Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật V Mùa Chay A

Tin Mừng Ga 11: 1-45 Qua phép lạ cho Lazarô chết được sống lại, Chúa Giêsu đã tỏ ra Ngài là sự sống lại và là sự sống để ai tin vào ngài thè sẽ được sống .

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT V MÙA CHAY NĂM A



Tin Mừng Ga 11: 1-45

Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải
 
PHỤC SINH LADARÔ

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Giai thoại này nằm trong văn mạch nào ?

2. Làm sao giải thích lời quả quyết của Chúa Giêsu "Cơn bệnh này không đến nỗi chết, song nó làm vinh danh Thiên Chúa" (c.4)?

3. Phải hiểu thế nào việc Chúa Giêsu không muốn mau chóng đi phục sinh Ladarô và lời Người giải thích sự chậm trễ ấy ?

4. Tại sao Chúa Giêsu xem cái chết của Ladarô như một giấc ngủ ?

5. phải cắt nghĩa thế nào sự bực dọc của Chúa Giêsu lúc đứng trước thây ma Ladarô, khi biết mình sắp cho ông sống lại (cc. 33 35.38)

6. Đâu là những yếu tố đặc trưng của tấn bi kịch này ?

1. Việc phục sinh Ladarô xảy ra vào cuối sứ vụ công khai của Chúa Giêsu. Phép lạ này, dấu chỉ sau cùng mà Người ban cho dân Do thái trong cuộc tranh tụng giữa ánh sáng và tối tăm, cũng là dấu chỉ quan trọng nhất, vì đây không còn là việc chữa lành hay hóa bánh ra nhiều, mà là phục sinh kẻ chết, quyền năng mà chỉ mình Thiên Chúa có được. Đúng như Phaolô sau này sẽ nói với tín hữu thành Côrintô: "Kẻ thù cuối cùng bị đánh bại, chính là sự chết" (1Cr 15,26).

Việc phục sinh Ladarô mở màn cho diễn từ giã biệt và cuộc Tử nạn, vì, theo thánh Gioan, chính việc này thúc đẩy Hội đồng Công tọa dứt khoát quyết định lên án tử hình Chúa Giêsu. Người Do thái đã "thích tối tăm hơn ánh sáng vì công việc của họ xấu xa "(Ga 3, 19). Vị trí trung tâm của phép lạ trong Tin Mừng thứ tư đã khiến nó trở thành chìa khóa để hiểu thần học của thánh Gioan. Bởi đấy chúng ta sẽ nghiên cứu nó trong viễn ảnh này.

2. Khi được báo tin Ladarô ốm liệt, Chúa Giêsu đã nhận định : "Cơn bệnh ấy làm vinh danh Thiên Chúa". Nhận định này giống câu Người đã trả lời cho các môn đồ về vấn đề tật nguyền của anh mù bẩm sinh: "Đó là để nơi nó công việc của Thiên Chúa được tỏ hiện " (9, 3). Vinh quang Thiên Chúa phải chăng là một danh dự ích kỷ phải trả cho Ngài dù phải gây thiệt thòi chó tạo vật ! nếu cần thiết ? Không ! Khi Thiên Chúa biểu lộ vinh quang trong Cựu ước, thì luôn luôn là vì phần rỗi của dân Ngài, của những kẻ Ngài thương mến. Và như xưa đã giải phóng dân khỏi cảnh tù đày khốn khổ chết chóc bằng những hành động hiển hách, ngày nay Thiên Chúa cũng biểu lộ sự hiện diện và cứu độ của ngài trong con người Chúa Giêsu như vậy. Đó chính là mục đích sứ mệnh của Chúa Con vâng, Thiên Chúa đã yêu mến thế gian đến nỗi đã ban Con Một Ngài, để tất cả những ai tin vào Người sẽ không hư mất nhưng được sự sống đời đời" (Ga 3, 16 ; x. 6, 39).

Vinh quang này của Thiên Chúa Cha sẽ được thực hiện qua việc tôn vinh Chúa Giêsu. Thật ra, nó đã bày tỏ qua vinh quang của Chúa Giêsu trong các phép lạ Người làm rồi (2, 11 ; 12, 41) vì cả hai vinh quang không tách rời nhau. Nhưng động từ "tôn vinh" có một ý nghĩa rất là chính xác khi Gioan áp dụng vào Chúa Giêsu: nó có nghĩa là việc nâng Người lên trên thập giá, việc Người chết và sống lại (12, 23- 32). Một khi được tôn vinh như thế, Chúa Giêsu sẽ ban cho chúng ta ơn cứu độ của Thiên Chúa và thâu họp các con cái Thiên Chúa tản mác khắp bốn phương (11, 52) ; vì bấy giờ thủ lãnh thế gian này bị đánh bại, thế gian sẽ bị xét xử. Vinh quang mà Chúa Giêsu tỏ hiện trong các công việc của người chỉ là dấu hiệu của việc tôn vinh người trên thập giá. Các câu kế tiếp sẽ xác quyết điều này.

3. Chúa Giêsu còn ở lại đó hai ngày nữa, như đã chờ đợi trước khi lên Giêrusalem dự lễ Lều trại (7,8-10), như đã chẳng lập tức chiều theo ý muốn của mẹ Người trong tiệc cưới Cana. Người hành động, Người quyết định không theo ước muốn nhân loại, dù ước muốn đó thật chính đáng, nhưng theo thánh ý Chúa Cha (4, 34 ; 7, 18 ; 8, 29). Người nói và làm vì vinh quang Cha, vì muốn thực hiện chương trình cứu độ của Ngài. Và ơn cứu độ của Thiên Chúa sẽ được hoàn tất vào thời gian ấn định, không ai có thể hối thúc cho mau đến giờ người ta không thể bắt giữ hoặc ném đá Chúa Giêsu khi giờ Người chưa đến (7, 30 ; 8, 20).

Lời Người trả lời cho các môn đồ trong c .9- 10 có nghĩa ấy như trong giai thoại anh mù bẩm kinh vây (9, 4). Bằng một câu tục ngữ mà ai cũng biết, Chúa Giêsu giải thích cho môn đồ hay là đến Do thái không thể làm gì chống lại được Người. Như mới đây Người đã xác quyết: "Chẳng ai cất mạng sống Ta được, nhưng chính Ta tự mình thí mạng sống Ta. Ta có quyền thí mạng sống Ta, và cũng có quyền lấy lại" (10, 18). Đêm tối sẽ đến vào đúng thời gian Chúa Cha ấn định; đó sẽ là giờ Satan và Hội đồng Công tọa bề ngoài xem ra chiến thắng nhưng thực tế lại khác hẳn (13, 2 ; 14, 30- 31), vì Chúa Giê su là ánh sáng trần gian và tối tăm không thể triệt hạ được người (15).

Trong 12, 35- 36, Chúa Giêsu khai triển chùng một hình ảnh đó khi khuyến cáo thính giả hãy lợi dụng ánh sáng ban ngày, như chính người đã làm, để tôn vinh Thiên Chúa bằng cách tin vào Đấng Ngài sai đến. Đợi đêm về, thì đã quá muộn. Trong Cựu ước, Giêrêmia cũng đã ngăm đe dân Israel không chịu nhìn nhận tội mình (Gr 13, 16). Tôn vinh Thiên Chúa, là trở về với Thiên Chúa đích thực, Đấng còn có thể cứu Giêrusalem khỏi cảnh đổ nát hoang tàn. Khốn thay Israel đã không vâng nghe lời mời gọi đó, và vì thế đã bị lưu đày. Cũng một thể thức ấy, dân Do thái đã chẳng lắng nghe tiếng Chúa Giêsu mời gọi: cái chết của Người kỳ thực là cái chết của chính họ, "vì các ngươi sẽ chết trong tội của các ngươi" (8, 21- 24).

Môn đồ đã tiên cảm cái kết cục bi đát đó. "Người Do thái muốn giết Thầy, mà thầy còn lên đấy nữa sao ?". Cứu Ladarô, đối với Chúa Giêsu, sẽ là đi nộp mình chịu chết. Vinh quang của phép lạ này sẽ là dấu chỉ sự tôn vinh người trên thập giá. Nhưng tất cả cơ sự ấy chẳng phải là giờ của Thiên Chúa sao? Không ai có thể hối thúc, trì hoãn hoặc thay đổi thế này thế kia, một khi Thiên Chúa quyết định tỏ lộ tình yêu của Ngài. Chúa Giêsu còn ở lại hai ngày nữa và ngày thứ ba sẽ lên đường, như Người sẽ sống lại vào ngày thứ ba trong vinh quang Chúa Cha vậy. 

4. "Ladarô bạn chúng ta đang nghỉ yên, Ta phải đi đánh thức dậy". Chúa Giêsu đã áp dụng cho Ladarô thành ngữ người đã dùng đối với con gái ông Giairô (Mc 5, 39). Phaolô sẽ dùng một kiểu nói tương tự đối với người thiếu niên thành Troas (Cv 20, 10).

Trong Thánh Kinh, chết là hậu quả của tội lỗi, và vì thế là hình phạt khủng khiếp nhất (St 2,7; Kn 1, 15). Tuy nhiên, cái chết mất đi một phần tính cách bi thảm khi nó kết thúc một cuộc sống hạnh phúc và tràn đầy, một cuộc đời thân tình với Thiên Chúa. Các tổ phụ qua đời với tuổi thọ, và đã được gặp lại tổ tiên (St 25,7; 35, 29) Đavít đã an nghỉ với cha ông của mình (1 V 2, 10). Đối với người công chính, cái chết cũng có thể là cuộc trở về trong bàn tay Thiên Chúa, là sự yên nghỉ trong bình an (Kn 3, 1- 3). Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi kẻ Ngài thương mến.

Chúa Giêsu, dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa, là Đấng giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi và sự chết. Vì thế, trong Tân ước, những kẻ chết trong niềm tin vào Chúa Kitô, chỉ ngủ mà thôi. 'Những ai yên nghỉ trong Chúa Giêsu, Thiên Chúa sẽ đem họ về với Ngài" (1Tx 4, 14 ; x. Cv 7, 60 ; Mt 27, 52), vì Chúa Ki-tô đã phục sinh từ cõi chết, như hoa quả đầu mùa của những kẻ đã nghỉ yên" (1Cr 15,20).

5. Maria và các người Do thái khóc nức nở, theo thói tục của phương đông. Trước nỗi đau khổ đó, Chúa Giê-su có một thái độ thật đầy tình người: "Các ngươi đặt ông ấy ở đâu?" và Người bật khóc. Bấy giờ dân chúng biết Chúa Giêsu thực sự yêu thương Ladarô. Tuy nhiên, lối cắt nghĩa này, dù không hoàn toàn sai, có phải là lời giải thích đúng nhất không? Thường thường, trong Tin Mừng thứ tư, những kẻ cắt nghĩa lời nói hay hành động của Chúa Giêsu chỉ hiểu một khía cạnh, ngoại tại nhất và sơ sài nhất, của mầu nhiệm Người. Hơn nữa, nếu sấp cho người bạn sống lại, tại sao Chúa Giêsu lại khóc ? Câu chuyện này rất giống với một câu chuyện khác trong đó Tin Mừng cũng kể lại là Chúa Giêsu đã khóc: khi Người đã tới gần, trông thấy thành, thì Người khóc trên thành mà rằng: Phải chi ngày hôm nay, cả ngươi nữa, ngươi cũng nhận ra sứ điệp bình an ! Nhưng khốn thay, điều đó đã bị che khuất khỏi mắt ngươi" (Lc 19, 41). Vì đoạn văn song song đầy ý nghĩa này, hình như ở đây nguyên nhân khiến Chúa Giêsu khóc là lòng bất tín của người Do thái và niềm tin nửa vời của Mátta (c.39) và của Maria xét theo văn mạch tình thuật Gioan. Cách giải thích này được củng cố thêm nhờ nhiều ghi chú khác của Gioan liên quan đến tâm tình của Chúa Giêsu trong dịp này. Ở đây ngữ vựng được dùng thật đầy ý nghĩa.

Thánh sử còn dùng hai chữ khác để mô tả tâm tình của Chúa Giêsu. "Người bực dọc tâm thần và xao xuyến cả mình". Người ta đã luôn thắc mắc về ý nghĩa các tâm tình đó. Có kẻ xem đấy là cơn giận của Chúa Giêsu đối với cái chết và tác giả của nó là Satan; số khác lại coi là cơn tức giận trước sự cứng lòng tin của người Do thái. Điều đó có thể được lắm, vì cái chết và sự cứng lòng tin đều quy về Satan như là nguyên nhân tác thành; quả thế, đặc biệt trong Mt, ta thấy Chúa Giêsu đã tỏ ra tức giận lúc Người trừ quỷ, nghĩa là lúc đối diện với Satan. Nhưng đây còn hơn thế nữa.

Không kể một lần sử dụng trong 5,7 chỗ nói về nước ao bị giao động (tarassô), động từ thứ hai được dùng ở đây đối với Chúa Giê-su (xao xuyến : etelraxen) thì aoriste của tarassô) chỉ gặp lại trong văn mạch cuộc Tử nạn hai lần được áp dụng cho Chúa Giêsu (12, 27 ; 13, 21) và hai lần áp dũng cho các môn đồ (14, 1.27) mà Chúa Giêsu đoan hứa sẽ không để xao xuyến vì việc Người ra đi. Sự xao xuyến và nỗi ghê sự của Chúa Giêsu trong cuộc hấp hối tại vườn Cây dầu mà các Tin Mừng Nhất Lãm đã ghi lại, hình như được Gioan chuyển vào cảnh này và vào cuộc gặp gỡ giữa Người với nhóm Hy lạp (12, 27). Đối với Chúa Giêsu, cái chết của Ladarô là dấu tiên báo về cái chết của chính Người và về cuộc chiến thắng tạm bợ của tối tăm. Ở đây, lời giải thích thứ hai này trùng phùng với lối giải thích trên kia trong một tổng hợp tuyệt diệu. Vì đối với Gioan, cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu cốt yếu là công việc của Satan. Do đó, khỉ nói về Giuđa sắp phản bội Thầy, Gioan ghi chú: "Lúc bấy giờ, sau miếng ăn, Satan đã nhập vào y". (13, 27)

6. Trình thuật này là trình thuật phép lạ dài nhất của Tin Mừng Gioan và dĩ nhiên của tất cả các Tin Mừng: 45 câu. Tuy nhiên, phép lạ chỉ được thực hiện vào phút cuối, còn mọi phần trước đều là chuẩn bị. Một thảm kịch thực sự tuần tự diễn ra trước mắt chúng ta, độ căng thẳng leo thang dần với số câu, và tất cả chỉ được giải kết ở hồi cuối cùng: mặc khải vinh quang Thiên Chúa, một mặc khải đòi buộc phải đáp trả bằng niềm tin.

Thảm kịch này có hai yếu tố đặc biệt : 

a- Nhân vật chính không phải là người mà thiên hạ chờ đợi tức Ladarô. Lúc đầu, ông chỉ được đề cập như là em của Mátta và Maria, và sau hết, dĩ nhiên người ta nhắc đến ông song để rồi lãng quên. Ta chẳng biết cuối cùng ông có tin như người mù từ thuở mới sinh hay không (9, 38). Sở dĩ ông đóng một vai trò, là đặc biệt để làm chất xúc tác hầu mặc khải cá tính của mỗi diễn viên.

Nhân vật chính dĩ nhiên là Chúa Giêsu; và đối diện Người, ta thấy lần lượt xuất hiện các môn đồ, Mátta (Maria vẫn là một nhân vật phụ tùy) và người Do thái. Trước tiên là các môn đồ, những kẻ phần dấn bước trong đức tin vì đang bị cầm chân trong nỗi sợ hãi và lý luận loài người (11, 15). Rồi Mátta, đã được nhắc đến ở cc.1-5, xuất hiện với vẻ phiền muộn và đầy hy vọng; bà cũng được mời gọi tiến đến niềm tin. Sau hết, các người Do thái, đã được loan báo trong cảnh trước đấy (11, 19), cũng góp phần vào việc khởi phát phép lạ và cũng được dẫn đến đức tin. Như thế mỗi người đều lần lượt đi vào sân khấu và vẫn ở lại sau khi đóng xong vai trò, khiến sau cùng tất cả có mặt trong giờ giải kết. Tuy nhiên, mọi đèn chiếu đều chĩa thẳng vào các người Do thái (11, 45) : họ là những người đầu tiên được thảm kịch này chất vấn, mời gọi.

b- Trong các phép lạ khác của Tin Mừng Gioan, thường có một diễn từ đến sau để bổ túc hành động và mặc khải ý nghĩa của nó (xem Phép lạ người bất toại, Bánh hóa nhiều, Kẻ mù bẩm sinh). ở đây chẳng thấy diễn từ nào tiếp theo cả, nhưng có nhiều câu tuyên bố được xen kẽ đó đây y trong trình thuật (cc. 4. 9- 10. 14- 1. 20-27. 40-42). Các lời đối thoại ấy chuẩn bị cho dấu chỉ, chính xác ý nghĩa của nó, và do đấy đóng vai trò của một diễn từ. Độc giả có thể hiểu được hành động khi nó tuần tự diễn ra, như lúc một người chú giải cắt nghĩa diễn tiến của một nghi lễ phụng vụ.

Phần tiếp theo của phép lạ, thay vì là lời của Chúa Giêsu, lại là một cảnh diễn ra trong Hội đồng Công tọa : người ta lên án tử hình Chúa Giêsu !

CHÚ GIẢI CHI TIẾT 

"Có một người ốm liệt, ông Ladarô" : Chúng ta chẳng biết nhân vật này ở nơi nào khác nữa, và hình như các độc giả Tin Mừng cũng không, vì ông được gọi như là em của Matta và Maria. Tuy nhiên, ông mang một cái tên tiền định mà trong tiếng Hy bá có nghĩa: "Thiên Chúa đến cứu giúp", và, đàng khác ông là bạn của Chúa Giêsu.

"Người Bêtama": Chắc chắn đây là ngôi làng mà ngày nay vẫn còn tồn tại với rnỹ danh "El Azarich" (tiếng rút từ chữ Ladarô), cách Giêrusalem quãng 2km, và là nơi người ta còn thấy ngôi mộ của Ladarô đục sâu trong đá.

"Làng của Maria và Matta chị bà" : Vì tác giả không nói gì đặc biệt về hai phụ nữ này, nên phải giả thiết là độc giả đã biết nhiều về họ. Người ta đã sớm đồng hóa họ với hai phụ nữ được nhắc đến trong lúc 10,38-42. Hình như họ có cùng một tính tình: Matta hoạt động, lanh lẹ, chủ gia đình; Maria trái lại trầm tư, chiêm niệm hơn, thường bị chị xỏ mũi. Luca không nói tên nơi xảy ra cảnh đó; cũng có thể là Bêtania lắm, nhưng chẳng có gì cho phép ta đồng hóa một cách chắc chắn nhân vật của hai câu chuyện.

"Maria là người đã xức dầu thơm cho Chúa" . Hành động này được kể lại ở thì quá khứ, vì tác giả nhìn từ thời gian biên soạn, nên sự kiện này là một sự kiện đã qua. Nhưng ông lại tướng thuật việc xức dầu ở chương 12, khi Chúa Giêsu sẽ trở về Bêtania, sau một thời gian rút vào sa mạc Ephraim. Không có gì cho phép quả quyết đây là người đàn bà tội lỗi mà Luca kể lại trong 7, 36tt.

"Chúa Giê-su yêu mến Matta cùng em bà và Ladarô": Câu này đính chính một lối giải thích sai lầm có thể có, dựa trên sự kiện Chúa Giêsu hãy còn nán lại thêm hai ngày nơi Người đang ở, dù đã nghe tin Ladarô đau liệt.

"Ngày không phải có 12 giờ sao" : Dù có vẻ tượng hình và hai bí nhiệm, câu trả lời của Chúa Giêsu thật rõ ràng. Bao lâu chưa đến giờ hoàng hôn? bấy lâu chưa có gì phải sợ ; người ta có thể an toàn bước đi cho đến hết thời hạn 12 giờ của ngày. Nói cách khác, Người phán cùng các môn đồ vốn đang kinh hãi khi thấy Người lên Giêrusalem đáng sợ trước, chưa đến giờ nguy hiểm đâu!".

"Và chúng ta cũng hãy đi qua đế chết với Người" . Ngược lại với lối giải thích thông thường, hình như chữ với Người" ám chỉ Ladarô, vì người ta vừa mới nói trong câu trước đó là Ladarô đã chcÚt và Chúa Giêsu đã kết luận: chúng ta hãy qua gặp ông ấy Trong trường hợp này, Tôma nói cách đơn sơ: nếu Người muốn đi bất cứ giá nào, thì chúng ta hãy tháp tùng theo để chung số phận với Lađarô là kẻ đã chết. 

"Đã được chôn 4 ngày rồi ": Vì khí hậu ở phương đông, nên người chết được chôn trong cùng ngày chết (Ga 11, 39 ; Cv 5, 6). Chữ "4 ngày" có một tầm quan trọng trong trình thuật người Do thái thời Chúa Giêsu tin rằng trong 3 ngày đầu tiên, hồn vía hãy còn lảng vảng bên thây ma; chỉ từ ngày thứ tư, lúc thây ma bắt đầu thối rữa, chúng mới bỏ mà di. Ngày thứ 4 là ngày chết thực sự.

"Ta là sự sống lại". Mấy chữ "và là sự sống" bị P45 cũng như một số thủ sao của truyền thống latinh và syria-sinai cũ xóa bỏ, cả Origène và Cyprien thỉnh thoảng cũng thế. Nhưng tất cả các thủ sao và các bản dịch khác đều giữ lại. Thành ra không có lý do gì để duy trì lối đọc vắn của BJ.

"Hãy cởi ra cho ông ấy". Đối với Ladarô, phải lăn hòn đá, cởi dải liệm; còn khi Chúa Giêsu phục sinh, các phụ nữ nhận định một sự kiện đã rồi: đá được lăn đi, các cuộn băng nằm dưới đất, còn khăn liệm được xếp lại ở một nơi riêng (20, 1 -7). Các thiên sứ chỉ đứng đó để giúp các môn đồ ý thức sự kiện mà thôi.

"Nhiều người Do thái ...đã tin vào Người" : Gioan không bảo bấy giờ Ladarô thế nào, cũng chẳng nói đến sự thán phục của các chứng nhân. Ông đưa ta đến điểm cốt yếu: nhiều người đã tin vào Chúa Giêsu. Đó là điều mà tác giả Tin Mừng mời gọi ta.

KẾT LUẬN

Chúng ta đã ghi nhận việc nhấn mạnh đến đức tin trong Tin Mừng thứ tư, sự căng thẳng tăng dần theo các chương giữa Chúa Giêsu, Đấng tự mặc khải chính mình trong các việc làm, và lòng cứng tin của người Do thái. Giai thoại hôm nay thường xuyên nhắc đến đức tin. Động từ "tin" được dùng 8 lần để chỉ việc con người đáp trả khi thấy vinh quang Thiên Chúa. Ladarô đã chết và được an táng từ 4 ngày rồi. Người Do thái hình như hoài nghi quyền năng của Chúa Giêsu. Matta và Maria thì nói với Người: nếu Thầy đã ở đây ...". Chứng cớ dứt khoát và không thể chối cãi mà người Do thái đòi hỏi (10, 24) giờ đây được ban cho họ. Ai có quyền trên sự sống, nếu không phải là chỉ mình Thiên Chúa? Chúa Giêsu làm phép lạ "để họ tin" rằng Chúa Cha đã sai Người. Như thế chấm dứt sứ vụ của Chúa Giêsu giữa người Do thái. Dấu chỉ này mặc khải một lần thay cho tất cả Chúa Giêsu là ai. Vì thế người Do thái đã lên án tử hình Người. Đối với Gioan, cuộc Tử nạn bắt đầu ngay sau phép lạ này với cuộc nhóm họp của hội đồng Công tọa và việc xức
dầu ở Bêtania, dấu chỉ khâm liệm Chúa Giêsu. Chính phép lạ chuẩn bị điều đó. "Bệnh này ... phải được nhằm để tôn vinh Con Thiên Chúa". Việc phục sinh Ladarô là dấu chỉ của thực tại sẽ diễn ra trong các chương kế tiếp vậy.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG 

1. Trong thời đại chúng ta, nhan nhản những dấu chỉ của sự sống và sự sống lại, chẳng hạn việc hồi sinh con người mà chúng ta đã từng mục kích nhiều lần qua các cuộc chúa bệnh thành công, là những dịp cho thấy cơ thể nhân loại có một sinh lực mãnh liệt chừng nào. Và ta phải nói gì về cuộc chiến thắng lạ lùng của sự sống trên sự chết như là việc sinh sản, rồi việc phát triển con người nên vóc trưởng thành? Trong các thành công về kỹ thuật, nhà bác học đã vượt qua nhiều khó khăn mà trước đây không thể khắc phục. Trong các lựa chọn dứt khoát, mỗi người chúng ta đều đã lướt thắng các cám dỗ bi quan, thất vọng. Tất cả chỉ vì trong con người có một khát vọng sống, có một động lực không ngừng thúc đẩy đi lên. Nhưng đồng thời trong nhân tính chúng ta có một cái gì đó đã bị đổ vỡ. Cái chết bắt chúng ta đương đầu với một giới hạn có thể bẻ gãy chúng ta. Gioan gợi lên nỗi thất vọng, sự ê chề của kinh nghiệm, các giới hạn của con người. Những câu Chúa trả lời: "Hỡi Ladarô, hãy đi ra" mời gọi tất cả lướt thắng các giới hạn đó. Bằng giáo huấn, cuộc sống, cái chết và sự sống lại của mình, Chúa Giêsu cho thấy Người có thể khơi dậy sinh lực nào trong con người. Nhưng Người chỉ hành động trong những ai, khi đối diện với sự chết, biết để cho sức mạnh Thần khí đến "lay tỉnh" mình dậy.

2. Sự can thiệp của Chúa Giêsu cho thấy Thiên Chúa không phải là một Đấng vô biên xa vời, dửng dưng với tạo vật. Thiên Chúa đã nhập thể trạng một trái tim con người, Ngài cũng muốn có khả năng cảm xúc, bồi hồi, xót dạ? "Chúa Giêsu xao xuyến tâm thần". Ngài cho thấy mình cũng chạnh lòng trước số mệnh thế nhân. Người yêu thương các bạn hữu với tình âu yếm. Bởi đấy Người ra tay uy quyền cho Ladarô sống lại.

3. Hãy lưu ý đến lời Matta đáp trả câu hỏi của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu hỏi: "Con có tin điều đó không?" nghĩa là có tin rằng kẻ tin vào Ta sẽ sống mãi và không bao giờ chết chăng. Người hỏi Matta về một điều gì có, về niềm xác tín được sống của bà. Matta đã trả lời nhắm vào con người Chúa Giêsu. Bà không đáp: "Vâng, con tin rằng con sẽ không chết, nhưng "Con tin Thầy là Chúa Kitô, Con 'Thiên Chúa". Chắc hẳn vì lời tuyên xưng đức tin đó (mà các môn đồ chừng nghe) mà Chúa Giêsu tuyên bố với các sứ đồ của Người, khi đến Bêtama, rằng Người đã vui mừng hoan lạc. Chúa Giê-su đã muốn có giai thoại phục sinh Ladarô để các chứng nhân tin Người là Đấng được Chúa Cha sai đến. Điều đó cho ta thấy niềm tin của Kitô hữu không phải là niềm tin vào các sự vật, dù là vào một thế giới được tái lập trong sự công chính nguyên thủy, nhưng là niềm tin vào con người Chúa Giêsu Kitô Con Thiên Chúa. Niềm tin vào Chúa Giêsu tuyệt đối ưu tiên, sau mới đến những điều khác.

4. Sở dĩ Chúa Giêsu phục sinh Ladarô, là vì người là Lời sáng tạo của Thiên chúa Tuy nhiên Người cũng sắp chết. Chúa tể sự sống sắp lụy phục tử thần ... và đối thủ của người sẽ không quên nhấn mạnh nét mâu thuẫn đó trong sự nghiệp của Người: "Nó đã cứu được kẻ khác mà không thể cứu nơi chính mình". Nhưng Chúa Kitô đã chẳng muốn cứu lấy một mình mà thôi. Khi mặc lấy thân phận con người chúng ta cho đến cái chết, lời sự sống của Người không còn ở ngoài chúng ta nữa. Người chiến thắng tử thần qua cái chết. Như thế, Người đã cứu rỗi tất cả nhân loại cùng với chính bản thân Người.

5. Hoạt động của con người bị hạn chế và thượng thất bại. Song các giới hạn và thất bại này không thể triệt hạ sự tự do của kẻ tin vào Chúa Kitô. Cái chết đặt một giới hạn rõ rệt cho sự sống của con người, nhưng đức tin của Kitô hữu vượt qua giới hạn đó. Người Kitô hữu đã ở bên kia cái chết. Chắc chắn, sự chiến thắng cái chết mà Chúa Kitô đạt được cho ta không miễn cho ta chết như Người. Kitô hữu không phải là kẻ giảm thiểu hay đánh bóng sự chết. Đối với họ cũng như đối với Ladarô, cái chết không thơm tho gì. Và chẳng có hương thơm (thánh thiện hay đạo đức nào) có thể ru ngủ sức kháng cự của con người đối với cái chết. tuy nhiên Kitô hữu tin tưởng vào Thiên Chúa như Chúa Kitô đã tin tưởng vào Chúa Cha, vì biết rằng Ngài luôn nhận lời mình xin. Ngài là vị Thiên Chúa hằng yêu con người và muốn con người sống để tôn vinh Ngài. Tin vào tình yêu Thiên Chúa tỏ hiện trong Chúa Kitô tức là đã phục sinh và đã được bảo chứng sẽ sống mãi.


Noel Quession - Chú Giải

 
Ga 11: 1-45

Có một người bị đau nặng tên là La-da-rô, quê ở Bê-ta-ni-a làng của hai chị em cô Mác-ta và Maria. Cô Maria là người sau này sẽ Xức dầu thơm cho Chúa, và lấy tóc lau chân Người (Ga 12,1-3). Anh La-da-rô. Người bị đau nặng, là em của cô. 

Bêtania ngày nay vẫn luôn mang tên bằng tiếng ả Rập "El Azaneh", làng của La-da-rô. Trong tiếng Do Thái "Beithaneiah" có nghĩa là "nhà của người nghèo". Bê-ta-ni-a ! ở triền phía Đông của núi Ô-liu, ở 3 km phía Đông Giêrusalem, đó là phía mặt trời mọc trên Giêrusalem.. Đó là đỉnh của ngọn núi mà dưới chân nó, trên phía có bóng che, có vườn Ghết-sê-ma-ni ở phía thấp dưới. Bê-ta-ni-a ! Đó là ốc đảo của ánh sáng và tình bạn hữu. Ở đó, trong một ngôi nhà thân hữu, Đức Giêsu đã sống hạnh phúc.

Hai chị em sai người nói với Đức Giêsu : "Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang đau nặng". Nghe vậy Đức Giêsu bảo : "Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa : qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn vinh". Đức Giêsu quí mến cô Mác-ta, cùng hai người em là cô Maria và anh La-da-rô.

Trong cuộc sống đầy xáo động và khó khăn của Chúa Giêsu. Bê-ta-ni-a là chốn cõi lòng được nghỉ ngơi. Theo thói quen, Tin Mừng giới thiệu một Đức Giêsu hoàn toàn ! được toả hào quang với địa vị Đức Chúa Phục sinh (và sự cám dỗ "theo thuyết một bản tính" rõ ràng là chỉ nhìn thấy bản tính Thiên Chúa nơi Người). Vậy mà, Thánh Gioan, người trông thấy rõ nơi Người Ngôi Lời, Con vĩnh cửu, cũng là người cho chúng ta thấy "con người" nơi Đức Giêsu... Người đã có nhiều tình bạn với nữ giới... như ta thấy rõ trong câu nói tinh tế và đơn sơ này : "Đức Giêsu yêu mến Mác-ta và em gái của cô...", người cũng sẽ, lát nữa run lên vì xúc động và khóc.

Tuy nhiên sau khi được tin anh này lâm bệnh, Người còn lưu lại thêm hai ngày lại nơi đang ở. Rỗi sau dó, Người nói với các môn đệ : "Nào, chúng ta cùng trở lại miền Giu-đê". Các môn đệ nói : "Thưa Thầy, mới đây người Do Thái tìm cách ném đá Thầy, mà Thầy lại còn đến đó sao ?". Đức Giêsu trả lời : "Ban ngày chẳng có mười hai giờ đó sao ? Ai đi ban ngày thì không vấp ngã, vì thấy ánh sáng mặt trời. Còn ai đi ban đêm thì vấp ngã vì không có ánh sáng nơi mình".

Sự sống lại của La-da-rô là "phép lạ cuối cùng" của Chúa Giêsu, dấu hiệu cuối cùng mà người dành cho người Do Thái trong vụ tranh tụng giữa ánh sáng và bóng tối : ngay sau dấu hiệu này, trong Thánh Gioan, là cuộc Thụ Nạn bắt đầu (Ga 11,46-53). Khi đi sang miền Giuđê để cứu anh bạn La-da-rô của mình, Đức Giêsu đi đón nhận cái chết của mình. Chúng ta chú ý là Đức Giêsu, mặc cho tình yêu của Người đốii với hai người bạn gái, đã cố tình chậm đến gặp lại họ : Dù vẫn hoàn toàn nhân bản, Đức Giêsu không bao giờ để mình bị dẫn dắt bởi tình cảm của mình nhưng bởi ý muốn của Chúa Cha (4,34 - 7,18 - 8,29).

Người đã đợi cho La-da-rô chết vì người biết thế, người không đến để tránh cho chúng ta khỏi đau khổ và tang chế, nhưng thay đổi những đau khổ và cái chết này nhờ sự sống lại của Người, chính Người cũng sẽ không tránh cái chết cho mình !

Nói những lời này xong. Người bảo họ : "La-da-rô bạn của chúng ta đang yên giấc ; tuy vậy Thầy đi đánh thức anh ấy đây. Các môn đệ nói với Người : "Thưa Thầy, nếu anh ấy yên giấc được anh ấy sẽ khoẻ lại". Đức Giêsu nói về cái chết của anh La-da-rô, còn họ tưởng về giấc ngủ thường. Bấy giờ Người mới nói rõ : "La-da-rô đã chết, Thầy mừng cho anh em vì Thầy đã không có mặt ở đó, để anh em tin. Thôi nào chúng ta đến với anh ấy". ông Tôma, gọi là Đi-di-mô nghĩa là sinh đôi nói với các bạn đồng môn : "Cả chúng ta nữa, chúng ta cùng đi để cùng chết với Thầy".

Đức Giêsu luôn luôn gọi cái chết là một "giấc ngủ", và nhờ đó mời chúng ta thay đổi quan niệm của chúng ta về cái thực tại không thể tránh được này (Mt 9,24 : Ga 11,11) Cái chết thể lý, đối với Đức Giêsu, là một giấc ngủ đơn sơ và tạm bợ... nấm mồ trở thành một nơi người ta nghỉ ngơi trong lúc chờ đợi thức dậy. Và Thánh Phaolô sẽ ca lên : "ơi người đang ngủ, hãy tỉnh giấc, ngày đã sáng rồi. Từ trong kẻ chết, người hãy trỗi dậy, và được sáng ngời" (Ep 5,14). Lạy Đức Giêsu, xin hãy giúp con hiệp thông thực sự ý tưởng của Chúa để cất khỏii sự chết cái đặc tính bi thảm của nó, để xem nó như sự "phát Tình của Thiên Chúa" huyền nhiệm, khiến chúng con cuối cùng có thể tham dự vào cuộc sống hạnh phúc của nó : Những ai đã ngủ yên trong Đức Giêsu, thì Thiên Chúa sẽ dẫn đưa họ cùng đi với Người..." (1Tx 4,14), "bởi vì Đức Kitô đã sống lại từ kẻ chết, quả đầu mùa của những ai đã ngủ yên..." (I Cr 15,20). Vâng Đức Giêsu có thể "vui mừng" về cái chết của La-da-rô. Ôi mạc khải ! Mạc khải duy nhất có ích lợi... về cái chết.

Khi đến nơi, Đức Giêsu thấy anh La-da-rô đã chôn trong mồ được bốn ngày rồi. Be-ta-ni-a cách Giêrusalem không đầy ba cây số. Nhiễu người Do Thái đến chia buồn với hai cô Mác-ta và Maria, vì em các cô mới qua đời. Vừa được tin Đức Giêsu đến, cô Mác-ta liền ra đón Người. Còn cô Maria thì ngồi ở nhà. Cô Mác-ta nói với Đức Giêsu : "Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết, nhưng bây giờ con biết bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa. Người cũng sẽ ban cho Thầy" Đức Giêsu nói : "Em chị sẽ sống lại". Cô Mác-ta thưa : "Con biết em con sẽ sống lại khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết. Đức Giêsu liền phán : "Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống lại. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin thế không ?". Cô Mác-ta đáp :Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Kitô. Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian".

Mác-ta, như một phần lớn những người Do Thái thuộc thời cô, tin vào sự sống lại vào lúc tận thế... những ngày sau cùng ! Điều mới mà Đức Giêsu yêu cầu cô tin, chính là một sự sống lại "hiện tại" : "Thầy là sự sống lại !".

Đây là câu trả lời của Thiên Chúa cho câu hỏi độc nhất nghiêm chỉnh của lời Người, câu hỏi đặt ra cho mỗi người trong chúng ta khi đối diện với cái chết. "Ai tin vào Thầy dù đã chết sẽ sống". Thật ? hay không thật ? hay bạn không tin điều đó ? Kinh Tin Kính của chúng ta đơn sơ và ngắn gọn : Đức Giêsu làng Na-da-rét, đã chết và đã sống lại ! Điều đó đơn giản như một buổi sáng Lễ Phục sinh. Trong khi chờ đợi chết. chúng ta phải sống điều đó, phải tin điều đó. Bởi vì tất cả mọi người tin vào Đấng đã sống lại không thể sống một cuộc đời không có tình yêu, không cậy trông, không niềm vui được của sẻ. Nếu bạn phải chết chiều nay, bạn sẽ làm thế nào để có thể trải qua ngày này trước khi ôm lấy Chúa ? Cuộc đời của một tín hữu đầy sự sống lại, đầy sự sống và đầy niềm vui. Thầy là sự sống lại và là sự sống Những lời kiêu kỳ gây hốt hoảng ? Đó là một thằng điên nói ra... hay chính là Thiên Chúa. Cuộc sống mà Người nói đến, hiển nhiên có một bản tính khác với cuộc sống sinh lý này, chết là hết ; nhưng là cuộc sống của Thiên Chúa. Ai tin Thầy thì sẽ không bao giờ chết. Đức tin, ngay từ bây giờ, là một sự vui hưởng trước đời sống đó, đời sống không chết, chính là đời sống của chính Thiên Chúa.

Nói xong. Mác-ta đi gọi em là Maria và nói nhỏ : "Thầy đến rồi, Thầy gọi em đấy. Nghe vậy cô Maria vội đứng lên và đến với Người...Khi đến gần Đức Giêsu, cô Maria vừa thấy Người, liền phủ phục dưới chân và nói : ' Thưa Thầy nếu có Thầy ở đây em con đã không chết". Thấy cô khóc và những người Do Thái đi theo cũng khóc, Đức Giêsu thao thức trong lòng và xao xuyến. Người hỏi : "Các anh để xác anh ấy ở đậu ?". Họ trả lời : ' Thưa Thầy ! mời Thầy đến mà xem". Đức Giêsu liền khóc. Người Do Thái mới nói : "Kìa xem ! Ông ta thương La-da-rô biết mấy". Có vài người trong nhóm họ nói : "ông ta mở mắt cho người mù, lại không thể làm cho anh ấy khỏi chết ư ?". Đức Giêsu lại thổn thức trong lòng. Người đi tới mộ. Ngôi mộ đó là một cái hang có phiến đá đậy lại.

Thật là tai hại, lại một lần nữa, khi những người phiên dịch đã không phán đoán tốt để cho người ta cảm thấy trong bản (dịch của họ, một tiểu tiết thật đẹp trong bản văn Hy Lạp, mà hiển nhiên là Gioan muốn thế. Ba lần, khi nói đến Mác-ta và Maria và những người Do Thái, Gioan dùng tiếng "Klainein" có nghĩa chính xác là "khóc, nức nở to tiếng" và chúng ta đoán những tiếng nấc và tiếng kêu ở Phương Đông, rất chan hòa tình cảm của mình, mà người ta thoáng nghe thấy nơi những bà khóc mướn chung quanh đám tang. Nhưng khi đến Đức Giêsu, Gioan thay đổi tiếng, và nói về "dakruein", có nghĩa là "khóc thổn thức lặng lẽ". Và từ này làm cho tôi trông thấy những giọt nước mắt âm thầm rơi trên mắt của một Giêsu làm chủ được mình, và cả khi Người đau khổ. Người vẫn khống chế được đau khổ riêng của mình.

Đức Giêsu nói : "Đem phiến đá này đi". Cô Mác-ta là chị người chết liền nói : 'Thưa Thầy nặng mùi rồi, vì em con ở trong mồ đã được bốn ngày ! Đức Giêsu bảo : "Nào Thầy đã chẳng nói với chị rằng nếu chị tin, thì chị sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa sao ?". Rồi người ta đem phiến đá đi. Đức Giêsu ngước mắt lên và nói : "Lạy Cha, con cảm tạ Cha. vì Cha đã nhậm lời con. Phần con, con biết Cha hằng nhậm lời con. Nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con".

Câu truyện dài dòng này, dẫn nhập vào cuộc sống lại của La-da-rô, đi cho chúng ta hiểu là mục đích của trang này không phải là sự "tỉnh dậy" của cái chết thể lý của La-da-rô, nhưng chính là sự tiến bộ trong đức tin của tất cả những người bao quanh Đức Giêsu. Và hành vi cảm tạ của Đức Giêsu, ta hãy chú ý điều này, không nhắm đến phép lạ mà Người sắp làm, nhưng đến sự kiện là phép lạ này sẽ giúp cho những người không tin hay những người yếu lòng tin "tin tưởng" :

- Những môn đệ đã chống, không lên lại Giêrubalem, họ nghi ngờ, họ sợ...

- Mác-ta không muốn mở ngôi mộ, chị hoài nghi,...tử thi đã để quá trễ ngày...

Những người Do Thái, cho dù họ có thiện cảm với ba chị em, không tới để khóc nức nở...

Đức Giêsu muốn cầu nguyện cho tất cả họ, cho tất cả những người khó lòng tin tưởng, cho tôi, cho các bạn... Và đức tin. chính là gì vậy ? Chính là nhìn nhận rằng Đức Giêsu đến từ chỗ khác. Đức Giêsu được sai đi. Bạn có tin điều đó không ? Bạn có tin cái chỗ khác từ đó Đức Giêsu đến không ? Trong trang này của Gioan, có 23 cuộc di chuyển nơi chỗ được nhắc đến : bên ngoài Giu-đê, về hướng Giu-đê, về hướng Bê-ta-ni-a, về phía nhà, về phía mộ, về phía Giêrusalem... nhưng trung tâm của tất cả những cuộc di chuyển này, dù bề ngoài thế nào, không phải là "ngôi mộ" có thể cuốn hút chúng ta nhìn vào, mà đó là một thế giới khác, thế giới của Chúa Cha, từ đó Đức Giêsu được sai đi ! Không có nơi đó, vấn đề cái chết không được giải quyết.

Nói xong, Người kêu lớn tiếng : "Anh La-da-rô hãy ra khỏi mồ ! ". Người chết liền ra, chân tay còn quấn vải và mặt còn phủ khăn. Đức Giêsu bảo : "Cởi khăn và vải cho anh ấy, rồi đễ anh ấy đi". Đông đảo người Do Thái đẵ đến thăm cô Macta, và đã chứng kiến việc Đức Giêsu làm. Họ tin vào Người.

Vấn đề chính yếu, đối với con người, theo Đức Giêsu, trước hết không phải là có thể ra khỏi mồ một ngày kia, mà ngay từ bây giờ, đi từ sự chết sang sự sống bằng một đức tin gắn bó vào bản thân Đức Giêsu : "Họ tin vào Người", còn chúng ta ?


Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

 
" Ta là sự sống lại và là sự sống "
Ga 11, 1 - 45

I / Ý CHÍNH : 

Qua phép lạ cho Lazarô chết được sống lại, Chúa Giêsu đã tỏ ra Ngài là sự sống lại và là sự sống để ai tin vào ngài thè sẽ được sống .

II / SUY NIỆM : 

1 / " Có một người đau liệt tên là Lazarô ..." :

Hai câu mở đầu của đoạn Tin Mừng này giới thiệu về nhân vật và nơi chốn của câu chuyện .

+ Lazarô : viết tắt chữ Eleazar, có nghĩa là Thiên Chúa trợ giúp, đây là một tên gọi phổ biến thời Chúa Giêsu . Lazarô sống lại ở đây khác với Lazarô nghèo khổ được kể trong Luca 16, 19 - 31 .

+ Bêthania : là một làng ở phía Đông núi Cây dầu cách Giêrusalem không đầy ba cây số, khác với Bêthania nơi Chúa Giêsu chịu phép rửa . ( Ga 1, 28 )

+ Martha là chị của Lazarô, bà có tính hoạt động, nhanh nhẹn, nhưng ít để ý đến đời sống nội tâm khiến cho Chúa Giêsu đã có lần trách nhẹ bà ( Lc10, 38 - 42 ) .

+ Maria là em ruột của Martha, bà có tính hướng nội và Chúa Giêsu đã khen bà ( Lc10, 38 . 42 ) . Bà là người sức thuốc thơm cho Chúa Giêsu trong bữa tiệc tại nhà ông Simon tật phong ( Mt26, 6 - 13 ) . Bà không phải là người đàn bà tội lỗi đến xức dầu cho Chúa Giêsu tại nhà ông Biệt phái ( Lc7, 36 ) , cũng không phải là Maria Mađalêna ( Lc8, 2 ) .

2 / " Lạy Thầy, người Thầy yêu đã liệt ..." :

Hai chị em Martha và Maria muốn khơi dậy tình cảm này để đánh động lòng thương của Chúa Giêsu vì thế Gioan đã ghi " Chúa Giêsu thương Martha và em là Maria và Lazarô " ( c5) . Chính Chúa Giêsu cũng xác nhận tình thương đó ( c11 ) . Cả đến những người Do thái cũng quả quyết như vậy ( c36 ) .

3 / " Bệnh này không đến nỗi chết, nhưng để làm sáng danh Thiên Chúa ..." :

+ Ơ đây Chúa Giêsu có nói cái chết này là không phải chết mãi, vì chính Người sẽ làm cho Lazarô sống lại . Việc tái sinh này sẽ làm vinh danh Thiên Chúa và chính Chúa Giêsu cũng sẽ được hiển vinh .

+ Kiểu nói của Chúa Giêsu ở đây cũng giống như câu Chúa Giêsu trả lời cho các môn đệ về vấn đề tật bệnh của người mù bẩm sinh ( Đó là để công việc Thiên Chúa được tỏ hiện Ga 9, 3 ) .

4 / " Khi nghe tin ông này đau liệt, Người còn lưu lại đó hai ngày" :

+ Khi Martha nhờ người đến báo tin cho Chúa Giêsu thì Lazarô chưa chết . Vì vậy Chúa Giêsu không vội vã đi thăm ngay mà còn nán lại hai ngày, như có ý đợi cho Lazarô chết đã rồi mới đến cứu ông .

+ Ơ đây cũng giống như trường hợp Chúa Giêsu đã chờ đợi trước khi lên Giêrusalem dự lễ Lều Trại ( Ga 7, 8 - 10 ) và cũng như trường hợp Người chẳng lập tức chiều theo ý muốn của Mẹ Người trong tiệc cưới Cana . Điều này muốn nói lên rằng Chúa Giêsu hành động và quyết định không theo ước muốn của nhân loại, dù ước muốn đó thật chính đáng, nhưng Người theo ý muốn của Thiên Chúa Cha ( Ga 4, 34 . 7, 8 - 18 . 18, 29 ) . Người nói và làm vì vinh danh Chúa Cha, và để thực hiện chương trình cứu độ của Người . Và ơn cứu độ của Thiên Chúa sẽ được hoàn tất vào thời gian ấn định . Không ai có thể hối thúc cho mau đến giờ . Người ta không thể bắt giữ hoặc ném đá Chúa Giêsu khi Người chưa đến ( Ga 7, 30 . 8, 20 ) .
Và như vậy Chúa Giêsu còn ở lại hai ngày nữa và đến ngày thứ ba sẽ lên đường như Người sẽ sống lại vào ngày thứ ba trong vinh quang Chúa Cha vậy .

5 / " Chúng ta hãy trở lại xứ Giuđêa" :

Tuy được mời về Bêthania, nhưng Chúa Giêsu lại nói Người sẽ trở lại Giuđêa . Người nói và làm như vậy là có ý nhắm tới sự chịu nạn, chịu chết sắp tới của Người tại Giêrusalem, Chúa đang trên đường về Giêrusalem chịu nạn và cuộc dừng chân tại Bêthania chỉ là một biến cố nhỏ thôi, một biến cố có tính cách báo trước cho việc Người chịu tử nạn và phục sinh mà Người sắp thực hiện .

6 / " Thưa Thầy, mới đây người Do thái tìm ném đá Thầy" :

Các môn đệ mang tâm trạng nhát sợ vì chưa hiểu ý định và chương trình của Chúa . Việc Người chịu thương khó và chịu chết không phải là một việc thụ động, nhưng là một việc có tính cách chủ động vì tự hiến theo ý định của Chúa Cha . Chính vì vậy mà Chúa Giêsu đã trấn an các môn đệ bằng cách trả lời rằng : " Một ngày lại chẳng có 12giờ sao" 12giờ là thời gian tính từ bình minh tới hoàng hôn . Khi còn thời giờ, Chúa Giêsu phải thực hiện đến cùng sứ mạng Chúa Cha trao phó kẻo khi đêm về tức là sự giữ đến thì chẳng còn làm được gì nữa ( 7, 8 - 33 ; Lc22, 53 ) .

7 / " Lazarô bạn chúng ta đang ngủ..." :

Ơ đây Chúa Giêsu áp dụng cho Lazarô kiểu nói mà Người đã dùng đối với con gái ông Giairô " Cô bé không chết nó ngủ đó" ( Mc 5, 39 ; Mt9, 53 ) .
Chúa Giêsu cũng dùng kiểu nói này để nói lên ý nghĩa của sự chết .

+ Trong Thánh Kinh, chết là hậu quả của tội lỗi và vì thế nó là hình phạt khủng khiếp nhất ( St 2 ; Kn1, 15 ) .

+ Nhưng đối với người công chính, cái chết là cuộc trở về trong bàn tay của Thiên Chúa, là sự an nghỉ trong bình an ( kn3, 1 - 3 ) , vì Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi kẻ Người thương mến .

+ Chúa Giêsu là dấu chỉ tình yêu Thiên Chúa là Đấng giải thoát con người khỏi tội lỗi và sự chết . Vì thế trong Tân ước, những kẻ chết trong niềm tin tưởng vào Chúa Kitô, thì chỉ ngủ mà thôi, " Những ai yên nghỉ trong Đức Kitô, Thiên Chúa sẽ đem họ về với Người " ( 1Tx 4, 14 ; Mt27, 52 ) .

Vì thế, ở đây cho thấy sự chết chỉ đáng coi như một giấc ngủ, bởi vì nó chỉ là một bước vượt qua để sống lại ( Ep 5, 14 ; Rm 13, 14 ) .

8 / " Thưa Thầy, nếu ông ta ngủ, ông sẽ khoẻ lại ..." :

Các môn đệ chỉ hiểu giấc ngủ theo nghĩa thông thường nên đến đây Chúa Giêsu đã phải nói rõ : " Lazarô đã chết" .

9 / " Nhưng Ta mừng cho các con, vì Ta không có mặt ở đó" :

Ơ đây Chúa Giêsu muốn nói : Người sẽ tỏ bày quyền năng Thiên Chúa của Ngài qua việc phục sinh cho Lazarô để củng cố niềm tin cho các môn đệ và đó điều đáng mừng cho các môn đệ .

10 / " Lúc đó ông Tôma cũng gọi là Điđimô ..." :

+ Điđimô là tên Hy Lạp của Tôma, có nghĩa là sinh đôi, mà bản văn không cho biết là sinh đôi với ai, Tin Mừng thánh Gioan đặc biệt chú ý đến Tôma ( Ga 14, 5 . 20, 24 - 28 . 21, 2 ) .

+ " Chúng ta cùng đi để cùng chết với Người "

Tôma thường bị mang tiếng là hay nghi ngờ, kém lòng tin, nên có lẽ ở đây Gioan nêu lên như vậy để bù lại, và quả thực sau này các môn đệ đã lần lượt chia sẻ số phận của Thầy mình, và cùng chết với người ( Ga 12, 24 - 26 ) .

11 / " Đến nơi Chúa Giêsu thấy Lazarô đã được an táng bốn ngày rồi" :

+ Theo phong tục của người Do thái thời Chúa Giêsu người chết thường được chôn cất ngay trong ngày chết ( Ga 11, 39 ; Cv 5, 6 ) .

+ Số bốn ngày ở đây là tính theo thời gian, phong tục người Do thái thời Chúa Giêsu tin rằng trong ba ngày đầu hồn vía người chết vẫn còn lảng vảng bên xác chết, chỉ từ ngày thứ tư lúc xác chết bắt đầu thối rữa, chúng mới bỏ đi . Và như vậy ngày thứ tư mới là ngày chết thật . Vì thế, con số bốn ngày ở đây nói lên ý nghĩa Lazarô đã chết thật sự . Chính cái chết này làm nổi bật quyền năng Thiên Chúa được thể hiện qua việc Chúa Giêsu phục sinh Lazarô .

12 / " Những người Do thái đến nhà Martha và Maria " :

Theo phong tục Do thái, sau khi chôn người chết, bà con xa gần đến viếng thăm không nguyên ở lại một ngày mà có khi cả tuần lễ để an ủi tang gia .

13 / " Nếu Thầy có mặt ở đây thì em con không chết" :

+ Đây là một lời tuyên xưng đức tin cách kín đáo nhưng cũng mạnh : Tin Chúa Giêsu có quyền, một thứ quyền chỉ dành cho Thiên Chúa, làm cho kẻ chết sống lại .

+ Con biết Thầy xin gì cùng Thiên Chúa ..." :

Đây là cách xin cho lx chết được sống lại cũng rất khéo léo và tế nhị : xin mà không cần nói rõ ra, chứng tỏ người xin có lòng trông cậy vững vàng .

14 / " Con biết ngày tận thế khi kẻ chết sống lại" :

Trong dân Do thái chỉ có nhóm Sađốc mới không tin có sự sống lại, trái với nhóm Biệt phái ( Đn 12, 1 - 3 ; 2Mcb 7, 22 - 24 . 12, 44 ) Martha tin có sự sống lại ngày tận thế, nhưng dợi đến đó thì quá lâu . Bà muốn Lazarô sống lại ngay bây giờ .

15 / " Ta là sự sống lại và là sự sống " :

Ta là sự sống lại : ở đây Chúa Giêsu tự mạc khải về sự sống lại của Người sau khi chết và đồng thời Người cũng loan báo về việc Người sẽ phục sinh kẻ chết để củng cố niềm tin cho Martha .

Và là sự sống : có ý nói đến sự sống viên mãn, vĩnh viễn đời đời . Vì thế ở đây muốn nói rằng Chúa Giêsu lãnh nhận từ Chúa Cha quyền năng làm cho những ai tin vào Ngài thì được sống sung mãn, trong đó gồm có sự sống lại ngày sau hết ( Ga 5, 26 - 29 ; 39 - 40. 50 ) .

16 / " Vâng con đã tin Thầy là Đức Kitô " :

Đây là kiểu nói theo truyền thống Do thái, để chỉ Đấng Cứu Thế ( Ga 1, 9 ; Mt11, 3 ; Lc7, 19 ) . Tuyên xưng Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế, cũng có nghĩa tuyên xưng Người là nguồn mạch sự sống lại . Tuyên xưng như vậy Martha đã đi xa hơn Nathanael ( Ga 1, 49 ) và tương tự với Phêrô ( Ga 6, 49 ) .

17 / " Thầy ở ngoài kia, Thầy gọi anh em" :

Thật ra, không thấy Chúa Giêsu gọi, có Martha đoán khéo ra như vậy ( Tương tụ người đàn bà Samaria ) . Ở đây Martha muốn tỏ ra hai chị em cùng một tâm tình, một niềm tin đối với Chúa Giêsu .

18 / " Khi thấy bà khóc nức nở và những người Do thái cũng khóc" :

Theo thói tục của người Do thái, khi có khác đến viếng thăm nhà hiếu, thì người nhà bật khóc lên thì khác cũng phải khóc theo như vậy .

19 / " Chúa Giêsu thổn thức và xúc động ..." :

+ Trước nỗi đau khổ của tang gia và những người thân, Chúa Giêsu có thái độ thật tình người : Người thổn thức và xúc động ... Người liền hkóc ... đến nỗi đân chúng chung quanh đã phải thốt lên " Kìa xem Người thương ông ấy biết bao ! " .

+ Nhưng thực ra nguyên nhân sâu xa khiến Chúa Giêsu phải thổn thức và phát khóc lên là vì :

a) Một đàng sự cứng lòng tin của người Do thái ( c37 ) và niềm tin nửa vời của Martha và Maria ( c39 ) .

b) Đàng khác đối với Chúa Giêsu, cái chết của Lazarô là dấu tiên báo về cái chết của chính Người và về cái chiến thắng tạm bợ của Satan .
Tâm tình xúc động của Chúa Giêsu ở đây cũng giống như tâm tình của Người trong cuộc hấp hối tại vườn Cây Dầu ( Ga 12, 27 . 13, 21 ) .

20 / " Hãy đẩy tảng đá ra" :

Người Do thái cũng như người Palestin không mấy khi chôn xác người chết xa nhà . Phần mộ của người giàu khoét vào núi đá . Sau khi đã tắm rửa, xác được sức thuốc thơm, cuốn băng, phủ khăn niệm, đưa vào phòng chôn rồi lấp cửa ngoài bằng một tảng đá lớn .

Ơ đây Chúa Giêsu tỏ ra là Người có quyền trên sự chết nên Người mói bảo đẩy tảng đá ra .

21 / " Thưa Thầy đã nặng mùi rồi, vì đã bốn ngày" :

Tuy Martha vừa tuyên xưng đức tin ở trên đây nhưng khi đụng tới cụ thể bà lại nghi ngờ ( Về điểm này Martha cũng giống như Phêrô khi đi trên mặt hồ ) khiến cho Chúa Giêsu lại phải khích lệ bà : " Nếu con tin thì con sẽ thấy vinh quang Thiên Chúa " ( c40 ) ( Ga 1, 14 . 2, 11 ) . Vinh quang đây là quyền năng Thiên Chúa tỏ ra bằng dấu hiệu khả giác, tức là việc Người sắp phục sinh cho Lazarô .

22 / " Chúa Giêsu ngước nhìn lên và nói ..." :

Người Do thái khi cầu nguyện thì quay về phía Giêrusalem, còn Chúa Giêsu khởi sự một lối cầu nguyện mới : Người nhìn lên trời ( Ga 17, 1 ) và đó cũng là lối cầu nguyện tiêu biểu cho phụng vụ Kitô giáo .

23 / " Con cảm tạ Cha đã nhận lời Con ..." :

Ơ đây Chúa Giêsu có ý tỏ ra sự hợp nhất giữa Chúa Cha và Người, để mọi người tin Người là Đấng Thiên sai .

24 / " Người kêu lớn tiếng ..." :

Ơ đây có ý tỏ ra uy quyền : Người có quyền trên Satan, trên sự chết ( Mc 5, 41 ; Lc7, 14 ) .

25 / " Hãy cởi ra cho anh ấy đi" :

+ Đối với Lazarô phải lăn hòn đá, phải cởi dải liệm .

+ Còn khi Chúa Giêsu phục sinh, các phụ nữ nhận thấy mọi sự kiện đã rồi, đá được lăn đi, các cuộn băng nằm dưới đát, còn khăn liệm được xếp lại ở một nơi riêng ( Ga 20, 1 - 7 ) . Các thiên sứ chỉ đúng đó để giúp các môn đệ ý thức các sự kiện mà thôi .

Sự so sánh này cho thấy Chúa Giêsu là Đấng phục sinh và Người phục sinh kẻ chết .

26 / " Một số người Do thái đến thăm ... đã tin vào Người " :

Ơ đây Gioan không nói bấy giờ Lazarô thế nào, cũng chẳng nói đến sự thán phục của các chứng nhân, nhưng ông đưa ra điều cốt yếu của sự kiện đó là nhiều người đã tin vào Đức Kitô . Và đó cũng là điều mà tác giả Gioan muốn mời gọi ta .

III / ÁP DỤNG : 

A/ Áp dụng theo Tin Mừng : 

Trước bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu làm phép lạ bằng cách phục sinh Lazarô để củng cố niềm tin của chị em Martha và Maria cũng như những người chung quanh . Qua bài Tin Mừng, Giáo Hội cũng mời gọi chúng ta suy niệm việc Chúa đã làm để tin mạnh mẽ hơn vào Chúa Giêsu phục sinh và được phục sinh với Người .

B/ Áp dụng thực hành : 

1 ) Nhìn vào Chúa Giêsu :

a/ Xem việc Người làm :

+ Chúa Giêsu thương Martha - Maria - Lazarô Chúa thương bằng tâm tình : Ngài thổn thức, xúc động ... và rơi lệ, nhưng còn thương bằng cách hành động là phục sinh Lazarô . Noi gương Chúa chúng ta thương nhau không chỉ bằng tâm tình mà bằng cả hành động cụ thể và thiết thực nữa .
+ Người còn lưu lại đó hai ngày : ở đây cho thấy Chúa không để tình cảm lấn át cũng không chiều theo ý muốn của loài người, nhưng trung thành với ý Chúa Cha . Noi gương Chúa chúng ta đừng chiều theo tình cảm riêng, cũng đừng nghe theo ý muốn con người nhưng phải trung thành với ý muốn của Thiên Chúa .

b/ Nghe Lời Chúa nói :

+ Chúng ta hãy trở lại xứ Giuđêa : chứng tỏ Chúa bất chấp mọi nguy hiểm đe dọa để thực hiện sứ mệnh cứu thế của Ngài . Nghe theo Chúa, chúng ta hãy tin tưởng vào Chúa quan phòng để thực hiện xứ mệnh của mình trong khi gặp gian nan thử thách .
+ Ai tin Ta dẫu có chết cũng được sống : những lúc yếu đuối, lầm lỡ, ta hay tin tưởng chạy đến với Chúa trong tinh thần thống hối để được ơn tha thứ .

2 ) Nhìn vào dân chúng :

Khi chứng kiến những việc Chúa làm, thì họ đã tin vào Người . Chúng ta hãy nhìn xem những công trình của Chúa đã làm để củng cố đức tin của ta mỗi ngày .

3 ) Nhìn vào Martha và Maria :

Tin vào sự sống lại và tin vào Chúa Giêsu có quyền làm cho kẻ chết sống lại, thế mà khi đụng đến thực tế ( thì đã 4 ngày rồi ) thì lại nghi ngờ . Chúng ta tuyên xưng niềm tin bằng tâm tình, bằng lời nói thì dễ dàng, những khi đụng vào thực tế, đôi khi chúng ta lại nghi ngờ, chỉ vì chúng ta chưa thật sự tín thác vào Chúa cách tuyệt đối .

HTMV Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn