Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật V Mùa Chay B

Tin Mừng Ga 12,20-33: Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.
CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT V - MÙA CHAY - NĂM B

NGÀY 18 - 03 - 2018


Học viện Piô Giáo hoàng  - Chú Giải


CHÚA GIÊSU LOAN BÁO NGƯỜI SẼ ĐƯỢC TÔN VINH NHỜ CÁI CHẾT 

Tin mừng Ga 12: 20-33


CÂU HỎI GỢI Ý:

1. Biến cố này nằm trong bối cảnh nào?

2. Phải hiểu thế nào lời thỉnh cầu của các người ngoại giáo cùng phản ứng của Chúa Giêsu (cc.20-23)? Đâu là mối liên hệ giữa hai hành động? 

3. Đâu là tương quan giữa câu 27-28 nói về nỗi xao xuyến của Chúa Giêsu với trình thuật Ghetsêmani trong Tin mừng Nhất lãm?

1. Giai thoại hôm nay nằm trong bối cảnh thời Gioan và thần học của tuần cuối cùng sứ vụ công khai của Chúa Giêsu, cái tuần Vượt qua (x. Ga 12, 1. 12; 13,1; 18,28; 19,31) mà hy tế của người, Chiên Vượt qua mới, sẽ biến thành lễ Vượt qua mới, lễ Vượt qua vĩnh cửu của công cuộc giải phóng vũ trụ. Việc xức dầu ở Bêtani (12, 1-11) làm thành khai đề tiên tri cho hy tế này. Cử chỉ của Maria, chị Ladarô, lấy dầu xức chân Chúa Giêsu, loan báo cuộc an táng của Người (12,7) mà Ga 11, 53 cho biết là sắp phải chết đi. Thật vậy, không ai xức dầu như thế trên chân người còn sống, thường trên một tử thi, trong khung cảnh lễ nghi khâm liệm. Theo Mc (14,3-9) thì người đàn bà đổ hương liệm lên đầu Chúa Giêsu, làm cử chỉ đặc trưng của một cuộc xức dầu tấn phong thiên sai và vương đế. Ngày hôm sau, Chúa Giêsu tiến vào thành Giêrusalem ( 12, 12-19), có dân chúng đông đảo đi theo tung hô Người là "Vua Israel". Đối với Gioan, việc cầm nhành lá tung hô này là tột đỉnh sự ngộ nhận của đám quần chúng Do thái. Chúa Giêsu âm thầm điều chỉnh niềm hy vọng thiên sai lệch lạc của họ: Người ngồi trên lưng lừa sau khi dân chúng hoan hô – chứ không phải ngay từ đầu như trong Tin mừng Nhất lãm- để cho thấy mình không có kỳ vọng chính trị nào, giống như vị quân vương khiêm hèn mà Dacaria đã tiên báo (9,9-10). Cuộc Vượt qua sắp đến của Người-Thương khó, Tử nạn, Phục sinh - sẽ bày tỏ cách rõ ràng loại "vinh quang" Người theo đuổi. Chỉ sau kinh nghiệm Vượt qua này, các môn đồ mới hiểu được bản chất đích thực của cuộc khải hoàn của Chúa Kitô (c. 16).

Còn dân chúng cứ tiếp tục ngộ nhận (cc.17-18). Tuy nhiên những lời tung hô của họ đã khiến các người Biệt phái phản đối và tranh luận với nhau: "Các ông thấy: các ông chẳng đi đến đâu cả. Kìa hết thảy thế gian đã theo sau hắn ta" (c l9b). ở đây cũng vậy, Gioan tỏ ra châm biếm như mọi lần. Nỗi quan ngại của người Biệt phái có nhiều lý do hơn họ tưởng: ngay cả dân ngoại cũng đi vào cuộc, cũng muốn theo Chúa Giêsu (cc.20-23).

Lời nhận xét của Biệt phái tự nhiên khiến ta liên tưởng đến nhận xét của thượng tế cai pha trước đó: "Các ông thấy rằng thà để một người chịu chết thay vì cả toàn dân... "  (11, 50). ông này cũng nói tiên tri mà không hay biết, Gioan nhận xét một cách châm biếm đau lòng như vậy: "Điều ấy ông đã nói ra không phải tự mùth; nhưng đi tư cách là thượng tế năm ấy, ông đã nói tiên tri là Chúa Giêsu sắp phải chết thay cho cả dân tộc - và không chỉ cho dân tộc mà thôi - không còn để thâu họp con cái Thiên Chúa tản mác về lại làm rnột" (11, 52).

Thành thử việc xuất hiện của một số người ngoại giáo muốn gặp Chúa Giêsu hôm nay là một cao điểm trong cơ cấu văn chương và thần học của Ga 11-12; nó cho thấy chương trình cứu độ phổ quát, vượt qua bên kia biên giới dân Do thái, bắt đầu thực hiện ít nhất trong phôi mầm. Và tất cả đều rõ ràng muốn nói là giờ khổ nạn, giờ dẫn đi vinh quang, đã bắt đầu điểm. 

2. Đây chẳng phải là những người Do thái ly hương (x. Ga 7,35) lánh cư khỏi Palestin và tản mác trong các vùng ngoại giáo, song là lương dân không cắt bì, thuộc hạng người "kính sợ Thiên Chúa" (x.Cv 10,2.22.35; 13, 10.26) tin vào độc thần và sống đoan chính. Họ đến Giêrusalem chẳng phải để du lịch nhưng để hành hương, vì dầu sao cũng muốn thành thực đi tìm chân lý. 

Họ ngỏ lời với Philipphê vì ông này nói tiếng hy lạp (tên ông và tên của Anrê đều là tên hy lạp), bởi lẽ cũng như họ, ông xuất phát từ Betsaiđa, vùng đất lương dân rất nhiều: "Chúng tôi muốn được trông thấy ông Giêsu, họ bảo (c. 19). Trông thấy Chúa Giêsu không chỉ có nghĩa là "xem cho được Người", vì họ có thể làm điều này mà không cần đến Philipphê. Đúng ra họ lnuốn nói với Chúa Giêsu, trò chuyện với Người: đây quả là một “initium fidei" vậy (bước khởi đầu

của đức tin). Ta biết rằng động từ "thấy" (nhất là horan, idein, theasthia) thường được Tin mừng Gioan dùng để chỉ thực tại của đức tin (1,14.18.51; 3, 11.32; 8,56; 14,9. 19). Và kiểu mẫu hoàn hảo của tín hữu chính là môn đồ yêu dấu của Chúa, kẻ mà sau khi vào trong mộ ngày Phục sinh, đã thấy và tin" Việc đi tìm một trung gian hình như cũng có ý nghĩa biểu tượng. Thế giới lương dân đã không biết đích thân con người Chúa Giêsu, nhưng chỉ qua lời rao giảng của các sứ đồ họ "đã thấy" Chúa Giêsu nhờ Tin Mừng đã được công bố cho họ. 

Tuy nhiên giữa ước muốn được bày tỏ của lương dân và việc họ đi vào Nước Trời sau khi nghe lời các Sứ đồ rao giảng, có cuộc Thương khó - Tử nạn - Phục sinh của Chúa Giêsu, có "giờ" của Người: "Giờ đã đến cho Con Người được tôn vinh" (c.23). Vì chính vào giờ này, tất cả hàng rào dựng nên do tinh thần kỳ thị, đặc thù, bè phái mđi bị dẹp bỏ. Chính vào lúc ấy mới bắt đầu những kinh nghiệm đầu tiên về niềm tin đích thực vào Chúa Kitô hằng sống, vào Chúa Kitô "Chúa" ( x Ga 20, 18.20.28.29; 21,7. 12. 17), những kinh nghiệm mà trước ngày Phục sinh không thể có được. 

Từ câu 23, Gioan không nói gì đến các ngươi lương vừa rồi nữa, cũng chẳng cho biết lời yêu cầu của họ có được toại nguyện hay không. Đây là một phương thức hành văn tương tự thư trong cuộc gặp gỡ với Nicôđêmô: đến một lúc, trình thuật không còn nói tại vị kỳ mục nữa, để dành chỗ cho lời Chúa Giêsu và suy tư của Gioan.

Việc lương dân xuất hiện và hỏi thăm làm Chúa Giêsu hiểu rằng giờ Người hằng mong đợi và Tin mừng thứ tư dần dần cho thấy là đang đến (Ga 2,4; 7,6.8.30; 8,20), thực sự là tới rồi. Đó chính là giờ của "Con Người": "Giờ đã đến cho Con Người được tôn vinh" (c.23). "Con Người" là tước hiệu mà Chúa Giêsu, trong. Tin mừng Nhất lãm, thích dùng lúc loan báo cuộc khải hoàn mà Người sẽ đạt được qua thập giá. Đó cũng là tước hiệu không kém ý nghĩa của Tin Mừng thứ tư nó được nhắc tới trong toàn bộ biến cố (Thương khó, Tử nạn, Phục sinh, Lên trời) mà Gioan mệnh danh bằng hạn từ độc nhất là "tôn vinh" (coi Ga 3, 14; 8,28; 12,32). Nhưng vinh quang là giờ "Vinh quang" (doxa) là ánh sáng chiếu tỏa của sự hiện diện Thiên Chúa, là vẻ huy hoàng vừa kinh khủng vừa mê hoặc của hữu thể thần linh. Vinh quang ở trong Ngôi Hai nhập thể nhưng bị sự khiêm tốn của việc Nhập thể giảm bớt phần nào ánh chói lọi đi, mặc dù lời nói và công việc của Chúa Giêsu vẫn là "đấu chỉ" đầu tiên của nó (x. Ga 2,11). Nhưng rồi cuộc Khổ nạn, thay vì che đấu vinh quang, sẽ mặc khải nó cách sung mãn: vì một khi cái vỏ nhân loại bị tan vỡ thì sự hiện diện thần linh, như được giải phóng, sẽ tràn ngập nhân tính Ngôi lời để cho nó sống lại và thăng thiên. Và việc

Chúa Giêsu trở về với Cha ngang qua cái chết và phục sinh này sẽ loan báo con đường cứu rỗi cho người ngoại giáo. Những người này, khi tin vào Chúa Giêsu hiển vinh, nghĩa là đã chết và sống lại, sẽ góp phần vào "vinh quang" cho Con Người và sẽ làm nên một phần cuộc khải hoàn chiến thắng của Chúa Giêsu.

Vậy chắc chắn có một sự song đối giữa giai thoại lương dân muốn gặp Chúa Giêsu với cuộc tiếp đón khải hoàn dân chúng Do thái dành cho Người ở Giêrusalem. Thực thế, khi yêu cầu của mấy người ngoại giáo cũng là một cử chỉ tiếp đón long trọng đối với Chúa Giêsu dầu họ không thấy rõ. Chúa Giêsu vui lòng chấp nhận cử chỉ vừa đồng thời làm cho họ hiểu một sự thừa nhận như vậy, đối với Người, có ý nghĩa ra sao (cc.24-28), như trước đây, Người cũng đã điều chỉnh quan niệm sai lầm của dân chung Giêrusalem về vinh quang và về cuộc khải hoàn của Người (coi 12,12-16). Việc các người Hy lạp đến đã hoàn tất một cách biểu tượng giai thoại tiến vào Giêrusalem vậy. Và như thế thì ta có thể hiểu những gì Chúa Giêsu nói (cc.23-26) như là câu đáp trả gián tiếp ước vọng của những người ngoại: chính nhờ cuộc Tử nạn của mình mà Chúa Kitô, một khi bị sát tế, sẽ trở nên gần gũi với họ hơn.

3. Chắc chắn nơi cc.27-28, Gioan cảm hứng từ cảnh xảy ra tại vườn Ghetsêmani mà Tin mừng Nhất lãm có tường thuật lại (x. Mc 14,33-36 ss). Tuy nhiên ông đã đặt nó trong một bối cảnh khác, đã giải thích và mang vào đó một vài sửa chữa. Như trong Tin mừng Nhất lãm, Chúa Kitô khi thấy giờ chết đến cũng bắt đầu run sợ. người xao xuyến một cách sâu ra và kinh hãi như mọi người: "Bây giờ hồn Ta những xao xuyến" (c.27a). "Hồn" đồng nghĩa với con người, với sự sống: cái sự sống mà phải ghét bỏ, phải liều mất mới cứu được, giờ đây trong giao động mãnh liệt trước tử thần đang rình rập nó. Cơn xúc động bên trong (nguyên tự: "bực dọc tâm thần": tôi  pneumati) mà Chúa Giêsu đã cảm thấy khi đứng trước mồ Ladarô (x. Ga 11,33) bây giờ xâm chiếm toàn thân Người trọn vẹn. Ở đây, chính qua câu: "Bây giờ hồn Ta những xao xuyến" mà Gioan gợi lại nỗi xao xuyến bi thảm đã được Tin mừng Nhất lãm trình bày trong cảnh vườn Ghetsêmani (x. Lc 22,43-44).

Nhưng khởi từ câu này, Gioan khai tr ển sự việc theo phương cách của ông. Để tránh mọt mâu thuẫn với Tin mừng Nhất lãm, một số nhà chú giải đã muốn rằng Chúa Giêsu thực sự xin với Cha: "Xin cứu Con khỏi giờ này" (như  trong Mc 14,36 và ss: "Lạy Cha, Cha có thể làm được mọi sự, xin cất  chén này xa khỏi Con"). Nhưng cách đọc bản văn như thế không phù hợp với câu hỏi của Chúa Giêsu: "Ta phải nói gì?". Câu hỏi này cho thấy Chúa Giêsu đang phải chọn một trong hai cách cầu nguyện với Chúa Cha: "Xin cứu Con khỏi giờ này" hoặc "xin hãy tôn vinh danh Cha”. Và lập tức người chọn lời nguyền thứ hai. Lại nữa, Chúa Kitô của Tin mừng thứ tư luôn "chủ động”, suốt cuộc Khổ nạn của Người. Người làm cho ai nấy phải kính nể (x. Ga 18,6) và nhờ hoàn toàn ý thức vai trò mình đảm nhận, Người chu toàn một cách ung dung, một cách tuyệt hảo sứ mệnh Cha đã giao phó: thí mạng sống để cứu rỗi hết thảy thế gian. Đứng trước ngưỡng cửa cuộc khổ nạn, không thể tưởng tượng trên môi miệng vị Khâm sai của Thiên Chúa một lời nguyện khác với lại nguyện "lạy Cha, xin hãy tôn vinh danh Cha" (x. Ga 17,4).

Trốn tránh "giờ" này cái giờ Chúa Kitô hằng ao ước và sau cùng đã đến, tức là làm cho nó mất hết tất cả ý nghĩa đã từng bao hàm trong mầu nhiệm Nhập thể; vì lúc nhập thể.  Chúa Con đã mang lấy trên Người cuộc hiện hữu tại thế với tất cả chiều sâu cũng như tính cách bi thương của nó, để sống nó cho đến cái chết, không phải cho chính mình mà cho cả nhân loại.

Việc Chúa Giêsu chấp nhận "giờ" này làm vinh danh Chúa Cha vì đó là cách tỏ lộ chương trình cứu độ phổ quát của Ngài, chương trình mà cuộc Thương khó, Tử nạn và Phục sinh của Chúa Kitô sắp thực hiện.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

"Ai ghét sự sống mình nơi thế gian này": Có lẽ phải dịch như bản TOB: ai thôi bám: chặt sự sống mình đời này. Vì theo cách nói sêmita, động từ đùng ở đây, khi đối lại với chữ yêu, thì thường có nghĩa là yêu mến ít hơn, là không xem như một giá trị tuyệt đối (St 29,31-33; Đnl 21,15; Mt 6,24; Lc 16,13; 14,26).

"Ta đã tôn vinh Danh Ta và sẽ còn tôn vinh nữa": Chữ tôn vinh" thứ nhất ở đây quy về các "đấu chỉ" Chúa Giêsu đã thực hiện để làm chứng cho Chúa Cha. Chữ "tôn vinh" thứ hai ám chỉ đến cái chết và việc giương cao Chúa Giêsu (vì tôn vinh Ngài trong chính mình).

“Dân chúng... bảo đó là một tiếng sấm": Khó mà hiểu được tại sao một tiếng nói lại có thể phát ra vì lợi ích của những kẻ đã không hiểu nó cũng như không biết ai đã nói ra nó ("tiếng ấy phát ra không phải vì Ta mà vì các ngươi"). Có thể Gioan đã nghĩ đến một nhóm thứ ba (các môn đồ chẳng hạn) là những người, trong thực tế, đã nhận ra được nguồn gốc và ý nghĩa của tiếng nói trên.

"Chính bây giờ là cuộc phán xét thế gian này": Giờ của Chúa Giêsu đánh dấu một giai đoạn quan trọng và quyết định đối với toàn thể nhân loại. Cuộc sáng tạo cũ đến đây chấm dứt, cuộc sáng tạo mới bắt đầu (1) Số phận mỗi người tùy thuộc vào biến cố này và vào việc người ta có chấp nhận nó bằng đức tin hay không. Giờ Chúa Giêsu là giờ phán xét (krisis), giờ phân chia: ai từ chối Chúa Giêsu và "giờ” này thì bị liệt vào phe của "đầu mục thế gian", đối thủ lợi hại của Chúa Giêsu, và bị luận phạt như nó (x. 3,18). 

"Chính bây giờ đầu mục thế gian này sẽ bị đuổi ra ngoài": Chúa Giêsu nói đến Satan như nói đến một bạo chúa thất trận, bị truất phế. Nhiều bản văn mà một số có nguồn gốc Kitô giáo (Ep 2, 2; 6, 12) đồng ý gán cho Satan tước hiệu "đầu mục thế gian này". Các giáo sĩ cũng gọi nó là "sar ha olam”

(l) Việc đi từ cuộc sáng tạo cũ sang sáng tạo mới không phải và một hiện tượng vật lý đơn thuần, nhưng là một sự tiến triển luân lý và thiêng liêng.
Chính ma quỷ gán cho mình quyền thống trị trên mọi sự "thế gian" (Mt 4,9). Khi nói như thế, nó chỉ khoe khoang hão, tuy nhiên hãy biết rằng trong Tin mừng, tội nhân bị gọi là tội và ngay cả con cái của nó (Ga 8,34.44; Cv 8,10), rằng Thiên  Chúa đã đặt nó thi hành các việc công lý của Ngài (Mt 5,25- 26; G 2,6; Dcr 5,5), rằng kinh nghiệm xưa nay cho thấy ma quỷ rất khéo léo trong việc phỉnh gạt, làm khổ nhân loại.  "Và Ta, một khi Ta được giương cao khỏi đất": Hãy so sánh với lối chơi chữ của St 40,13 và St 40,19 về chữ "nâng đầu lên": đầu của viên chánh chước tửu sẽ "được nâng lên cao" và ông sẽ được ân xá; còn đầu của viên chánh ngự thiện cũng "được nâng lên cao" nhưng ông ta sẽ bị treo cổ. Trong Is 52, 13 thì bảo người Tôi tớ Gioan "được nhắc cao" và "được tôn dương". Có lẽ đây là nguồn gốc chữ "được tôn vinh" và được giương cao" trong Gioan. 

KẾT LUẬN:

Trong đoạn này, chính “giờ" của Chúa Giêsu là trọng tâm xét trên bình diện lịch sử lẫn thần học. Về phương diện Kitô học, "giờ" này đánh dấu việc Ngôi lời nhập thể hoàn tất sứ mệnh mặc khải và cứu chuộc thế gian. Nó đặc trưng tất cả cuộc đời Chúa Kitô, vốn luôn quy hướng về nó. Vì chính lúc bấy giờ xảy ra cuộc "phán xét" (krisis) nhân loại, xảy ra sự phân chia" (krisml) những kẻ tin hay (ừ chối tin mầu nhiệm Chúa Kitô tử nạn và được tôn vinh. Ai tin thì được cứu rỗi và được sống, còn ai từ chối tin thì bị luận phạt \là phải chết muôn đời.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Trong Tin mừng Gioan, Chúa Giêsu thường nói đến "giờ" của Người. Đó là lúc người đạt đến cao điểm sứ mệnh cứu chuộc, tức là Chết và Phục sinh. Không nên tách rời hai yếu tố này. Cái chết là cuộc vượt qua cần thiết do tình yêu đòi hỏi, nhưng sự phục sinh sẽ ban cho nó một ý nghĩa khi tôn dương và làm nẩy sinh sự sống. Giờ Chúa Giêsu vừa là thứ Sáu thánh vừa là Chúa nhật phục sinh, và giờ này hôm nay cứu tiếp tục trong mỗi Kitô hữu là con người vừa chịu đựng đinh vừa được sống lại.

2. Ở đây Chúa Giêsu lợi dụng dịp vài người ngoại giáo đến gặp để nói đến giờ của Người. Lương dân “Hy lạp" này là những kẻ có cảm tình với đạo Do thái. Họ hành hương đến Giêrusalem dù không phải là con dân Abraham. Chúa Giêsu bảo Giờ của người, nghĩa là ơn cứu chuộc, cũng liên hệ tới họ. Liên hệ như thế nào? Người giải thích bằng cách đưa ra hình ảnh hạt lúa mì chết đi trong lòng đất và mọc lên sai hoa lắm quả. Hạt lúa mì mục nát chính là Người. Các hạt sinh sôi là tất cả mọi dân tộc, tất cả loài người, tất cả "lương dân" sẽ trở thành tín hữu.

3. Mọi Kitô hữu đều được mời gọi sống Giờ của Chúa Giêsu. Cần lưu ý là trong bản văn thánh Gioan, các chữ "vinh quang" và "sự chết" rất gần nhau và hầu như được liên kết với nhau. Điều này cho thấy hai điểm. Trước hết Kitô hữu phải biết tiêu diệt trong mình những gì chống lại với sự sống đích thực. Phép rửa của họ đưa họ vào mầu nhiệm chết. Họ không thể ở trên Thầy của họ. Họ phải chết về phương diện thể lý, nhưng cũng phải vượt qua bằng một cái chết thiêng liêng: cái chết này gọi là sự từ bỏ chính mình. Nhưng phải chăng vì thế mà họ phải tỏ ra khắc khổ và buồn bực? Không, vì họ còn phải sống mầu nhiệm phục sinh, tôn vinh, một mầu nhiệm vui tươi của sự từ bỏ của Kitô hữu chỉ có ý nghĩa trong sự kết hiệp với cái chết và phục sinh của Chúa Kitô cùng bắt chước người. Thế mà Chúa Kitô, trong giờ của Người, đã sống thực ai đau khổ và hiển vinh cùng một lúc. Nên Kitô hữu, người của từ bỏ, phải đồng thời là người của sự vui mừng thiêng liêng.

4. Cũng như  Thầy mình, mỗi Kitô hữu đều được kêu lời trở nên hạt lúa gieo vào lòng đất. Điều này liên hệ tới phần của họ trong việc cứu rỗi thế giới. Dù có được kêu gọi hoạt động bên ngoài hay không, thì mỗi Kitô hữu, qua việc kết hợp với Chúa Kitô đều có ơn gọi tham gia vào việc cứu rỗi anh chị em mình. Nếu không thể hoạt động bên ngoài, thì họ hãy ấp ủ tư tưởng phấn khích này là: việc âm thầm dâng lời  cầu nguyện, đau khổ, cái chết, trong sự kết hiệp với Chúa Giêsu cũng có khả năng cứu rỗi nhiều người. Nếu có sự hoạt động, họ phải nhớ rằng hiệu năng hành động của họ trước tiên tùy thuộc việc họ hiệp thông vào kinh nguyệt cà khổ nạn giá  Chúa Giêsu.

5. Chúa Kitô đã chấp nhận bị nghiền quát trong cuộc khổ nạn để trở nên bánh dâng lên Chúa Cha trên bàn thờ thập giá, đồng thời trở nên lương thực nuôi ta trong bí tích Thánh Thể nhiệm mầu. Chúng ta hãy mau mắn đến bàn tiệc rước lấy Mình Thánh Chúa để được tăng thêm sự sống của Người, để Người biến đổi ta nên thân xác Người, hầu một ngày nào đó ta có thể nói: "Không phải tôi sống, nhưng chính Chúa Kitô sống trong tôi".


 

Noel Quession - Chú Giải

Ga 12,20-33
 

Cũng như Chúa nhật trước, thánh Gioan đề nghị chúng ta suy niệm về thập giá.  

Trong số những người lên Giêrusalem thờ phụng Chúa, có mấy người Hy Lạp. Họ đến gặp ông Philìpphê, người Bét-xai-đa, miền Galilê, và tin rằng: “Thưa ông tôi muốn được gặp ông Giêsu”.


Đây là Lễ Vượt qua cuối cùng Đức Giêsu tham dự. Xét theo bản văn thánh Gioan, trang Tin Mừng mà ta đọc hôm nay, đi liền sau trình thuật tiến vào thành Giêrusalem vinh hiển của Đức Giêsu, ngày Lễ Lá. Sau sự thành công trước quần chúng trên đây, các người pharisêu đã nói với nhau. "Các ông thấy không, các ông sẽ chẳng làm được gì hết. Hãy coi đó, thiên hạ bắt đầu theo hắn cả rồi!". Nhận xét của nhóm Pharisêu được minh chứng ngay, qua sự kiện những người "Hy Lạp”, xa lạ nhưng lại có thiện cảm với dân tộc Do Thái, đến xin "gặp" Đức Giêsu. Như thế, đang khi những người quyết định giết hại Người, cố gắng xiết gọng kìm và bầu khí chống đối của nhóm Pharisêu đang trở nên nặng nề, thì đột nhiên, vào đầu tuần lễ cuối cùng của Người tại dương thế, Đức Giêsu có thể nhìn thấy sứ vụ cứu độ của Người đang bành trướng rộng khắp. 

Những người "Hy Lạp" này đang báo trước, các dân ngoại sẽ gia nhập Giáo Hội, và thực ra công cuộc cứu độ đang lan rộng, vượt qua ranh giới của ít-ra-en: Đức Giêsu sắp nói, Người nhìn thấy cái chết của Người sẽ mang lại sự phong phú phi thường như thế nào... "nó mang lại nhiều hoa trái... " "Nó lôi cuốn mọi người ". Chúng ta lưu ý thêm, những người nước ngoài đang trào đổi với Philipphê. Ong này mang một tên gọi Hy Lạp ông xuất thân từ Bét-xai-đa (miền vãng lai có nhiều người nước ngoài cư trú!). Ong Phihpphê này hẳn là biết được một ít tiếng Hy Lạp đủ để ông tiếp xúc trao đổi. Chúng ta có chú ý đến những người xa lạ, để hướng dẫn họ đến với Đức Giêsu không? 

Đức Giêsu trả lời: "Đã đến giờ Con Người được tôn vinh".

Chúng ta có thể chấp nhận lời mạc khải đó không?

“Giờ của Đức Giêsu”, đó là giờ thập giá của Người: Và cũng chính là giờ vinh quang của Người? Thật là đáng tiếc, chúng ta vẫn tiếp tục chờ đợi một giờ khác, một biểu lộ khác của Thiên Chúa. Ta cần phải thú nhận rằng, chúng ta thường mơ tưởng một thứ vinh quang khác cho Thiên Chúa cũng như cho chúng ta. Thế mà, Đức Giêsu cứ lập lại cho ta: "Này đây, giờ đã đến" (Ga 12,23-27-31). Cho tới lúc này, giờ đó chưa đến, nhưng Đức Giêsu thường nói về giờ đó (Ga 2,4 - 4,21-23 - 5,25 - 7,30 - 8,20). Giờ "ưu việt" đó chính là giờ thập giá: Giờ "tôn vinh" Chúa Cha và Chúa Con. (Ga 23-28)... giờ "xét xử và cứu độ" thế gian (Ga 1,31~2). Một vài ngày nữa, Đức Giêsu sẽ bước vào Cuộc Thụ Khổ của Người. 

Bề ngoài, hình như Đức Giêsu không lạ việc các người “Hy Lạp" đến xin "gặp" Người. Nhưng thật sự, Người đã thỏa mãn ước muốn của họ: "Đã đến giờ Con Người sắp được tôn vinh "... " giờ cho tôi gặp Người" tới gần... giờ giúp ta nhận ra Thiên Chúa. Ta không thể gặp được Thiên Chúa, Đức Giêsu, dưới ánh sáng nào khác, ngoài ánh sáng của thập giá: Đó là giờ của tình yêu tuyệt đối. Lạy Chúa xin giúp con biết nhìn lên thập giá, luôn chiêm ngắm thập giá: Đó là giờ mạc khải quan trọng nhất  về Thiên Chúa... Tất cả không gì triết gia bàn đến, tất cả những gì các tôn giáo dò dẫm kiếm tìm, thì không đáng kể gì và chưa đủ: "Và đây xuất hiện thập giá" Vượt qua những lời nói, những suy luận, tôi hãy chiêm ngắm những hình ảnh đó, "hình tướng" về Thiên Chúa. 

Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.

Vâng, giờ của Đức Giêsu, chính là giờ "chết” của Người, nhưng cũng đồng thời là giờ sự sống của Người, được nhân thừa lên. Đức Giêsu sắp ở một mình trên thập giá. Nhưng trên đó, một cách vô hình Người đang được bao quanh bởi hàng tỷ người nam nữ được cưú độ, nhờ sự hy sinh  của Người. Con người thuộc mọi thời đại, thuộc mọi nền văn hoá minh tinh màn bạc  về cái chết và cố khám phá ra mầu nhiệm của nó. Còn Đức  Giêsu, qua một câu nói hoàn toàn đơn giản  trên đây, người đã nói cho ta niền xác tín riêng của Người. Người không lý luận. Một cách đầy hiện thực. Người nói, Người đương đầu trước cái chết như thế nào: Đó là cách gieo hạt giống. Suốt mùa đông dài hạt giống bị vùi sâu trong lòng đất tưởng như chết mục, bỗng đâu mùa xuân đến nó đã mọc cao và trở thành bông lúa trĩu hạt trong một vài tuần sau, hứa hẹn một mùa gặt phong phú. Đức Giêsu đã nhìn thấy mùa gặt. 

Ai quý trọng mạng sống mình, thì sẽ mất, còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho cuộc sống đời đời.

Như thế theo Đức Giêsu, cần phải chết đi để có sự sống đích thực! Và Người không nói điều gì, chỉ vì thích diễn tả nghịch lý. Nhưng trong một kiểu nói bí ẩn, Người cố gắng gợi lên cho ta một chân lý không tất nhiên rõ ràng, nhưng hiển nhiên cho mọi tâm hồn yêu mến  : Cái chết thật không phải là cái chết thể lý, nhưng là sự từ chối hiến thân, là tự đóng kín nơi mình không mở rộng đến kẻ khác! Để bước vào sự sống đích thực, cần phải chết đi. Đó là điều Thiên Chúa thể hiện vì chúng ta… bởi vì Người là “Tình yêu tuyệt đối”. Người mất mạng sống vì chúng ta! Luật của đời sống, là tình yêu… một hạt lúa nhỏ nhất cũng nhắc cho ta điều đó.

Lạy Chúa, xin giải thoát chúng con khỏi tính vị kỷ khô cằn mà có khi chúng con đã gọi là “sống” cuộc đời mình. Xin dạy chúng con biết hiến mạng sống như Chúa.

Ai phục vụ Thầy thì hãy theo Thầy và Thầy ở đâu, kẻ phục Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha Thầy sẽ quý trọng người ấy.

Cuộc phiêu lưu của hạt lúa mì, lúc đầu  không đáng kể gì nhưng tới mùa gặt mang kết qủa dồi dào phong phú: Đó là cuộc phiêu lưu của nước Thiên Chúa (Mc 4,1-20).

Nhưng đối với thánh Gioan, tất cả mầu nhiệm của nước Thiên Chúa đều tâp trung nơi con người Đức Giêsu: Cuộc phiêu lưu của hạt lúa chìm ẩn dưới lòng đất, để lại mọc lên thành cây, cũng là cuộc phiêu lưu của Đức Giêsu, chịu chết để sinh sản ra nhiều hoa trái.

Nhưng cuộc phiêu lưu đó không chỉ có Đức Giêsu thực hiện, nó còn được trao ủy cho chúng ta. Chính trong cuộc sống mạo hiểm này, Đức Giêsu đã được vinh quang của Người, vinh quang của tình yêu “phục vụ” đến cùng, thì chúng ta cũng có thể sống cuộc mạo hiểm đó. Số phận của “hạt lúa” cũng trở nên số phận của chúng ta: Chết đi để mang lại hoa trái: “Ai phục vụ Thầy, Cha Thầy sẽ ban cho họ vinh quang”.

Rồi Đức Giêsu thưa cùng với Chúa Cha: “Bây giờ tâm hồn con xao xuyến… Con biết nói gì đây? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này”.

Niềm xác tín vào hiệu qủa phong phú nhờ sự hy sinh của mình, không tránh cho Đức Giêsu khỏi phải cảm nghiệm sự lo âu trước cái chết. Tư tưởng về số phận hạt lúa chết đi để sống lại, đã làm Đức Giêsu thổn thức không nguôi. Vào những thời điểm khác, ba thánh sử kia đều nói cho ta biết rằng Đức Giêsu bị “thử thách” muốn sử dụng thần tính của mình để khỏi phải chấp nhận thân phận con người: Đó là cơn cám dỗ lúc đầu đời công khai của Chúa. Tại hoang địa (Mt 4,11)… đó là cơn cám dỗ lúc Chúa hấp hối ở vườn cây dầu (Mc 14,32). Nhưng trước mỗi cơn thử thách, Đức Giêsu đều kiên quyết thoát khỏi để luôn trung thành với Chúa Cha trọn tình con thảo. Cũng như Đức Giêsu, chúng ta có thể phải giao động trước nỗi khổ đau.

Nhưng không, chính vì giờ này mà Con đã đến đây, lạy Cha, xin tôn vinh Cha.

Đối với chúng ta cũng vậy, việc tuân phục đức tin hệ tại thái hộ chấp nhận thân phận con người phải chết của chúng ta, và gán cho nó một ý nghĩa dưới ánh sáng Cuộc Thụ Khổ và vinh quang của Đức Giêsu: Chết đi để trao ban hoa trái. Thư gửi tín hữu Do Thái, mà ta đọc Chúa nhật hôm nay, cũng cho rằng thái độ vâng phục của Đức Giêsu đã tạo cho cái chết của Người có một ý nghĩa sâu sắc:”Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà vâng lời khẩn nguyện nài xin lên  Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết. Thiên Chúa đã nhận lời Người, vì Người đã tôn kính Thiên Chúa. Dầu là con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục, và khi chính bản thân tới lúc thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho những ai tùng phục Người (Dt 5,7 –9).         

Cái chết vẫn là một sự dữ…Đau khổ vẫn còn là một sự dữ…Và Đức Giêsu không phải mất công trả lời những vấn nạn thuộc phạm vi triết học mà là vấn đề về sự ác đặt ra. Một cách đơn giản, Người đón nhận cái chết như một sự vâng phục  thân phận làm người, vì tình yêu. Và như thế, Người đã thay đổi ý nghĩa của cái chết.

Bấy giờ có tiếng từ trời vọng xuống:”Ta đã tôn vinh danh Ta, Ta sẽ còn tôn vinh nữa”.

Thánh Gioan không thuận lại cuộc Biến Hình,cũng như bất cứ một cuộc Thần hiện vinh quang nào. Đối với ông, như ta đã thấy Chúa Nhật vừa qua, thì “Giờ của thập giá” là giờ Vinh Quang. Trên Thập Giá Người được “giương cao”, nghĩa là vừa “bị đóng đinh”, vừa “được tôn dương”:Loài người làm việc thứ nhất…còn Thiên Chúa thực hiện thứ hai.

Giờ đây đang diễn racuộc phán xét thế gian này. Giờ đây thủ lãnh thế gian này sắp bị tống ra ngoài.

Đó là hai mặt của cùng một thực tại:”Phán xét” và “Cứu độ”.

Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi. Đức Giêsu nói thế để ám chỉ Người phải chết cách nào.

Đó là lúc sự dữ bị đánh bại, “thủ lãnh của thế ian này” bị tống ra ngoài…và con người được cứu độ! Phải, chính thập giá đã tạo nên một sự hấp dẫn mới, lôi cuốn mọi người! Đólà lời nói mầu nhiệm, cần phải đón nhận trong đức tin và chúng ta phải tạ ơn vì lời nói đó. Cuối cùng đó cũng là cách trả lời đích thực cho những người “Hy Lạp” đã xin “Gặp gỡ “ Đức Giêsu. Lời nói này là một trong những lời nói cuồi cùng mà Đức Giêsu đã thốt ra trong thời gian thử thách sứ vụ cách công khai của Người. Và không ai đã hiểu lời đó (Ga 12,34). Thánh Gioan tường thuật tiếp: Lúc đó “Đức Giêsu lánh đi, không cho họ thấy” (Ga 12,36). Người không còn gì để nói nữa. 

 

Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

" Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất thối đi, thì nó sinh nhiều bông hạt"

 

BÀI TIN MỪNG: Ga 12, 20 - 33 

I. Ý CHÍNH: 

    Bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy rằng: vào cuối thời sứ vụ công khai của Chúa Giêsu, ngày Người tiến vào thành Giêrusalem dự lễ, nhân tiện có một số người ngoại quốc đến xin gặp, Chúa Giêsu đã giải bầy ý nghĩa sự vinh quang của Người về cái chết Người sắp chịu. 

II. SUY NIỆM: 

    1 / " Trong số những người dự lễ, có mấy người Hy lạp ": 

        Đây là những lương dân không cắt bì, nhưng có lòng kính sợ Thiên Chúa ( Cv 10, 2. 22. 35; 13, 16 - 26 ), tin vào độc thần và sống đoan chính. Họ đến Giêrusalem không phải để du lịch, nhưng để hành hương, vì họ cũng muốn thành thực đi tìm chân lý. 

        Họ đến gặp Philiphê và nói với ông rằng: 

        Philiphê và An rê biết nói tiếng Hy Lạp vì hai ông cũng sống ở Betsaiđa, vùng đất có nhiều lương dân, vì sự liên đới như vậy nên họ đến gặp Philiphê để xin làm môi giới gặp Chúa Giêsu. 

    2 / " Thưa ngài, chúng tôi muốn gặp Đức Giêsu ":    

        Muốn gặp Đức Giêsu nghĩa là muốn tiếp xúc, muốn nói chuyện với Chúa Giêsu để trao đổi, để tâm sự, để tỏ bầy, thái độ này nói lên bước khởi đầu của đức tin. 

        * Đến đây câu chuyện lương dân xin gặp Chúa Giêsu không được kể tiếp về nội dung và sự diễn tiến, nhưng lại nói đến việc Chúa Giêsu trìng bầy về sự tử nạn và sự phục sinh của Người. 

    3 / " Đã đến giờ Con Người được tôn vinh ": 

        * Những lần khác, Chúa Giêsu nhắc đến " Giờ chưa đến " ( Ga 2, 4; 7, 30; 8, 20 ) nhưng ở đây Chúa Giêsu lại nói đến " Giờ đã đến". Vậy " Giờ" ở đây không phải là giờ vinh quang cho bằng giờ hiến tế đem lại vinh quang cho Chúa: Giờ vinh quang của Con Người là giờ tử nạn và phục sinh của Người. 

    4 / " Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất...": 

        * Tử nạn và phục sinh là sự vinh quang của Người: đó là điều trái nghịch khó hiểu đối với con người, vì thế Chúa đã giải thích chân lý này bằng dụ ngôn hạt lúa mì rơi xuống đất. 

    5 / " Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất ": 

        Sự sống đây là sự sống đời này và tất cả những gì liên quan đến nó như tiền tài, danh vọng, thú vui. 

        * Chữ " Yêu " và " Ghét " ở đây không mang ý nghĩa tuyệt đối: Yêu có nghĩa là bám chặt, còn ghét mang ý nghĩa ngược lại là thôi bám chặt. Như vậy câu này có nghĩa là thôi bám chặt vào sự sống ở đời này để vươn tới sự sống đời sau, hay nói cách khác sự sống đời đời phải được bảo vệ bằng bất cứ giá nào ( St 29, 31 - 33; Dnl 21, 15p; Mt 6, 24; Lc 16, 13 ) 

    6 / " Ai phụng sự Ta, hãy theo Ta...": 

        Chúa muốn nhắc nhở những người theo Chúa rằng: ai muốn theo Chúa thì không có con đường nào khác ngoài con đường Người đi. Vì thế ai theo Người trong con đường khổ gía thì sẽ được vinh quang với Người. 

    7 / " Bây giờ linh hồn Thầy sao xuyến ": 

        Đứng trước cuộc tử nạn, Chúa cũng cảm thấy buồn sầu khổ não như mọi người vì Người đã mang lấy thân phận của con người như mọi người. 

    8 / " Lạy Cha, xin cứu Con khỏi giờ này ": 

        Với thân phận là một con người như mọi người, Người cũng muốn chốn tránh cái chết: giờ tử nạn! 

        Nhưng chính vì thế mà con đã đến trong giờ này. Việc Chúa Giêsu chấp nhận giờ này làm vinh danh Chúa Cha, vì đó cách tỏ lộ chương trình cứu độ phổ quát của Người, chương trình mà cuộc thương khó, tử nạn và phục sinh của Người sắp thực hiện. 

        * Lạy Cha, xin hãy làm vinh Cha: xin hãy thực hiện như ý Cha đã định vì đó là việc làm vinh danh Cha. 

    9 / " Lúc đó có tiếng từ trời phán ": 

        Tiếng từ trời phán ở đây cũng là tiếng từ trời phán khi Chúa Giêsu chịu phép rửa ( Mt 3, 17; Mc 3, 11; Lc 9, 22 ) và khi Chúa biến hình trên núi Tabor ( Mt 17, 5; Mc 9, 7; Lc 9, 37 ).  Đó là tiếng của Chúa Cha đáp lại lời xin của Chúa Giêsu. 

        * Nội dung tiếng nói chỉ một mình Chúa Giêsu nghe được. những người đứng chung quanh nghe có tiếng mà không biết tiếng gì, nên có người cho là tiếng sấm, có người cho là tiếng Thánh Thần. Sau này khi tiếng trên trời nói với Sao lê, những người đồng hành cũng không hiểu gì hết ( Cv 9, 7; 22, 9 ). 

    10 / " Ta đã làm vinh danh Ta, và Ta còn làm vinh danh Ta nữa ":
 

        Chữ " Làm vinh danh " thứ nhất quy về các " Dấu chỉ " Chúa Giêsu đã thực hiện để là chứng cho Chúa Cha. 

        Chữ " Làm vinh danh " thứ hai ám chỉ đến các chết và phục sinh của Chúa Giêsu ( Vì tôn vinh Ngài trong chính mình ). 

    11 / " Tiếng đó phán ra không phải vì Ta nhưng vì các ngươi ": 

        Có tiếng phán ra là để loan báo, giới thiệu công việc cứu chuộc của Chúa Giêsu sắp thực hiện cho những người nghe tức là nhân loại không phải vì Ta nhưng vì các ngươi. 

    12 / " Chính bây giờ là lúc thế gian bị xét sử ": 

        * Giờ tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu đánh dấu một giai đoạn quan trọng và quyết đối với toàn thể nhân loại, số phận của mỗi người tuỳ thuộc vào biến cố này và vào việc người ta có chấp nhận bằng đức tin hay không. 

        * " Giờ " của Chúa Giêsu là giờ phán xét, giờ phân chia: ai từ chối Chúa Giêsu vào này " Giờ này " thì bị liệt vào phe của đầu mục thế gian, đối thủ lợi hại của Chúa Giêsu, và bị luận phạt như nó. 

        * Bây giờ là lúc thủ lãnh thế gian bị khai trừ: Chúa Giêsu nói đến Satan như nói đến một bạo chúa thất trận, bị khai trừ. Satan ở đây mang tước hiệu là thủ lãnh thế gian. 

        * Giờ tử nạn, phục sinh của Chúa Giêsu là giờ chiến thắng Satan. 

    13 / " Khi nào Ta chịu treo lên...": 

        Khi nào Chúa chịu chết trên Thánh Giá Người sẽ lôi kéo mọi người về với Người. Cuộc tử nạn của Chúa Giêsu là cuộc giải thoát nhân loại khỏi ách thống trị của Satan để đem về với Người. 

III. ÁP DỤNG: 

    A / Áp dụng theo Tin Mừng: 

        1 / Chúa Giêsu cho thấy rõ giá trị của Thánh giá của đau khổ: Chúa dùng cây Thánh giá như bậc thang tới vinh quang. 

             * Ý nghĩa này giúp chúng ta vui lòng đón nhận mọi Thánh giá sẩy đến trong cuộc đời như một cơ hội để đền tội và lãnh nhận phần thưởng của Chúa ban. 

        2 / Sự tử nạn và phục sinh của Chúa Kitô cũng là sự từ bỏ và hoàn thiện của đời sống chúng ta. 

        3 / Cũng như Chúa Giêsu, mỗi người chúng ta đều được kêu mời trở lên hạt lúa gieo vào lòng đất, được kêu gọi tham gia vào việc cứu rỗi tha nhân qua việc kết hiệp với Chúa Kitô. 

    B / Áp dụng thực hành: 

        1 / Nhìn vào Chúa Giêsu:     

             a / Noi theo gương Người: 

                   * Chúa Giêsu sao xuyến trước thử thách: chứng tỏ Người đã nhận lấy thân phận yếu đuối của con người. Chúng ta là con người cũng phải khiêm nhường nhìn nhận sự yếu đuối của mình trước mọi thử thách để trông cậy vào Chúa. 

                   * Chúa Giêsu cầu xin với Chúa Cha: lạy Cha, xin cứu Con khỏi giờ này, chúng ta phải biết khiêm nhường chạy đến kêu xin Chúa khi gặp gian nan thử thách. 

                   * Chúa Giêsu vâng phục bằng cách chu toàn bổn phận, chu toàn thánh ý Chúa Cha với bất cứ giá nào. Chúng ta phải hoàn toàn vâng phục thánh ý Chúa trong mọi công việc bổn phận dù phải gian nan thử thách. 

                   * Chúa Giêsu được tôn vinh trong giờ chịu chết và phục sinh. Chúng ta chỉ được hoàn thiện sau khi đã từ bỏ. Chỉ được sống lại phần hồn sau khi đã chết cho tội lỗi. Có khó mới có công. 

             b / Nghe lời Chúa dạy: 

                   * Chết cho sự sống đời này để được sống đời sau.   

                   * Theo Chúa thì chấp nhận con đường thập giá. 

                   * Chúa chịu chết để cứu chuộc ta. Chúng ta phải hy sinh để phục vụ và mưu ích cho tha nhân. 

        2 / Nhìn vào Philiphê: 

             Chúng ta bắt chước để làm chung gian đưa dân ngoại đến với Chúa bằng đời sống tông đồ, truyền giáo. 

        3 / Nhìn vào mấy người Hy Lạp: 

             Muốn đến với Chúa phải qua chung gian là Giáo Hội. Chúng ta nhờ Giáo Hội để đến với Chúa. 


Lm Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc - Bài Giảng Lễ

 

Qui luật của sự sống

Gr 31,31-34; Dt 5,7-9; Ga 12,20-33


       Cái chết của Ông Y Rabin, Thủ tướng Israel ngày 3/11/1995 đã làm cả thế giới chấn động. Những người Do Thái quá khích giết ông, vì họ không chấp nhận công trình hòa bình ông đang kiến tạo với Palestina và các nước vùng Trung Đông. Cái chết của ông Rabin làm cho thế giới nhớ lại cái chết của Mahatma Gandhi 50 năm trước đây: một người thanh niên Ấn giáo quá khích đã sát hại vị Cha già của dân tộc Ấn, vì anh không thể chấp nhận việc Ngài tha thứ và dạy tha thứ cho người Hồi Giáo. Người ta cũng không thể quên cái chết của Mục sư Martin Luther King năm 1968, vì đã tranh đấu cho quyền bình đẳng của người da đen bằng phương pháp ôn hòa và bất bạo động. Lịch sử nhân loại đã được viết bằng máu của biết bao gương mặt kiến tạo hòa bình như thế. Liệu người ta có thể xếp cái chết của Chúa Giêsu vào hạng những cái chết vì hòa bình không? Đâu là lý do khiến Chúa Giêsu phải chết, một cái chết cũng mang tính cách mạng như chính cuộc sống và sứ điệp của Ngài?

Chúa Giêsu đã chịu treo trên Thập giá giữa hai tên trộm cướp. Thời Đế quốc Rôma cai trị Palestina có biết bao người đã chết như thế, nhưng cái chết của Chúa Giêsu có lý do sâu xa hơn bất cứ một cái chết nào. Chúa Giêsu đã có thể tránh được một cái chết như thế: Ngài đã làm cho kẻ chết sống lại được, thì việc thoát tay kẻ thù đối với Ngài không phải là chuyện khó. Ngài cũng có thể tránh được một cái chết như thế bằng cách thay đổi thái độ đối với những kẻ đang tìm cách hãm hại Ngài. Nhưng Chúa Giêsu đã không hành động như thế. Các sách Tin Mừng thuật lại rằng Ngài đã tự nộp mình cho kẻ thù. Ngài chết để giải phóng con người khỏi tội lỗi và sự chết. Một cuộc giải phóng vượt lên trên và bao trùm mọi thứ giải phóng khác. Từ nay, với cái chết của Chúa Giêsu, sự chết không còn là một thực tại đáng sợ nữa, nhưng nó là cửa ngõ dẫn vào cuộc sống vĩnh cửu.

Thánh Gioan hôm nay đã dùng hình ảnh quen thuộc để diễn tả ý nghĩa đích thực của cái chết của Chúa Giêsu: hình ảnh của một hạt giống bị mục thối đi trong lòng đất để dẫn đến một mùa gặt phong phú. “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình, còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều bông hạt khác”. Cũng vậy, những đau thương Chúa Giêsu sắp trải qua sẽ không kết thúc ở một cái chết cằn cỗi mà sẽ dẫn đến sự phì nhiêu sung mãn của sự sống lại, một sự sống có khả năng tập họp mọi dân nước trong Nước Trời. 

Tuy nhiên, là Thiên Chúa nhưng cũng là con người và như mọi con người, Chúa Giêsu cũng đã phải trải qua những giờ phút xao xuyến trong tâm hồn khi phải đương đầu với kẻ thù và cái chết nhuốc hổ trên thập giá:“Bây giờ tâm hồn Con xao xuyến, Con biết nói gì đây? Lạy Cha, xin cứu Con khỏi giờ này…” Chúa Giêsu đã từng bị cám dỗ xin Cha Ngài giải thoát Ngài khỏi “Giờ” đen tối hay khỏi “uống chén đắng” này. Trong bài đọc 2, chúng ta còn được Thánh Phaolô cho thấy tâm trạng của Chúa Giêsu khi đứng trước “Giờ” của thập giá: “Chúa Kitô đã lớn tiếng và rơi lệ dâng lời cầu xin khấn nguyện lên Đấng có thể cứu Ngài khỏi chết…” Cuối cùng, Chúa Giêsu đã không xin Cha cứu Ngài khỏi chết mà xin cho Danh của Cha được tôn vinh. Điều này có nghĩa là Chúa Giêsu muốn cầu xin Thiên Chúa hãy tỏ ra Ngài là một người Cha, bằng cách hoàn tất công trình yêu thương của Ngài đối với con người, ngang qua cái chết và sống lại của Con của Ngài. Qua lời cầu xin này, Chúa Giêsu cho thấy Ngài đã gián tiếp đón nhận “Giờ” của sự phục vụ cho tới hơi thở cuối cùng trên thập giá, nhưng đồng thời cũng là “Giờ” Con Người bước vào vinh quang. Có điều “vinh quang” ở đây không theo ý nghĩa thường tình của chúng ta. Vinh quang ở đây đòi phải trải qua khổ nhục. Vinh quang của hạt lúa đã trổ bông, nặng trĩu và chín vàng, nhưng là sau khi bị chôn vùi dưới bùn xình rồi nứt nẻ, bứt phá khỏi hình thức hẹp hòi của vỏ trấu, để giờ này mới trở thành Nguồn Sống, và lại sẵn sàng nẩy mầm, phát triển, tăng gấp mãi.

Thánh Gioan đã diễn tả chân lý này như một qui luật tất yếu cho sự sống phát sinh và đạt tới ý nghĩa cuối cùng: Hạt lúa và bất cứ thứ hạt giống thực vật nào, đều mang ý nghĩa và sứ mạng truyền sinh, tăng gấp nguồn sống ẩn chứa trong bản thân. Thế nhưng, muốn thể hiện ý nghĩa và sứ mạng này, nó phải qua tiến trình biến dạng hoàn toàn, phải chết đi. Chúa Giêsu đã chấp nhận qui luật này, và vẫn đang “lôi kéo mọi người theo Ngài”.

Thưa anh chị em,

Là qui luật, là chân lý Chúa Kitô mạc khải, làm sao con người chúng ta có thể tránh né? Mặc dầu vẫn biết rõ mình phải nứt nẻ, bứt phá, lột xác, phải chết đi, mới góp phần làm phát sinh sự sống. Thế nhưng chúng ta vẫn thường coi trọng và bảo vệ cái cũ, những gì là quen thuộc, dễ dãi, dễ chịu hơn là đổi mới. Sống giữa một xã hội đang chủ trương đổi mới, thế mà chỉ mới đặt lại vấn đề đổi mới một số tư tưởng, cách làm ăn, tổ chức đời sống xã hội… cũng đủ làm chúng ta e ngại, lo âu. Nói chi đến thay đổi cả nếp sống trước đây vẫn được tôn trọng. Định luật của sự sống là đổi mới. “Hạt lúa phải mục nát đi trong lòng đất mới nẩy sinh nhiều bông hạt”. Chúa Giêsu đã nói đến cái chết của Ngài như một điều kiện cần thiết để đem lại sự sống mới cho mọi người. Ngài phải chết đi để các kitô hữu được sống, để muôn dân trở thành tín hữu và tất cả đều được cứu chuộc.

Còn chúng ta, được mời gọi theo Chúa Giêsu, chúng ta cũng đừng quên định luật căn bản của sự sống, đó là: “Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai bằng lòng mất sự sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho cuộc sống muôn đời” (Ga 12,25). Đi theo Chúa Giêsu đòi hỏi người môn đệ của Ngài phải chia sẻ cuộc sống và cả cái chết của Ngài. Bài học của thập giá đó là đã có những cái chết không uổng công mà trái lại còn nẩy sinh nhiều hoa trái, đó là cái chết vì tình thương, vì hạnh phúc, vì sự cứu độ của kẻ khác, vì sự giải phóng con người đồng loại, vì những cái gì còn đáng quí hơn cả chính mạng sống của mình, vì chính nghĩa, vì công lý, vì hòa bình, vì đức tin…

Ở đây, Chúa Giêsu đặt chúng ta trước một thang giá trị. Chính khi con người biết vượt ra khỏi cái vỏ ích kỷ để sống một cuộc sống quảng đại, vì người khác, dù có phải vì thế mà hy sinh cả mạng sống của mình, con người đã thực sự bước vào cuộc sống mới. Điều Chúa đòi hỏi nơi những kẻ muốn đi theo Ngài thì Ngài đã thực hiện nơi chính bản thân Ngài.

Anh chị em thân mến,

Tin Mừng hôm nay đã cho chúng ta thấy rõ ý nghĩa cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá. Ngài chết là để đi vào vinh quang của Chúa Cha và trở thành Đấng ban sự sống cho chúng ta. “Nếu ta cùng chết với Ngài, ta sẽ sống với Ngài. Nếu ta cùng đau khổ với Ngài, ta sẽ thống trị với Ngài” (x. 1Tim 2,8-12). Ai ham sống, sợ chết, sẽ đánh mất tất cả. Người dám theo Chúa Giêsu mà đánh đổi cuộc sống hiện tại, sẽ được cuộc sống muôn đời.



Lm  Vũ Phan Long  OFM - Bài Giảng Lễ

 

Ánh sáng của Thập giá

Lm. Vũ Phan Long OFM

Bản văn Tin mừng hôm nay đưa chúng ta vào trong bối cảnh thời gian và thần học là tuần lễ cuối cùng trong sứ vụ của Đức Giêsu, tuần lễ Vượt Qua (x. Ga 12,1.12; 13,1; 18,28; 19,31) mà cuộc hy sinh của Đức Kitô, là Con Chiên Vượt Qua, sẽ biến thành lễ Vượt Qua mới và vĩnh viễn có sức giải phóng tất cả mọi người. Việc xức dầu ở Bêtania (12,1-11) chính là mở đầu mang tính tiên tri. Hành vi của Maria, chị của Ladarô, xức chân Đức Giêsu bằng dầu thơm cam tùng quí giá, đã loan báo việc mai táng Người (12,7). Quả thật, người ta không xức dầu lên chân một người sống như thế, mà thường xức cho một thi hài vào lúc làm nghi thức tắm rửa. Ta ghi nhận rằng theo Tin mừng Maccô (14,3-9), người phụ nữ chỉ đã xức dầu lên đầu Đức Giêsu, và đấy là cử chỉ tiêu biểu trong việc xức dầu tấn phong ai làm vua và tấn phong Đấng Mêsia. 

Hôm sau, khi Đức Giêsu vào Giêrusalem (12,12-19), dân chúng đã tung hô Người như là “vua Israel”. Tác giả Tin mừng Thứ tư coi việc dân chúng cầm nhành lá thiên tuế hoan hô reo hò như là mức độ cuối cùng của sự sai lầm của dân chúng và Đức Giêsu im lặng để sửa chữa những niềm hy vọng thiên sai lầm lạc. Người cỡi lên một con lừa nhỏ vào lúc ấy - chứ không ngay từ đầu như trong các Tin mừng Nhất lãm -, Đức Giêsu muốn cho họ thấy là giống như ông hoàng khiêm tốn mà ngôn sứ Dacaria đã loan báo (9,9-10), Người hoàn toàn không có một mưu đồ chính trị nào. Cuộc Vượt qua sắp tới của Người, tức cuộc Thương khó, cái Chết, cuộc Phục sinh, sẽ cho thấy rõ ràng kiểu “vinh quang” Người đang theo đuổi. Chỉ sau kinh nghiệm này các môn đệ mới nắm được bản chất đích thực của cuộc khải hoàn của Đức Giêsu (c. 16).

Đám đông thì vẫn không hiểu (cc. 17-18). Nhưng những lời hoan hô của họ khiến người Pharisêu phải phản đối và tranh luận với nhau (c. 19b). Ở đây, tác giả Tin mừng Thứ tư vẫn vận dụng khả năng khôi hài quen thuộc của ngài. Nỗi lo sợ của người Pharisêu là thật hơn họ tưởng: cả người ngoại cũng đã xuất hiện (cc. 20-23).

Nhận định của người Pharisêu (c. 19b) khiến ta nghĩ ngay đến nhận định của Thượng tế Caipha: “Các ông cũng chẳng nghĩ đến điều lợi cho các ông là: thà một người chết thay cho dân…” (11,50). Chính ông này cũng đã nói tiên tri mà không biết, nhưng trong tư cách là thượng tế, ông đã nói tiên tri là Đức Giêsu phải chết thay cho dân, và không chỉ thay cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác (11,52).

Sự kiện mấy người ngoại đến xin gặp Đức Giêsu là một đỉnh cao Tin mừng Thứ tư nhắm đến: kế hoạch cứu độ phổ quát, thậm chí ra ngoài biên giới dân tộc Do Thái, đang bắt đầu được thực hiện, ít nhất ở dạng mầm mống. Tất cả những điều đó chứng tỏ rõ ràng là “giờ” của cuộc Thương khó đã được loan báo, giờ đưa tới vinh quang.

I. KHÁM PHÁ SỨ ĐIỆP TIN MỪNG: Ga 12,20-33.

1. Người Hy Lạp đến gặp Đức Giêsu.

Những người Hy Lạp đã ngỏ lời với Philípphê và Anrê, là những người có tên gọi Hy Lạp và xuất thân từ vùng ranh của Galilê với thế giới Hy Lạp. Philípphê và Anrê đã ở trong số những môn đệ đầu tiên, vì muốn biết Đức Giêsu, đã đến với Người và đã là những người đầu tiên chia sẻ kinh nghiệm và đưa những người khác đến với Người (1,35-46). Trong truyện này, ta thấy được bổn phận họ phải chu toàn trong đời sống: làm trung gian để cho nhân loại có thể gặp Đức Giêsu.

Đức Giêsu không ngỏ lời trực tiếp với những người Hy Lạp này. Nhưng bây giờ, chỉ còn ít ngày nữa trước khi Người chịu chết và bởi vì những người này đã đến với Người, Người xác định tầm quan trọng và hiệu năng của cái chết của Người trên thập giá và gửi đến dân Do Thái lời kêu gọi cuối cùng. 

Như vậy, ta hiểu việc người ngoại đi tìm một trung gian dường như có một ý nghĩa biểu tượng. Thế giới ngoại giáo chưa hề biết trực tiếp Đức Giêsu, mà chỉ nhờ lời rao giảng của các Tông đồ: người ngoại đã “thấy” Đức Giêsu nhờ Tin mừng được rao giảng cho họ. Nhưng giữa ước muốn được “thấy” Đức Giêsu và việc “gặp” Đức Giêsu, tức đi vào Vương quốc nhờ lời rao giảng của các Tông đồ, còn có cuộc Thương khó - Chết - Phục sinh của Đức Giêsu, tức “giờ” của Người (c. 23). Chỉ khi đó mọi hàng rào được dựng lên bởi các chủ trương đặc thù bè phái mới đổ hết. Cũng chỉ khi đó mới bắt đầu những kinh nghiệm đầu tiên về niềm tin chân chính vào Đức Kitô hằng sống, vào Đức Kitô “Đức Chúa” (x. Ga 20,18.20.28.29; 21,7.12.17), là những kinh nghiệm không thể có được trước Phục sinh (Vượt qua). 

Lời thỉnh cầu của những người ngoại vô tình lại là một cử chỉ đón tiếp khải hoàn. Đức Giêsu sẵn sàng chấp nhận, như trong cuộc đón tiếp của người Do Thái khi Người vào Giêrusalem. Nhưng trước hết, Người phải điều chỉnh ý tưởng lệch lạc đám đông Giêrusalem có về vinh quang và cuộc khải hoàn của Người (x. 12,12-16). Việc người Hy Lạp đến như thế giống như một bài học biểu tượng, bổ túc cho truyện đi vào Giêrusalem. Lời Đức Giêsu nói (cc. 23-26) là một trả lời gián tiếp cho nguyện vọng được những người ngoại ấy diễn tả ra: chính là nhờ cuộc Thương khó của Người mà Đức Kitô, một khi đã bị sát tế, sẽ dễ dàng cho họ gặp được. 

2. Đức Giêsu công bố về Giờ và về thân phận của Người và của các môn đệ.

Kể từ câu 23, tác giả Tin mừng Thứ tư chẳng còn nói gì đến những người ngoại kia nữa, hay đến thỉnh nguyện của họ có được thỏa mãn hay không nữa. Ta gặp kiểu viết tương tự trong cuộc gặp gỡ Nicôđêmô: đến một lúc nào đó, bài tường thuật thôi nói về ông, để nhường chỗ cho những lời nói của Đức Giêsu và những suy tư của tác giả.

Sự xuất hiện của những người ngoại giáo và thỉnh nguyện của họ khiến Đức Giêsu hiểu rằng giờ mà Người hằng mong đợi, mà Tin mừng Thứ tư cho thấy đang đến gần (2,4; 7,6.8.30; 8,20), thực sự đã đến. Đây là giờ của “Con Người”, giờ Đức Giêsu chiến thắng bằng cách đi qua thập giá, giờ Người được “tôn vinh” (x. 3,14; 8,28; 12,32). Cái chết của Đức Giêsu không phải chỉ là kết quả của sự tàn bạo của loài người và cũng không phải là kết thúc ô nhục của Đức Giêsu. “Giờ” của Người đã được Chúa Cha quyết định.

Đức Giêsu, Con Người, sẽ được tôn vinh bằng chính cái chết của Người. Cái chết này minh chứng một cách sáng ngời và thuyết phục rằng Con Thiên Chúa được liên kết với Chúa Cha bằng một dây vâng phục dù phải trải qua thử thách nào và rằng Người hiến mình cho chúng ta không dè giữ. Cái chết của Người cho thấy tình yêu vô biên của Người, bởi vì Người sống hoàn toàn cho Chúa Cha và hoàn toàn cho loài người chúng ta.
Sự phong phú của công trình của Người tùy thuộc cái chết của Người; và Người buộc các môn đệ Người hành động như chính Người đã hành động. Chỉ khi một hạt lúa mì bị hủy đi, nó mới trở thành một khối lượng lúa lớn. Chính là vì Người đã chịu chết và đã tỏ chính mình ra trong cái chết, mà Đức Giêsu sẽ quy tụ lại quanh Người một đoàn người đông đảo (x. 12,32). Đã chết rồi, Người không biến mất khỏi loài người, nhưng lại trở thành trung tâm của một cộng đoàn mênh mông. Người không ra sức bám lấy cuộc sống của Người. Cuộc sống trần thế đối với Người không phải là một sự thiện tối cao phải cứu lấy bằng mọi giá. Chỉ những ai liên kết với Người khi phục vụ, mới sẽ được liên kết với Người sau này. Chỉ kẻ nào đã theo Đức Giêsu trong cuộc sống, mới sẽ đạt tới mục tiêu và mới có phần phúc khi được Chúa Cha nhìn nhận.

3. Đức Giêsu trước cái chết (“bây giờ”, 27-30).

Cũng như trong tất cả các Tin mừng, ở đây cũng vậy, khi đứng trước cái chết của mình, Đức Giêsu quay ra cầu nguyện với Chúa Cha (x. Mc 14,32-42). Người ý thức về ý nghĩa của cái chết của Người, nhưng không vì thế mà Người đi đến đó trong trạng thái hoàn toàn vô cảm. Cũng như mọi con người, chính Người cũng sợ hãi tránh né cái chết, cũng bị rúng động bởi định mệnh phải chết của mình. Vì Người có sự nhạy cảm của loài người, hẳn là Người cầu xin Chúa Cha cất cho Người bước đường này. Nhưng Người không chịu thua ước muốn của riêng mình, Người muốn tuân theo sự hướng dẫn của Chúa Cha, nên đã cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha” (c. 28). Như thế Người đồng ý về ý nghĩa của định mệnh của Người, như Thiên Chúa đã thiết định, nên Người lấy điều này làm mục tiêu của lời cầu nguyện.

Như thế, cái chết của Đức Giêsu cho thấy rõ những gì nằm ở trong tên “Cha” và cho thấy Chúa Cha đã nghiêng quá mức thế nào về phía con người, nên mới ban cho chúng ta chính Con Một của Ngài (x. 3,16). Đức Giêsu không thua Chúa Cha trong tình yêu, Người cầu xin để tình yêu của Chúa Cha có thể trở nên hiển nhiên, cho dù Người biết rằng điều này đòi hỏi cái giá là mạng sống Người.    
   
4. Giá trị của cái chết của Đức Giêsu (“bây giờ”, 31-33).

Cái chết của Đức Giêsu trên thập giá cũng là chiến thắng vĩnh viễn của Người trên ma quỷ, nó sẽ bị tống ra ngoài, và không còn có một vị trí quyền lực nào nữa. Công việc ma quỷ làm là nhắm chia lìa con người khỏi Thiên Chúa, làm mờ tối cái nhìn của họ, khiến họ không thấy được Thiên Chúa. Cái chết của Đức Giêsu lại là mạc khải cao độ nhất về tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người và về dây vâng phục nối kết bất khả phân ly Đức Giêsu với Thiên Chúa. Như thế, ý đồ của ma quỷ hoàn toàn thất bại. Với cái chết của Người, Đức Giêsu cũng khởi sự hoạt động phổ quát của Người, liên hệ tới toàn thể nhân loại. Được giương cao trên thập giá như là biểu tượng của tình yêu của Thiên Chúa (x. 3,14-17) và được nâng lên đến Chúa Cha trong quyền lực thiên đình của Người, Đức Giêsu tới với cả nhân loại, đón nhận họ vào trong tình yêu huy hoàng của Người. Như thế, Người cũng được giương cao cho người Hy Lạp nữa, là những người muốn gặp Người.  

II. CHIÊM NGẮM CHÚA GIÊSU:

Khi suy ngẫm bản văn này, chúng ta không thể nào không cảm nhận được bầu khí trang trọng khác thường và những lời nói huyền bí của Đức Giêsu. Cả cuộc đời của Đức Giêsu đã ra sức vươn tới giờ này: “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh”. Quả thật, “giờ” này đánh dấu lúc hoàn tất sứ mạng mạc khải và cứu độ, đã được Đức Giêsu, Ngôi Lời làm người, thực hiện bằng cả cuộc đời. Nay đã đến lúc sứ mạng của Người đạt tới đỉnh cao Người hằng khao khát. Đỉnh cao của cuộc đời Đức Giêsu có những hệ luận quan trọng đối với định mệnh nhân loại, được Người diễn tả bằng hai lần “giờ đây” (nyn). “Giờ đây” sẽ xảy ra cuộc “phán xét” (krisis) nhân loại. “Giờ đây” sẽ xảy ra giữa loài người một cuộc “tách biệt” (krima) do người ta tin hay không tin vào mầu nhiệm Đức Kitô chịu chết và được tôn vinh. Sự chọn lựa này đảm bảo cho một số người được cứu độ và được sống muôn đời, và lôi kéo án phạt và cái chết đến cho những người khác.

III. GỢI Ý BÀI GIẢNG:

1. Những người Hy Lạp đến gặp Đức Giêsu:

Những người “ngoại quốc” này được gì khi gặp Đức Giêsu? Điều họ cần không phải là những nghi thức tôn giáo mới, mà là vị Thiên Chúa chân thật và sống động. Thế nhưng đây lại là điều họ chưa được trải nghiệm. Họ linh cảm rằng nơi con người Giêsu Nadarét này, thật sự có điều gì mới hẳn có thể thỏa mãn cuộc tìm kiếm của họ. Là những người nhạy cảm với các lý thuyết luân lý nơi đất nước Hy Lạp, chắc chắn họ sẽ gặp được nơi Đức Giêsu một giáo huấn luân lý tuyệt vời. Giáo huấn của Người không phải là một lý tưởng trừu tượng bởi vì nó toát ra một sức mạnh làm thay đổi tâm hồn của bất cứ ai tin tưởng nơi Người. Những người Hy Lạp ấy đã hé thấy rằng Đức Giêsu chính là con đường chân chính nhờ đó loài người có thể được giao hòa với Thiên Chúa và sống hiệp thông với Ngài. Họ đã thấy Đức Giêsu không phải là một nhà chính trị như biết bao người khác, nhưng là một người hẳn đã có thể thiết lập một triều đại thiêng liêng và phổ quát khác với những triều đại đã từng được tôn giáo và chính trị đề nghị.

2. Kitô hữu được lôi kéo đến gặp Đức Giêsu: 

Chúng ta có thể tự hỏi xem mình có cảm thấy bị lôi kéo bởi Đức Giêsu như những người Hy Lạp kia chăng? Đức Giêsu nói: “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh”. Lời khẳng định này dường như đối lập lại với bài đọc hôm Thứ sáu (Ga 7,1-2.10-25.30) vì bài Tin mừng hôm ấy nói rằng “chưa đến giờ”. Nhưng sự tôn vinh này chỉ có thể xảy đến sau “sự hạ mình” của Đức Giêsu trong cái chết hy sinh. Vinh quang phải đi qua sự gai chướng là cái chết trên thập giá: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác”. Quả thế, hẳn là sẽ không có cây với trái tốt, nếu trước đó người ta không gieo hạt và hạt giống ấy không chết đi! Đây không chỉ là gieo các lời nói, mà còn là cả một cuộc đời hiến dâng làm lễ hy sinh!

3. Nghịch lý của một cuộc đời hoàn toàn sống cho Đức Kitô. 

Dưới mắt thế gian, bất cứ ai “đầu tư” trọn cuộc đời vì Đức Kitô là người đang đánh mất, đang bỏ phí cuộc đời. Nhưng một ngày kia, việc “đầu tư” này có thể đưa lại một hoa trái vĩnh cửu. Như Đức Giêsu, người môn đệ sẽ ở lại trong cuộc đời cho đến khi hoàn tất ý muốn và công việc của Thiên Chúa, như thế là mở cuộc đời mình ra với viễn tượng cuộc sống vĩnh cửu. Như thế, lễ hy sinh của Đức Giêsu lại sinh lợi cho các môn đệ Người, do chỗ ngoài giá trị cứu độ, lễ hy sinh ấy còn là một điển hình, một lối sống “đưa lại lợi nhuận” thật sự. Khi đó, chúng ta mới thấy Thiên Chúa không phải là Đấng xa vời, thường giả điếc làm ngơ, cứ tìm cách né tránh con người. Trái lại Ngài vẫn đang tìm cách tỏ mình ra, làm cho người ta biết Ngài nơi Đức Kitô, hầu nhận được ơn cứu độ. Và khi đó, Thiên Chúa Cha sẽ quảng đại tôn vinh kẻ nào đã nhận biết và tôn kính Ngài nơi Đức Kitô. 

IV. LỜI CẦU CHUNG:

Mở đầu: Anh chị em thân mến, vì yêu thương nhân loại, Thiên Chúa đã cho Con của Ngài xuống thế làm người để đưa toàn thể nhân loại đến sự sống sung mãn, vĩnh cửu. Hôm nay, Đức Giêsu loan báo rằng giờ phút ban ơn cứu độ viên mãn đã đến. Tin tưởng vào tình yêu của Thiên Chúa, chúng ta cùng dâng lời cầu nguyện.

1. Thiên Chúa là Đấng trung thành với các lời Ngài đã hứa và đã chứng tỏ lòng trung thành đó trong cái chết của Đức Giêsu. Chúng ta cùng cầu nguyện cho toàn thể Họi thánh luôn tin tưởng vào tình yêu chung thủy của Thiên Chúa, để luôn có thể nêu ra trước mặt toàn thế giới một chứng tá rõ ràng về tình yêu này, qua những dấn thân phục vụ.

2. Như những người Hy Lạp xưa kia, hôm nay những người chưa tin vẫn đang đi tìm Đức Giêsu. Chúng ta cùng cầu nguyện để các Kitô hữu biết tìm gặp Đức Giêsu trong kinh nguyện, nơi người khác, cũng như trong các biến cố, và có kinh nghiệm về Người, để rồi sẵn sàng làm trung gian giúp kẻ khác gặp được Đức Giêsu.

3. “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất có chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác”. Chúng ta cùng cầu nguyện cho những anh chị em đang gặp đau khổ trong cuộc sống vì nhiều lý do, để họ sẵn sàng hiệp thông với Đức Giêsu mà sống Giờ của Người qua việc từ bỏ chính mình, nhờ đó họ sẽ nhận được nhiều ơn ích thiêng liêng. 


Lời kết: Lạy Cha chí thánh, chúng con tạ ơn Cha vì tình yêu thẳm sâu của Cha, khiến chúng con được sống và sống dồi dào. Xin giúp chúng con biết tiếp tục liên kết đời mình với Đức Kitô để trở nên những trung gian chuyển thông tình yêu và sự sống của Cha cho người khác. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.


Hành Tranh Mục Vụ - Khóa 10  ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn