Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật Tuần II Mùa Vọng C

Tin mừng Lc 3:1-6: Bài Tin-Mừng hôm nay kể lại câu chuyện Gioan tiền sứ tường thuật trước mặt dân chúng về ơn kêu gọi của mình.

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT 2 MÙA VỌNG - NĂM C


Học Viện Giáo Hoàng Piô X
 

VIỆC GIẢNG DẬY CỦA GIOAN TẤY GIẢ

(Lc 3:1-6)


1. Khuôn mặt Gioan Tẩy giả nổi bật trong suốt thời gian mùa vọng vì ông là vị tiên tri cuối cùng của CƯ, là người duy nhất trong các tiên tri chỉ cho thấy Đấng mình loan báo, là Đấng cứu độ thế gian, ĐGK Chúa chúng ta (kinh tiền tụng lễ thánh Gioan tẩy giả).

Đoản văn này tường thuật ơn gọi tiên tri của ông bằng cách lồng vào trong khung cảnh lịch sử trần thế và tôn giáo. Nhưng theo lời trình bày long trọng lúc mở đầu, ta có thể đoán được, và sẽ cố gắng minh chứng bằng bản văn còn nhắm xa hơn con người Gioan tẩy giả; đàng sau vị Tiền hô, chính Chúa Giêsu mà bản văn muốn loan báo và đặt vào trung tâm lịch sử nhân loại.

       1. Thật vậy, mới nhìn qua, thì hình như trong đoản văn chúng ta đang nghiên cứu đây, Lc chỉ chú ý đến sứ vụ tiên tri của ông Gioan tẩy giả. Nhưng nhiều dấu chứng cho thấy là qua sự kiện này, Lc muốn nhắm đến việc Chúa Giêsu ngự đến.


        2. Trước hết, điểm đáng chú ý là Lc tham chiếu nhiều đến lịch sử đương thời để đánh dấu việc khai mào sứ vụ của Gioan tẩy giả, mà không nói gì đến sứ vụ của Chúa Giêsu (3,21), mặc dù đối với ông, đó là việc chủ yếu. Điều bất thường này sẽ làm ta ít ngạc nhiên nếu ta nhận xét là ngay từ đầu phúc âm, Luca xem Gioan tẩy giả và Chúa Giêsu liên đới với nhau (xem phần trước: những sự song đối giữa truyền tin và sinh hạ)

Cũng như sự kiện thời hiệu của Luca 1,5 (dưới thời vua Hêrođê) được áp dụng cho cả hai lần truyền tin về Gioan tẩy giả và Chúa Giêsu (Lc 1,5-25 và 26-38), thì thời hiệu lịch sử của Lc 3,1-2 cũng có giá trị cho những bước đầu của sứ vụ Gioan và Chúa Giêsu. Luca sẽ không trình bày một cách long trọng như thế, nếu chỉ muốn đánh dấu những bước đầu trong sứ vụ của Gioan tẩy giả mà thôi.

       1. Việc kể tên hoàng đế Roma, tổng trấn Philatô và các vị quận vương khác không nhất thiết liên quan đến sứ vụ của tiên tri Gioan cho bằng liên hệ đến vua Giêsu. Như chúng ta đã thấy, Luca thường đề cập cách song đối trong phúc âm của ông vương quyền của Chúa Giêsu với vương quyền của các vua trần thế đương thời. Cho nên ở đây, ông phải nghĩ đến Chúa Giêsu nhiều hơn là Gioan tẩy giả.

       2. Luca trích dẫn tiên tri Is 40,3 như các tác giả phúc âm khác để mặc cho sứ vụ Gioan tẩy giả một ý nghĩa. Nhưng ông còn kéo dài câu trích dẫn đó cho tới việc loan báo ơn cứu độ của Thiên Chúa đã tỏ hiện, là để cho thấy trước tiên ông muốn nói đến ngày xuất hiện của Chúa Giêsu.

Bởi thế có thể kết luận rằng, khác với các đoạn song song trong Mt và Mc, đoạn văn này của Lc loan báo việc xuất hiện của Chúa Giêsu ngay trong sứ vụ của Gioan tẩy giả. Cái nhìn này không làm ta ngạc nhiên, vì trong hai chương đầu nói về thời thơ ấu, Lc đã minh chứng dài dòng rằng sứ mạng của Gioan tẩy giả hoàn toàn hệ tại trong việc loan báo, rao giảng vế Chúa Giêsu (Lc 1,14.17, 19.41-44.
76-77.)

         1. Như vậy, Lc đã nhìn hai sự xuất hiện của Gioan tẩy giả và của Chúa Giêsu thế nào ?

        2. Khi đánh dấu thời gian xuất hiện của Chúa Giêsu và Gioan tẩy giả tương quan với các vua và thượng tế thời bấy giờ, Lc muốn xác định thời gian của hai sự xuất hiện đó trong lịch sử trần thế, như các sử gia Hy Lạp thường làm. Cách tính thời gian này cũng không được chính xác, vì nó chỉ cho niên hiệu của triều đại Tiberiô Xêda (Tibère Cêsar) mà thôi, và một khoảng cách thời gian giữa sứ vụ của Gioan và Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ của Ngài không xa thời gian Gioan rao giảng bao nhiêu. Ông ước tính Chúa Giêsu chịu phép rửa vào năm thứ 15 triều đại vua Tiberiô và dữ kiện này trùng hợp với Ga 2,20 (Chúa Giêsu ở tại Giêrusalem vào dịp lễ vượt qua năm 28).

        3. Khi nói đến sự xuất hiện của Gioan và Chúa Giêsu, Lc không mấy quan tâm đến lịch sử trần thế cho bằng lồng chúng vào lịch sử cứu rỗi. Khi trích dẫn dài dòng Is 40,3-5 ông cho thấy qua các sự kiện đó, việc hoàn tất lời tiên tri của CƯ và xác định đúng tầm quan trọng của chúng: sứ mạng của Gioan là việc loan báo lần cuối cùng ơn cứu độ, sứ mạng của Chúa Giêsu là việc Thiên Chúa ngự đến và là ơn cứu độ cho mọi người.

       4. Sứ mạng của Gioan tẩy giả bắt đầu, tạo nên một giai đoạn chuẩn bị của thời tiên tri: là thời gian mà Israel được kêu gọi trở về với Thiên Chúa của mình trong tinh thần sám hối và khiêm hạ. Đây là giai đoạn cuối cùng của Cực ước.

       5. Sứ mạng của Chúa Giêsu chỉ mới được loan báo như là việc cao điểm lời rao giảng của vị tiền hô mà thôi. Sứ mạng đó sẽ là việc Chúa ngự đến, là ơn cứu độ của Thiên Chúa cho mọi người. Qua những lời tiên báo của Isaia, độc giả phúc âm, khi đã biết được mạc khải của biến cố phục sinh, có thể nhận ra thiên tính của Chúa Giêsu và ơn cứu độ Ngài đem đến cho mọi người.

Luca giúp nắm vững tầm quan trọng phổ quát của biến cố bằng cách đặt nó vào lịch sử thánh của dân Chúa (tại Giuđea, Galilê, dưới thời thượng tế) cũng như vào lịch sử của thế giới ngoại giáo (đời hoàng đế Tiberiô, vùng Iturêa). Nhưng việc loan báo vẫn còn kín đáo, vì Luca muốn tôn trọng đường lối sư phạm tiệm tiến của mạc khải.

      1. Tại sao phụng vụ mùa vọng lại dùng bản văn này là bản văn không liên quan đến việc sinh hạ của Chúa Giêsu và chỉ nhắm tới sứ mạng của Ngài một cách gián tiếp qua sứ mạng của Gioan ?

Điều này có thể do bởi sự kiện các phúc âm ít tường thuật các việc xẩy ra trước khi Chúa Giêsu ra đời. Và nhất là do bởi mối quan tâm muốn trình bày một bản văn công bố ngày Chúa Giêsu gần đến. Ngày Chúa đến thật ra không phải chỉ thể hiện trong ngày giáng sinh mà thôi nhưng còn xẩy ra trong suốt chuỗi xuất hiện liên tục, từ truyền tin đến dâng mình đền thánh, từ lúc chịu phép rửa bởi Gioan cho đến Phục sinh.

Mỗi một lần xuất hiện trên, thực ra cũng chỉ là lời hứa và bảo chứng cho lần xuất hiện cuối cùng trong vinh quang và uy quyền của ngày quang lâm. Người Kitô hữu hôm nay, khi đọc phúc âm kể lại các lần xuất hiện đã qua của Chúa Giêsu, phải luôn luôn hướng về lần ngự đến cuối cùng đó như là ơn cứu độ của mình.

Trong lúc gần đến ngày Giáng sinh, đoạn phúc âm này kêu mời chúng ta chuẩn bị ngày Chúa đến. Qua lời kêu gọi thống hối ăn năn, qua lời hứa ban ơn cứu độ cho mọi người, bản văn soi sáng cho chúng ta về mầu nhệm của hài nhi nằm trong máng cỏ và qui hướng chúng ta về ngày hài nhi ấy trở lại trong vinh quang.

Nét quan trọng trong sứ vụ của Gioan mà truyền thống đã giữ lại để làm nổi bật cá vị của ông là phép rửa của ông ban trên sông Giođan. Tước vị ho baptistês (12 lần trong phúc âm nhất lãm; trong Flavius Josèphe) là một dấu chứng. Những người đương thời của Chúa Giêsu rất kinh ngạc về nghi thức này, vì nó mang môt cái gì mới lạ.

Trước Gioan tẩy giả đã có một phong trào "thanh tẩy" khá mạnh ở Palettin và Xiri, nơi xuất phát là sông Giođan và các nguồn của nó ở phía bắc. Có nhiều ảnh hưởng đã gây nên phong trào đó. Phong trào bành trướng hơn 400 năm, từ 150 trước Chúa Giêsu đến khoãng năm 300 sau Chúa Giêsu, chia ra nhiều môn phái "thanh tẩy" (x. J. Thomas. Le mouvement baptiste en Palesine et Syrie).

Một vài nghi lễ dưới thời Gioan cũng na ná như phép rửa của ông. các người biệt phái đã lập thói quen thanh tẩy thường nhật: luật thứ sáu trong sách Mishna, chia thành khái luận, có bàn đến những tập tục thanh tẩy này. Những người tân tòng muốn gia nhập Do thái giáo phải tắm là chuyện bình thường (ngày nay vẫn còn trong đạo Do thái chính thống) được xem như là phần bổ túc cắt bì (x. R.E.O White,The Biblical Doctrine of Initoation, Londres, 1960, tr. 56-72; G.R.Beaslay Murray, Baptism in the New Testatement, Londres, 1962, tr. 18-31). Mới đây những nghi thức thanh tẩy của môn phái Cumran được sửa lại gần giống như phép rửa của Gioan. Những cuộc khai quật trong ngành khảo cổ đã cho thấy có nhiều giếng ở Cumrân, ít nhất là hai trong số đó được dùng cho nghi thức thanh tẩy. Các bản văn nói về vấn đề này đều có trong qui luật của Cộng đoàn. Chẳng rõ ràng gì: chắc chắn có một lời thề long trọng biểu thị việc gia nhập vào cộng đoàn, nhưng người ta không biết chắc chắn có việc tắm rửa đặc biệt bổ túc cho nghi thức gia nhập hay không. Về sau thì việc tắm rửa có nghi thức này được làm lại mỗi ngày. Người ta kết luận là việc thanh tẩy của Gioan không trực tiếp mượn nghi thức của Cumrân, hai nghi thức này có lẽ là hai cách diễn tả song song với nhau của cùng một phong trào rộng lớn (về liên quan giữa nghi thức áp dụng tại Qumân và phép rửa của Gioan, x.J.A. T.Robinson, The Baptism of John and the Qumân Community, Havard Theo. Rev. 50 (1957), 175-191; G.R.Beaslay- Murray, Baptism in the N.T. 11-18).

Đâu là những nét phân biệt phép rửa của Gioan với các nghi thức tương tự áp dụng trong thời đại ông ? Mặc dù đã nghiên cứu tìm tòi, người ta vẫn không biết được nguồn gốc chính xác phép rửa của Gioan; không thể nào xác định cho đúng môi trường trực tiếp mà Gioan đã mượn nghi thức này. Dù phép rửa của Gioan được ban cho người đã từng quen với loại nghi thức này, chúng ta vẫn phải giả thiết là nghi thức của ông có một yếu tố thật độc đáo, vì dân chúng kinh ngạc.

Trong các nghi thức thanh tẩy của người biệt phái và người Esséniens, thì chính đương sự tự làm lấy nghi thức, trái lại Gioan thanh tẩy cho ai thú nhận tội lỗi mình. Những nghi thức thanh tẩy cũng như các việc tắm rửa các môn phái trên được làm lại mỗi ngày, trong lúc phép rửa của Gioan hình như chỉ một lần thôi, hoặc ít ra là đã ghi dấu một biến chuyển quan trọng trong đời sống của một người. Trên điểm này thì phép rửa của các người mới tòng giáo có thể so sánh với phép rửa của Gioan. nhưng khác với phép rửa của các người mới tòng giáo, phép rửa của Gioan được ban cho những người Do thái, sự kiện này nói lên một xác quyết quan trọng là: hệ thống luật lệ của Do thái giáo, dưới cái nhìn của Gioan, không thể nào cứu rỗi con người khỏi tội lỗi. Các nghi thức khác chú trọng ít nhiều đến cử chỉ bên ngoài, còn Gioan thì nhấn mạnh đến tâm tình thống hối mà phép rửa chỉ là dấu chỉ ngoại diện mà thôi. Sự nội tâm hóa các việc đạo đức chuẩn bị cho những lời huấn dụ của Chúa Giêsu. Được tuyên bố hoặc tỏ ra thanh sạch chưa đủ, cần phải thanh sạch bên trong nữa. Sau hết, phép rửa của Gioan khác biệt bởi đặc tính cánh chung và thiên sai. Phép rửa đó tạo nên việc sám hối sinh ơn thanh tẩy cho dân, mà các tiên tri đã báo trước để chuẩn bị cho thời cứu độ (Is 1,16; Ez 36,25; Zac 13,1...)

Làm thế nào để so sánh phép rửa của Gioan và phép rửa của Chúa Giêsu ? Chính Gioan đã nói là ông rửa "trong nước", còn Đức Kitô sẽ rửa "trong Thánh Thần" (Mc 3,12;Lc 3,16; Ga 1,31-33). Phép rửa của Gioan tự nó thông ban đời sống mới.

Hiệu quả phép rửa của Gioan (để thanh tẩy dân chúng khỏi tội lỗi) hình như được đặt vào giữa tâm tình thống hối thuần túy bên trong và nghi thức Kitô giáo phát sinh hiệu quả mà nghi thức đã biểu thị. Nghi thức của Gioan xem ra dính liền với hành động tượng trưng, đặc thù của thời tiên tri (1V 22,11; Is 20,2; Gr 19,10; 28,10; Ez 4,3). Không phải là một tâm tình suông nhưng là một tâm tình được thể hiện bằng một hành vi tượng trưng.

KẾT LUẬN 

Đó là hoạt động của vị Tiền hô được lồng vào trong khung cảnh lịch sử. Thời gian hoạt động của ông không còn được căn cứ vào triều đại của một vị vua Giuda hay Israel như các tiên tri xưa nữa (x.Is 1,1; Gr 1,2; Ez 1,2; Am 1,1; Mi 1,1; So 1,1) nhưng căn cứ vào triều đại của vị chúa tể hoàn cầu là César. Sự kiện này nói lên tính cách phổ quát của Tin mừng được Gioan loan báo.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG 

          1. Giống như ơn gọi của Gioan tẩy giả, ơn gọi chúng ta cũng gắn liền chúng ta với thời đại hiện tại. Chúng ta không phải là những con người của thời xa xưa hay tương lai. Phải sống trong ngày hôm nay của Thiên Chúa (Dt 4,7) là thời gian duy nhất thuận lợi cho việc phát triển con người Kitô hữu chúng ta (2Cr 6,2). Như Gioan tẩy giả, Chúa muốn chúng ta sống trong một khung cảnh cụ thể từ đó chúng ta xuất phát. Khung cảnh này là giòng giống, gia đình, xứ sở, khí hậu... sẽ chi phối thái độ và cuộc sống của ta. Gioan là con người của sa mạc, con người thời Tibère César, chúng ta là những con người của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của thế kỷ 20. Chúa quan phòng đã muốn như vậy. Và cách thế duy nhất giúp chúng ta đáp ứng ơn gọi cách trung tín như Gioan tẩy giả là cương quyết chấp nhận thời đại và môi trường chúng ta để biến thành nơi phục vụ lời Chúa và là nơi hành động với tư cách là Kitô hữu, theo chân Chúa Giêsu.

           2. Vào thời đại Gioan, các vị hoàng đế và vương hầu, các tổng trấn và quận vương, cũng như các chính khách của mọi thời đại, đều tưởng rằng họ là những người thực hiện những biến cố quan trọng nhất của lịch sử. Tuy nhiên, ngày nay người ta chỉ nhắc tới họ chỉ vì họ có chút liên hệ với một vị tiên tri không tên tuổi của đế quốc La mã: vị tiên tri đó là Gioan tẩy giả, người đã loan báo trong sa mạc vương quốc sắp đến của Thiên sai. Nhìn về phía Thiên Chúa, thì không phải những cuộc chinh phục vĩ đại của đế quốc La mã hay những ân mưu của Herôđê là quan trọng. Nhưng đúng hơn là Lời Chúa xảy đến cho Gioan, con của Giacaria. Trong phạm vi tâm linh là phạm vi duy nhất mang tính cách quyết định cho cuộc sống con người, những cái vỏ uy quyền và vinh quang bên ngoài không có giá trị gì. Vì Thiên Chúa thực hiện những ý định lớn lao của người về thế gian. Đời sống của ta cũng thế: bất chấp khả năng chính trị, kinh tế hay văn hóa của chúng ta, Thiên Chúa cũng có thể dùng chúng ta để thay đổi bộ mặt thế giới, nếu chúng ta biết lắng nghe tiếng gọi của Ngài mà trở về với Ngài mỗi ngày.

          3. Trong sa mạc của cuộc sống chúng ta (nỗi cô đơn của tâm hồn có thể làm cho nhiều người can đảm nhất phải nản lòng). Lời Chúa vang dội trong chúng ta qua lời rao giảng khi chúng ta được mời gọi đến tham dự ngày lễ Chúa nhật với các anh chị em tín hữu khác để tôn thờ Chúa Cha, nhờ lễ vật của Chúa Giêsu Con Ngài. Lúc đó, qua cộng đoàn giáo xứ, chúng ta sẽ gặp gỡ tất cả mọi tín hữu trên hoàn cầu là những người đồng thời với chúng ta, dù họ thuộc dân tộc, chính thể và nghi lễ nào. Tất cả đều được hưởng ơn tha thứ tội lỗi. Nếu biết chạy đến bí tích cáo giải với một tâm hồn thống hối thành thật. Như thế chúng ta mới chuẩn bị chu đáo việc gặp gỡ Đấng Cứu Thế trong hiến tế. Tạ ơn nơi bàn thánh và lời cầu nguyện chúng ta mới có hiệu quả hơn, trong ý hướng hiệp nhất và truyền giáo, cho mọi người biết nhìn nhận Chúa Giêsu Kitô và lãnh nhận nơi Ngài ơn Cứu độ.

         4. Hãy dọn đường cho Chúa trong tâm hồn ta: "Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến" (Kh 22,20). Hãy sửa lại cho thẳng những lối đi quanh co đầy sở thích trái chướng, hãy làm cho ý hướng và hành vi trong đời sống chúng ta được ngay thẳng; hãy kiên trì trong đường lối ngay chính của việc bổn phận, không cực đoan hoặc "xét lại". Hãy lấp đầy hố thẳm của của tâm hồn. Nếu trống rỗng lòng quảng đại và lý tưởng Kitô giáo. Hãy bạt xuống các đồi núi của tính kiêu căng, hãy san bằng các chỗ gồ ghề trong tính tình và hãy chấm dứt chia rẽ.

         5. Thiên Chúa muốn mọi người được cứu rỗi (1Tm 2,4). Nhưng biết bao người chưa ý thức, cảm nghiệm hồng ân của mạc khải Kitô giáo và chưa thấy được vinh quang của Chúa trong giáo hội của Ngài mà vị tiên tri Isaia đã loan báo. Hãy nghĩ đến đông đảo dân chúng ngoài kitô giáo (Rm 11,25-27). Hãy cầu nguyện cho họ trong mùa vọng này và kêu xin Chúa ban nhiều ơn gọi truyền giáo, để ánh sáng phúc âm tỏa lan hết mọi người (Rm 10,14-18). Hãy trở nên các nhà truyền giáo theo gương vị tiền hô bằng cách này hay cách khác, ít nữa bằng lời kinh và bằng việc trung thành chu toàn sứ mạng riêng biệt của mỗi người ở bất cứ nơi nào mà Chúa quan phòng cho ta sống.


Noel Quession - Chú Giải

 

Lc 3,1-6

Năm thứ mười lăm dưới triều Hoàng đế Ti-bê-ri-ô…

Luca muốn loan báo tác vụ của Gioan Tẩy Giả, người dấn thân khai mở cho tác vụ của Đức Giêsu. Đây là sự can thiệp rõ ràng của Thiên Chúa trong lịch sử. Hành động của Thiên Chúa không "ở bên ngoài" thế gian, trên mây gió, nhưng hành động này diễn ra, một cách ẩn kín bên trong những biến cố thế tục. Một "lịch sử Thánh" phát triển giữa những biến cố thế giới. Như Luca chúng ta có tin rằng, Thiên Chúa "nói" và "hành động" trong những biến cố của chúng ta, trong hiện tình kinh tế chính trị, xã hội và văn hóa ngày nay không ?

Luca kỹ lưỡng nói với chúng ta rằng, Đức Giêsu đã sinh ra dưới thời Hoàng đế Xé-da Au-gút-tô (Lc 2,1). Bây giờ ông lại nói với chúng ta, Chúa bắt đầu tác vụ, như một người trưởng thành, vào năm 15 Triều Đại Ti-bê-ri-ô, nghĩa là khoảng năm 28 hay 29 .

Đức Giêsu, một ngttời Do Thái thấp cổ bé miệng, vô danh tiểu tốt đang đối diện với Hoàng đế đầy uy quyền của Rôma ! Đối diện với kẻ đang bá chủ thế giới ! Đế quốc của Ti-bê-ri-ô bắt đầu từ bờ Bắc Hải đến cùng tận Địa Trung Hải, hiện nay được 15 quốc gia vây quanh nhưng lúc bấy giờ như một biển hồ của Rôma. Tất cả những gì Luca bàn đến đâu minh chứng cho chúng ta thấy, "Tin Mừng", phát xuất từ Giêrusalem, sẽ đến tận Rôma : Ở đó, sẽ kết thúc "Công vụ Tông Đồ" (29,16-31). Trong lúc này, ta mới chỉ gợi lên tầm lớn rộng của chương trình Thiên Chúa : Đức Giêsu... Hoàng đế Ti-bê-ri-ô.

Ong Phongxiô Philatô làm tổng trấn miền Giu-đê.

Cùng với Đức Maria, ông Phongxiô Philatô, là người duy nhất có chỗ đứng trong kinh Tin Kính của chúng ta : "Đức Giêsu, sinh bởi đức Nữ Đồng Trinh Maria đã chịu khổ hình và mai táng thời Phongxiô Philatô . . . Phongxiô Philatô, tổng trấn Rôma tại Giêrusalem giữa năm 26 và 36, là con người "cứng rắn và không xót thương", theo người lân cận của ông là Hêrôđê ác-ríp-pa I đã nói. Ong bị Rôma cất chức vì đã sát hại hàng ngàn người Samari tụ họp trên núi Garizim. Các sử gia thới đó (Plavius Josèphe và Philon) mô tả ông như người cai trị xứ sở của mình bằng tham nhũng, khủng bố, cướp bóc do chính cảnh sát của mình tra tấn và hành quyết.

Ngày nay, chúng ta thường than phiền về những khó khăn của thời đại chúng ta : Thế mà Đức Giêsu đã sống trong một miền đất bị kẻ thù chiếm đóng và đàn áp không chút nương tay thế đó !

Hêrôđê làm tiểu vương miền Galilê, người em là Philípphê làm tiểu vương miền I-tu-rê và Tra-kho-nít, Ly-xa-ni-a làm tiểu vương miền A-bi-lên... 

Đó chỉ là những ông vua chư hầu bù nhìn, và là những người "hợp tác". Uy quyền thực sự vẩn thuộc Rôma. Luca nhất mạnh đến lãnh thổ mà Tin Mừng sẽ được phổ biến : ông để ý nêu rõ hai miền có đông dân cư là "con cái ít ra-en" (Giuđê và Galtlê), và hai miền có dân "ngoại giáo" (Iturê - Trakhonít và Abilên). Đối với Luca, đệ tử của Phaolô thì đây là một chỉ dẫn "thần học" : Sứ điệp của Đức Giêsu không chỉ dành riêng cho một số người nào đó ! Tôi có tự giam mình trong một khu riêng biệt Kitô giáo nhỏ bé không ? Và như vậy tôi đâu còn ở trong luồng khí Tin Mừng nữa.

Khan-na và Cai-pha làm Thượng Tế...

Sau những lãnh tụ chính trị, đây là những lãnh tụ tôn giáo, chịu trách nhiệm về Do Thái giáo thời bấy giờ, mà vài năm sau Đức Giêsu sẽ gặp lại.

Đó là bối cảnh lịch sử và tôn giáo. Những dữ kiện hoàn toàn chính xác, đã được các sử gia thời cổ xác nhận. Người ta đã tìm được tại Xêdarê chỗ ngồi của Philatô trong một nhà hát : Một hàng chữ được khắc ghi vào băng đá dành cho Tổng trấn ngồi, giữa hí trường hình tròn.

Có lời Thiên Chúa phán cùng Gioan...

Không phải những chức sắc nêu trên sẽ làm nên lịch sử thực sự : mà là một "phát ngôn viên" , một "ngôn sứ" ; . . .Gioan Tẩy Giả, vị ngôn sứ cuối cùng, nhân chứng đầu tiên của Đức Giêsu Kitô …

Chính từ "bên trong" những thực tại của con người mà sự thay đổi được thực hiện, nhưng tất cả những động lực của sự thay đổi đó không thể đến từ sự tôn thờ những ý thức hệ và những người đang nắm quyền lực, cũng không từ cơ cấu chính trị. "Chúa lật đổ những người quyền thế xuống khỏi ngai vàng" (Lc 1,52). Một "lời", từ nơi khác đến từ Thiên Chúa, sẽ tạo nên sự mới lạ thực sự làm thay đổi dòng lịch sử - Tôi có để cho Lời Chúa nắm bắt tôi, như Gioan Tẩy giả không ?

Trong hoang địa...

Đôi khi ta có cảm tưởng về hoang địa như cái gì trống rỗng... sự cô tịch khó chịu này không phải là điều ngược đời sao ? Xa thế gian quay cuồng, xa những tiếng ồn ào náo động, để có thể nghe thấy một Lời mầu nhiệm ? "Hãy nghe đây ! nghe đây ! ngươi chớ có gây tiếng động ? gần ngươi, có người đang đi trên đường, có người đang đến gặp ngươi !". Vậy thì, riêng tôi, tôi đã dành cho sự cô tịch, tình trạng hoang vắng thế nào trong cuộc sống náo nhiệt của tôi ?

Ông liền đi khắp vùng ven sông Gio-Đan.

Lời Chúa, phải vận hành. Đó là một chuyển động. Gioan là một nhà giảng thuyết di động, cũng như Đức Giêsu sắp thể hiện như vậy. Còn chúng ta thì sao ?

Gioan đã rời hoang địa hạnh phúc của ông, nơi ông dùng để chuẩn bị, để lắng nghe Lời Chúa... Để đi gặp các đám đông. Để làm việc này, ông chọn một nơi mà có đủ mọi thứ người qua lại : Chỗ cạn của một dòng sông. . . nơi mà mọi người phải ngang qua. . . lối nhỏ giao lưu cho cả đoàn người... bến Bêthama, trên tả ngạn sông Giođan, phía đông thành Giêrikhô (Ga 1,28), nơi mà người Anh đã xây cầu Allenby chỗ duy nhất có thể vượt sông được. Sau khi sống cô tịch, tôi có tìm cách để tiếp gặp kẻ khác không ?

Ông rao giảng, kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối. 

Dựa vào nguyên ngữ Hy Lạp có thể dịch câu trên – như sau : "Ong kêu gọi người ta dìm mình xuống nước để quay trở lại".

Người phát ngôn của Chúa không phải là một con người nhỏ bé trầm tĩnh, nhưng đó là một cái "loa phóng thanh" với âm lượng được vặn tối đa. Chữ Hy Lạp "Kérygme" có nghĩa là "tiếng la", lời "tuyên bố". Cuộc sống của tôi có kêu lên điều gì không ?

Không thể có ảo tưởng được. Người ta không thể gặp Chúa "như thế", nghĩa là không biết Ngài, hay không muốn Ngài. Về phía Chúa, phải "lao mình" vào Ngài ! Chữ "batisma" phép rửa, gọi lên hình ảnh những kiểu tắm rửa theo nghi thức, mà những thành viên cộng đoàn lân cận Qumran thường thi hành mỗi ngày để thanh tẩy thân thể mọi nhơ bẩn và thôi thúc tâm hồn họ cũng phải thanh tẩy thiêng liêng : Người ta dìm toàn thân mình trong hồ bơi hay dòng sông. Hoán cải không phải chỉ lâ một tư tưởng thầm kín, không thuộc phạm vi trí não, nhưng đó là một bước đi có ý nghĩa, được thể hiện ra bên ngoài đối với mọi người qua một hành vi công khai theo nghi lễ : "Tôi muốn thay đổi cuộc sống... và trước mặt các bạn, tôi thực hiện cử chỉ tượng trưng, biểu hiện sự trở lại của tôi. Tôi dìm xuống nước cuộc sống trước của tôi, cho nó chết chìm để một sự sống mới phát sinh".

Phép rửa là một tự nguyện dìm chết "con người cũ" để cho "con người mới" tái sinh (Rm 6,6-7,6 - Ep 4,22 – Cl 3,9). Đó là hình ảnh thực sự của Bí tích sám hối là phép rửa thứ hai... mà có thể chúng ta muốn lãnh nhận để cử hành lễ Giáng sinh.

Và hoán cải mà chúng ta đang nói ở đây (metnoia : Sự trở lại) là một sự quay trở lại với Thiên Chúa. Nếu hoán cải chỉ là một sự thay đổi luân lý hay xã hội, thì cuộc sống Kitô hữu có lẽ chỉ là một thứ nhân bản như những học thuyết khác, có khi lại không hoàn hảo bằng chứng học thuyết đó. Nhưng đúng ra là ta "quay trở lại với Chúa" cùng với những hậu quả luân lý và xã hội : chống lại tính ích kỷ, bất công, khuynh hướng duy vật thực dụng, sự nô lệ lạc thú và tiền bạc, nếp sống thiếu trong sạch, tính lười biếng, thái độ chế ngự kẻ khác, v.v...

Phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội.

Sự tha thứ ? Hành vi của Thiên Chúa luôn luôn tặng ban cho tất cả mọi người, nhưng chỉ hữu hiệu nếu chúng ta đón nhận sự tha thứ đó cách tự do. Luật trời phong bao giờ ngừng chiếu sáng, nhưng chúng ta có thể đóng cửa nhà chúng ta. Hành vi của Thiên Chúa được thể hiện do "thừa tác viên" thi hành bí tích, nói "nhân danh chính Chúa Kitô" ( in persona Christi). Hành vi tự do của con người được thể hiện qua thái độ hối nhân, đặc biệt qua sự thú nhận cá nhân hay tập thể.

Mỗi cử hành Thánh Thể cũng giúp chúng ta thông hiệp với Đức Giêsu trong chính hành vi Người "Tự hiến để tha thứ tội lỗi", trong hành vi cứu chuộc nhờ thái độ triệt để sẵn sàng và hoàn toàn vâng phục Chúa Cha : Đó là hành vi Ngài hoàn toàn và triệt để "hướng về" Thiên Chúa.

Như có lời chép trong sách ngôn sứ Isaia rằng : "Có tiếng người hô trong hoang địa : Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. Mọi thung lũng phải lấp cho đầy, mọi núi đồi phải bạt cho thấp, khúc quanh co phải uốn cho ngay, đường lồi lõm phải san cho phẳng.

Máy ủi to lớn làm sao ! Công trường sửa đường vĩ đại làm sao ! Công trình thật là quá sức tưởng tượng ! Và chúng ta thì chỉ có "xưng tội riêng" , không đau đớn gì ?

Rồi hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa.

Đây là mục tiêu phổ quát, rất đặc trưng của Lu ca, người đồng hành với thánh Phaolô. Công trình của Thiên Chúa không phải là lên án, mà là "Cứu chuộc". Lịch sử Thánh, lịch sử con người mà trong đó Chúa hành động, không thể kết thúc không lối thoát. Cho dù chúng ta "hôm nay đang gieo trong nước mắt, nhưng sẽ gặt trong ca mừng" .


Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

 

"Mọi người sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên-Chúa"


I.Ý CHÍNH:

Bài Tin-Mừng hôm nay kể lại câu chuyện Gioan tiền sứ tường thuật trước mặt dân chúng về ơn kêu gọi của mình.

II.SUY NIỆM :

1/ Đời hoàng đế Tibêriô năm thứ 15…":

Thánh sử Luca kể lại chuyện Gioan được Thiên-Chúa kêu gọi làm tiền sứ cho Chúa Cứu Thế trong một khung cảnh lịch sử khá rõ rệt cả đời lẫn đạo :
Về phiá đời có hoàng đế Tibêriô năm thứ 15, Philatô làm toàn quyền xứ Giuđê, Hêrôdê làm thủ hiến xứ Galilê…

Về phiá đạo có Anna và Caipha là thượng tế.

Đặt ơn gọi của Gioan trong bối cảnh lịch sử cả đời lẫn đạo âý thánh sử Luca có ý làm nổi bật vai trò của vị tiền sứ :

Sứ mạng của Gioan không phải chỉ riêng cho người Do Thái, nhưng chung cho mọi dân tộc cả đạo lẫn đời.

Những nhân vật lịch sử cả đạo lẫn đời này có vai trò liên hệ với cuộc đời Chúa Cứu Thế của Chúa Giê-su sau này.

Đồng thời cũng nêu lên sứ mạng tiền hô của Gioan, là loan báo lần cuối cùng về ơn cứu độ và sứ mạng của Chúa Giê-su, là việc Thiên-Chúa ngự đến ban ơn cứu độ cho mọi người, xuất hiện trong lịch sữ nhân loại. Tuy nhiên dụng ý của luca không quan tâm đến lịch sử trần thế cho bằng lồng chúng vào lịch sử của ơn cứ độ.


2/ "Có lời Chúa kêu gọi Gioan, con Giacaria…..hoang địa":

"Có lời Chúa gọi Gioan" : chính Thiên-Chúa gọi gioan và vì vậy Gioan hoàn toàn thuộc về Thiên-Chúa và thi hành sứ mạng của Thiên-Chúa giao phó.

"Con Giacaria": có ý xác định nguồn gốc là con của ông Giacaria và đồng thời muốn nói lên ơn gọi đặc biệt của ông ( x.Lc 1,57-66).

"Trong hoang địa": ơn gọi của Gioan được thực hiện tong hoang địa, nơi ông đã sống thời niên thiếu chờ đợi ngày tỏ mình cho Israel (Lc 1,80). Đưa Israel ra khỏi Aicập đã đi trong hoang địa 40 năm trước khi vào đất hứa. Nay Gioan sống đời niên thiếu trong hoang địa trước khi được Thiên-Chúa gọi thi hành sứ mệnh là tiền hô cho Đấng Cứu Thế. vì thế thời kỳ sống trong hoang địa được coi là cần thiết để đón nhận ơn cứu độ. Ngày nay trong Giáo Hội, những cuộc tĩnh tâm thường được gọi là "hoang địa" theo nghĩa này.


III.ÁP DỤNG VÀ THỰC HÀNH:

A/ Ap dụng theo Tin-Mừng :

Giáo hội muốn dùng bài Tin-Mừng hôm nay trong bầu khí Mùa Vọng để mời gọi chúng ta hãy sám hối và cải thiện đời sống để đón nhận Chúa đến trong hiện tại bằng ơn thánh và đón nhận Chúa đến trong tương lai của mỗi người là giờ chết.

B/ Ap dụng thực hành :

+nhìn vào gioan tiền hô :

1.Gioan được Chúa gọi làm tiền sứ cho Đấng Cứu Thế trong khung cảnh lịch sử đương thời của ông. Hoàn cảnh xã hội của mỗi người cũng có giá trị liên hệ đến ơn gọi của mỗi chúng ta. Vì thế chúng ta phải biết lợi dụng hoàn cảnh để củng cố ơn gọi của mình.

2.Gioan được Chúa kêu gọi khi ông đang sống trong hoang địa, chúng ta chỉ có thể nghe tiếng Chúa và gặp gỡ Chúa khi chúng ta biết sống những giây phút của "hoang địa" bằng những hình thức tĩnh tâm, suy gẫm cầu nguyện và thinh lặng trước những lo lắng của sự đời.

3.Gioan đi khắp miền rao giảng sự sám hối và cầu xin ơn tha tội…chúng ta sống với ai, ở đâu, môi trường nào cũng phải rao giảng tinh thần của Chúa qua đời sống chứng tích của mình để khơi dậy tinh thần cải hiến đời sống của tha nhân.

4.Gioan tự nhận là tiếng kêu trong hoang địa. Chúng ta noi gương gioan tự nhận cho mình vai trò như một tiếng kêu, một lời mời gọi, một sự khơi dậy, khích lệ và giúp đỡ tha nhân hoán cải đời sống để xứng đáng đón nhận ơn cứu độ của Chúa.

5.Nghe lời gioan kêu gọi, chúng ta dùng mùa vọng này như là bầu khí thuận tiện để sámhối và quay về với Thiên-Chúa bằng cách :

a.Hãy sửa đường Chúa ngay cho thẳng :

+Ngay thẳng về tư tưởng : không có ý tưởng xấu, quanh co, gian dối, lừa đảo…

+Ngay thẳng về lời nói : không ăn gian nói dối, không ăn tục nói dóc, không chua ngoa chửi mắng, không chửi thề nói bậy….

+ Ngay thẳng về việc làm : làm tròn bổn phận hằng ngày, làm đến nơi đến chốn chứ không làm dối trá, làm hoa quả chiếu lệ che mắt người ta.

+Ngay thẳng trong tâm hồn : sống tình cảm chính đáng trong tương quan với tha nhân, không chạy theo tiếng gọi bừa bãi của con tim, nhưng giữ vững niềm tin cậy mến theo ơn Chúa gọi.

b.Hãy lấp mọi hố sâu :

+ Mọi chia rẽ, hận thù ghen ghét …phải được lấp đầy bằng sự tha thứ hoà giải trong tình huynh đệ yêu thương.

+ Tâm hồn trống rỗng khô khan phải được lấp đầy bằng lý tưởng yêu mến Thiên-Chúa và đời sống hăng say làm việc Tông Đồ.

c.Hãy làm cho ngay thẳng những điều quanh co:

+Cần uốn nắn những tính tự phụ, kêu căng thích khoe khoang, coi mình hơn kẻ khác, coi khinh người ta.

+Cần phải sống khiêm nhường để từ bỏ tính ham hố, háo danh mang, lợi lộc…

d.Con đường ghồ ghề hãy san cho bằng :

+ Cần phải sửa chữa những tính nết xấu : cáu kỉnh, nóng nảy, nhẹ dạ, gây gỗ, nghi kỵ, ghen tương, cố chấp, ích kỷ, giận hờn, bất hoà…/.


HTMV Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn