Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật Tuần XII Thường Niên B

Giáo huấn bằng dụ ngôn của Đức Giêsu đã nói lên sự phân biệt rõ ràng giữa hai loại người: Đối với những "người ở ngoài", thì tất cả đều bí hiểm. Còn đối với các "môn đệ", thì mọi sự đều sáng tỏ trong các mặc khải về mầu nhiệm mà "vị Thầy" đã thông tỏ riêng cho họ. 
CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT 12 MÙA THƯỜNG NIÊN - NĂM B


 

Mc 4: 35-41

Học Viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải
 
BÃO TỐ DẸP YÊN (Mc 4: 35-41)

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Trong lúc cảnh này xảy ra trên một cái hồ tương đối nhỏ và hẹp, thì tại sao Marcô (và Mátthêu) lại dùng chữ "biển" (c.c. 39.41)? Phải chăng vì sơ ý? Vì không có một từ ngữ khác hơn để chỉ hồ? Hay vì có một chủ ý biểu tượng?

2. Trình thuật này liên hệ ra sao với Gn 1,3-16?

3. Thử tìm văn mạch của trình thuật?

4. Các từ ngữ "ngày hôm ấy", "chiều đến" phải chăng là những chi tiết thời gian không đáng kể?

5. Có nên kết luận rằng Chúa Giêsu ngủ yên trong cơn bão tố chỉ vì bình tâm hay vì có một sức khỏe vững chắc không?

6. Phải hiểu ra sao tiếng kêu đánh thức của các môn đồ và lời quở trách của Chúa Giêsu?

7. Đâu là hai trọng điểm của trình thuật? Hai trọng điểm này liên kết với nhau ra sao?

Dù tự nó đã sáng sủa và gợi ý rồi, trình thuật bão tố dẹp yên vẫn cần được giải thích nếu muốn thấu triệt tất cả sự phong phú thiêng liêng và thần học của nó. Thật vậy, còn hơn nhiều đoạn văn khác, ở đây cần phải tìm lại thế giới những biểu tượng và những tư tưởng mà trong đó trình thuật đắm chìm vào; tiếp đến, chúng ta sẽ phải phân biệt những điển tích Thánh kinh bao quanh và soi sáng nó; trong giai đoạn cuối cùng, chúng ta mới có thể nắm được tất cả mọi sắc thái của bản trình bày nặng tính cách văn chương và thần học này của Marcô.

I. CHỦ ĐỀ BIỂN TRONG THẾ GIỚI SÊMITA

Trong lúc cảnh này thực sự xảy ra trên một cái hồ, một cái hồ đơn sơ, tương đối nhỏ và hẹp, thì chi tiết "biển" xuất hiện trong đoạn văn chúng ta mà làm chi? Phải chăng chúng ta đang đứng trước một sự vụng về hiển nhiên của các thánh sử? Họ không biết địa hình của hồ Galilê đến độ ấy sao, hay là để mình bị lôi đi bởi một lối phóng đại lố bịch? Trái với Marcô và Mátthêu, Luca chỉ nói đến "hồ cùng nước" mà không nhắc gì tới biển. Phải chăng ông muốn sửa sai, điều chỉnh lại truyền thống Tin mừng? Không hẳn? Hình như Luca, vì ít thấu triệt hơn Marcô và Mátthêu về các lối biểu tượng của người Sêmita và vì ưu tư thích ứng trình thuật với tâm trí độc giả Hy Lạp của ông, nên đã chiều theo một não trạng Hy Lạp. Nếu Marcô trái lại, đã duy trì chủ đề "biển" với tất cả sự phong phú của nó, thì chúng ta, trước khi nghiên cứu cái gì khác về đoạn này, cần phải đi vào trong thế giới biểu tượng ấy của người Sêmita và tra cứu toàn bộ nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa tượng trưng, nghĩa tôn giáo mà, cùng với những hòa âm và âm hưởng của chúng, đã tô điểm cho chữ "biển" trong não trạng Do Thái đương thời.

Trong ngôn ngữ Hy Bá, mọi diện tích nước, dù là hồ hay biển, đều có chung một tên gọi. Thành thử lấy tiếng thường chỉ biển mà đem áp dụng cho một cái hồ là chuyện tự nhiên. Hơn nữa và nhất là trong óc tưởng tượng của bất cứ người Sêmita nào, đều còn rơi rớt lại những biểu tượng cổ xưa thuộc nặng nền văn minh của họ; chúng ta biết được các biểu tượng này nhờ sáng thế luận của người Babylon và Phênixi, và gặp nhiều vết tích văn chương của chúng trong Thánh kinh. Chắc hẳn các tác giả linh ứng đã cẩn thận dè dặt đối với các thần thoại ngoại giáo ấy: về phương diện này, toàn thể trình thuật Sáng tạo trong Sáng thế 1, đặc biệt là câu 21, câu mô tả việc tạo dựng các loài thủy quái, là một thí dụ tiêu biểu. Tuy nhiên, để hiểu rõ hết mọi ám chỉ của Thánh kinh về biển, vực thẳm, rồng biển, cần phải tham chiếu các sáng thế luận cổ xưa nói trên; các sáng thế luận này mô tả hỗn mang nguyên thủy như một vực nước nhấn chìm tất cả và mô tả sự sáng tạo như là cuộc hỗn chiến giữa các thần minh chống lại những con rồng ngoi lên từ biển hay được đồng hóa với biển. Bấy giờ, ta mới bắt đầu thấu triệt tất cả tầm quan trọng và ý nghĩa của nước được đề cập trong St 1,2 với tohu-bohu (phần đầu của từ ngữ này có lẽ ám chỉ Ti'iamat, biển được nhân cách hóa của người Babylon), ta mới hiểu được hành động sáng tạo Thiên Chúa thi thố trên biển cả (St 1,6-10), ta mới thoáng thấy ý nghĩa tôn giáo của những loài thủy quái được đề cập dưới cái tên Lêviathan (Is 27,1; Tv 74,13-14), Rahab (Is 30,7; 51,9-10; Tv 87,4; 89,10-11; G 9,13; 26,12-13) hoặc chỉ được mô tả như những con rồng (G 7,12; ét LXX 1,4-10; Đn 7; Kh 12,13), ta mới hiểu được sự "khắt khe" của sách Khải huyền đối với biển: song song với tử thần và âm phủ, biển phải biến mất để nhường chỗ cho tạo vật mới: "Biển đã trả lại nhường người chết lặng nó; tử thần và âm phủ hoàn lại những người chết chúng giam giữ.. và tôi đã thấy một trời mới và một đất mới; vì trời cũ và đất cũ đã biến mất, và biển không còn nữa " (Kh 20,13-21,1).

Như vậy, từ đầu đến cuối Thánh kinh, biển cả được trình bày như một hỗn mang từ đó phát sinh những quyền lực chống lại Thiên Chúa và con người. Để sáng tạo và tái tạo thế giới, trước tiên cần phải chiến thắng và chế ngự yếu tố này đã. Thế mà chiến thắng này vượt quá tất cả sức mạnh nhân loại; chỉ có quyền lực sáng tạo của Thiên Chúa mới có thể bắt ba đào hung hãn phải tuân nghe và cứu con người ra khỏi cơn bão tố:

Họ nhô lên tận trời, nhào xuống vực sâu,

Lúc nguy hiểm, hồn bay phách lạc.

Bị quay cuồng, lảo đảo như say,

Khéo cùng khôn, đã chìm đâu mất.

Khi gặp bước ngặt nghèo,

Họ kêu lên cùng Chúa,

Ngài ra tay cứu khổ,

Thoát ngàn nỗi gian truân,

Đổi phong ba thành gió thoảng nhẹ nhàng,

Sông đang gầm bỗng đâu im tiếng.

Họ vui sướng vì trời yên bể lặng

và Chúa dẫn đưa về bến mong chờ (Tv 107,26-30).

Qua mối lo âu và lời cầu nguyện này của một dân tộc rõ ràng kinh hãi biển cả, phải đoán ra nỗi sợ sệt của họ trước mọi mãnh lực thù nghịch với con người cũng như niềm tin tưởng trọn vẹn của họ vào Thiên Chúa tạo hóa và cứu tinh. Mấy chỉ dẫn ngắn ngủi trên đây đủ giúp chúng ta tái lập tất cả những gì mà chủ đề biển có thể đã gợi lên như hình ảnh, ý tưởng và tâm tình trong tâm trí của các thánh sử. Như thế, trình thuật bão tố dẹp yên của chúng ta, thay vì xuất hiện như một câu chuyện giữa bao câu chuyện tường thuật lại một trong nhiều phép lạ của Chúa Giêsu, thì lại mặc một ý nghĩa hết sức đặc thù: theo cách của Marcô, khi nhấn mạnh ba lần đến tầm mức của cơn bão tố, của sự yên lặng và của nỗi sợ hãi, là ông muốn làm nổi bật sự lớn lao khác thường của biến cố đó; chắc chắn trong tâm trí các sứ đồ và các thánh sử, cử chỉ này của Chúa Giêsu đã được hiểu và được ghi lại như một biểu dương quyền lực sáng tạo và tái tạo. Thật vậy, cuộc chiến chống hỗn mang, chống biển cả và vực thẳm, cuộc chiến thắng trên các quyền lực sự ác trú ngụ trong nước, tất cả những điều này thuộc về hành động sáng tạo và cứu rỗi của Thiên Chúa. Ở đây tự mặc khải Chúa Kitô, Đấng sáng tạo, người Con đến thăm vườn nho Cha mình (Mc 12,1-12), Đấng Messia hành động với tư cách chúa tể tối cao trong đền thờ vũ trụ (Mc 11,15-17), hình ảnh của Thiên Chúa vô hình mà nhờ đó và trong đó mọi sự được tạo dựng (Cl 1,15tt), Ngôi Lời mà nhờ đó mọi sự đều phát xuất (Ga 1,1tt). Ở đây đã tự mặc khải Con Thiên Chúa, Cứu Chúa của mọi tạo vật (x.Mc 16,15) khi Chúa Giêsu, trong một cử chỉ chắc hẳn là giới hạn, nhưng đã hữu hiệu và mang tính cách tiên tri, uy nghi ra lệnh cho gió và biển. Qua hành vi cứu độ này, Người loan báo, sửa soạn, khai mạc cuộc chiến quyết liệt Người sắp tung ra để đương đầu với quyền lực của sự dữ cùng tử thần. Trong viễn tưởng đó, ta hiểu được tại sao Chúa Giêsu nói với biển bằng chính những lời mà Người thường dùng để chống lại quỷ ma (x. 1,25) và ta cũng hiểu được sự ngạc nhiên của các sứ đồ trước cái cử chỉ có vẻ như một cuộc thần hiện thực sự đó.

II. DẤU CHỈ GIONA

Muốn biết có những tương đồng hiển nhiên giữa trình thuật của chúng ta với đoạn đầu của sách Giona không, thì chỉ cần đọc lại mấy câu Giona ấy:

"Giona... đã gặp được chuyến thuyền đi Tarsis... ông xuống thuyền... Nhưng Giavê đã quẳng xuống biển một cơn gió lớn, và một trận bão lớn xảy đến trên biển. Chiếc thuyền hầu bị tan tành. Thủy thủ sợ hãi. Ai nấy kêu cứu với thần linh của mình... Còn giông, ông đã xuống hầm tàu mà nằm ngủ say như chết. Bấy giờ vị thuyền trưởng lại gần ông mà nói với ông: 'Làm sao ông lại ngủ? Dậy đi chứ! Hãy kêu lên thần linh của ông! Biết đâu thần linh sẽ nghĩ đến chúng ta và chúng ta thoát chết!'... Các thủy thủ sợ, sợ lắm... biển càng lâu càng nổi bão... Bấy giờ họ kêu lên Giavê và nói: ôi! Lạy Giavê, xin đừng để chúng tôi chết... Đoạn họ đem Giôna quăng xuống biển và biển đã lặng, hết giận dữ. Người ta sợ Giavê, sợ lắm…" (Gn 1,3-16).

Chắc hẳn là khi kể lại một cơn bão tố, người ta bắt buộc phải dùng gần như cùng một ngữ vựng; nhưng giữa sách Giona và trình thuật Tin mừng, có quá nhiều điểm tương đồng chính xác nên xem ra khó cho đấy chỉ là một sự trùng hợp giản đơn. Đúng ra người ta có cảm tưởng rằng các thánh sử, khi cho chúng ta nghe câu chuyện bão tố dẹp yên này, đã nghĩ và muốn làm cho ta nghĩ đến Giona! Và cảm tưởng này là đúng sự thật nếu ta nhớ rằng các truyền thống Tin mừng đã minh nhiên so sánh Chúa Giêsu với Giona: "Vì như Giona đã ở trong bụng thủy quái 3 ngày 3 đêm thế nào, thì Con Người cũng sẽ ở trong lòng đất 3 ngày 3 đêm thể ấy" (Mt 12,39-40; x Lc 11,30; Mt 16,4). Như vậy, nhờ những điển tích này, chúng ta trở lại vấn đề cuộc chiến chống quyền lực thần chết của Chúa Kitô, và qua trình thuật chúng ta, thánh sử đã thoáng thấy cơn bão lớn mà vào ngày thứ Sáu Tuần Thánh, sẽ đe dọa vùi chôn Chúa Giêsu ngủ trông cái chết và nơi các sứ đồ bị lung lạc trong đức tin của họ.

III. NIỀM TIN VÀO CHÚA KITÔ, ĐẤNG CHẾ NGỰ BÃO TỐ

Bây giờ chúng ta có thể khảo sát văn mạch và phân tích các sắc thái văn chương lẫn thần học của đoạn văn Marcô, đồng thời thỉnh thoảng so sánh với Mátthêu để được thêm sáng tỏ.

1. Văn mạch

Mátthêu, ngay trước khi ghi lại trình thuật bão tố yên lặng, đã mô tả thái độ do dự của nhiều môn đồ không đủ sức đáp ứng các đòi hỏi của Chúa Kitô (8,19-22). Văn mạch trực tiếp này và nhiều kiểu nói (đặc biệt là động từ "đi theo") chung của hai đoạn văn, rõ ràng cho thấy Mátthêu đã muốn đưa ra ở đây một giáo huấn về đức tin của người môn đồ đặt hết tin tưởng vào Chúa Kitô, khi theo Người trải qua cơn bão tố.

Chắc hẳn văn mạch quá sáng sủa và quá gợi ý này của Mátthêu không thể được gặp ngay lập tức như thế nơi Marcô; nhưng để hiểu tất cả ý nghĩa của giai thoại này trong Tin mừng thứ hai, phải đặt nó vào phần thứ nhất của Tin mừng Marcô (1,4-8,30). Thế mà phần này, được tập trung trên câu hỏi mà mọi người phải đặt ra cho Chúa Giêsu "Ngài là ai?", nhằm mặc khải mầu nhiệm Chúa Giêsu trong sứ mệnh của Người. Trước khi ghi lại thái độ giật nẩy vì cớ vấp phạm của cuộc thương khó (8,31-33), phần nhất đây đã đạt đến cao điểm trong việc Phêrô tuyên xưng Đấng Thiên Sai (8,27-30), nhưng lời tuyên xưng này được chuẩn bị bởi đoạn văn chúng ta là một đoạn chủ yếu trong mặc khải về Chúa Giêsu. Quả thế, lời cảm thán của các môn đồ trong 4,41: "Ông này là ai mà gió và biển đều vâng phục ông", phải được giải thích không như một câu hỏi đơn giản, nhưng là một ngạc nhiên đầy thán phục trước mầu nhiệm Chúa Giêsu, Đấng hành động với một quyền lực của Thiên Chúa.

Tuy nhiên, phần đầu này của Tin mừng Marcô xem ra được chia làm 3 tiết: tiết nhất (1,14-3,7): mô tả việc Chúa Giêsu tìm cách biểu lộ sứ mệnh đích thực của Người trước quần chúng; trong tiết hai (3,8-6,6a): Chúa Giêsu huấn luyện các môn đồ hầu mở rộng sứ mệnh của mình ra; trong tiết ba (6,6b-8,30): Chúa Giêsu, mà cái chết đã được tiên trưng qua cái chết của Gioan Tẩy Giả, nuôi dưỡng nhiều người. Thế mà chính trong tiết hai, đoạn văn chúng ta lại được đặt: giáo huấn bằng dụ ngôn đi trước trình thuật bão tố dẹp yên đã thiết lập một ranh giới rõ rệt giữa những kẻ ở ngoài không hiểu gì hết và các môn đồ, những người được Thầy giải thích các dụ ngôn và mầu nhiệm. Trong trình thuật chúng ta, vốn được trình bày như một dụ ngôn bằng hành động (hãy lưu ý đến tước hiệu "Thầy" mà các sứ đồ gán cho Chúa Giêsu trong 4,38), người môn đồ đích thực giống như mảnh đất tốt đón nhận hạt giống và khát khao tiếp thu mặc khải về mầu nhiệm; ngoài ra, qua mọi hiểm nguy, người môn đồ đó phải tin tưởng theo Thầy.

2. Phân tích đoạn văn

a- Mối lo sợ phải qua bên kia. Cái đập vào mắt ta ngay từ những câu đầu của trình thuật, chính là sự chồng chất nhiều kiểu nói và nhiều hình ảnh tạo nên một bầu khí khủng hoảng và lo sợ. Thành ngữ "ngày ấy" chẳng phải là một công thức không đáng kể, nó gợi lại với Ngày giao tất cả những thảm họa và thử thách vốn sẽ đi trước chiến thắng cánh chung. "Chiều đến", tức là giờ của tăm tối: đối với một tác giả như Marcô vốn hay dùng những hình ảnh và biểu tượng thuộc thị giác để diễn tả ý tưởng của mình, thì chú thích thời gian đó đương nhiên phải có một ý nghĩa thiêng liêng và hiện sinh, cũng vậy, lời mời gọi "qua bờ bên kia" được trình bày một cách bất định và mơ hồ: phải để cho cái động lực vô hạn của lối nói ấy lôi kéo mình đi. Để thấu triệt mọi âm hưởng của hình ảnh này, chỉ cần nghĩ đến thảm kịch tinh thần mà Claudel đã biết dựng lại khi mô tả cuộc mạo hiểm của Christophe Colomb! Cuối cùng, cơn bão lớn của câu 37, những ngọn sóng đập vào thuyền, chiếc thuyền ngập nước: bấy nhiêu chi tiết thị giác ấy góp phần tạo nên một bầu khí thử thách và hiểm nguy. Nhưng, một lần nữa, đừng giản lược nguy hiểm đó thành một tai nạn tầm thường: toàn thể quang cảnh đều xảy ra trên biển, trên vực thẳm nguyên sơ vốn là nơi ẩn núp cho các quyền lực sự dữ. Chúng lay động hầu chôn vùi con người, và cùng với họ chôn vùi luôn Con Thiên Chúa đã đến để cứu thế gian! Nếu ta biết rằng mỗi một đoạn văn Tin mừng, trong giáo lý của Giáo hội sơ khai, đã được nuôi dưỡng và chịu ảnh hưởng bởi những trình thuật tử nạn phục sinh đến độ nào, thì khó mà không thấy in chìm ở đây cơn bão tố thật của ngày thứ Sáu thánh vốn đã ụp xuống trên Chúa Giêsu và các môn đồ Người. Vả lại, trong mọi thời đại, mỗi người đều phải đương đầu với cơn bão đó lúc va chạm những thử thách của cuộc sống và khi, chiều đến, bị đe dọa chôn vùi bởi những quyền lực tử thần lôi kéo họ xuống vực thẳm, họ phải qua bờ bên kia!

b. Giấc ngủ của Chúa Kitô và cái chết của Thiên Chúa. Thế mà trong khi chiếc thuyền và những kẻ trên thuyền bị nguy ngập, thì Chúa Giêsu vẫn nằm ngủ. Tuy Marcô, với một ý thức khác thường về mỗi giây liên kết cái phổ quát với cái cụ thể trong Chúa Kitô, không bao giờ muốn tách ra khỏi lời rao giảng có tính cách thần học của ông những kỷ niệm về cuộc đời Người, thì vẫn không chắc nếu kết luận rằng nhờ bình tâm hoặc nhờ có sức khỏe mà Con Người ấy có thể ngủ yên trong một cơn bão lớn như thế! Đúng hơn phải xem giấc ngủ của Chúa Kitô là một hình ảnh về cái chết của Người hay một biểu tượng về sự vắng mặt thể lý của Người. Thật vậy, các tác giả Thánh kinh, khi bàn về sự chết, thường dùng hạn từ "giấc ngủ". Ví dụ như tác giả Tv 13 đã nài van Giavê: "Xin cho mắt con rạng sáng, kẻo con thiếp ngủ trong tay tử thần" (Tv 13,4) Và trong sách Đanien có lời tiên báo: "Nhiều người trong những kẻ nằm ngủ trong đất bụi sẽ thức dậy..." (Dn 12,2). Tân ước cũng năng lấy lại hình ảnh bóng bảy ấy (1Tx 4, 11t-15; 5,10; Ep 5,14; Ga 11,11-14.; Mc 5,39-41). Nếu chú ý đến phương diện này, thì ở đây chúng ta có một ám chỉ mới về cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Kitô.

Tuy nhiên, chủ đề "giấc ngủ" nơi đây cũng được dùng trong Thánh kinh để diễn tả sự dửng dưng của Thiên Chúa và sự vắng mặt bên ngoài của Ngài. Chẳng hạn tác giả Thánh vịnh bị bỏ rơi đã thử đánh thức Thiên Chúa như sau: "Xin hãy thức dậy, sao còn ngủ nữa, lạy Chúa con? Ngài hãy tỉnh dậy" (Tv 44,24; x. Tv 35,23; 59,6; 78,65). Chỗ khác, ngôn sứ Isaia khi ám chỉ cuộc xuất hành khỏi Ai Cập mà ông mô tả với những biểu tượng sáng thế luận nói trên kia, đã liên kết một cách chí lý quyền năng sáng tạo của Thiên Chúa (đặc biệt là chiến thắng của Ngài trên đại dương, trên hỗn mang nguyên thủy và trên những thủy quái của nó), cùng hành động cứu chuộc của Ngài trong cuộc xuất hành, và sự "thức dậy" lúc này của Ngài:

"Dậy đi! Dậy đi! Hãy mặc lấy uy hùng, hỡi cánh tay của Giavê dậy đi! Như những ngày xưa kia, những thế đại dĩ vãng. Há chẳng phải chính Ngài đã phanh thây Raháp, đâm chết con rồng sao? Há chẳng phải chính Ngài đã tát khô biển cả nước của vực thẳm bao la để biến lòng sâu biển cả thành một con đường hầu những kẻ được chuộc băng qua sao?" (Is 51, 9-10).

Thành thử ta nhận thấy được rằng quan niệm thần học về "giấc ngủ của Thiên Chúa", thay vì nói "cái chết của Thiên Chúa", đã có từ thời Cựu ước kia! Kể ra, đó là một tâm tình và một thái độ hoàn toàn phù hợp với thân phận chung của con người: vì bất lực, ngu dốt, bị tứ bề đe dọa, con người tôn giáo tự nhiên kêu cầu ngay Thiên Chúa; thất vọng vì thấy Thiên Chúa không tỏ mình ra trong các nguyên nhân tự nhiên, họ còn nghĩ rằng Thiên Chúa đã ngủ! Phải chăng sau khi bị lắc lư từ ảo tưởng này sang ảo tưởng khác như thế, con người nên dồn nén những cảm tình tôn giáo để giới hạn hành động của mình vào việc xây dựng một đô thành trần gian?

Thay vì những ảo tưởng, những mối hy vọng hão huyền và những lối giải quyết hạn hẹp trên đây, Kinh thánh nói chung và đặc biệt là bản văn hôm nay, đã cống hiến cho chúng ta một con đường chắc chắn và khó khăn hơn nhiều. Khi lần theo tiến trình mặc khải của Thiên Chúa, phải thanh luyện không ngừng thái độ tôn giáo của ta để đưa nó đến đức tin Kitô giáo chân thực. Hãy xem Môisen, ông đã muốn giam hãm Thiên Chúa trong những giới hạn của các phạm trù khả giác. Với một sự táo bạo có tính cách tôn giáo, biểu lộ lòng khao khát Thiên Chúa mãnh liệt của nhân loại, Môisen đã dám xin Thiên Chúa cho ông được chiêm ngưỡng vinh quang Ngài. Thiên Chúa đã trả lời ông: "Ngươi không thể nhìn thấy nhận ra, vì người phàm không thể nhìn lấy Ta mà còn sống được" (Xh 33,23). Tuy nhiên, lấy tay che chở Môisen, Thiên Chúa chấp nhận đi qua trước mặt ông: "Rồi Ta sẽ cất bàn tay Ta đi và ngươi sẽ nhìn thấy sau lưng Ta, nhưng nhan Ta, ngươi sẽ không nhìn thấy được".

Tương tự như Môisen, và cuối cùng như các sứ đồ trong cơn bão tố, Israel lúc nào cũng ước mong Cứu Chúa của họ đến can thiệp theo cách loài người. Họ đã phải cần biết bao kinh nghiệm, biết bao thử thách mới hiểu được rằng cuộc xuất hành đích thực, việc cứu độ đích thực không phải là sự kiện vượt qua Biển Đỏ cách diệu kỳ, nhưng là cái chết của Chúa Kitô, Đấng xem ra đã bị trời đất từ bỏ.

Trong những điều kiện như thế, có nên nghĩ rằng Thiên Chúa vắng mặt, thiếp ngủ hay đã chết không? Dĩ nhiên là không. Dù hiện diện và hành động hiệu nghiệm hơn một thực tại của thế giới chúng ta, Ngài vẫn ở một mức độ thâm sâu, đến nỗi đà hướng của chúng ta về Ngài phải biến thành niềm tin bằng cách tự thanh tẩy trong mỗi giây phút, thì mới đạt tới Ngài được. Nhưng không phải bất cứ niềm tin nào, mà là niềm tin bám rễ sâu vào Chúa Kitô, nghĩa là niềm tin biết chấp nhận cái chết như Người trước khi đạt đến sự phục sinh. Nói cách khác, ơn cứu độ mà chúng ta tin, không làm cho chúng ta sớm thoát khỏi các thử thách gắn liền với thân phận làm người của chúng ta; nhưng chính qua thế giới và tự do của chúng ta mà chúng ta phải dùng đức tin bám chặt vào Thiên Chúa và để Ngài cứu rỗi. Thiên Chúa không chết, chính chúng ta phải không ngừng "giết chết", thanh tẩy cái ý tưởng mà chúng ta có về Ngài và về hành động của Ngài. Ngôi Lời nhập thể đã chết, nhưng đã sống lại; Người đã biến mất khỏi thế giới hữu hình của chúng ta, nhưng giờ đây càng hoạt động cách hiệu nghiệm hơn với tất cả quyền lực của Thần Khí. Trong viễn tượng này, chúng ta hiểu hơn tất cả ý nghĩa thần học của giấc ngủ Chúa Kitô.

c. Niềm tin vào Chúa Kitô tử nạn và phục sinh. Tiếng kêu đánh thức Chúa Giêsu của các môn đồ: "Thưa Thầy, Thầy chẳng lo chúng tôi chết mất sao?" (c.38) có thể hiểu như một lời trách móc táo bạo và âu yếm, nhưng ta phải giải thích nó như là một sự thiếu đức tin: không những các môn đồ sợ Chúa Giêsu ngủ say chẳng cứu được họ, mà còn chưa hiểu rằng ơn cứu độ do Chúa Kitô mang đến, thay vì loại bỏ những hiểm nguy và những trận bão, thì lại phải trải qua khổ nạn và cái chết.

Nơi Mátthêu, các môn đồ la lên: "Lạy Ngài, xin mau cứu (chúng tôi), chúng tôi chết mất" (8,25). Công thức này, tương tự công thức Kyrie eleison, hình như phản ảnh một ảnh hưởng phụng vụ vốn đã cho tiếng kêu đó một chiều kích phổ quát và luôn luôn hiện thực. Tuy nhiên, lời cầu xin này của các sứ đồ cũng như lời cầu xin của chúng ta, có thể giải thích theo hai cách khác nhau: nó biểu lộ một sự tín thác hoàn toàn vào Chúa Kitô Cứu Chúa, nhưng cũng có thể nói lên một mối lo ngại không đúng và một ước vọng được cứu rỗi mà chẳng trải qua thử thách. Ở đây, như nơi Marcô, phải giữ lại chính lối giải thích thứ hai vì Chúa Kitô đã nói lên một câu quở trách môn đồ.

Lời quở trách này đặc biệt nặng nề nơi Marcô: "các ngươi chưa có đức tin sao?" (c.40). Nơi hai Tin mừng Nhất lãm khác, lời quở trách được phát biểu hơi khác và kém nghiêm khắc: "lòng tin các ngươi đâu?" (Lc 8,25), điều hình như giả thiết là có đức tin, nhưng khó bộc lộ; "Hỡi quân yếu tin" (Mt 8,26), điều xem ra có nghĩa là các sứ đồ có ít nhất một chút đức tin nào đó. Thành thử so với Luca và Mátthêu, Marcô đã cho câu nói của Chúa Kitô một ngữ điệu kém tế nhị và nghiêm khắc hơn. Thế mà trong cuộc sống của các sứ đồ, có một lúc họ đã đáng bị quở trách như thế: đó là lúc họ bỏ chạy, nghi ngờ khi Chúa Kitô bị bắt, bị kết án và bị xử tử. Và mối hoài nghi của họ sâu xa đến nỗi họ đã từ chối tin những kẻ đầu tiên chứng kiến Chúa Kitô phục sinh hiện ra. Luca (24,21-24), khi thuật lại thái độ thất vọng và nghì ngờ của hai môn đồ Emmau, đã diễn tả cách hoàn toàn trạng thái tinh thần đang chi phối các sứ đồ lúc ấy nữa. Và nơi đoạn cuối của Marcô (16,9-20, dù ai là tác giả), mối nghi ngờ và nỗi xao xuyến của các sứ đồ đã được đặc biệt nhấn mạnh: hai lần, và việc lặp lại này rất có ý tứ, các nhân chứng đầu tiên về sự phục sinh đến báo tin vui cho các sứ đồ, nhưng họ chẳng muốn tin một ai. Lúc đó, Chúa Kitô đích thân hiện ra cho họ, và Người "quở trách các ông cứng tin và ngoan cố không chịu tin những kẻ đã thấy Người sống lại" (Mc 16,14). Nếu Marcô đã nghĩ đến sự thiếu lòng tin này của các sứ đồ khi thuật lại giai thoại bão tố dẹp yên, thì ta hiểu tại sao ông đã đặt trên miệng Chúa Giêsu một lời quở trách nặng nề sự thiếu đức tin của họ như thế.

Thành thử qua giai thoại chúng ta, phải thấy in chìm cơn bão tử nạn đã từng lung lay con thuyền bé tí của cộng đoàn các sứ đồ, niềm bối rối đã từng xâm chiếm tâm hồn các ông khi Chúa Kitô nằm ngủ trong cái chết. Nhưng này đây, đối diện với quyền lực của hỗn mang, đối diện với ác thần và tử thần được biển cả biểu hiệu, Chúa Giêsu đã sống lại nhờ một quyền lực thần linh. Với Chúa Kitô, chúng ta đã xuống cùng một con thuyền nhân loại, bị chìm ngập bởi cùng những hiểm nguy dễ chết. Khi Chúa Kitô thức giấc, lúc Người phục sinh và bắt quân thù câm miệng, thì chính là tất cả chúng ta mà Người cứu rỗi với Người. Nhưng qua dấu chỉ lạ lùng hôm nay, cần phải thấy rõ làm sao ơn cứu độ của chúng ta sẽ có thể và sẽ phải được thực hiện. Trước hết ở đây dạy chúng ta phải xác tín là chúng ta đã được cứu, vì số phận của chúng ta được liên kết với số phận của Chúa Kitô; sau đó là sự cần thiết phải vượt qua cơn bão tố của sự chết một cách mầu nhiệm và thực sự để đạt đến ơn cứu rỗi. Nói cách khác, thay vì ngạc nhiên khi phải sống giữa những cơn bão tố, thay vì sợ hãi và kêu xin Chúa Kitô một cách quá âu lo, chúng ta hãy quay về với Cứu Chúa vinh hiển và hãy bắt chước các sứ đồ cuối cùng đã trung tín. Khi nói lên niềm thán phục của mình trước mầu nhiệm và quyền lực Chúa Giêsu, các sứ đồ và thánh sử muốn lôi kéo độc giả chia sẻ đức tin vừa kiên trung vừa vinh thắng của họ: chính với niềm tin tưởng và hiểu biết rằng con đường của sự sống nhất thiết đi qua cơn bão tố và sự chết, mà người môn đồ đích thực phải theo Chúa Giêsu Kitô.

KẾT LUẬN: CHÚA KITÔ VÀ NIỀM TIN CHÂN THỰC

Như thế đoạn văn này có hai trọng điểm. Điểm thứ nhất có tính cách Kitô học: lúc dùng tất cả hậu cảnh Thánh kinh mà chúng ta đã phân tách trên, lúc mô tả Chúa Giêsu thực hiện dấu chỉ giong trong đáy sâu của vực thẳm và dẹp yên biển cả nhờ quyền lực sáng tạo của Người, Marcô đã thành công trong việc trình bày cho chúng ta thấy được sự tự huỷ lẫn vinh quang phục sinh của Chúa Kitô. Nhưng ta cũng khám phá ra được một trọng điểm khác trong trình thuật: khi chèn trình thuật vào trong một tiết hoàn toàn nói đến việc huấn luyện các môn đồ, khi mô tả các sứ đồ bị giao động bài nghi nan, bị Chúa Giêsu quở mắng, Marcô đã muốn nhấn mạnh đến sự cần thiết của đức tin.

Tuy nhiên, nếu chỉ ghi nhận có hai trọng điểm này, hoặc xem chúng như chỉ đặt kề bên nhau thì chưa đủ; phải tự hỏi xem sự hiện diện đồng thời của chúng có bao hàm một giáo huấn không, nghĩa là xem có nên giản lược thành một điểm duy nhất sự đa phức bên ngoài của trình thuật này không? So sánh Marcô với Mátthêu thì sẽ thấy rõ. Thật vậy, hình như Mátthêu hoàn toàn nắm được mối tương quan giữa hai trọng điểm đó, bởi chưng thay vì chọn một trong các yếu tố của trình thuật như bình thường, ông đã mạnh mẽ làm nổi bật cả hai tên. Đàng khác, ông đã nhấn mạnh khía cạnh Kitô học của đoạn văn. Để trình bày trận bão, ông dùng chữ meismos là chữ mà ông thường sử dụng để diễn tả các biến cố cánh chung (Mt 24,7), đặc biệt là cái chết (27,54) và sự phục sinh của Chúa Kitô (28,2). Trong 8,26, để tả Chúa Giêsu chỗi dậy, Mátthêu dùng phân từ egertheis (Mc: diegertheis). Thế mà tác giả Tân ước đã năng chơi chữ trên những nghĩa khác nhau của động từ này để ám chỉ sự phục sinh của Chúa Kitô (x. Cv13,22.23.30.37; Ep 5,14; Ga 2,19-22...). Nên có thể Mátthêu, khi sử dụng chữ đó là chỉ khiến chúng ta nghĩ đến sự phục sinh của Chúa Giêsu, đã muốn nhấn mạnh ý nghĩa Kitô học của trình thuật. Tuy nhiên, ông cũng đã nhấn mạnh rõ ràng một trọng điểm khác của trình thuật là việc giáo dục đức tin của các môn đồ được kêu gọi theo Chúa Giêsu qua cơn bão táp. Thật vậy, văn mạch gần, như ta thấy, đã quy theo chiều hướng đó lối giải thích trình thuật; và vì tập trung vào lời quở trách của Chúa Kitô nên bài học phát xuất từ đó đúng là bài học về đức tin. Hơn nữa, nơi Mátthêu, bài học này đặc biệt được làm nổi bật bởi sự kiện Chúa Kitô trách móc các môn đồ trước khi dẹp yên bão tố. Cách thức kể chuyện hơi lạ lùng này muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của lời quở trách; và bên kia trường hợp đặc biệt của cơn bão trên hồ Galilê, bên kia cái chết và sự phục sinh của Chúa Kitô. Cách thức ấy xem ra phù hợp với thời gian mà cơn bão tố còn hoành hành. Có lẽ đó là những cuộc bách hại Kitô hữu đầu tiên.

Sở dĩ Mátthêu, trong cùng một trình thuật, đã gợi lên cuộc tử nạn của Chúa Kitô và nhấn mạnh sự cần thiết của đức tin đối với người môn đồ đang theo Chúa Kitô trong cơn bão tố, đó hình như vì thánh sử đã cố ý kết hợp và khai triển chủ đề kép nói trên. Thật vậy, đối với ông, theo Chúa Kitô hôm nay bằng đức tin chính là theo Người trong cái chết và phục sinh của Người. Khi duy trì hai đề tài mà truyền thống đó chuyển đạt cho ông như thế, khi làm nổi bật cả hai, một xem ra đã minh bạch hóa và khai triển ý nghĩa sâu xa của trình thuật đã có trong Tin mừng Marcô rồi. Vì vậy chúng ta nghĩ rằng Marcô, bằng một cách thức chắc hẳn bóng bẩy và mơ học hơn, cũng đã muốn truyền đạt cho chúng ta một giáo huấn tương tự: theo Chúa Kitô với đức tin trong cơn bão tố dù hôm qua hay hôm nay là luôn theo Người qua cái chết và phục sinh của Người. Do đó khía cạnh Kitô học cũng đặc biệt rõ ràng trong trình thuật của ông: hậu cảnh và quyền năng sáng tạo những điển tích về Giona, đoạn cuối của trình thuật, mọi cái đó đều tán dương sứ mệnh và con người Chúa Kitô. Nhưng việc tán dương Chúa Giêsu như Cứu Chúa và như Chúa Tể ấy được trình bày như một chứng tá đức tin của các sứ đồ và làm nên một lời mời gọi sống đức tin Kitô giáo chân thật, là đức tin đi qua thập giá và phục sinh.

Paul Lamarche, Assemblées du Seigneur số 43, tr.43-53.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Người tín hữu thường quên chiều kích vũ trụ trong hành động của Chúa Kitô, trong khi thời đại này, các khoa học kỹ thuật nói nhiều đến việc khai thác, nhân hóa, bảo tồn, chinh phục thiên nhiên, các khoa học nhân văn nói nhiều đến mối liên quan giữa con người và vật chất, thiên nhiên, vũ trụ, môi trường sống. Kitô hữu phải hiểu cùng làm cho người khác hiểu rằng Chúa Kitô không xa lạ với vật chất đã làm nên vũ trụ. Trái lại qua việc nhập thể và phục sinh trong thân xác, Người đã mở rộng ơn cứu rỗi tới cho tất cả những gì hiện hữu. Chúa Giêsu đã đến không phải chỉ để cứu linh hồn con người mà thôi, nhưng cứu toàn thể con người xác hồn, và qua thân xác con người, Người biến đổi sâu xa cả vũ trụ vật chất (x. Rm 8,19): chính vũ trụ vật chất đang trên đường về với Thiên Chúa.

2. Câu chuyện xảy ra được Marcô kể lại theo lời chứng nhân tận mắt là Phêrô nên có nhiều chi tiết. Nhưng một trong những điểm quan trọng, chủ yếu của trình thuật là chính thắc mắc của các sứ đồ sau khi bão yên: "Người là ai mà gió cùng biển phải tuân phục Người?". Ngày nay với phát minh khoa học kỹ thuật, con người khắc phục được thiên nhiên rất nhiều đã từng nghiêng đồng đổ nước, thay trời làm mưa, bắt sông uốn khúc, ép núi cúi đầu, nên dễ quên Đấng Tạo Hóa. Kitô hữu phải biết khám phá thấy trong mọi chuyển động tự nhiên của vũ trụ cũng như trong mọi khắc phục thiên nhiên của con người bàn tay quan phòng của Thiên Chúa.

3. "Xảy đến một trận gió táp thổi mạnh, và sóng ập tràn vào đò, làm đò đã hòng ngập đầy". Ngày nay, đâu là cơn bão tố lớn đang vùi dập con đò Phêrô? Là trào lưu vô thần, là sự tục hóa, là thái độ tấn công tinh vi hay dửng dưng với tôn giáo. Nhưng Kitô hữu đừng lo! Giáo hội đã trải qua nhiều cơn bão lớn hơn trong lịch sử rồi, như những sa đọa trong hàng ngũ lãnh đạo, sự cấu kết thái quá với thế quyền, sự chểnh mảng trong việc trau dồi đức tin, những xâu xé nội bộ, thế mà Giáo hội vẫn không chìm đắm. Vì Chúa Kitô và Thánh Thần luôn ở với Giáo hội.

4. "Tại sao sợ hãi? Các ngươi không có đức tin ư". Lời chất vấn và trách cứ của Chúa Giêsu cũng như lời mời gọi hãy tin tưởng đang được gởi đến những tín hữu mà niềm tin vào Thiên Chúa hôm nay đang bị lung lay vì bao bão tố, đau khổ. Kitô hữu hãy nhớ: tin trước hết là xác tín rằng dù gặp phải bao yêu thương, là hiểu rằng mọi chướng ngại chỉ là dấu chỉ tình yêu Thiên Chúa, là phương tiện giúp ta về với Thiên Chúa.

5. Chúa Giêsu không hứa với Giáo hội là sẽ che chở cho khỏi cơn bão tố, trái lại Người hứa là Giáo hội sẽ thắng bão tố, sẽ không bị chìm ngập và con thuyền Giáo hội, cho dầu có xảy ra gì chăng nữa, sẽ đến bờ như đã hứa. Chúa Kitô đã chẳng trải qua cơn bão tố tử nạn để rồi đạt đến bờ phục sinh ư? Cuộc sống Giáo hội và cuộc sống mỗi Kitô hữu chúng ta không thoát khỏi định luật này, là định luật của tất cả những ai, những gì muốn về với Thiên Chúa. Dĩ nhiên, đây không phải là định luật Thiên Chúa ra một cách độc đoán, như thể Ngài muốn ta phải trả giá Nước Trời, hành hạ ta đã rồi mới cho được nghỉ ngơi. Bão tố, gian nan, thử thách chính là những gì xảy ra khi ta quyết tâm trung thành với Thiên Chúa, khi ta từ bỏ chính mình, từ bỏ mọi sự để chiếm đoạt cho được Thiên Chúa là hạnh phúc đích thực của ta.

 

Noel Quesson - Chú Giải

Mc 4: 35-41

Giáo huấn bằng dụ ngôn của Đức Giêsu đã nói lên sự phân biệt rõ ràng giữa hai loại người: Đối với những "người ở ngoài", thì tất cả đều bí hiểm. Còn đối với các "môn đệ", thì mọi sự đều sáng tỏ trong các mặc khải về mầu nhiệm mà "vị Thầy" đã thông tỏ riêng cho họ. Trong Tin mừng theo Thánh Marco, tiếp theo một chuỗi những dụ ngôn là bốn phép lạ. Những phép lạ này có đặc tính rõ ràng: Không được thực hiện trước công chúng, nhưng chỉ "trước mặt các môn đệ". Phải chăng những phép lạ này là những dụ ngôn bằng hành động, phải được hiểu trên bình diện biểu tượng cũng như bình diện thực tế? Các tông đồ giữa cơn bão tố được kể lại hôm nay, gọi Đức Giêsu là "Thầy" (tiếng Hy Lạp là didaskalos, có nghĩa là "Thầy dạy dỗ"), việc này phải chăng có một giá trị mặc khải lớn? Vậy chúng ta hãy lắng nghe giáo huấn của Người trong biến cố này. Đọc một biến cố để nêu ý nghĩa thần học, không làm cho biến cố đó mất tính cách lịch sử, nhưng mang lại cho nó chiều kích sâu xa hơn.

Chiều hôm ấy, Đức Giêsu nói với các môn đệ: "Chúng ta sang bờ bên kia đi?". Vì Người đang ở trên thuyền, các ông cứ thế chở Người đi bỏ dân chúng ở lại; có những thuyền khác cùng theo Người".

Trên bình diện thực tế lịch sử, tôi tưởng tượng một buổi chiều hè đẹp trời, Đức Giêsu mượn chiếc thuyền của Simon Phêrô và từ từ rời xa bờ biển Capharnaum. Sau một ngày nóng bức, bây giờ là buổi chiều tà mát mẻ. Sau khi đã tiếp xúc với đám đông ồn ào, bây giờ là lúc thân mật ân tình với nhóm bạn hữu trên biển. Chính Đức Giêsu đã có sáng kiến tạo ra những giây phút yên tĩnh này:

"Chúng ta hãy qua bờ bên kia". Gió tốt, cánh buồm căng phồng đang nhẹ rung - Người ta chỉ nghe tiếng nước vỗ nhẹ vào mạn thuyền đang rẽ sóng và tiếng kêu của một vài con chim biển. Sau một ngày giảng dạy bằng dụ ngôn, Đức Giêsu mệt mỏi thiếp ngủ nơi cuối thuyền. Bên cạnh Người là Phêrô đang cầm bánh lái. Nhưng nếu chỉ dừng ở những trang này thì thật đáng tiếc. Chúng ta biết rằng, từng câu, từng chữ trong trình thuật Tin mừng, đều được khoa Giáo lý ban đầu chú giải. Do đó chúng ta cũng phải đọc và hiểu theo nghĩa tượng trưng, như những chú giải của các Giáo phụ minh chứng.

"Ngày hôm đó". Đây không phải là một kiểu nói thông thường, có nghĩa là: Ngày giảng dạy bằng dụ ngôn đã chấm dứt. Đối với thánh Marcô, sự trình bày các sự kiện nối tiếp nhau là một cấu trúc thần học hơn là một phóng sự. "Ngày hôm đó" sẽ không phải một ngày thường. Phêrô sẽ nhớ ngày đó suốt đời. Vì ông gợi nhớ những hình ảnh Thánh kinh: "Ngày hiển hách của 'Giavê'", "Ngày Thiên Chúa quyền năng can thiệp mạnh mẽ", ngày đó có những tai họa cánh chung đi trước (Ga 2,3).

"Chiều tối đến". Không chỉ là màn đêm buông xuống, mà còn "giờ của bóng tối", giờ thử thách (Mc 14,17; Ga 9,4-13,30).

"Bờ bên kia". Không chỉ là bờ hồ đối diện mà còn là bước đi vĩ đại sang bên kia thế giới. Đó là số kiếp của mỗi người vào lúc hoàng hôn của cuộc đời. Đó là ngày trọng đại Ngày của Thiên Chúa"... Tất cả những ngày khác đều phải chuẩn bị cho ngày đó.

Bỗng nổi lên một trận cuồng phong, sóng ập vào thuyền, đến nỗi thuyền đầy nước.

Bão tố thực sự. Ngày nay hồ Tibêria vẫn nổi tiếng về những cơn bão bất ngờ và mãnh liệt từ đồi Gôlăng thổi xuống. Hơn ai hết, vì nghề nghiệp Phêrô đã biết rõ điều này. Những cơn gió thổi mạnh đập vào cánh buồm và làm nghiêng ngả chiếc tàu thật nguy hiểm. Nhưng không cần phải đi biển mới bị những cơn bão tố như thế. Tất cả các ngôn ngữ trên thế giới đều dùng chữ bão tố để ám chỉ "một cơn thử thách bất ngờ đổ xuống trên con người". Trong Thánh kinh, đề tài bão tố thường được dùng để nói về sức mạnh của sự dữ. Công cuộc tạo dựng ta được hiểu như sự chiến thắng của Thiên Chúa trên cảnh hỗn loạn của biển khơi nổi dậy (St 1,2). Theo khoa huyền thoại xưa của Do Thái. Biển cả là "vực thẳm vĩ đại", nơi những con rồng, những thủy quái, Lêviathan, biểu tượng của Satan, thống trị (Is 27,1; Tv 74,13; G 9,13; Đn 7; Kh 12,13).

Trong khi đó, Đức Giêsu đang ở đàng lái, dựa đầu vào chiếc gối mà ngủ.

Tôi ngắm nhìn Đức Giêsu đang ngủ, đôi mắt nhắm, hơi thở đều đặn, vẻ bình thản, ở đằng lái thuyền, trong cơn bão tố. Chi tiết này gợi cho tôi tâm tình cầu nguyện nào? Lạy Chúa, Chúa đưa chúng con đi đến đâu? Chúa làm cho chúng con bối rối biết bao? Trong Thánh kinh, có một người khác cùng ngủ trong cơn bão táp, đó là Giona. Người ta phải đến đánh thức ông dậy (Gn 1,3-16). Có phải tình cờ, mà Đức Giêsu nói về "dấu lạ của Gio-na" như một dấu hiệu duy nhất để diễn tả về: Cái chết và sự phục sinh của Người? (Mt 12,39-40; Lc 11,29-30; Mc 8,12-13). Vả lại các tác giả Kinh thánh thường nói về "cái chết" bằng từ "giấc ngủ" (Tv 13,4; Đn 12,2; Êp 5,14; Ga 11,11; Mc 5,39-41). Hình ảnh này cũng dùng để diễn tả sự "lãnh đạm của Chúa", sự "vắng mặt của Chúa": Lạy Chúa, xin Chúa chỗi dậy đi, tại sao Chúa lại ngủ? Chúa hãy thức dậy đi (Tv 44,24-45,23-59,6-78,65; Is 51,9-10). Vâng, đúng vậy trong những cơn bão tố cuộc đời chúng con, dường như Chúa vẫn ngủ. Lạy Chúa, không phải chỉ có con người hiện đại nghĩ ra đề tài "cái chết của Thiên Chúa", nhưng đó là tình cảm tự nhiên của thân phận con người, khi thấy mình bất lực, bị đe dọa trước một Thiên Chúa không can thiệp để cho lực lượng của thần chết hành động, một Thiên Chúa dường như đang ngủ.

Các môn đệ đánh thức Người dậy, và nói: "Thầy ơi! chúng ta chết đến nơi rồi, Thầy chẳng lo gì sao?"

Đây là một lời cầu tuyệt diệu, đáng cho chúng ta bắt chước, trước những bão tố cuộc đời.

Người thức dậy, ngăn đe gió, và truyền cho biển: "Im đi? Câm đi?" Gió liền tắt, và biển lặng như tờ.

Ở đây chữ được dịch là "thức dậy", "diégertheis" cũng chính là chữ được dùng để nói "được sống lại, Phục sinh" (Mc 5,41 - 16,6-14).

Qua tình tiết có thực mà Marcô kể lại (đó là bài giảng của Phêrô), chúng ta có lý do chính đáng để nhận ra cuộc khổ nạn của Đức Giêsu là một cơn bão dữ dội: Nó làm lắc lư con thuyền nhỏ bé của cộng đoàn tông đồ, vào lúc Đức Giêsu đã ngủ yên trong cái chết của Người. Nhưng đối đầu với lực lượng thần chết được tượng trưng là "biển cả" Đức Kitô đã Phục sinh. Chúng ta gặp lại kiểu nói của người Do Thái về biển cả, hình ảnh những lực lượng thù địch với con người, vì ở đây, Marcô dùng chính những từ như khi Đức Giêsu "hăm dọa" quỷ dữ để "bắt chúng im lặng" (Mc 1,25 - 9,25).

Đức Giêsu nói với họ: "Tại sao lại sợ? Tại sao các người không có đức tin?" Câu nói rất nghiêm khắc: "Các anh không có đức tin", "các anh đã mất lòng tin", thực sự đã được áp dụng vào lúc Đức Giêsu chịu khổ nạn, lúc này tất cả các tông đồ chạy trốn, chối bỏ, hoài nghi. Chúng ta sẽ nghe lặp lại ba lần rằng, các tông đồ "đã không tin": "Chúa trách sự cứng lòng tin của họ, vì họ đã không tin những người đã thấy Chúa Phục sinh" (Mc 16,11-13).

Những cơn bão tố đời tôi thế nào? Chúa có làm nhẹ bớt những cơn bão đó không?

Nếu đọc Thánh kinh một cách ngây ngô, chúng ta có thể tin điều đó. Sự bình lặng của hồ Tibêria làm chúng ta mơ tưởng một cuộc sống an bình, trong đó Chúa sẽ thường xuyên can thiệp vào những nguyên nhân tự nhiên để tránh cho chúng ta sự thử thách và cái chết.

Nhưng đọc Thánh kinh cách đúng đắn, sẽ dẫn chúng ta đến sự "thanh tẩy đức tin" theo lời mời gọi của Chúa. Chính qua giấc ngủ của sự chết, Chúa Kitô đã giải thoát chúng ta khỏi những thế lực của hỏa ngục và sự chết.

Không phải đức tin nào cũng dẹp yên được bão tố, mà chỉ đức tin nơi "Đức Kitô tử nạn và phục sinh" mới có khả năng. Sự cứu độ mà chúng ta tin, không làm cho chúng ta thoát khỏi những đau khổ gắn liền với bản chất con người cách lạ lùng và đặc biệt.

Sự xác tín vào quyền lực của Chúa đã không ngăn cản Chúa Kitô trải qua giấc ngủ ở trong hồ. Chính chúng ta cũng phải trải qua thử thách mới đến được "bến bờ bên kia". Nhưng Đức Giêsu đang ở đó với chúng ta trong những thử thách. Quả thật trang Tin mừng này có một biểu tượng đáng phục.

Các ông hoảng sợ và nói với nhau: "Người là ai, mà cả đến gió và biển cũng phải tuân lệnh?"

Đây là lần đầu tiên thánh Marcô ghi lại câu hỏi này của các môn đệ. Câu hỏi chủ yếu nhắm đến lai lịch sâu xa của vị "Thầy" trẻ trung. Người phải chăng chỉ là một ông "Thầy" (Rabbi) như bao ông thầy khác? Người là ai. Người sẽ đưa họ đến đâu? Một ngày gần đây, Đức Giêsu sẽ hỏi Phêrô: "Đối với anh, Thầy là ai?" (Mc 8,29).

Không người nào có thể tự miễn cho mình khỏi phải đặt câu hỏi đó. Và nếu không trả lời thì đó là chấp nhận rằng, những cơn bão trong cuộc đời sẽ kết thúc bằng một sự chìm đắm vào hư vô. "Nhưng nếu người nào ở trong Đức Giêsu, người đó sẽ là một tạo vật mới" (1Cr 5,7). Đức tin được thanh luyện đưa chúng ta vào cuộc sống mới. Lạy Chúa, Chúa đã nói: "Chúng ta hãy sang bờ bên kia".

 

Giáo Phận Nha Trang - Chú Giải

"Người là ai mà cả gió lẫn biển đều vâng lệnh Người"

BÀI TIN MỪNG: Mc 4: 35-40

I. Ý CHÍNH:

Chúa Giêsu tỏ uy quyền trên sự giữ để củng cố niềm tin cho các tông đồ khi gặp gian nan thử thách.

II. SUY NIỆM:

1/ Ngày ấy khi chiều đến, Chúa phán cùng các môn đệ rằng:

"Ngày ấy" đây là kiểu nói Chúa Giêsu thường dùng để chỉ thời gian trước ngày cánh chung, ngày mà thần giữ nổi lên chống đối qua những biến cố loạn lạc, chiến tranh, động đất, bão tố... Ở đây muốn diễn tả thời gian trước khi được cứu độ: thời gian đòi hỏi phải chiến đấu với những cơn thử thách.

"Chiều đến": tức là màn đêm sắp đến. Ở đây diễn tả thời gian của sự tối tăm, hình bóng của những sự giữ hoành hành.

"Chúa Giêsu phán": Chúa Giêsu dựa vào sự kiện cụ thể "Ngày ấy, chiều đến" để nhắn nhủ các môn đệ về một ý nghĩa siêu nhiên là cần phải được giải thoát khỏi những sự dữ.

2/ "Chúng ta hãy sang bên kia biển hồ":

"Biển hồ": theo nghĩa của Thánh kinh thì biển hồ được trình bày như một hỗn mang từ đó phát sinh những quyền lực chống lại Thiên Chúa và con người. Để tái tạo thế giới, trước tiên cần phải chiến thắng và chế ngự các quyền lực ấy. Những chiến thắng này mà sức riêng của con người là bất lực. Chỉ có quyền lực của Thiên Chúa mới có thể bắt ba đào hung hăng phải tuân nghe và cứu con người khỏi cơn bão tố. Ở đây diễn tả chỉ có sự cứu rỗi của Thiên Chúa mới giải thoát được con người khỏi mọi sự dữ của ma quỷ để đưa con người đến bình an là sự sống đời đời.

"Sang bờ bên kia": diễn tả một lời mời gọi phải vượt qua những thử thách và nguy hiểm của biển trần gian để đến bờ bình an là sự sống đời đời.

3/ "Các ông giải tán đám đông":

Đám đông đây là dân chúng tụ tập lại bên Chúa Giêsu để nghe Người giảng ở ven bờ biển Galilê (Mc 4,1-2). Sau khi đã giảng những dụ ngôn về nước trời cho đám dân chúng này, Chúa Giêsu cần phải giảng cho dân chúng nơi khác nên Người ra lệnh cho các tông đồ giải tán đám dân chúng và Thầy trò cùng nhau bơi thuyền sang bên kia biển hồ.

4/ "Chợt có một cơn bão lớn":

Biển là nơi ẩn núp của các quyền lực sự dữ, vì thế cơn bão nổi lên đe doạ con thuyền của các tông đồ là hình ảnh những đe dọa, nguy hiểm thử thách của Giáo hội và của mọi cuộc sống trên biển trần gian.

5/ "Người thì ở đàng lái dựa gối mà ngủ":

Trong khi chiếc thuyền và những người trên thuyền bị nguy ngập vì cơn bão tố thì Chúa Giêsu vẫn nằm ngủ. Giấc ngủ của Chúa Kitô ở đây là hình ảnh về cái chết của Chúa Kitô và cũng là một biểu tượng về sự vắng mặt thể lý của Người. Vì trong Kinh thánh giấc ngủ cũng thường được biểu tượng cho sự chết. (Tv 13,4; Đn 12,2; Lc 5,39-41; Ep 5,14; Gl 11,11-14).

Biểu tượng giấc ngủ của Chúa Kitô ở đây không phải là một sự bất lực, một sự thất bại, một sự vô trách nhiệm, nhưng là một đòi hỏi, đòi hỏi của niềm tin. Cũng như cái chết của Chúa Kitô trên thập giá không phải là một sự thất bại, nhưng là sự sống cho những ai biết tin tưởng vào Chúa Kitô chịu chết. Chúa Giêsu đòi hỏi các môn đệ phải biết tin tưởng vào quyền lực của Người. Càng gặp nguy hiểm càng phải bám chặt vào Người bằng đức tin.

6/ "Các ông đánh thức Ngài":

"Đánh thức" diễn tả một hành động có tính cách đòi hỏi Chúa Giêsu theo ý mình. Chúa muốn dẹp bão tố để mình được yên tâm. Hành động này biểu lộ một đức tin yếu ớt vì chưa hoàn toàn tín thác vào Chúa. Không lẽ có Chúa hiện diện trên thuyền mà Chúa lại để cho sóng gió nhận chìm con thuyền để chết cả thầy lẫn trò sao?

7/ "Thưa Thầy chúng con chết mất mà Thầy không quan tâm đến sao?":

"Thưa Thầy chúng con chết mất". Đây là tâm trạng của người bị hốt hoảng trước nguy hiểm.

"Mà Thầy không quan tâm đến sao?". Lời than trách này biểu lộ tâm trạng khát vọng được Chúa cứu thoát hơn là nghi ngờ vào sự ra tay cứu giúp của Chúa.

8/ "Chỗi dậy Người đe gió và phán với biển rằng":

Chúa Giêsu tỏ uy quyền trên gió cả và trên biển động. Thứ uy quyền này vượt trên sự dữ, vì Chúa đến để chiến thắng quyền lực trên sự dữ để giải thoát con người khỏi sự dữ.

Ra lệnh cho ai là có quyền trên người đó. Ở đây gió ngưng biển lặng, biểu lộ sự dữ tùng phục trước uy quyền của Chúa. Đây là việc làm của Chúa để củng cố niềm tin cho các môn đệ.

9/ "Sao các con sợ hãi thế? Các con không có đức tin ư?":

"Sao các con sợ hãi thế?": Lời trách này có ý nói lên rằng: Thầy đang hiện diện ở đây, sao các con không tin tưởng mà còn hoảng sợ lên như vậy?

"Các con không có đức tin ư?": Trách các môn đệ yếu đức tin. Lời trách này Chúa Giêsu cũng thường tỏ ra khi thấy các môn đồ kém niềm tin vào Người:

+ Lc 24,21-25: Hỡi những kẻ ngu độn và trí lòng chậm tin.

+ Mc 16,14-15: Và Người quở mắng sự cứng tin chai đá của họ, bởi họ không tin những kẻ thấy Người đã sống lại. Ở đây lời trách mắng này Chúa Giêsu có ý nhắc nhở các môn đệ cần phải tin tưởng thực sự vào Người và quyền năng của Người, niềm tin này không đòi hỏi theo cách thế loài người là dẹp yên bão tố, nhưng là, dù có sống giữa bão tố vẫn không sờn lòng hoảng hốt vì có Chúa là sức mạnh, là uy quyền có thể vượt thắng mọi thử thách sự dữ. Có Chúa là có đảm bảo dù có xảy ra biến cố nào đi nữa.

10/ "Người là ai mà cả gió lẫn biển cũng đều vâng lệnh Người":

Đây là tâm trạng của các môn đệ biểu lộ sự ngạc nhiên đầy thán phục trước uy quyền của Chúa Giêsu. Tâm trạng này được biểu lộ ra như một lời tuyên xưng mầu nhiệm Đức Giêsu, Đấng đã hoạt động với quyền lực của Thiên Chúa.

III. ÁP DỤNG:

A/ Áp dụng Tin mừng:

1/ Chúa Giêsu củng cố niềm tin cho các môn đệ trong lúc gặp gian nguy của bão tố. Giáo hội cũng muốn dùng biến cố này để củng cố niềm tin chúng ta vào quyền năng của Thiên Chúa mỗi khi gặp thử thách gian nan trong cuộc đời, trong Giáo hội.

2/ Mấy ý nghĩa áp dụng:

+ Con thuyền Giáo hội là mỗi người chúng ta.

+ Biển hồ là trần gian.

+ Sóng gió bão táp là những gian nan thử thách.

+ Chúa Giêsu ngủ: Biểu lộ sự hiện diện vô hình của Chúa trong Giáo hội, trong cuộc đời của mỗi một người chúng ta.

+ Chúa Giêsu thức dậy: Biểu lộ sự hiện diện hữu hình của Chúa.

+ Đánh thức Chúa dậy: Đòi hỏi Chúa phải hiện diện cụ thể, khả giác tức là những tâm trạng muốn Chúa làm phép lạ nhãn tiền, đây là tâm trạng của những người yếu đức tin vì "phúc cho những kẻ không thấy mà tin".

3/ Chúa Giêsu nhắc các môn đệ đi sang bờ bên kia và có Chúa cùng đi. Giáo hội cũng muốn nhắc nhở chúng ta cần phải vượt qua biển trần gian trong niềm tin tưởng vào Thiên Chúa sẽ sang bến bình an là sự sống đời đời.

B/ Áp dụng thực hành:

1/ Nhìn vào Chúa Giêsu:

a/ Chúng ta hãy sang biên kia biển hồ: Chúa muốn mời gọi chúng ta vượt qua biển trần gian để về bến bình an là phần rỗi đời đời.

b/ Người ở đàng lái dựa gối mà ngủ: Chúa hiện diện trong ta, nhưng ưa hiện diện trong tư thế "ngủ" là vì ta không thấy Người thực sự.

c/ Chỗi dậy, Người đe gió: Chúa tỏ uy quyền trên sự dữ. Gặp gian nan thử thách, chúng ta chạy kêu cầu Chúa, Chúa cũng có thể cứu thoát ta, nhưng Chúa muốn chúng ta vững tin vào Người để chiến đấu với thử thách hơn là cứu chúng ta khỏi thử thách. Vì Chúa muốn chúng ta chiến đấu để có công chiến thắng và có chiến thắng để vinh quang.

d/ Sao các con sợ hãi thế? Chúa cũng trách mắng khi chúng ta hốt hoảng, sợ hãi, chán nản, thất vọng, khi gặp những thử thách trong cuộc sống.

2/ Nhìn vào các môn đệ:

a/ Các ông chở Người đi: Muốn vượt biển trần gian này. Chúng ta phải chở Người đi bằng cách tin tưởng và sống mật thiết với Chúa trong mọi giây phút, mọi biến cố.

b/ Thưa Thầy, chúng con chết mất: Đây là tâm trạng sợ hãi khi chúng ta cảm thấy bất lực, yếu đuối trước những thử thách và chúng ta muốn kêu cầu Chúa giải thoát, nhưng nên nhớ Chúa muốn chúng ta chiến thắng hơn là trốn tránh bỏ cuộc.

c/ Người là ai? Chúng ta cũng phải biết ngạc nhiên và thán phục Chúa trước hoạt động lạ lùng của Chúa trong vũ trụ vạn vật, trong các biến cố.

HTMV Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn