vẫn tiếp tục đề nghị với ta chấp nhận ý kiến của nó về Thiên Chúa. Đức Giêsu mời gọi ta không nên thuận theo ý đó: cần phải luôn khước từ một hình ảnh giả tạo nào đó về Thiên Chúa, để nhờ đức tin, ta mở lòng hướng về Thiên Chúa đích thực. "Lạy Chúa, xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ".


 

Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

" Chúa Giêsu chịu Satan cám dỗ và các thiên thần hầu hạ Người "


BÀI TIN MỪNG: Mc 1, 12 - 15

I. Ý CHÍNH:

Bài Tin Mừng hôm nay có hai ý tưởng chính:

- Chúa Giêsu chịu cám dỗ để nêu lên lòng trung tín của Người đối với sứ mệnh Chúa Cha trao phó.

Chúa Giêsu khởi sự Tin Mừng bằng việc rao giảng để nói lên mệnh của Người ở trần gian.

II. SUY NIỆM:

1 / " Thánh Thần thúc đẩy Chúa Giêsu vào hoang địa ":

+ Thánh Thần thúc đẩy: Sự kiện này xảy ra sau khi Chúa Giêsu chịu phép rửa ở sông Giođan. Khi chịu phép rửa, Chúa Giêsu đã nhận Thánh Thần dưới hình chim bồ câu. Thánh Thần chỉ sức mạnh, Thánh Thần thúc đẩy Chúa Giêsu vào hoang địa và chịu sự cám dỗ: Điều này nói lên việc Chúa Giêsu đã chiến đấu với ma quỉ bằng sức mạnh của Chúa Thánh Thần.

+ Hoang địa: Theo nghĩa Thánh Kinh thường dùng là nơi sống thần linh với Thiên Chúa, đồng thời cũng là nơi thử thách để thấy rõ lòng người có trung tín hay không ( Ga 18, 2 - 3 ). Ở đây Mc muốn nói lên ý nghĩa thứ hai này hơn là nghĩa thứ nhất: Cuộc thử thách Chúa Giêsu chịu là cuộc thử thách về lòng trung tín đối với Cha Người trong thân phận tôi tớ nhân loại mà Người đã đảm nhận.

+ Và Người ở đó suốt 40 đêm ngày: Người Do thái có thói quen ăn chay ban ngày, rồi ăn uống về đêm. Ở đây nói 40 đêm ngày để chỉ ý tưởng ăn chay liên tục cả đêm lẫn ngày.

+ Chịu Satan cám dỗ: Satan là tên Kinh Thánh gắn cho các lực lượng thù nghịch với Thiên Chúa mà mỗi người đều gặp phải trong thế gian. Nhận lấy thân phận con người, Chúa Giêsu cũng gặp phải sự cám dỗ của Satan. Nhưng cần phân biệt ba giai đoạn của một cơn cám dỗ:

+ Gợi lên một hình ảnh.

+ Làm cho thích thú hoặc hướng chiều về sự ác.

+ Sau cùng là ưng thuận.

Satan chỉ có thể làm được nơi Chúa Giêsu giai đoạn thứ nhất: gợi một hình ảnh hoặc một vật ở giác quan hoặc ở trí tưởng tượng. Ở đây Mc không ghi lại sự diễn tiến cơn cám dỗ của Chúa như Mt và Lc ( Mt 4, 1 - 11; Lc 4, 1 - 13 ).

+ Sống chung với dã thú: Nói lên tình trạng an ninh, thái bình trong một thế giới mới trong tương lai do Chúa Giêsu thiết lập, trong đó con người được giao hoà lại với toàn thể tạo vật. Thế giới này đã được các tiên tri loan báo ( Is 11, 6 - 7; 65, 25... )

+ Và các Thiên thần hầu hạ Người: Việc các Thiên thần hầu hạ Chúa Giêsu muốn nói lên rằng trong thế giới mới mà Chúa Giêsu đến để thiết lập cho nhân loại do sứ mệnh Thiên Sai của Người, con người được giao hoà lại với tạo vật ( sống chung với dã thú ) và giao hoà lại với Thiên Chúa ( có các thiên thần hầu cận ). Đó là Nước thiên đàng.

2 / " Sau khi Gioan bị bắt ":

Việc Gioan bị bắt nói lên sứ mạng Tiền sứ của ông được chấm dứt chuyển sang thời Chúa Giêsu, thời thực hiện ơn cứu chuộc, thời Thiên sai, thời thực hiện những gì Gioan đã dọn đường.

3 / " Chúa Giêsu sang xứ Galilê rao giảng Tin Mừng ":

Sau khi sứ mạng của Gioan chấm dứt, Chúa Giêsu khởi sự sứ mạng Thiên sai của Người bằng việc rao giảng Tin Mừng của Nước Thiên Chúa.

Nội dung của Chúa Giêsu rao giảng:

+ Thời giờ đã mãn: Thời giờ Thiên Chúa dự liệu từ đời đời để Nước Người trị đến thì nay đã đến. Hay nói cách khác, thời gian chuẩn bị cho việc Chúa Cứu Thế đến cứu rỗi nhân loại nay đã hết. Gioan Tiền hô là vị tiên tri cuối cùng của thời Cựu ước.

+ Nước Thiên Chúa đã đến gần: Kiểu nói "đã đến gần" ở đây diễn tả một hành động đã xẩy ra nhưng hiệu quả chưa hoàn tất. Nước Thiên Chúa được hiểu là Thiên đàng ( Nước ở trên trời ) và Giáo Hội ở trần gian được Chúa Giêsu thiết lập ở dưới đất để làm nơi Thiên Chúa ngự trị. Nước này đã gần đến vì Chúa Giêsu sắp bắt đầu rao giảng để dọn lòng con người thực hiện những điều kiện để vào Nước đó.

+ Hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng:

Sám hối: Là hối tiếc lỗi lầm để làm biến đổi cuộc sống, ghét bỏ con người cũ đầy tội lỗi của mình để biến đổi thành con người mới, con người thuộc về Tin Mừng của Thiên Chúa. " hãy sám hối " mang ý nghĩa mời gọi và chất vấn, đòi hỏi người nghe phải có thái độ lựa chọn để quyết định cho số phận của mình.

+ Tin vào Tin Mừng: Tin Mừng có nghĩa là tin vui từ trời đem xuống làm cho con người biết được thánh ý của Thiên Chúa, tin đó chính là đức Giêsu Kitô. Tin vào Tin Mừng là tin vào Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa, đã đến thế gian để cứu chuộc nhân loại.

Chú ý: Chúa Giêsu khởi sự rao giảng giống như Gioan Tiền hô: Thời giờ đã đến, hãy thống hối ( Mc 1, 4 ). Nhưng Chúa Giêsu đã đi xa hơn, Người đòi hỏi phải tin vào Tin Mừng, tức là tin vào Người.

III. ÁP DỤNG;

A / Áp dụng theo Tin Mừng:

Khởi đầu mùa chay, Giáo Hội muốn dùng bài Tin Mừng này để nhắc nhủ chúng ta rằng: Muốn tham dự vào Nước Trời, cần phải ăn năn thống hối và phải tin mạnh mẽ vào Chúa Giêsu và quyết tâm thực hành những điều Người dạy.

Chúa Giêsu được Thánh Thần thúc đẩy: Chúa Giêsu sống và chiến đấu do sức mạnh của Chúa Thánh Thần chúng ta muốn sống trung thành với Chúa và chiến đấu với những cám dỗ hằng ngày do ma quỉ gây ra, chúng ta cần khiêm nhường cầu xin và sống theo sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần thúc đẩy chúng ta qua tiếng lương tâm chân chính, qua những trung gian là Giáo Hội, là bề trên, là những gương sáng...

Chúa Giêsu đã chịu cám dỗ và chiến thắng cám dỗ. Nhờ đó Chúa đã làm gương và dạy ta những bài học chiến đấu cách can đảm với những cơn cám dỗ do những lôi cuốn của trần gian làm cho ta xa Chúa và xa lý tưởng hiến dâng cuộc đời...

B ) Áp dụng thực hành:

Nhìn vào Chúa Giêsu để noi gương bắt trước:

1 / Chúa Giêsu đã mang tất cả những điều kiện hiện sinh của con người. Chịu cám dỗ nhưng Người vẫn sống trong tình trạng an ninh thái bình " sống chung với dã thú và được các thiên thần hầu hạ ". Nếu chúng ta bám chặt vào Chúa và mang trong cuộc sống tất cả tinh thần của Chúa Giêsu thì dù có trải qua thân phận, hoàn cảnh bi đát nào chăng nữa, thì chúng ta cũng luôn chiến thắng và bình an trong tâm hồn.

2 / Chúa Giêsu vào hoang địa: là nơi tiếp xúc và sống thân tình với Thiên Chúa Cha. Điều này cho chúng ta thấy rằng: Những yếu tố như tĩnh tâm, thinh lặng cầu nguyện, khổ chế... đều là những điều kiện giúp chúng ta dễ dàng tiếp xúc với Thiên Chúa. Dễ dàng nghĩ thấy và nhận ra đường lối Chúa muốn ta đi. Mùa Chay là bầu khí thuận tiện để ta làm việc đó.

3 / Chúa Giêsu chịu cảnh cám dỗ để dạy chúng ta rằng cám dỗ là thử thách để tôi luyện lòng trung tín của ta đối với Chúa. Cám dỗ có lợi cho ta vì:
+ Lập công phúc khi chiến thắng cám dỗ.

+ Sống khiêm nhường và nhận ra sự bất lực của mình để trông cậy vào Chúa.

+ Thúc đẩy cầu nguyện: Vì trong khi bị cám dỗ, Chúa ban nhiều ơn hơn để giúp chúng ta biết cầu nguyện.

+ Sau cám dỗ có an ủi vì " Gieo trong đau thương, gặt trong vui mừng " ( Is 125, 5 ).


 

Lm Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc - Bài Giảng Lễ

Sống là chiến đấu

M

ột buổi chiều, Cha Bề Trên một tu viện kia hỏi một tu sĩ:

- Hôm nay con đã làm gì?

- "Cũng như những ngày khác, tu sĩ trả lời, con rất bận bịu mà nguyên sức con không thể nào làm nỗi, ngoài sự giúp đỡ của Chúa. Thưa cha, ngày nào con cũng phải coi hai con chim ưng, giữ hai con nai, dạy hai con diều hâu, thắng một con cá sấu, trị một con gấu và chăm sóc một bệnh nhân".

- Con nói gì thế? Cha Bề Trên cười hỏi lại, những việc như thế làm gì có trong tu viện này?

- Thưa Cha Bề Trên, thật đúng như thế. Hai con chim ưng là hai con mắt của con, con phải gìn giữ cho nó luôn trong sáng, không để nó thu giữ những hình ảnh xấu xa. Hai con nai là hai chân của con, con phải luôn trông coi từng bước đi, để chúng bước đi trên nẻo chính đường ngay. Hai con diều hâu là hai bàn tay của con, con phải luôn bắt nó làm những việc tốt. Con cá sấu là cái lưỡi của con, con phải kìm hãm hằng ngày để nó khỏi thốt ra những lời nói thâm độc và thô bỉ. Con gấu là trái tim của con, con phải trừng trị để khỏi ích kỷ và phô trương. Còn bệnh nhân là chính thân xác con, con phải canh phòng ráo riết để nhục dục không xâm nhập vào và luôn lành mạnh.

Tu sĩ này có lý, thưa anh chị em, vì sống là chiến đấu. Đời là một cuộc trường kỳ chiến đấu, và cuộc chiến cam go nhất chính là cuộc chiến với bản thân. Địch thù ẩn núp ngay trong bản thân mình chứ không ở đâu xa. Chúa Giêsu trong cuộc đời trần thế cũng không thoát khỏi cuộc chiến đấu này. Ngài đã quyết liệt chiến đấu và chiến thắng vẻ vang. Tin Mừng hôm nay đã kể lại, lúc khởi đầu cuộc sống công khai, Chúa Giêsu đã được Chúa Thánh thần đưa vào sa mạc để chịu thử thách - tương tự như Ađam khi xưa ở vườn Eden - Địa đàng, hay dân Do Thái 40 năm trong sa mạc để chịu thử thách. Nhưng Ađam khi xưa trong vườn địa đàng đã nghe theo lời xúi dục của Satan đội lốt con rắn, đã bất tuân lệnh Thiên Chúa, đã ăn trái cấm, vì không muốn làm người mà muốn làm Thiên Chúa. Ông đã sa ngã trước thử thách, kéo theo hậu quả khốc hại muôn đời cho con cháu loài người. Bốn mươi năm trong sa mạc cũng là thời gian thử thách lâu dài đối với dân Do Thái. Họ cũng đã sa ngã trước thử thách: bao lần phản loạn, chống đối ông Môsê, kêu trách Thiên Chúa, muốn quay trở lại Ai cập với kiếp nô lệ hơn là tiến về Đất Hứa.

Còn Chúa Giêsu trong sa mạc 40 đêm ngày đã cương quyết trung thành với Thiên Chúa, dứt khoát chọn lựa đứng về phía Thiên Chúa. Theo Thánh Matthêu và Luca thì Satan đã dùng cơm bánh, quyền phép, danh vọng để cám dỗ Chúa Giêsu, nhưng Ngài đã dùng lời Kinh Thánh để cương quyết khước từ cám dỗ và nói lên ý muốn dứt khoát chọn lựa con đường của thánh ý Chúa Cha, con đường khổ nạn thập giá. Cuối cùng Satan phải chịu rút lui, nhường chỗ cho các thiên thần đến phục vụ Ngài. Chúa Giêsu đã chiến thắng cám dỗ. Sức mạnh làm cho Ngài chiến thắng chính là Lời Chúa trong Kinh Thánh và thái độ cương quyết đứng về phía Thiên Chúa, thực thi ý muốn của Chúa Cha.

Anh chị em thân mến,

Là tín hữu, chúng ta cũng có thể chiến thắng như Chúa Giêsu, nếu chúng ta biết chọn đứng về phía Thiên Chúa, lắng nghe Lời Chúa và để Chúa hướng dẫn đời sống chúng ta. Cuộc chiến đấu của Chúa Giêsu đã chứng tỏ: con người có thể thắng được những chước mê hoặc dụ dỗ của Satan, nếu biết dựa vào sức mạnh của Chúa. Cũng như Chúa Giêsu, chúng ta không chấp nhận thách thức Thiên Chúa, chúng ta không theo Chúa chỉ vì miếng ăn, chỉ vì cơm bánh. Chúng ta không theo Chúa để bắt Chúa phục vụ đời sống thể xác hay vật chất của chúng ta. Chúng ta không coi Thiên Chúa như một sức mạnh phù phép để làm những việc phi thường, để biểu diễn những pha ngoạn mục. Chúng ta cũng không lòn cúi, quỵ lụy Satan để được làm Chúa thiên hạ. Chính Thiên Chúa mới là Chủ tể vũ trụ, là Chúa của chúng ta.

Hôm nay cùng với Chúa Giêsu, chúng ta đi vào sa mạc của chúng ta. Không phải sa mạc của muôn thú và quỷ ma, nhưng là sa mạc của tâm hồn chúng ta. Theo Kinh Thánh, sa mạc là nơi thoát tục để con người gặp gỡ và sống thân mật với Thiên Chúa Tình yêu. Ngôn sứ Hôsê đã diễn tả ý nghĩa của sa mạc rất đúng khi ông viết: "Thiên Chúa phán: Ta sẽ dẫn người yêu của Ta vào sa mạc, để ở đó Ta thủ thỉ với nàng" (Hs 2,16). Sa mạc là nơi sống gần gủi với Thiên Chúa, sống trong tình thân mật của Ngài. Vì thế, chúng ta hãy bịt tai trước những tiếng ồn ào bên ngoài, những lời xúi giục, dụ dỗ của Satan. Ngày nay và hằng ngày vẫn luôn có những tiếng xúi giục như vậy. Đừng tưởng chỉ có tiếng nói bên ngoài, tiếng của Satan có thể nói lên ở ngay trong tâm hồn chúng ta. Nó xúi giục chúng ta đừng sống theo Lời Chúa. Sống theo Tin Mừng sẽ thiệt thòi lắm! Sống như người ta, làm như người đời, dễ biết bao, lợi biết mấy! Nhưng nghe theo những tiếng xúi giục ấy là phản bội Chúa, là từ bỏ Chúa, là lựa chọn không đi theo Chúa nữa. Như thế là lại rơi vào số phận khốn khổ của Ađam khi xưa, của dân Do Thái ngày trước. Tất cả đã sa ngã trước thử thách. Chúng ta hãy theo gương Chúa Giêsu, chọn tình Chúa làm hạnh phúc, lấy lời Chúa làm lẽ sống, làm sức mạnh, để chiến thắng tội lỗi và sống gắn bó với Thiên Chúa.

Thưa anh chị em,

Thử thách và sa mạc là để thanh luyện tâm hồn, để chuẩn bị cho một cuộc sống mới tốt đẹp hơn, trong tương quan với Chúa và với anh em. Trong sứ điệp Mùa Chay năm nay (1997), Đức Thánh Cha đã nói: "Mùa Chay nhằm giúp các tín hữu sống lại lộ trình 40 năm dân Israel đã trải qua trong sa mạc trên đường về Đất Hứa, với một nổ lực thanh luyện bản thân, ý thức tình trạng nghèo khó và bấp bênh của cuộc sống và khám phá ra sự can thiệp quan phòng của Chúa. Ngài mời gọi người tín hữu hãy mở đôi mắt để nhìn thấy những nhu cầu cấp bách nhất của anh em chúng ta. Bằng cách ấy, Mùa Chay cũng trở thành mùa liên đới với những con người và với những dân tộc ở nhiều nơi trên thế giới đang sống trong hoàn cảnh bấp bênh, tạm bợ, không cửa không nhà". Đức Thánh Cha còn nói: "Hãy đón nhận lời mời gọi hoán cải của Đức Kitô để gắn bó bền chặt hơn với Thiên Chúa, Đấng Thánh và giàu lòng thương xót, cách riêng trong Mùa Chay, mùa ân sủng này. Ước gì Mùa Chay sẽ giúp cho mỗi người biết lắng nghe tiếng Chúa mà mở tâm hồn ra tiếp rước tất cả những người đang sống túng thiếu"… "Chính lúc tỏ ra cởi mở và quảng đại mà kitô hữu, với tính cách riêng rẻ hoặc tập thể, có thể phục vụ Đức Kitô hiện diện trong người nghèo và làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa. Đức Kitô đã đi trước chúng ta trên con đường này. Sự hiện diện của Ngài là một sức mạnh và là một khích lệ: Ngài cho ta được tự do và trở thành những chứng nhân của tình yêu thương".


 

Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng - Bài Giảng Lễ

Chọn lựa


Sống thân phận con người là sống phấn đấu, chọn lựa. Đức Giêsu, Con Thiên Chúa làm người, cũng đã không được miễn chuẩn cho quy luật đó: Người đã bị Satan cám dỗ. Tuy nhiên, Người đã chiến thắng Satan và trở lại với tình trạng của con người trước khi sa ngã: sống hài hòa với dã thú và được các thiên thần phục vụ. Chính vì thế, Người là khuôn mẫu cho cuộc chiến đấu đức tin của chúng ta, đặc biệt trong mùa Chay thánh này.

I. Khám phá sứ điệp Tin Mừng: Mc 1,12-15

Không giống như Tin mừng Matthêu (4,1-11) và Luca (4,1-13), Tin mừng Maccô không giải thích cách thức Satan cám dỗ Đức Giêsu trong hoang địa. Các câu chuyện Israel đi trong hoang địa, cũng như Ađam và Evà ở trong vườn là những ví dụ về cám dỗ và sa ngã. Những câu chuyện về Môsê và Êlia là những thí dụ về thử thách và đứng vững. Nếu tin tưởng vào lời Chúa thì đứng vững; nếu không tin tưởng vào lời Ngài thì sẽ sụp đổ. Đức Giêsu luôn trung thành với Thiên Chúa, do đó, đã sống hòa bình với dã thú, và được các thiên thần hầu hạ.

Muốn chuẩn bị lòng trí đón Chúa đến, người ta phải triệt để quay về với Thiên Chúa, phải cậy dựa vào lời Chúa.

ª Cám dỗ trong sa mạc.

Không như dân Israel ngày xưa, Đức Giêsu sống một mình khi ở trong hoang địa. Thông thường, sự cô độc này hẳn là dấu chứng tỏ một người điên hoặc bị quỷ ám. Tuy nhiên, các thiên thần là dấu chỉ Đức Giêsu luôn quan hệ với Thiên Chúa: cho dù không có loài người, Con Thiên Chúa có thể cậy dựa vào sự hỗ trợ của Thiên Chúa. Tác giả Maccô đã nói vắn tắt về Satan khiến các học giả đi đến nhiều kết luận. Một số vị cho rằng Đức Giêsu bị khép vào tình trạng xung đột với Satan xuyên suốt tác phẩm. Tuy nhiên, Satan không mấy khi xuất hiện trong phần Tin mừng còn lại như tác nhân cám dỗ. Đức Giêsu mau chóng chứng tỏ Người có khả năng xua đuổi bất cứ thứ quỷ nào. Do đó, rất có thể Maccô nhắm làm cho độc giả nghĩ rằng Đức Giêsu đã phá vỡ quyền lực Satan trước khi sứ vụ của Người bắt đầu.

ª Khởi đầu hoạt động rao giảng của Đức Giêsu tại Galilê.

Trước khi ghi nhận các chi tiết thuộc về đời sống công khai của Đức Giêsu, Maccô tóm tắt hoạt động của Người bằng các câu 14-15. Biến cố Gioan Tẩy giả bị bắt đã kết thúc hoạt động của ông. Đức Giêsu, trước đây đã được Gioan ban phép rửa cho (1,9-11), nay trở lại Galilê và tại đó, bắt đầu công trình của Người. Sứ điệp Người phải truyền đạt được xác định ngay từ đầu là Tin mừng của Thiên Chúa: Tin mừng đến từ Thiên Chúa và Tin mừng nói về Thiên Chúa. Đây là Tin mừng tuyệt hảo được Thiên Chúa thông ban cho ta và nói với ta về tương quan Người muốn thiết lập với ta. Đức Giêsu cho biết rằng những gì Thiên Chúa đã hứa, nay đang trở thành hiện thực. Thời gian đang khởi đầu với lời loan báo và hoạt động của Đức Giêsu là thời gian của sự hoàn tất, thời gian của hoạt động đặc biệt của Thiên Chúa. Tất cả những điều này khiến chúng ta vui mừng và tin tưởng. Chúng ta được mời gọi "hoán cải và tin vào Tin mừng": thật ra "hoán cải" là "tin vào Tin mừng" và "tin vào Tin mừng" thì đương nhiên phải "hoán cải", rời bỏ nếp sống cũ để bước theo Đức Kitô.

II. Chiêm ngắm Chúa Giêsu:

Kể từ Giáo hội sơ khai, các nhà chú giải đã coi bức tranh mô tả Đức Kitô ở trong hoang địa với dã thú như là một đối trưng[1] của Ađam trong vườn. Tình trạng thù nghịch giữa loài người và dã thú, một hậu quả của sự sa ngã của Ađam, không được áp dụng cho Đức Giêsu. Tình trạng Đức Giêsu ở trong hoang địa sống hài hòa với muôn loài và quan hệ thân tình với Thiên Chúa cho thấy đó hẳn là hoàn cảnh của nhân loại nếu Ađam đã không phạm tội. Một hoang địa biến thành địa đàng là một hình ảnh ngôn sứ Isaia dùng để mô tả ơn cứu độ (x. Is 11,6-9; 32,14-20; 65,25).

III. Gợi ý bài giảng

1. Đức Giêsu là Ađam mới.

Bản văn Maccô không kể lại các "chước cám dỗ" Satan đã bày ra cho Đức Giêsu như hai Tin mừng Matthêu và Luca, mà chỉ nói vắn tắt là "Người chịu Satan cám dỗ" và lại thêm chi tiết "sống giữa dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ". Khi viết như thế, một đàng Maccô cũng cho hiểu là Đức Giêsu đã chiến thắng ma quỷ, nhưng còn cho thấy Người như là Ađam mới sống hài hòa với dã thú tại vườn Địa đàng và với thế giới của Thiên Chúa. Tất cả những điều này xảy ra trong suốt 40 ngày chứ không chỉ khi kết thúc ngày thứ bốn mươi. Với Đức Giêsu thời cánh chung đã bắt đầu như các bản văn Is 11,60 và 65,25 đã từng loan báo. Như thế, các tín hữu có thể tin tưởng vào Đức Giêsu theo lời Chúa Cha đã khẳng định: "Con là Con yêu dấu của Cha" (Mc 1,11), và tuyên xưng niềm tin rằng Người là Con Thiên Chúa (x. 15,39). Đồng thời họ có thể coi Người như là gương mẫu cho mình. Khi đã chọn Đức Kitô và xin chịu phép Rửa tội, Kitô hữu cũng chia sẻ số phận của Đức Kitô; Satan sẽ tấn công tất cả những ai thuộc về Đức Kitô, như đã từng tấn công, đã từng cám dỗ chính Đức Kitô. Tuy nhiên, người ấy cũng sẽ được hỗ trợ bởi chính Đức Kitô, vì Đức Kitô đang thực thi nhiệm vụ của Người với quyền năng, Người chế ngự kẻ mạnh (3,27) và loan báo Tin mừng về triều đại Thiên Chúa. Vì Tin mừng Đức Giêsu mang đến là Tin mừng tuyệt hảo, Tin mừng này là nền tảng cho niềm vui và sự tin tưởng của chúng ta. Ai đón tiếp Tin mừng này và lưu tâm nghiền ngẫm, thì biết rằng Thiên Chúa ở gần bên để ban ơn cứu độ.

2. Thái độ phải có để được tham dự vào triều đại Thiên Chúa.

"Thời kỳ đã mãn": Thời kỳ Đức Giêsu loan báo liên hệ với các lời Thiên Chúa hứa trong Cựu ước: Thiên Chúa trung thành với lời hứa. Do đó, chúng ta vui mừng, tin tưởng và yên tâm ký thác cho Thiên Chúa. Nhưng thời kỳ này chỉ là thời kỳ chan hòa niềm vui cho ai biết nhận định như thế, và có một thái độ thích hợp: "sám hối và tin vào Tin mừng", tức là biết chọn lựa.

"Triều đại Thiên Chúa" có nghĩa là lúc Thiên Chúa bung mở quyền làm chủ của Người ra. Thiên Chúa là Chúa tể chứ không phải là nô lệ của chúng ta; chúng ta không thể coi Ngài như ngang vai; chúng ta không thể áp đặt cho Ngài bất cứ chuyện gì. Ngài có tất cả mọi quyền bính và sức mạnh; Ngài quyết định và qui định. Bởi vì Thiên Chúa là Chúa tể chân thật duy nhất, chúng ta được tự do đối với mọi chúa tể và quyền lực khác. Sứ điệp nói rằng Thiên Chúa là Chúa tể là sứ điệp về sự giải phóng cơ bản của chúng ta. Mọi chúa tể và quyền lực khác được trả về đúng chiều kích của họ.

Thiên Chúa là Chúa tể mọi nơi mọi lúc, nhưng quyền chủ tể của Ngài có thể ở trong tình trạng giấu ẩn, rất khó nhận ra, đến nỗi người ta có thể nghĩ rằng Thiên Chúa và triều đại Ngài không hiện hữu. Để có thể nhận ra quyền chủ tể của Thiên Chúa, cần phải có đức tin, rồi khám phá ra dần nơi lối cư xử của Đức Giêsu: nơi Người, chúng ta được mạc khải cho biết Thiên Chúa đến gần chúng ta như thế nào với triều đại của Ngài và các hoa trái của triều đại Ngài.

IV. Lời cầu chung:

Mở đầuAnh chị em thân mến, mở đầu mùa Chay, Họi thánh để ra cho chúng ta một Giêsu như Ađam mới, đã thắng được ma quỷ, trở lại sống tư cách con người đúng như Thiên Chúa muốn và ra đi loan báo Tin mừng, mời gọi hoán cải và tin vào Tin mừng. Tin tưởng rằng Đức Giêsu luôn trợ giúp chúng ta trong nỗ lực sống đời Kitô hữu, chúng ta cùng dâng lời cầu nguyện

1. Đức Giêsu chính là Đấng Thiên Sai Thiên Chúa phái đến để cứu độ nhân loại. Chúng ta cầu nguyện cho toàn thể Họi thánh, chủ chăn và đoàn chiên, biết tin tưởng vào Đức Kitô và làm chứng về Người trước toàn thể nhân loại.

2. "Triều đại Thiên Chúa đã đến gần". Qua việc Đức Giêsu đi loan báo Tin mừng cứu độ, Thiên Chúa đang bày tỏ quyền làm chủ của Ngài ra, bằng việc rao giảng sứ điệp tình yêu và xua trừ ảnh hưởng của ma quỷ. Chúng ta cầu nguyện cho các nhà truyền giáo luôn xác tín vào sứ mạng được ký thác cho mình, để luôn hăng say và quảng đại dấn thân.

3. "Hãy sám hối và tin vào Tin mừng". Chúng ta cùng cầu nguyện cho toàn thể các tín hữu biết gắn bó với Tin mừng là chính Đức Giêsu, để sống sự hoán cải chân thành, và ra sức sửa đổi đời sống để ngày càng hiểu biết và tin yêu Đức Giêsu hơn.

Lời kết: Lạy Chúa Giêsu, vào đầu mùa Chay thánh, Chúa đã được giới thiệu như là điển hình cho chúng con bắt chước, và như Đấng dẫn đường đầy uy quyền. Xin ban Thánh Thần uốn nắn lòng dạ chúng con và giúp chúng con ngoan ngoãn bước theo Chúa, là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.


Lm. Vũ Phan Long OFM


[1] Theo quan điểm Kinh thánh "đối trưng" (antitype) là một người hay một vật đã được tiên báo bởi một người hay một vật khác (thường là trong Cựu ước), người hay vật này được gọi là "tiên trưng" (type) (thường là trong Tân ước). Chẳng hạn, manna là "tiên trưng" của Bí tích Thánh thể, còn Bí tích Thánh thể là "đối trưng" của manna; chuyến đi qua Biển Đỏ là "tiên trưng" của Bí tích Rửa tội, còn Bí tích Rửa tội là "đối trưng" của việc đi qua Biển Đỏ.

 
Hành Trang Mục Vụ - Khoá 10 ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn