Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật Tuần IV Mùa Vọng A

Tin mừng Mt 1: 18-25 Loan báo việc sinh Đức Giêsu cho Giuse, và chấp nhận vai trò của mình: chồng Đức Maria và cha pháp lý của Đức Giêsu;
CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG NĂM A


(Mt 1, 18- 25)

Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

THIÊN SỨ BÁO TIN CHO GIUSE


 
CÂU HỎI GỢI Ý

1. Ai là nhân vật chính của trình thuật: Chúa Giêsu? Đức Maria? Thánh Giuse? Ai là chủ từ các câu xét về văn phạm? Tại sao nơi câu 18, tác giả lại dùng kiểu nói thụ động ("bà đã chịu thai")?

2. Bí ẩn của trình thuật: thánh Giuse tỏ ra công chính ở chỗ nào? phải chăng là công chính theo luật? Như vậy thì tại sao ngài hành động cách bí mật? Phải chăng là lòng từ tâm? Vậy thì tại sao ngài định ly dị Đức Maria nếu nghĩ rằng bà vô tội? Muốn trả lời, phải giải quyết bí ẩn khác sau đây: thánh Giuse cho rằng Maria có tội hay vô tội? hay ngài tôn kính bà như hòm bia Thiên Chúa? Có nền tảng văn chương nào cho những lập trường ấy không? hay chỉ có những khó khăn không vượt qua được?

3. Việc hiện ra cho Giuse được tường thuật với thể văn của các cuộc truyền tin, loại biến cố trong đó luôn có vấn đề một dấu chỉ được mặc khải và một sứ mệnh được trao phó: so sánh với St 16,11; 17, 19; Tl 13, 3- 5; Is 7, 14; Lc 1, 26- 28. Trong trình thuật Mt, ta có gặp lại những yếu tố của lược đồ chung ấy không?

4. Trong các lần hiện ra của thiên sứ sau đó, Giuse có còn được gọi là "con Đavít " nữa không? Nơi Mt 1, 1, phải chăng Chúa Giêsu đã không được gọi là Con Đavít? Đối chiếu hai trường hợp.

5. So sánh câu trích dẫn Is 7,14 trong Mt và trong nguyên bản: đâu là chi giết thay đổi chính? Chi tiết này có ám chỉ điều gì về ý nghĩa của trình thuật không?

6. Phải chăng không có đồng nhất cơ cấu giữa sứ điệp (cc.20- 21), câu trích dẫn sấm ngôn (c. 23) và trình thuật (c.25)? Hãy nhấn mạnh đến những hạn từ được lấy lại trong mỗi phần cửa ba phần câu chuyện.

7. So sánh viễn tượng của Mt và của Lc trong các trình thuật thời thơ ấu. Lc muốn dạy về việc thụ thai đồng trinh và cho thấy Thiên Chúa làm được mọi sự. Mt có mục đích khác không? (x. 1, 1- 17).

8. Hãy thử tái lập lại cách dịch cc.20- 21: chữ "vì" mở đầu câu nói đến việc thụ thai đồng trinh có ý nghĩa gì?

9. Nên gán cho đoạn văn tiêu đề nào: "Việc thụ thai Chúa Giêsu cách đồng trinh" hay "Giuse đứng trước mầu nhiệm"? Có thể tìm được một tiêu đề hay hơn không? Hãy tra cứu các ấn bản sách Tin Mừng.

10. Có thể so sánh Giuse với Gioan tiền hô theo nghĩa nào? Đâu là vai trò của Giuse trong nhiệm cục cứu rỗi?

1. Nếu đem so sánh bản văn này với các câu song song của Luca, ta thấy có một liên hệ nào đó về nội dung:

+ Mt: "Maria, mẹ Người, đã đính hôn với Giuse ".

- Lc: "... một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse... và tên của trinh nữ là Maria...".

+ Mt: "Chớ sợ lấy Maria, vợ ông, vì thai sinh nơi bà là do tự Thánh Thần ".

- Lc: "Maria, đừng sợ, vì... Thánh Thần sẽ đến trên bà...".

+ Mt: "Bà sẽ sinh một con trai mà ông sẽ đặt tên là Giêsu ".

- Lc: "Nầy đây bà sẽ thụ thai và hạ sinh một con trai mà bà sẽ gọi tên là Giêsu".

Nhưng, trong lúc Lc trình bày việc truyền tin cho Maria, thì Mt lại trình bày việc truyền tin cho Giuse - và vì thế mọi viễn tượng đều thay đổi.

Hơn nữa, do việc Mt 1 -2 không có một đoạn nào song song với Lc 1-2, nên các trình thuật về thời thơ ấu, nơi Mt, có những dị biệt quan trọng sánh với Lc 1- 2: (a) nơi Mt, Giuse, "con Đavít" (c.20b), kẻ đưa Chúa Giêsu vào dòng dõi Đavít, là khuôn mặt chính yếu chứ không phải Maria (Lc); b) Xem ra Giuse và Maria sống tại Bêlem (Mt), vì hình như họ trở về Nadarét là theo một mặc khải đặc biệt nào đó; (c) Trình thuật của Mt chất chứa cả một loạt hành động được truyền làm từ trong giấc mơ, trong lúc Luca không kể lại giấc mộng nào hết; (d) Các chi tiết chính của trình thuật Mt xem ra được chọn lọc phù hợp với một sấm ngôn, như thể để hoàn thành sấm ngôn ấy.

Đặc điểm sau cùng này (đ) cho thấy Mt, khi chọn lựa chất liệu của mình, đã tự giới hạn vào những chi tiết có một nền tảng Kinh Thánh minh nhiên. Mục đích của ông xem ra có tính cách hộ giáo: trình bày Giuse là cha Chúa Giêsu theo pháp luật và như thế thực sự liên kết Người vào dòng dõi Đavít (x. gia phả Chúa Giêsu). Lối trích dẫn Cựu ước dồi dào, và theo cách riêng của Mt, cho phép nghĩ rằng ở đây tác giả tự do khởi thảo bản văn theo quan điểm riêng của mình hơn. Về hình thức văn chương, ông cảm hứng từ một thể văn khá thịnh hành trong Kinh Thánh, thể văn "truyền tin sinh ha" (x. St 18, 9-15; Tl 13, 2- 7; 1 Sm 1, 9- 18; Is 7, 13- 17; Lc 1, 11- 22. 26- 38); những cuộc truyền tin này thường chứa đựng các yếu tố sau đây, được sắp xếp theo một trật tự thay đổi:

- Việc can thiệp của Thiên Chúa, thường được một thiên sứ loan báo (c.20).

- Một lời kêu gọi nhấn mạnh đương sự được thăm viếng với danh nghĩa nào (ở đây là "con Đavít", c.20).

- Một trở ngại phải vượt qua, thông thường là sự son sẻ của người đàn bà (ở đây, Giuse phải lấy một trinh nữ mang thai bởi phép Chúa Thánh Thần: các.18 và 20).

- Một dấu hiệu được ban như bảo chứng về sự hoàn thành lời truyền tin (ở đây là sự sinh hạ cách lạ lùng).

- Sau cùng là nhựng xác định về danh tánh và tương lai của đứa bé (ở đây, tên Giê-su và ý nghĩa của tên ấy, c.21).

2. Liên hệ văn chương giữa 1, 18- 25 và 1, 1- 17 nằm trong thành ngữ to gennêthen "thai sinh" (cái được sinh ra) (c.20c), tiếng nhắc lại động từ "sinh" nằm suốt cả đoạn 1, 1 -17: việc Chúa Giêsu sinh hạ, tuy có vẻ lạ thường, vẫn nằm trong đường hướng các cuộc sinh hạ trước đó. Tiêu đề của đoạn 1, 18- 25: "Chúa Giêsu Kitô sinh ra thế này" (c. 18a) gợi lại tiêu đề ở 1, 1 và củng cố mối tương quan chặt chẽ giữa hai đoạn văn chương một. Về phương diện luận lý, 1, 18- 25 đưa ra những lời giải thích cho thành ngữ ở 1, 16. Bản gia phả đã mặc khải cho ta biết Chúa Giêsu là ai: là Đấng Thiên sai, con của lời hứa cho Abraham, và phát xuất từ gốc Đavít; bản văn tiếp theo cho thấy Người mang nguồn gốc đó thế nào. Thành ra tiếng "Giêsu Kitô", kết thúc đoạn văn đầu và khai mở đoạn văn sau, là bản lề của cả hai, nhưng đồng thời là trọng tâm của mỗi một đoạn.

Đôi lúc ta thấy như có một đối nghịch giữa 1, 1- 17 và 1, 18-25: các cuộc sinh hạ trước Chúa Giêsu đều thuần túy tự nhiên, thuộc lãnh vực sinh vật, trong lúc việc sinh hạ của Chúa Giêsu hoàn toàn siêu nhiên. Thế nhưng Mt lại muốn nhấn mạnh hơn đến sự kiện này là: chính Thiên Chúa Tạo hóa và Cứu chuộc đã hành động trong mọi cuộc sinh hạ của lịch sử cứu rỗi và trong việc sinh hạ Chúa Giêsu. Ngược lại, phải tránh xem 1, 18- 25 như là tiếp tục bình thường của 1, 1- 17: không có dấu gì trong bảng gia hệ 1, 1- 17 cho phép nghi ngờ việc Chúa Giêsu xuất hiện một cách lạ lùng như 1, 18- 25 kể lại. Thành ra ở đây cũng như khắp nơi trong Tân ước, ta gặp lại sự đối nghịch giữa hai chi tiết đánh dấu việc Chúa Kitô xuất hiện: Người hoàn toàn liên tục với tất cả các tiền nhân của lịch sử cứu rỗi, lịch sử mà Ngươi hoàn thành; nhưng đàng khác? Hoạt động cứu rỗi của Thiên Chúa trong Người siêu việt hẳn mọi cái đi trước.

3. Chắc chắn 1,18- 25 trước tiên không có mục đích mô tả việc thụ thai Chúa Giêsu cách lạ lùng; việc này chỉ được nhắc sơ qua như một sự kiện mà ai nấy đều biết. Ta cũng có thể bảo, như sẽ chứng minh dưới đây, là tất cả đoạn văn này nhằm trình bày tại sao Giuse phải đem Maria về nhà mình: không phải vì bà được thụ thai đồng trinh, nhưng đúng hơn là: mặc dù bà thụ thai đồng trinh. Theo khía cạnh đó thì mục đích của Mt rõ ràng có tính cách giáo thuyết. Ông chẳng tìm cách tường thuật lại chính giai thoại ấy đâu, vì ông bỏ qua mọi chi tiết thuật sự thông thường như chẳng xác định thời gian, nơi chốn, đặc tính của các nhân vật; trái ngược với Luca, ông không nêu lên danh tánh vị thiên sứ hiện ra. Loại trình thuật sơ sài cô đọng này là đặc điểm của Mt: thật ra đó là một giáo huấn dưới hình thức thuật sự.

Đàng khác, phải nhận rằng sự kiện cưu mang đồng trinh Chúa Giêsu chỉ có một địa vị hạn hẹp trong lời rao giảng nguyên thủy của Kitô giáo ở thế kỷ I, bởi vì ngoài Mt 1 và Lc 1 ra, thì Tân ước không nói tới điều đó chỗ nào nữa cả. Ví dụ các bản tóm tắt giáo lý và các bản tuyên tín cổ xưa nhất, cũng như các thư Phaolô và văn phẩm của Gioan đâu có ghi nhận sự kiện này. Bởi vậy nhiều nhà phê bình đã cho rằng trình thuật cưu mang đồng trinh Chúa Giêsu chỉ là một sản phẩm muộn màng của Kitô giáo chịu ảnh hưởng những thần thoại Hy-La bàn về việc sinh hạ có tính cách thần linh của các nhân vật quan trọng. Nhưng nếu so sánh tỉ mỉ các huyền thoại ấy với trình thuật của Mt lẫn Lc, ta sẽ thấy vấn nạn thật là yếu ớt. Từ ngữ và tư tưởng của Mt lẫn Lc cho thấy trình thuật của họ bắt nguồn từ môi trường Cựu ước, một môi trường hoàn toàn xa lạ với đa thần giáo Hy-la.

Mt 1, 18- 25 được chia ra làm 5 phần:

1) Tiêu đề của đoạn văn (c. 18a);

2) Tình cảnh của Giuse và Maria (cc. 18b-19);

3) Chúa dùng vị thiên sứ can thiệp để giải thích tình cảnh và thông ban một mệnh lệnh (cc.20- 21);

4) Tác giả gợi lên những chiều kích của hành động thần linh đó (cc 22- 23);

5) Sau sùng, Giuse thi hành răm rắp mọi điều Chúa đã truyền cho (cc. 24- 25)

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

Qua tiêu đề bản văn (c.18a), Mt muốn ngỏ lời với các tín hữu để xác định hoặc sửa sai quan niệm của họ về việc Chúa Giêsu Kitô sinh ra. Mt không đưa ra một chỉ dẫn nào về Maria và Giuse; ông nói đến các ngài như những người mà độc giả đều biết rõ. Chủ ý của ông chẳng phải là trưng tài liệu song là dạy giáo lý.

Câu 18b gợi ý (song không minh nhiên quả quyết) rằng Giuse đã biết việc thụ thai con trẻ là do Chúa Thánh Thần.

Động từ sunelthein, theo tự nghĩa là "đến với, phối hợp với một người nào đó ", có thể chỉ việc giao hợp hoặc việc sống chung. Văn mạch gần phù hợp với nghĩa đầu hơn. Cô thiếu nữ Do thái, được đính hôn vào khoảng tuổi 12, thoát khỏi quyền giám hộ của người cha để ở dưới quyền giám hộ của người chồng vào lúc 13-14 tuổi (việc chuyển tiếp này, khai mạc việc sống chung, làm nên lễ hôn phối).

"Do tự Thánh Thần": giới từ "ek" ở đây nói đến một nguyên nhân lịch sử: do một hành động độc nhất của Thánh Thần. Lc 1, 35 thì loan báo một hoạt động tích cực hơn: Thánh Thần "sẽ đến trên" Đức Maria. Từ ngữ của Mt, vì chỉ ghi nhận sự kiện, nên có vẻ dè dặt hơn. Vả lại, Mt mỗi lần nói đến Thánh Thần, là để công bố hoạt động cao siêu của Thiên Chúa, nhưng không giải nghĩa hoặc phân tích gì thêm (3, 11; 4, 1; 10, 20; 12, 18; 12, 28. 31).

"Giuse, chồng bà, vì là người công chính và không muốn tố giác bà": sự công chính của Giuse hệ tại chỗ nào? Giai thoại ta đang nghiên cứu đã làm các nhà chú giải bối rối không ít. Phần lớn cho rằng sự công chính đó chính là việc mặc khải cho Giuse biết Maria đã thụ thai bởi quyền năng Thánh Thần, hầu chấm dứt mối băn khoăn nghi ngờ nơi ngài. Nhưng lập trường này đẩy ta vào những vấn đề tâm lý giả tạo và khó giải quyết, những vấn đề hoàn toàn xa lạ với tinh thần của tác giả và độc giả Tin Mừng. Đúng hơn là hình như Giuse băn khoăn không phải về tiết hạnh của bạn mình, song là về mối liên hệ giữa ngài và đứa trẻ, về nhiệm vụ ngài phải gánh vác đối với đứa bé đó. Giuse không công chính theo nghĩa là ngài vâng lời Lề luật vì chả có luật nào buộc phải ly dị vị hôn thê mới bị coi như là ngoại tình cả (Đnl 22,13-21.23-27 chỉ liên hệ tới hôn nhân hoàn hợp, như Đnl 24,1 làm chứng). Đàng khác, nếu âm thầm ly dị Maria, thì Giuse lại càng bất tuân Lề luật, vì chứng thư ly dị chỉ có giá trị pháp lý khi mang tính cách chính thức công khai (Đệ nhị luật có nói đến việc ly dị tổ chức ở cửa thành). (Vẫn biết pháp chế của các tiến sĩ luật có cho phép tổ chức việc ly dị riêng tư trước hai nhân chứng - x.Mishnah, Sotah 1, 5- song hình như pháp chế ấy nằm sau thời Chúa Giêsu; hơn nữa, kiểu ly dị như vậy không thể là điều Giuse nghĩ tới, vì bản văn Mt rõ ràng nói đến một việc ly dị "âm thầm, bí mật" - từ ngừ hy lạp lathra, theo Zorelle, Bauer..., chỉ có ý nghĩa ấy - với lại ly dị mà có hai nhân chứng thì sức mấy giữ được bí mật lâu trong một ngôi làng nhỏ như Nadarét...). Sau cùng, mọi lối giải thích sự công chính của Giuse như là "công chính chiếu luật" sẽ đẩy ta vào chỗ tiến thoái lưỡng nan. Thật vậy nếu theo con mắt của Giuse, Maria phạm tội ngoại tình, thì ta hiểu ngay là ngài đã nghĩ tới chuyện ly dị, song ta không thấy tại sao ngài lại nghĩ đến việc ly dị âm thầm, vì bấy giờ việc ly dị sẽ chẳng có hiệu lực pháp lý và lại không thể giữ bí mật được lâu. Đàng khác, nếu Giuse coi Maria vô tội, thì ta không thấy tại sao ngài lại nghĩ đến chuyện ly dị bà, vì pháp luật đâu cho phép và vì, xét như là hôn phu, người có bổn phận bảo vệ vị hôn thê vô tội chống lại mọi nghi ngờ vô bằng cứ của kẻ khác. Thành ra không thể cắt nghĩa sự công chính của Giuse như là "công chính theo luật" được.

Vấn đề ở đây là sự công chính tôn giáo, sự công chính đòi hỏi Giuse tôn trọng công trình Thiên Chúa nơi Maria và cấm ông không được đoạt lấy công lao của một hành động thần linh: Giuse nghĩ rằng mình không được quyền đem về nhà một kẻ mà Giavê đã dành riêng cho Ngài. Trước mầu nhiệm ấy, Giuse muốn rút lui, và vì tế nhị đối với Thiên Chúa. Ngài cẩn thận không muốn "tiết lộ" mầu nhiệm thần linh nơi Maria (tiếng deigmatisai, theo Origène và Eusèbe, không bao hàm ý nghĩa xấu tố giác? bêu nhục) như tiếng paradeigmatisai; Jouon cũng dịch là tiết lộ, bày tỏ "). Ngài phản ứng như hết thảy mọi kẻ công chính trong Thánh Kinh trước việc Thiên Chúa can thiệp vào đời họ: như Môisen cởi giày trước bụi gai rực cháy, như Isaia khiếp đảm truởc sự xuất hiện của vị Thiên Chúa ba lần thánh, như Elidabét tự hỏi tại sao mình được mẹ Chúa viếng thăm, như viên bách quản trong Tin Mừng, như Phêrô cúi mình tâu: "Lạy Chúa, xin hãy xa con, vì con là kẻ tội lỗi "... Như "Abel người công chính", Giuse đã tỏ mình ra là kẻ hết dạ tôn thờ Thiên Chúa tabel là người "công chính" duy nhất được Mt gọi tên trong Tin Mừng của ông, 23, 36, công chính không phải vì tuân hành Lề luật, vì Lề luật chỉ được công bố với Môisen!).

Lối giải thích này được văn mạch chung của chương 1 Mt xác nhận. Thật vậy, trong đoạn văn đầu tiên, Mt kể lại gia phả của Chúa Giêsu bắt đầu từ Abraham và Đavít, đi ngang qua Giuse. Nhưng chính gia phả ấy lại gặp một vấn đề hóc búa nơi Giuse. Hóc búa là vì Chúa Giêsu chẳng phải là con Giuse theo xác thịt. Thành ra bản văn chúng ta đây có mục đích giải thích làm sao Chúa Giêsu thuộc về dòng dõi Đavít, mặc dù Người chẳng phải là con Giuse. Và lời giải thích nằm ngay trong việc Giuse thừa nhận Chúa Giêsu trước mặt pháp lý. Do đó ta thấy rõ trình thuật không có mục đích bênh vực việc thụ thai đồng trinh cho bằng là chứng minh làm sao Chúa Giêsu đã trở nên con cháu Đavít và là Đấng Thiên sai dòng dõi Đavít, mặc dầu Người được mang thai đồng trinh, một yếu tố đã gây nên vấn nạn lớn lao. Hai phần của chương đầu Mt như thế làm nên hai vế của cùng một chứng minh vậy.

Một luận cứ xác nhận khác là chính lời của thiên sứ (cc 20-21), nếu được hiểu đúng. Cách dịch hay nhất có lẽ như thế này: "Hỡi Giuse, con Đavít, chớ sợ đem Maria về nhà làm vợ vì quả thật (Hy ngữ: gar; pháp ngữ: can certes) thai sinh nơi bà là công thành của Thánh Thần, nhưng (Hy ngữ: dé) bà sẽ sinh một con trai mà ông sẽ đặt tên là Giêsu; vì chính Người sẽ cứu dân mình khỏi tội lỗi ". Đúng vậy, lối dịch chữ gar ra vì quả thật thường được thấy trong Tân ước (1 Cr 9, 19; 2 Tx 2, 20; Mt 18, 7; 22, 14; 24, 6...). Thành ra qua lời mình, thiên sứ giả thiết là Giuse đã biết Maria mang thai đồng trinh rồi và chính việc thụ thai này đã thúc đẩy ngài rút lui trước sự can thiệp của Thiên Chúa; tuy nhiên thiên sứ ra lệnh cho ông dù sao ("nhưng") cũng phải chấp nhận đặt tên cho đứa trẻ và đưa nó vào dòng dõi Đavít.

"Giêsu": tên chỉ định con người và, đặc biệt trong Kinh Thánh, chỉ định chức vụ mà Thiên Chúa đặt định cho trong lịch sử cứu rỗi. Iêsous là phiên âm hy lạp của tiếng hy bá Yehôshua (Xh 24, 1 3) hoặc Yéthua (Nhm 7, 7), "Giavê là sự cứu độ", một tên riêng khá phổ thông trong Cựu ước và Tân ước.

"Vì (từ ngữ mở đầu câu nói về ơn gọi, cái ơn gọi được diễn tả qua danh tánh mà Thiên Chúa truyền phải đặt cho đứa trẻ) chính Người sẽ cứu (động từ "cứu" cũng tái xuất hiện trong ba Tin Mừng Nhất Lãm: 15- 15- 17 là n trong Mt-Mc-Lc, trong khi chỉ mình Lc gán cho Chúa Giêsu tước hiệu "Đấng Cứu Thế" nơi chương 2, 11 và dùng chữ "ơn cứu độ ") dân mình tức Giáo Hội, Israel đích thực; lao, "dân", là một từ ngữ riêng của Mt (14 lần, trong lúc Mc chỉ dùng hai lần) dùng để chỉ dân Thiên Chúa) khỏi tội lỗi (x.Tv 130, 8; ta không được bảo toàn thể Do thái giáo đương thời Tân ước đều mong chờ một Đấng Thiên sai thuần túy có tính cách quốc gia và chính trị; Thánh vịnh Salomon 17 vẫn hy vọng rằng Con Đavít sẽ quy tụ dân Người, thanh tẩy và thánh hóa họ).

"Mọi sự này xảy ra... " (cc.22-23). Công thức quen thuộc này của Mt không muốn quả quyết rằng giữa các bản văn Cựu ước và thực tai của Tân ước có một cái gì bình đẳng. Mt cho rằng bao giờ cũng vẫn là chính Thiên Chúa điều khiển lịch sử thánh, nhưng các thực tại Tân ước mới là đích điểm và là sự viên mãn của Cựu ước.

"Này đây, Trinh nữ sẽ thụ thai": Mt trích Is 7,14 (x.2V 16, 5- 9) theo bản 70 với chữ parthenos, "tính nữ", trong lúc nguyên bản dùng chữ almâ, là tiếng vừa chỉ một thiếu nữ, vừa chỉ một người vợ trẻ. Vì thế, dựa vào Is 7,14, Do thái giáo miền Palestine không mong chờ một Đấng Thiên sai sinh hạ đồng trinh, nhưng dù vậy Đấng Thiên sai cũng sẽ là một người con đầu lòng (Lc 2,7). Trong hoàn cảnh lịch sử của Is 7,14, vị ngôn sứ chỉ loan báo một biến cố sắp gây chưng hửng cho vua Achaz cũng lòng tin.

"Emmanuel": Mt chẳng cố ý nêu ra một tên mới của Đấng Thiên sai, song chỉ muốn nói lên ý nghĩa của con người và của công cuộc Người thực hiện. Chính Is 7, 14, bản văn ông trích dẫn, và 8, 8 cũng đã không nhấn mạnh đến sự hiện diện đơn thuần của Thi.ên Chúa, điều mà cả Kinh Thánh đều giả thiết, nhưng đến sự hiện diện tích cực, hằng cứu giúp của Ngài. Như vậy, qua Chúa Giêsu, Thiên Chúa sẽ hiện diện giữa dân Ngài để cứu vớt họ. Lời hứa long trọng của Chúa Kitô vinh hiển "Ta sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế", 28,20) đánh dấu việc thể hiện hoàn toàn lời loan -báo trên. Như thế, Tin Mừng Mt mở đầu và kết thúc với ý tưởng này là: Thiên Chúa đã hiện diện tích cực với nhân loại trong con người Chúa Giêsu.

Nơi câu 24- 25, Mt ghi nhận: sau khi được Thiên Chúa báo mộng, Giuse không còn thụ động nữa; ngài "tỉnh giấc" hay "chỗi dậy" tuân hành răm rắp lệnh truyền. Chi tiết các câu 24- 25 tương ứng sít sao với lời dạy của thiên sứ (cc.20-21) và với lời giải thích cùng trích dẫn sấm ngôn (cc.22-23). Như câu 23, câu 25 nhận xét rằng Maria còn đồng trinh lúc hài thi sinh ra; thành ra kiểu nói "ông đã không biết bà cho tới ngày bà sinh con" không phủ nhận cũng chẳng ám chỉ sự đồng trinh sau đó. Vả lại ta nên nhớ mẫu tính đồng trinh của Đức Maria không có ý nghĩa sinh vật học (mặc dầu sự kiện có thật) song là Kitô học, nghĩa là diễn tả đức tin của Giáo Hội vào thần tính và nhân tính của Chúa Giêsu.

KẾT LUẬN

Ở hai đầu của lịch sử Lời hứa, có hai ơn gọi làm âm vang cho nhau và bổ túc nhau: ơn gọi Abraham, cha của Lời hứa, và ơn gọi Giuse, kẻ mà lòng vâng phục mệnh lệnh thần linh đã giúp thực hiện lời Thiên Chúa hứa là cho Đấng Emmanuel tới. Và nhờ được Giuse đưa vào dòng dõi Đavít, kẻ thụ thác Lời hứa, Chúa Kitô từ nay liên hệ trực tiếp với mỗi người con cháu Abraham, đón con cháu đông như sao trên trời chẳng ai đếm nổi (St 15, 5).

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Sự công chính của thánh Giuse không nằm ở chỗ ngài muốn bí mật ly dị Đức Maria. Thật ra nó nằm ở chỗ thánh nhân từ chối coi mình là cha đứa trẻ mà ngài biết là Con Thiên Chúa. Ngài sợ mang tiếng chiếm đoạt vai trò mà Chúa không ủy thác. Sở dĩ ngài muốn ly dị Đức Maria đó là vì tế nhị, vì vâng theo thánh ý Chúa, Đấng không giao cho ngài sứ mạng gì đối với Đức Maria và Hài nhi cả. Đối với Giuse, Thiên Chúa có mặt trong công chuyện này. Thiên Chúa đã sử dụng vị hôn thê của ngài, và vì thế ngài muốn rút êm để khỏi làm cản trở việc thực hiện một chương trình ngài không hiểu thấu. Nói cho đúng, sự "công chính" của thánh Giuse chính là ý thức của ngài về Thiên Chúa, là sự tôn trọng của ngài đối với mầu nhiệm và thánh ý Thiên Chúa. Người Kitô hữu cũng phải có lòng kính trọng sâu xa như vậy đối với các dự tính của Thiên Chúa về mình, phải có ý thức về sự siêu việt của Thiên Chúa mỗi khi Ngài cho ta cảm nhận sự hiện diện của Ngài trong đời sống thường ngày: qua niềm vui, qua Thánh Thể, qua thử thách, qua lời kêu van giúp đỡ của tha nhân v.v...

2. Thánh Giuse đã đón nhận Chúa Giêsu Kitô hằng sống. Chúng ta cũng phải đón nhận Người như thế, vì Chúa đang thực sự sống động trong Giáo Hội; nhờ Giáo Hội mà Người tự thông ban cho ta qua Thánh Kinh và Thánh Thể. Ngày nay, tin vào sự hiện diện sống động của Chúa trong Thánh Kinh và Thánh Thể không khó hơn việc thánh Giuse tin rằng con trẻ mà vị hôn thê của ngày chờ đợi thật là Con Đấng Tối Cao..

3. Thánh Giuse im lặng: Thánh Kinh không ghi lại một lời nào của ngài, một kẻ dù sao vẫn là con cháu Đavít và đã cho Chúa Giêsu được nên con Đavít.

4. Emmanuel: Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta. Giêsu: Thiên-Chúa-cứu. Sở dĩ Thiên Chúa ở với chúng ta, đó là để luôn luôn cứu chúng ta. Sự hiện diện của Người trong đời ta là nguồn bình an và hoan lạc lớn lao nhất. Ngày nay, Chúa Giêsu là Emmanuel đối với chúng ta hơn bao giờ hết, vì sau khi sống lại, người đã hứa ớ với chúng ta cho đến tận thế.

 
Noel Quession - Chú Giải
 
Mt 1,18-24

Những "Tin Mừng về tuổi thơ" là những trang Tin Mừng kỳ diệu, rất khác với các Tin Mừng khác: Mát-thêu và Luca là những người duy nhất nói cho chúng ta hay, lại không phải là những chứng nhân trực tiếp. Các ông đã sưu tập lại những kỷ niệm được lưu giữ trong các môi trường "Do Thái – Kitô" và nhất là trong gia đinh Đức Giêsu. Và với dữ kiện cơ bản" này, các ông đã xây dựng một Dẫn nhập thần học, có phần giống như một nhạc sĩ soạn một "Khúc dạo đầu" mà ở đó nhạc sĩ làm cho người ta nghe thấy những chủ đề chính mà ông muốn khai triển tiếp theo. Dưới vẻ bề ngoài thô thiển và vụn vặ, đó là những văn bản phong phú những giáo lý sâu sắc, dĩ nhiên được viết sau khi Đức Giêsu sống lại và cần phải đọc "trong đức tin". Điều ấy không có ý nói rằng, "tính nhân bản không có trái lại là khác".

Mát-thêu, khác Luca, không tập trung tuổi thơ của Đức Giêsu và Đức Maria, nhưng vào Giuse: 1. Giả phả Đức Giêsu, theo dòng dõi Giuse; 2. Loan báo việc sinh Đức Giêsu cho Giuse, và chấp nhận vai trò của mình: chồng Đức Maria và cha pháp lý của Đức Giêsu; 3. Việc thờ phụng của các nhà chiêm tinh và vai trò chủ chốt của Giuse bảo đảm an toàn hài nhi khi trốn sang Ai Cập; 4. Trở về Na-da-rét, theo lệnh của một thiên thần luôn luôn nói với Giuse (Mt 1,1 - 2,23).

Chúa nhật này trước lễ Giáng sinh. Giáo Hội đề nghị chúng ta nghe tin loan báo cho Giuse.

Đây là gốc tích ("khởi nguyên") của Đức Giêsu Kitô.

Nói 'khởi Nguyên" là nói đến "bắt đầu". Đó là tiếng trang trọng lớn lao của khởi đầu thế giới, trong sách đầu tiên của Kinh Thánh.

Đối với người Sê-mít, quan niệm "nhân vị" như một cái toàn thể, vữa có tính thể xác và linh thiêng, khác với những người Hy Lạp, coi "nhân vị" trước hết như một linh hồn, thực tại linh thiêng, nhập thể vào trong một thân xác Đức Giêsu Kitô "bắt đầu" ở chính khoảnh khắc mà người nhập thân vào "lịh sử con người", vào biến cố này, vào tình huống mà Đức Gìêsu sinh ra.

Bà Maria, Mẹ Đức Giêsu đã thành hôn với ông Giuse.

A, tất cả mọi người đều tin là biết lịch sử về con người của Giuse. Một con người trở thành đề tài để giễu cợt tron trại lính và trong xưởng thợ. Người ta đã đặt thành những bài hát dân gian diễu cợt con người ngây thơ và nạn nhân này; ông Giuse đáng thương! không phải thế sao? Nhất thế là chế nhạo Tin Mừng và không biết tí gì về cặp Maria và Giuse. Cặp này chắc chắn là cặp hạnh phúc nhất trong suốt lịch sử. Người mà..., trong tất cả các cặp được thành hình từ khi tạo thành thế giới, được mang dấu ấn một lịch sử phổ quát! Cặp này cũng là cặp "phong nhiêu nhất trong các cặp. Ban đầu, tình hình của họ thế nào: hai thanh niên ở giữa tuổi 15 và 20, đính hôn với nhau, vì cùng có một dự tính kỳ diệu là thành vợ chồng. Bạn hã nhớ đến cuộc đính hôn của các bạn! Cái thời hạnh phúc đó Hãy, nhìn các bạn trẻ đang lui tới với nhau và xây dựng ý định lứa đôi..

Nhưng trước khi khi ông bà về chung sống, Bà đã có thai do quyền năng của Chúa Thánh Thần, ông Giuse, chồng bà là người côn chính là không muốn tố giác bà nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo.

Đây la chặng thứ hai: "dự tính tan vỡ"… khủng hoảng chuyện đôi lứa, khi Giuse thấy người đính hôn của mình mang thai. Tất cả mọi giấc mơ đầu bị phá tan. Có lẽ ta không thể hiểu được nỗi đau đớn tinh thẫn dày vò còn bị che khuất đằng sau đoạn Tin Mừng vắn tắt này? Ở giai đoạn tình huống này, Giuse quyết định không cưới Maria nữa. Và quyết định này là quyết đinh của người đàn ông công chính."

Người ta đưa ra chiều cách giải thích về sự công chính này của Giuse. Thánh Justin nghĩ rằng Giuse công chính bởi vì người muốn áp dụng Luật (Đnl 22,23). Điều kỳ lạ và có vẻ không đúng là người ta đã có thể nghĩ đến một sự nghi ngờ tội ngoại tình, mà Luật Môsê đòi phải phạt. Thánh Giê-rôm, chính người lại kết luận rằng Giuse "công chính bởi vì ông muốn bỏ bà Maria một cách kín đáo". Nhưng cũng ở chính đó, có phải là điều công chính khi bỏ mặc cho số phận một người vợ mà người ta nhìn nhận là vô tội ư? Giải pháp thỏa đáng duy nhất cho vấn đề này chính là điều mà bản văn đã gợi ra. Quả thế, ngay trước lúc diễn tả cuộc tranh chấp tâm lý của Giuse, thì Mát-thêu, một cách rất rõ ràng, giả định là người ta có biết việc "thụ thai mà còn trinh nguyên một con trẻ". thụ thai bởi tác động của Thánh Thần".

Do đó có lẽ chính Đức Maria đã tiết lộ tâm sự với người mình đính hôn (hay đúng hơn, mẹ của Đức Maria theo tập quán Phương Đông). Và Giuse, sau khi suy nghĩ bằng những phương tiện nhân loại của mình, sau khi đã hiểu rằng con trẻ này do Chúa, mà đến, ông không muốn đòi hỏi về quyền hành đối với đứa con không phải là của mình... ông nhận ra quyền làm cha" của Thiên Chúa. Và ông nghĩ rằng, chính ông. Giuse, không được con như cha của đứa con đó. Thế là ông quyết định từ khước ý định lứa đôi của mình. Cũng như Abraham, hy sinh cho Thiên Chúa, Giuse là "người công chính". ông quyết định hy sinh mình.

Ong đang loan đính như vậy thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: "Này ông Giuse, con cháu Đa-vít. đừng ngại đón bà Maria vợ ông về...

Như thế chính Thiên Chúa can thiệp để thay đổi dự tính của Giuse. Để nhấn mạnh đến khía cạnh "tôn giáo", thần linh", của quyết định mới mà Giuse có, Mát-thêu để cho mạc khải" của mình chảy theo "thể loại văn chương" thoáng thấy của việc "loan báo theo ngôn ngữ quen thuộc Kinh Thánh, Chúa dựng ở đây sự can thiệp của "Thiên Thần của Chúa", và của "giấc chiêm bao" loan tin.

Thường đó là vấn đề về các giấc chiêm bao trong Kin Thánh... và đặc- biệt trong cuộc đời của Giuse (Mt 1,20 - 2,13 - 2,22).

Giuse, một anh thợ tầm thường, ở đây được gọi lên một..cách trang trọng là "con nhà Đa-vít". Chính là với danh nghĩa "dòng dõi của hoàng gia" Do Thái, mà Thiên Chúa yêu cầu ông thay đổi ý định và nhận Maria làm vợ mình. Ong đã quyết định' "bỏ" nàng' và như thế khước từ làm cha đứa bé mà Maria mang thai... Tinh hình cũng đúng như đại tổ phụ trong đức tin, áp-ra-ham tin điều đó, khi ông chấp nhận hy sinh con trai I-xa-ác của mình, thì ông xem con trai mình như một "của lễ của Thiên Chúa" (St 22). Với Giuse, người vừa khước từ một đứa con trai, cũng thế. "Thiên Thần của Thiên Chúa đòi ông đón nhậ đứa con trai theo cách khác: Người phải nhận đứa con như một "của lễ", trong đức tin. Đứa con mà ông đã khước từ theo xác thịt", thì ông lại nhận đứa con đó như "con của lời hứa" (Gl 4,2S-28).

Chắc chắn người con bà cưu mang là do quyền năng của Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai, và ông phải đặt tên con trẻ...

Câu văn. bang tiếng Hy Lạp. được xây dựng trên sự đối lập mà chúng ta đã nhấn mạnh; bộ phận đầu tiên củ câu nói bắt đầu bằng "gar", có nghĩa là "quả thế, chắc chắn". Bộ phận thứ hai của câu nói bắt đầu "dé", có nghĩa là "nhưng, tuy nhiên"…

Vì thế thiên thần không báo cho Giuse biết việc thụ thai đứa con còn trinh nguyên, mà ông đã biết. Nhưng thiên thần yêu cầu ông, mặc dù ông đã biết, là thay đổi quyết định của ông. Không những Giuse không biết mình đi như ông tính làm, nhưng trái lại, Thiên Chúa cần ông. Thiên Chúa giao cho Giuse hai vai trò: 1. nhận lấy Maria về nhà mình; 2. đặt tên cho con trẻ. Trong ngôn ngữ Kinh Thánh, theo thói quen sê-mít, điều ấy có nghĩa rõ ràng là "nhận lấy quyền làm cha pháp lý" cho đứa con. Người ta hiểu tại sao Giuse đã được chào kính với danh hiệu: Con Đa-vít. Chính do dòng họ Giuse mà Đức Giêsu lại trở nên con của Đa-vít, để hoàn thành tất cả mọi lời hứa của Thiên Chúa" (Mt 1,1 - 9,27 - 12,28: 20,23 - 21,9).

Đối với ai hiểu văn bản này một cách sâu xa, như đa chép, Giuse không hề thuộc về thứ nhân vật xanh xao và thụ động mà người ta dã làm biến dạng một cách sai lầm Đó là một "người công chính" thực sự. Một người can đảm thực sự đã thay đổi quyết định mà mmh đã có với tất cả lòng thành. Một người tin tưởng vào người đã đòi mình một "lòng tin", vào nhịp độ của biến cố khủng khiếp sắp xảy ra. Và ta hãy thêm,! "một người chồng" hoàn toàn hiệp thông với lòng tin của người vợ mình... Ngày nay, tâm lý học hiện đại nhấn mạnh đến khái niệm "đôi lứa", "đồng trách nhiệm". Bất chấp tất cả những cái bề ngoài hờ hợ mà người ta có thể dừng lại, than ôi. Maria và Giuse sống, một cách vượt hẳn thường lệ, một cuộc sống đôi lứa kết hợp một cách phi thường: họ "đối thoại" ở mức độ sâu xa nhất, bằng cách mỗi người đi tìm ý của Thiên Chúa, và bằng cách chấp nhận cùng một thái độ... phải vượt qua những cái nhìn nhân loại đơn giản, để có thể tin tưởng vào một tương lai mà Thiên Chúa mở ra trước mắt họ. Và còn điều này, bất chấp "cơn khủng hoảng", một lúc nào đó một chuyện không thể tiên liệu được đã tạo ra giữa họ. Như vậy trong cuộc sống chúng ta, có thể xảy ra một tình huống bắt buộc,bất ngờ, mà khi đó dường như Thiên Chúa đến phá vỡ những dự tính của chúng ta, tức là, trong thực tế, kêu gọi ta tiếp nhận ý chí mới của Thiên Chúa... Nhưng đó là trong đêm tối đức tin... như trong một giấc chiêm bao ban đêm.

Ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ. Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ: Nây đây, Trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuen, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

Hai từ này là cả một nền thần học: Thiên Chúa cứu độ Thiên Chúa ở cùng chúng ta... Giuse, lúc này, chỉ muốn có tên thứ nhất, "Giêsu-Thiên-Chúa-cứu-độ". Và chính Đức Giêsu Phục sinh sẽ đảm nhận tên thứ hai hàm nghĩa Sê-mít ở cuối sách Tin Mừng: "Còn tôi, tôi ở với các ông mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28,20). Con trẻ mà tôi sắp mừng lễ ngày Giáng sinh, con trẻ ấy có đúng là Giêsu kia không? Tôi có đón nhận người như Đấng giải thoát tôi khỏi tội lỗi của tôi không? Tôi có đón nhận dấu chỉ nhiệm tích của người không?

Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dậy và đón vợ về nhà, ông không ăn ở với bà cho đến khi bà sinh một con trai, và ông đặt tên cho con trẻ là Giêsu..

Cuối cùng bây giờ, chúng ta tìm thấy lại cái dự tính đôi lứa muốn hình thành lúc đầu câu truyện ("Maria thuận cưới Giuse")... dự tính này, trong khoảnh khắc bị tan vỡ do tình huống đã gây ra khủng hoảng…và bây giờ thành hìn (nhưng khác hẳn với dự kiến ("không có quan hệ vợ chồng"), ông ấy chẳng hề biết bà ấy"). Bản văn có một sự sáng tỏ làm lóa mắt, giống như tất cả những gì thuộc về thần linh: Giuse. nhờ quyết định của Thiên Chúa được đồng thuận tự do trong đức tin, đón nhận một chức năng làm cha đích thực mà không có quan hệ xác thịt. Tôi tưởng tượng thấy điều đó, sung sướng, hồ hởi. Tất cả chuyện đó là huyền nhiệm, như Thiên Chúa là huyền nhiệm, cũng như "Phục sinh", như "Thánh Thể" đều là huyền nhiệm.

 
Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

" Chúa Giêsu sinh ra bởi Đức Maria,

đính hôn với Thánh Giuse con vua Đavít"

 
Mt 1, 18 - 24

I/ Ý CHÍNH:

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại hoàn cảnh giáng sinh của Chúa Giêsu để giới thiệu vai trò của ba Đấng:

Giuse là cha nuôi Chúa Giêsu để xác định Chúa Giêsu thuộc dòng tộc vua Đavít.

Maria sinh hạ Chúa Giêsu mà vẫn còn trinh khiết.

Chúa Giêsu là Thiên Chúa sinh xuống làm người để cứu chuộc nhân loại.

II/ SUY NIỆM:

1) " Chúa Giêsu giáng sinh trong hoàn cảnh sau đây":

Câu mở đâu này xác định nội dung của trình thuật là kể lại hoàn cảnh Chúa Giêsu giáng sinh để giới thiệu về vai trò của Chúa Giêsu, Đức Maria và thánh Giuse trong chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa.

2) " Mẹ Người là Maria đính hôn với Giuse...":

Ơ đây giới thiệu vai trò của Đức Maria.

* Mẹ Người là Maria: giới thiệu Maria là mẹ của Chúa Giêsu, vì bà đã mang thai và sinh hạ Chúa Giêsu.

* Đính hôn với Giuse: việc đính hôn theo phong tục Do thái có những hậu quả pháp lý như sau:

+ Vị hôn thê bất trung cũng bị ném đá như người vợ có tội.

+ Khi vị hôn phu chết, thì vị hôn thê được coi như góa phu.

+ Con cái thụ thai trong thời kỳ đính hôn được coi như con chính thức.

+ Vị hôn thê cũng như người vợ chính thức chỉ có thể bỏ nhau bằng tờ ly dị.

Trường hợp này Đức Maria thụ thai trong thời kỳ đính hôn, bởi phép Chúa Thánh Thần. Trình thuật ghi việc Đức Maria thụ thai trong thời kỳ đính hôn với Giuse, trước khi về chung sống với nhau, để nói lên tính cách pháp lý giữa Đức Maria với thánh Giuse, và do đó cũng nói lên tính cách pháp lý của Chúa Giêsu. Là con bác thợ mộc, mặc dù Người đã đầu thai bởi Chúa Thánh Thần.

* Trước khi về chung sống với nhau: câu này có ý xác thực việc Chúa Giêsu chịu thai không phải do thánh Giuse, nhưng bởi Chúa Thánh Thần.

3) " Giuse bạn của bà là người công chính...":

Ơ đây giới thiệu vai trò của Giuse đối với Đức Maria và Chúa Giêsu:

Giuse là người công chính.

* Sự công chính ở đây không có ý nghĩa là Giuse đã vâng lời lề luật hay vì ông nhân hậu đối với người có tội, nhưng sự công chính này có tính cách tôn giáo, nghĩa là đòi hỏi ông tôn trọng công trình của Thiên Chúa nơi Đức Maria, vì thế ông đã thầm nghĩ rằng ông không được quyền đem về nhà một kẻ mà Thiên Chúa đã dành riêng cho Ngài. Vì thế, trước mầu nhiệm Thiên Chúa thực hiện nơi Đức Maria như vậy, Giuse muốn rút lui: " Định tâm lìa bỏ bà cách kính đáo".

* Phản ứng này của Giuse cũng như hết thảy mọi kẻ công chính trong Thánh Kinh trướv việc Thiên Chúa can thiệp vào đời họ:

+ Như Maisen cởi giầy trước bụi gai rực sáng ( Xh 3, 1 - 12).

+ Như Isaia khiếp đảm trước sự xuất hiện của vị Thiên Chúa ba lần thánh ( Is6).

+ Như Êlizabeth tự hỏi tại sao mình được Mẹ Thiên Chúa tới viếng thăm ( Lc1, 39 - 45).

+ Như Phêrô cúi mình thưa: " Lạy Chúa xin hãy xa con vì con là kẻ có tội" ( Lc5, 8).

Vì vậy việc Giuse định tâm bỏ đi không phải vì hồ nghi Đức maria mang thai, cũng không phải vì sợ mang tai tiếng. Nhưng vì ông muốn tôn trọng chương trình của Thiên Chúa đã thực hiện nơi Maria.

4) " Nhưng đang khi định tâm như vậy...":

Giuse chưa kịp thi hành ý định thì Thiên Chúa đã sai Thiên Thần đến trấn an và trao sứ mệnh cho ông:

* Maria mang thai bởi phép Chúa Thánh Thần: điều này muốn chứng tỏ Guise không tham dự gì đến việc Đức Maria mang thai Chúa Giêsu.

* Giuse đặt tên con trẻ là Giêsu: việc đặt tên này nói lên vai trò làm cha trước pháp luật vì theo phong tục bấy giờ chỉ có cha mẹ mới có quyền đặt tên cho con mình. Vì Giuse con vua Đavít, nên con trẻ Giêsu cũng thuộc dòng tộc Đavít.

* Tên " Giêsu ": chỉ định chức vụ mà Thiên Chúa đã đặt cho trong lịch sử cứu độ và có nghĩa là " Giavê cứu độ". Câu tiếp theo " Vì chính Người sẽ dân mình cho khỏi tội" chính là lời giải nghĩa chữ Giêsu. " Dân mình" là Giáo Hội. Israel mới đích thực. " Khỏi tội lỗi" kiểu nói là âm hưởng của Thánh vịnh Salômôn 17 hy vọng rằng: con vua Đavít sẽ quy tụ dân Người, thanh tẩy và thánh hóa họ.

5) " tất cả sự kiện này được thực hiện...":

Tất cả những sự kiện mà sứ thần vừa nói cho Giuse đều xác thực và đồng thời cũng chứng mình rằng chính Thiên Chúa đã điều khiển lịch sử cứu rỗi và vì vậy các thực tại Tân ước mới là đích điểm mà là sự viên mãn của Cựu ước.

* " Này đây một Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh một con trai": sứ ngôn Isaia muốn minh chứng Đức Maria thụ thai và sinh con mà vẫn đồng trinh.

* " Emmanuel": ở đây không có ý đặt một tên nữa nhưng nói lên ý nghĩa việc Ngôi Hai xuống thế làm Người, Người không chỉ hiện diện mà thôi, mà còn hiện diện giữa dân Người để tích cực cứu giúp, và vì vậy, ở đây muốn nêu lên: " Thiên Chúa đã hiện diện tích cực với nhân loại trong con người Đức Giêsu". Sau lời hứa long trọng của Chúa Giêsu vinh hiển " Ta sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế" ( Mt28, 20) đã đánh dấu việc thể hoàn toàn lời loan báo trên.

6) " Khi thức dậy, Giuse đã thực hiện như lời Thiên thần truyền":

Sau khi được Thánh Thần báo mộng, Giuse không còn thụ động nữa ông tỉnh giấc và tuân hành lời Thánh Thần truyền.

Giuse đã mau mắn thi hành mọi mệnh lệnh của Thiên Chúa liên quan đến Con Thiên Chúa xuống thế làm người, qua việc Ngài làm bạn với Đức Maria và cha nuôi Chúa Giêsu.

* " Không ăn ở với nhau cho tới khi Maria sinh con":

Kiểu nói " Cho tới khi" chỉ có ý tạo một việc hay một trạng thái đã có sẵn khi việc khác xảy ra, chứ không đặt giới hạn cho công việc tới đây là hết, hoặc sau đó việc lại khác đi. Kiểu nói này cũng thường được dùng trong Thánh Kinh:

+ Tv 59, 1: " Con hãy ngồi bên hữu Cha cho tới lức Cha đặt kẻ thù làm bện chân Con".

+ Ga 6, 7; 1Cr 15, 25; 1Tm4, 13.

+ Con đầu lòng: Thánh Kinh thường dùng kiểu nói này để chỉ người con sinh ra trước hết, dầu sau đó có con khác hay không cũng vậy ( Ga 17, 1).

Trong xã hội Do thái, đây cũng là kiểu nói thông thường để chỉ quyền lợi và nghĩa vụ của người được sinh ra trước tiên. Người con trai đều thuộc về Thiên Chúa, phải được dâng hiến cho Thiên Chúa ( Xh 13, 2. 34, 19; Lc2, 22). Vì vậy gọi Chúa Giêsu là con đầu lòng, thì không có nghĩa là Đức maria còn sinh người con nào khác nữa.

III/ ÁP DỤNG:

A/ Áp dụng theo Tin Mừng:

Bài Tin Mừng hôm nay được đặt vào ngay gần kề ngày mừng lễ Chúa giáng sinh Giáo Hội muốn mời gọi chúng ta chiêm ngắm hoàn cảnh Chúa Giêsu để nhận ra đó là công việc của Thiên Chúa được thực hiện nơi thánh Giuse, Đức Maria và Chúa Giêsu. Nhờ vậy chúng ta cảm thấy được cách sâu xa của Thiên Chúa, qua Chúa Giêsu Kitô, hiện diện giữa chúng ta để cứu độ chúng ta.

B / Áp dụng thực hành:

1/ Nhìn vào Chúa Giêsu:

* Chúa Giêsu có thể đích thân thực hiện mọi chi tiết trong chương trình cứu độ, những Ngài đã muốn nhờ con người như Maria làm mẹ và thánh Giuse làm cha nuôi và nhờ Giáo Hội cùng với chúng ta để tiếp tục thực hiện công cuộc cứu chuộc của Ngài. Được Thiên Chúa sử dụng trong công việc tông đồ, truyền giáo, chúng ta hãy nỗ lực và cố gắng thực hiện như là một hồng phúc Chúa ban cho ta.

* Chúa Giêsu thuộc hoàng tộc Đavít: chúng ta cũng thuộc hoàng tộc nhờ phép rửa tội ( 1Pl 2, 9 - 10; HCGH 9).

2) Nhìn vào Đức Maria:

* Đức Maria cưu mang Chúa Giêsu trong cung lòng nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần, để nhờ đó Ngài sinh hạ Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế cho nhân loại. Chúng ta, nhờ các phép Bí tích, nhất là Bí tích Thánh Thể nhận lãnh Chúa Giêsu vào cuộc sống để nhờ đó chúng ta cũng thể hiện sức sống của Chúa qua cuộc sống của mình cho tha nhân.

* Đức maria cưu mang Chúa cứu thế trong cung lòng, làm mẹ Thiên Chúa, nhưng Ngài vẫn sống âm thầm khó nghèo và khiêm nhường noi gương Mẹ Maria, chúng ta cũng phải khiêm nhường âm thầm và khó nghèo mỗi khi được đặc ân Chúa ban cách này hay cách khác.

3) Nhìn vào thánh Giuse:

* Giuse công chính vì ngài biết thánh ý Thiên Chúa. Chúng ta muốn là người công chính, cũng phải tôn trọng thánh ý Thiên Chúa nơi bản thân, tha nhân và hoàn cảnh sống...

* Chúng ta cũng có một vai trò trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, nhưng có thể là một vai trò âm thầm như Giuse.

Lm Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc - Bài Giảng Lễ

"Emmanuel: Thiên- Chúa- Ở- Cùng- Chúng-Ta"

Is 7,10-14; Rm 1,1-7; Mt 1,18-24

N
gày xưa, có một chú bé Phi Châu tên là Emmanuel. Chú ta luôn tò mò thắc mắc. Ngày nọ, chú hỏi thầy giáo: "Thiên Chúa nói bằng thứ tiếng nào?" Thầy giáo chỉ biết gãi đầu và nói: "Nói thực là thầy không biết". Sau đó Emmanuel đi hỏi các nhà trí thức trong làng cũng như các vùng lân cận: "Thiên Chúa nói bằng thứ tiếng nào?" Nhưng họ cũng chỉ biết lắc đầu mà thôi.

Tuy nhiên, Emmanuel vẫn tin chắc có người biết được điều ấy. Vì thế chú lên đường đến các quốc gia và cả những lục địa khác để tìm hỏi, nhưng ở đâu chú cũng chẳng nhận được câu trả lời. Một đêm nọ sau khi bị kiệt sức vì đi quá nhiều nơi, Emmanuel đến được một ngôi làng có tên là Bêlem. Chú cố tìm một chỗ nghỉ đêm trong các nhà trọ, nhưng tất cả các nơi đều không còn chổ. Vì thế chú quyết định tìm một cái hang ngoài trời để trú đêm. Cuối cùng quá nữa đêm chú mới tìm được một cái hang, nhưng khi bước vào hang, chú nhận ra đã có một đôi vợ chồng và một hài nhi đang trú ngụ. Nhìn thấy chú, bà mẹ trẻ liền nói: "Hân hạnh đón chào Emmanuel, chúng tôi đang mong chờ con".

Chú bé quá sửng sốt: Làm sao bà này biết tên mình? Và chú càng ngạc nhiên hơn khi nghe bà ấy nói: "Đã từ lâu, con đi tìm kiếm khắp thế giới để hỏi xem Thiên Chúa nói bằng thứ tiếng nào. Giờ đây cuộc hành trình của con kể như đã đến đích. Đêm nay chính mắt con đã thấy được Thiên Chúa nói bằng thứ tiếng nào. Ngài nói bằng "ngôn ngữ của tình yêu" - "Thiên Chúa đã quá yêu thương thế gian đến nỗi đã ban cho thế gian chính Con Một của Ngài" (Ga 3,16).

Trái tim Emmanuel trào dâng niềm xúc động, chú vội quì gối xuống trước Hài nhi và mừng rỡ khóc lên. Giờ đây chú đã biết rằng Thiên Chúa nói bằng thứ tiếng của tình yêu, thứ tiếng mà mọi người thuộc bất cứ dân tộc hay thời đại nào cũng đều có thể hiểu được. Và thế là Emmanuel ở lại đó vài ngày để giúp đỡ Đức Maria và Thánh Giuse. Sau đó đến lúc chú phải chia tay để đi loan báo cho mọi người Tin Mừng về ngôn ngữ Chúa dùng: "Thiên Chúa nói bằng thứ tiếng của tình yêu".

Lủi thủi một mình, Emmanuel vừa rảo bước vừa suy nghĩ: "Nếu tôi muốn kể cho mọi người biết Thiên Chúa dùng thứ tiếng nào để nói, thì chính tôi cũng phải nói bằng thứ tiếng Chúa nói, tức ngôn ngữ của tình yêu. Bởi vì đó chính là thứ tiếng nói duy nhất mà mọi người trên thế giới đều hiểu được".

Thưa anh chị em,

"Thiên Chúa là Tình Yêu" (1Ga 4,8). Khi trao ban cho thế gian Con Một của Ngài, Thiên Chúa đã muốn dạy cho mọi người nói chung một thứ ngôn ngữ tức là ngôn ngữ của tình yêu. Chính vì thế mà Ngài đã mang tên gọi là EMMANUEL, nghĩa là "Thiên-Chúa-ở-cùng- chúng-ta", tên gọi được báo trước qua lời Ngôn sứ Isaia cũng như qua lời thiên sứ báo tin cho ông Giuse: "Này đây, Trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta". Ngài đến ở cùng chúng ta để làm gì, nếu không phải là để nói cho chúng ta về tình yêu vô biên của Thiên Chúa bằng cả cuộc sống yêu thương đến tột cùng của Ngài, từ lúc sinh ra trong hang đá Bêlem đến cái chết treo trên thập giá. Đó là tất cả tiếng nói của tình yêu Thiên Chúa.

Thiên Chúa yêu thương chúng ta, nên đã làm người như chúng ta. Ngài đã đến tận nơi chúng ta sinh sống, trong nhà, trong làng mạc, trong xứ sở, trên trái đất của chúng ta, để gặp gỡ chúng ta trong chính cuộc đời của chúng ta, để chung sống, đồng hành, chia sẻ cuộc đời với chúng ta. Ngài là Thiên Chúa, nhưng đã trở thành anh em với nhân loại. Ngài đã nhập cuộc liên đới với toàn thể nhân loại để đưa cả loài người chúng ta lên với Thiên Chúa.

Hơn nữa, Ngài còn muốn làm người nghèo giữa những người nghèo khổ, bị áp bức và bỏ rơi. Ngài muốn cho ngày giáng sinh trở thành ngày trời đất giao hòa, để cho Thiên Chúa và loài người gặp gỡ yêu thương, cho hòa bình chớm nở trên trái đất. Ngài muốn cho ngày giáng sinh trở thành ngày Đấng Tối Cao xa lạ trở thành thân quen, thành bạn hữu của loài người, để kêu gọi loài người hãy nhận nhau là anh em, là bạn hữu. Ngài muốn cho ngày giáng sinh trở thành ngày Đấng giàu sang khôn sánh trở thành người nghèo khó, để cho người nghèo khó nhất cũng được trở nên ngang hàng với Con Thiên Chúa. Và như vậy để loài người biết yêu thương và tôn trọng người nghèo, như yêu thương và kính trọng chính Thiên Chúa.

Vì vậy, thưa anh chị em,

Vấn đề quan trọng không phải là ăn lễ Giáng sinh hay là mừng lễ Giáng sinh, cho dù là sốt sắng đến đâu đi nữa, mà là hiểu, sống và thực hiện bài học Giáng sinh: đó là cùng với Chúa nhập cuộc liên đới với những người anh em nghèo hèn trong nhân loại. Và một khi chúng ta biết mở rộng tâm hồn đón tiếp và yêu thương những ai bé nhỏ, khó hèn, coi họ ngang hàng với Con Một Thiên Chúa, thì khi ấy, chính tâm hồn chúng ta sẽ trở thành hang đá Bêlem, và ánh sao Noel sẽ bừng lên trong ánh mắt chúng ta.

Anh chị em thân mến,

EMMANUEL, Thiên Chúa đã làm người và ở cùng chúng ta. Ngài đã nói với loài người chúng ta bằng ngôn ngữ của tình yêu và Ngài muốn dạy cho mọi người nói chung một ngôn ngữ của tình yêu này. Ngài còn biết rằng một khi người ta bắt đầu nói bằng ngôn ngữ của tình yêu thì những điều kỳ diệu sẽ lập tức xuất hiện khắp nơi: các quốc gia sẽ chia sẻ nguồn lợi và tài nguyên cho nhau, mọi chủng tộc sẽ tôn trọng nhau, mọi gia đình sẽ hòa thuận thương yêu nhau, khắp nơi mọi người sẽ xiết chặt tay nhau trong tình thân hữu. Và như thế, "Vinh quang Thiên Chúa trên trời, hòa bình dưới thế cho loài người Chúa yêu".

 
Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng - Bài Giảng Lễ

CHÚA GIÊSU, THIÊN CHÚA Ở GIỮA CHÚNG TA

 
Chúng ta đang tiến gần đến lễ Noel. Noel, một từ cổ của tiếng Pháp có nguồn gốc Latin (natalis) có nghĩa là 'sinh ra', nói đến chính ngày sinh của Chúa Giêsu Kitô: Đây là biến cố trung tâm của lịch sử Cứu độ và của toàn bộ lịch sử nhân loại. Ngày sinh của Chúa Giêsu mang một ý nghĩa rất quan trọng, đó chính là ngày Thiên Chúa thực hiện lời hứa như Tiên tri Isaia đã loan báo: Này đây một Trinh Nữ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

Thiên Chúa trong con người của Con Một Ngài là Chúa Giêsu Kitô đã làm người để chia sẻ thân phận con người phải chết với nhân loại, để nhân loại được chia sẻ bản tính Thần linh với Thiên Chúa.

I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

1. Bài đọc I: Is 7,10-16

Dấu chỉ Emmanuel

Để thúc đẩy vua Achaz đặt niềm tín thác vào Thiên Chúa hơn là dựa vào sức mạnh của liên minh quân sự, Tiên tri Isaia đã cho ông một dấu chỉ nói lên ý muốn của Thiên Chúa sẽ yêu thương hiện diện với dân và cứu thoát dân tộc.

a. Bị tranh chấp trong nội bộ vương quốc, bị đe dọa bởi các dân láng giềng, Vua Achaz nghĩ đến việc nhờ người Assyriens giúp đỡ. Tiên tri Isaia đã khuyên can ông không nên làm thế.

b. Vì không nghe theo lời khuyên khôn ngoan của tiên tri, vua Achaz sẽ bị trừng phạt và vương quốc của ông bị tàn phá. Nhưng vì lòng thương xót, Thiên Chúa sẽ ban cho ông một người con trai từ dòng dõi ông, chính người con này sẽ là người giải phóng dân tộc.

c. Người con này là Ezéchiaz, một vị vua tuyệt vời. Ông là hình ảnh của Đấng Messia và mẹ ông là hình ảnh của Đức Trinh Nữ Maria. Đây là những dấu chỉ để hướng tới việc chuẩn bị chờ đón Đấng Cứu Thế là Chúa Giêsu Kitô là Đấng Emmanuel đích thực.

2. Bài đọc II: Rm 1,1-7

Lời loan báo về ơn Cứu độ nơi Đức Giêsu,

Con Thiên Chúa, Con Vua Đavít.

Bản văn được trích đọc này khởi đầu lá thư dài của Thánh Phaolô gửi tín hữu Rôma. Văn phong của bản văn như là một cách chào hỏi của tác giả. Thánh nhân nhấn mạnh đến sứ điệp Tin mừng mà Ngài đã lãnh nhận, sứ điệp này mạc khải về Đức Giêsu Kitô con vua Đavít, Người chính là Đấng Messia.

a. Thánh Phaolô được vinh quang và danh dự không phải do công trạng gì cả mà chỉ do được chọn gọi để công bố sứ điệp Tin mừng. Đó chính là điều làm nên phẩm giá của người môn đệ và trách vụ của người Tông đồ.

b. Sứ điệp Tin mừng này cho thấy phẩm giá cao quí của Đức Kitô, Con Thiên Chúa. Người đã làm người thuộc dòng dõi vua Đavít theo xác thịt, là con người thật; là Con Thiên Chúa theo Thánh Thần.

c. Trong thời gian mùa Vọng này, chúng ta hãy cảm nghiệm hơn nữa ân sủng cao quý vô song mà Thiên Chúa đã trao ban cho chúng ta qua Mầu nhiệm Nhập thể: Con Một của Ngài đã làm người ở giữa chúng ta đã mang lại thân phận con người như chúng ta ngoại trừ tội lỗi.

3. Tin mừng: Mt 1,18-24

Vai trò cao trọng của Thánh Giuse

Tin mừng hôm nay cho thấy vai trò cao trọng của Thánh Giuse được chọn làm cha của Chúa Giêsu theo luật pháp, Con Một Thiên Chúa, đã nhập thể trong cung lòng Trinh Nữ Maria nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần. Với vai trò này, Thánh Giuse đã cộng tác cách đặc biệt với Thiên Chúa trong công trình cứu độ của Ngài.

a. Giuse, người công chính: Sự công chính của Thánh Giuse không thể hiểu đơn giản là sự công chính theo lề luật mà là sự công chính tôn giáo. Ngài là người công chính vì tôn trọng công trình của Thiên Chúa nơi Đức Maria, Ngài thấy mình không có quyền dành lấy người mà Thiên Chúa đã dành riêng. Và cũng vì tế nhị nên cẩn thận không tiết lộ mầu nhiệm thần linh nơi Đức Maria. Thánh Giuse phản ứng như bao người công chính khác trong Thánh kinh trước Thiên Chúa: Môisen cởi giày trước bụi gai bốc cháy, Phêrô sợ hãi trước mẻ cá lạ phải thốt lên: "Lạy Chúa, xin hãy trách xa con vì con là người tội lỗi".

b. Sau khi được thiên sứ báo mộng, Thánh Giuse không còn thụ động nữa, Ngài đã trỗi dậy thực hiện lệnh truyền của Thiên Chúa. Chính hành động này làm cho Ngài trở nên một thành viên tích cực trong công trình cứu độ của Thiên Chúa, nên người công chính.

c. Emmanuel: Matthêu đã nhắc lại lời tiên báo của Isaia 7,14 để minh chứng rằng Chúa Giêsu chính là Đấng đã được các tiên tri loan báo. Lời Thiên Chúa hứa thuở xưa nay đã được thực hiện. Chúa Giêsu Con Một Thiên Chúa đã đến làm người ở giữa nhân loại để ban ơn Cứu độ.

II. GỢI Ý BÀI GIẢNG

1. Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta, nơi Chúa Giêsu lời hứa đã thành hiện thực:

Thiên Chúa ở cùng chúng ta là để yêu thương và ban ơn cứu độ. Điều này đã được Chúa Giêsu thực hiện cách trọn vẹn. Mátthêu trong trình thuật hôm nay đã trích dẫn lời Tiên tri Isaia ngày trước để minh chứng Chúa Giêsu đã nhập thể trong cung lòng Trinh Nữ Maria chính là để thực hiện lời hứa mà Thiên Chúa đã hứa qua miệng Tiên tri Isaia. Ở phần cuối Tin mừng thứ nhất này, Mátthêu cũng ghi lại lời hứa của Chúa Giêsu với các môn đệ: Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế (Mt 28,20). Như thế, Tin mừng theo Thánh Mátthêu đã khởi đầu và kết thúc với tư tưởng xuyên suốt: Thiên Chúa đã ở cùng nhân loại nơi con người Chúa Giêsu Kitô.

Ngày nay chúng ta sống là sống trong Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta có Người đồng hành, có Người hướng dẫn, có Người sẻ chia cuộc sống. Thế thì tất cả cuộc sống của chúng ta có sống và làm nhờ Người, với Người và trong Người không?

2. Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta, cần phải biết đón nhận Ngài:

Thánh Giuse là người công chính vì đã âm thầm từ chối coi mình là cha đứa trẻ mà Ngài biết là Con Thiên Chúa, Ngài sợ mang tiếng là người chiếm đoạt vai trò mà Chúa không ủy thác. Thế nhưng, một khi đã biết ý định của Thiên Chúa mời gọi tham dự vào chương trình của Thiên Chúa, Ngài không từ chối. Như vậy sự công chính của Thánh Giuse chính là biết tôn trọng và nghe theo Chúa. Giuse đã đón nhận Chúa Giêsu. Đến lượt mỗi người chúng ta cũng phải biết nghe và đón nhận Chúa đến trong cuộc đời, trong gia đình mình. Chúa đang hiện diện với chúng ta, điều quan trọng là mỗi người có biết đón Chúa hay không.

Ngày nay, tin vào sự hiện diện của Chúa trong Kinh thánh, trong Bí tích Thánh thể xem ra dễ dàng hơn việc Thánh Giuse tin rằng con trẻ mà hôn thê của mình đang mang là Con Thiên Chúa. Chúa đã đến với nhân loại, Ngài đang hiện diện sống động nơi Giáo hội, nơi Lời của Ngài, nơi anh chị em nghèo khổ … Kitô hữu hôm nay có biết đón tiếp Ngài không?

3. Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta, nguồn hạnh phúc cho con người:

Thiên Chúa đến ở với nhân loại chính vì yêu thương và ban tặng hạnh phúc cho nhân loại. Ngay từ khi tạo dựng con người, Thiên Chúa đã tạo dựng vì yêu và vì muốn ở với con người. Trước khi sa ngã, Thiên Chúa vẫn luôn đến với con người. Chỉ vì sa ngã phạm tội mà con người đã từ chối Thiên Chúa mà thôi. Với sự hiện diện của Chúa Giêsu giữa lòng nhân thế để ban ơn Cứu độ, Thiên Chúa muốn tái lập lại tình trạng hạnh phúc cho con người. Ở đâu có Thiên Chúa, ở đó có bình an, hoan lạc và tình yêu.

Thực ra cảm nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa mang lại niềm vui và hạnh phúc không phải là điều dễ dàng. Cần phải tin, cần phải chuyên cần cầu nguyện và cần phải gắn bó với Chúa luôn trong Mầu nhiệm Thánh thể mới có khả năng cảm nghiệm được hạnh phúc có Chúa trong cuộc đời. "Có Chúa trong cuộc đời nỗi sướng vui tuyệt vời" là lời hát phải bật lên từ toàn bộ tâm khảm, toàn bộ con người trung thành với niềm tin.

4. Dẫn vào Phụng vụ Thánh thể:

Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Chúa Giêsu đã đến để thực hiện lời hứa này của Thiên Chúa Cha. Nơi Bí tích Thánh thể, Chúa Giêsu vẫn đang hiện diện sống động với nhân loại hôm nay. Chúng ta cùng tiến đến Bàn tiệc Thánh thể để đón tiếp Người vào trong cuộc đời, trong gia đình chúng ta.

III. LỜI NGUYỆN TÍN HỮU:

Mở đầu: Anh chị em thân mến, Thiên Chúa đã yêu thương đến ở với chúng ta để mang lại hạnh phúc cho nhân loại. Chúng ta cùng hân hoan chạy đến cầu xin với Ngài.

1. Giáo hội, Nhiệm thể của Chúa Giêsu chính là nơi con người và thế giới gặp gỡ với Thiên Chúa. Chúng ta cùng cầu nguyện cho Giáo hội luôn biết đồng hành với nhân loại để thực sự chia sẻ mọi nỗi vui mừng và âu lo để làm cho thế giới hôm nay ngày càng có hòa bình, công lý và hạnh phúc hơn.

2. Ngày nay có nhiều người, nhiều nơi chưa nhận biết Chúa mặc dù Ngài vẫn hiện diện. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người nhất là những người nghèo khổ bất hạnh, những bệnh nhân luôn nhận ra sự hiện diện đầy tình yêu của Thiên Chúa qua lòng bác ái quảng đại của mọi anh chị em Kitô hữu.

3. Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người, mọi gia đình trong cộng đoàn chúng ta biết mở lòng đón Chúa bằng thái độ chân thành sống và thực thi Lời Chúa; bằng lòng yêu mến Thánh thể nhiệt tâm.

Lời kết: Lạy Thiên Chúa là tình yêu, chúng con cảm tạ Chúa đã yêu thương ban Chúa Giêsu, Con Một của Chúa đến làm người ở giữa chúng con. Xin ban ơn giúp chúng con biết mở lòng đón nhận Người qua việc yêu mến Lời Người và chuẩn bị tâm hồn xứng đáng đón nhận Mình Máu Thánh Người. Người là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.

Hành Trang Mục Vụ - Khoá 10 ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn