Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật V Mùa Chay C

Tin mừng Ga 8: 1-11 Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại câu chuyện Chúa Giêsu từ chối việc kết án người đàn bà phạm tội ngoại tình,để nói lên lòng nhân từ thương xót của Thiên Chúa trong việc xét đoán tội nhân.

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT V - MÙA CHAY - NĂM C

NGÀY 07-04-2019


Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

NGƯỜI ĐÀN BÀ NGOẠI TÌNH (Ga 8:1-11)


1. Đoạn phúc âm này đặt ra nhiều vấn đề khó khăn, không những vì sự phong phú của nội dung - nó một trật gợi lên khuôn mặt và sứ vụ của Chúa Giêsu - mà nhất là vì những nét đặc thù nó chất chứa về phương diện phê bình lịch sử. Ở đây chỉ cần nêu lên những kết quả chính yếu mà các nhà phê bình đã thu đạt được.

     Hầu như chắc đoạn Ga,53-8,11 không thuộc về phúc âm thứ tư trong lần biên soạn đầu tiên: nó không có trong các bản thủ sao TƯ chính bằng tiếng Hy lạp, trong bản dịch syriaque, bản dịch gheorgienne và trong các thủ bản cổ xưa bằng tiếng bohairi và ârmêni. Nó cũng không nằm trong chỉ thảo thư Bodmer II (p.66) viết năm 200. Bất cứ đâu (c.8,12) đến tiếp liền câu 7,52. Một số tác giả như Tertullien, Kyprien, Tatien, Clément, Origène, Chrysostome, Theophylacte cũng chả biết đên bản văn này...Ngoài những dấu chứng văn bản tiêu cực như vừa nói, còn nhiều dấu chứng khác thuộc văn thể: đoạn này có ngữ vựng và bút pháp của phúc âm nhất lãm. Nó tháp nhập một cách vụng về vào văn mạch chung của phúc âm thứ tư cũng như vào văn mạch trực tiếp mà nó đang tách rời 8,12 khỏi 7,52.

   2. Đoạn văn này đã được thêm vào khá nhanh, chắc chắn với mục đích soi sáng lời xác quyết của Ga 8,15. Thật vậy, người ta tìm thấy nó trong một vài thủ sao hy ngữ bằng chữ hoa (onciaux), nhất là trong Codex de Bèze, trong những thủ sao la ngữ cổ xưa, đó là chưa kể bản Vulgata và các bản sao liên hệ. Thánh Jérôme tự khoe đã đọc đoạn này trong nhiều thủ bản Latin và Hy lạp. Thánh Augustine cũng xác quyết như vậy (Tractatus in Joannem 33,4-8, Pl 35,16481651).

Người ta đã tìm ra nhiều lý do khác nhau để giải thích sự hiện diện của đoạn văn này trong phúc âm Gioan. Guiding (The Fourth Gospel and jewish Worship, Oxford, 1960, tr. 110-112) cho rằng nó có liên quan với chu kỳ các bài đọc phụng vụ. Đa số coi đó như là một lời chú giải để cắt nghĩa Ga 8,15 ("Phần Ta, Ta không xét xử ai"). Nhiều người khác (chẳng hạn Temple) đã cho rằng việc đưa bản văn vào chỗ này thật là tài tình, vì vừa giải thích được lời nói của Chúa Giêsu (8,15), vừa đặt đúng trong một văn mạch thần học hay ho hạt ngọc thất lạc này của kho tàng phúc âm. Trong phần chú giải sau đây, sẽ cho thấy rõ ràng hơn những trường hợp của trình thuật này với bản văn của Gioan (sự tự phê của các nguyên cáo, ý nghĩa của sứ vụ Chúa Giêsu), những trường hợp khả dĩ dẫn nhập vào đề tài "phán xét" mà chương 8 sẽ khai triển.

Bản văn này chứa đựng một truyền thống phúc âm về cuộc đời Chúa Giêsu có lẽ do Lc biên soạn. Papias (cuối thế kỷ thứ nhất, đầu thế kỷ thứ hai) để xác nhận tính cách cổ xưa của truyền thống phúc âm này. Chính Eusèbe (Hist. Eccl,III,39,16-17) đã lưu lại cho chúng ta chứng tá đầu tiên: (Papias) trình bày một câu chuyện khác về việc người đàn bà bị cáo nhiều tội trước mặt Chúa, có trong phúc âm theo người Hy bá. Một kỷ niệm chính xác hơn đã được hiến pháp các tông đồ và sách Didascalies Syriaques (cả hai thuộc thế kỷ thứ ba) ghi lại như sau: "Các trưởng lão đem đến cho Ngài một người đàn bà tội lỗi và bỏ đi, để mặc Ngài phán đoán bà ta. Bấy giờ Chúa, Đấng thấu hiểu mọi tâm hồn, hỏi bà phải chăng các ký lục đã kết án bà. Bà trả lời: không. Chúa nói với bà: "Chị hãy đi, ta cũng không kết án chị".

Một đàng, nội dung của trình thuật tương hợp hoàn toàn với tình thế của Chúa Giêsu trong cuộc đời công khai của Ngài: nhiều đoạn khác của phúc âm đã xác nhận cách hành động của những kẻ tố cáo, người ta cũng thấy trong trình thuật thái độ thường có của Chúa Giêsu đối với luật Môisen, và ơn tha thứ Ngài ban cho kẻ tội lỗi. Như vậy, không có quyền nghi ngờ lịch sử tính của trình thuật này.

Đàng khác, ngữ vựng của đoạn này cũng như khuynh hướng thần học làm ta nghĩ đoạn này là do Lc viết (Barrett, the Gospel according to St John, Londres, 1962,p. 492). Vì thế, có nhiều thủ bản đặt đoản văn nằm sau Lc 21,38 và nhiều tác giả cho rằng đó là chỗ nguyên thủy của nó.

Đoạn này có chính lục tính và đã được linh ứng:

theo giáo thuyết công giáo, tính cách chính lục của một bản văn không tùy thuộc tác giả nhưng tùy thuộc việc giáo hội chấp nhận nó như đoạn văn được linh ứng. Tính cách chính lục và linh ứng của đoạn văn này được đảm bảo nhờ sự hiện diện của nó trong bản Vulgata, như công đồng Tridentinô đã dạy (Ds 1504). Đối với người công giáo, không phải là người ta phủ nhận Gioan là tác giả đoản văn này, mà đoản văn không còn được xem như là một đoản văn đã được linh ứng.

Giáo hội Đông phương và phần lớn các giáo hội cải cách cũng xác nhận đoạn văn này là thành phần của Kinh thánh. Cuối cùng cần phải lưu ý điểm này là: nếu có nhiều tác giả phủ nhận tính cách linh ứng của đoạn này vì nhiều lý do khác nhau, như do quan niệm linh ứng của họ, họ vẫn không nghi ngờ lịch sử tính của nó, nghĩa là tính cách xác thực của sự kiện cuộc đời Chúa Giêsu mà nó ghi lại.

Lý do khá chắc chắn ể xác quyết bản văn này không thuộc về các phúc âm ngay từ đầu: có rất nhiều lý do, lý do mạnh nhất là khó dung hòa sự tha thứ quá bao dung mà Chúa Giêsu dành cho người phụ nữ này với việc giáo hội sơ khai ra việc đền tội nghiêm khắc cho những ai phạm tội ngoại tình.

Để thay phần chú giải tổng quát, trước tiên chúng ta hãy nói vài lời về ý nghĩa việc can thiệp của ký lục và biệt phái. Chúa Giêsu đang êm thắm giảng dạy cho dân chúng, thình lình kéo tới một nhóm ký lục và biệt phái (đây là lối nói của phúc âm nhất lãm, còn Gioan thích gọi: "trưởng tế và biệt phái:, x.7.32.45; 11,47.57; 18,3; ngoài đoạn này ra Gioan không bao giờ nói đến ký lục); họ tràn vào giữa đám cử tọa và lôi đến trước mặt Ngài một người đàn bà bất hạnh bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình (c.4). "Bị bắt đứng giữa đám" (c.36), nghĩ là giữa Chúa Giêsu và đám đông, người đàn bà này run bắn lên vì số phận đang chờ. Bà là hiện thân cho câu hỏi luật pháp mà kẻ thù sẽ đặt ra cho Chúa Giêsu. Nhưng trước khi đặt ra, họ đã dựa trên lề luật để kết tội bà rồi (c.5a). Như vậy tấn kịch sẽ xoay quanh sự chọn lựa thi hành hoặc Luật Môisen hoặc lòng nhân từ.

Các lý lục và biệt phái dựa trên hai đoạn văn của lề luật: Lv 20,10 ra lệnh giết chết người đàn ông và người đàn bà ngoại tình và Đnl 22,22-24 dạy ném đá người đàn bà ngoại tình với tòng phạm. Sự nghiêm khắc của luật đó đi ngược lại với lòng nhân từ mà Chúa Giêsu rao giảng. Đây là cơ hội tốt để bắt bí Ngài, các vị bảo vệ lề luật nghĩ thế. Nếu không theo Lề luật, Ngài sẽ bị tố cáo phạm pháp; nếu theo lề luật, danh tiếng và giáo thuyết của Ngài về lòng nhân từ sẽ bị sụp đổ.

Câu "vậy thầy dạy sao" (c.5b) vừa kín đáo khiêu khích Chúa Giêsu chống lại luật Môisen, vừa công nhận giáo lý về lòng nhân từ của Ngài. Là người dạy ơn tha thứ của TC, là người đến để kiếm tìm kẻ tội lỗi (c. Lc 15), thày dạy sao về trường hợp đây ?

Thâm ý đã được tác giả nói ngay cho chúng ta: "Họ nói thế với chủ ý làm cho Ngài mắc bẫy, để làm sao có cớ mà cáo tội Ngài" (c. 6a). Trong các câu hỏi đặt ra cho Ngài suốt cuộc đời công khai, câu hỏi này xem ra có tính cách định mệnh nhất. Thật vậy, đây là vấn đề sống chết, liên hệ đến phương diện độc đáo nhất của lối cư xử của Ngài: lòng nhân từ, Ngài không thể tránh né: hoặc là luật của Môisen hay lòng nhân từ của Ngài sẽ thắng (khó mà biết được, như nhiều người nghĩ, những nguyên cáo có ý muốn thúc đẩy Chúa Giêsu chống lại quyền hành La mã hay không. Thời ấy, tất cả đều tùy thuộc vào quyền của hội đồng công tọa. người La mã đã bỏ luật "Jus gladii" rồi chăng)

3. "Chúa Giêsu cúi xuống, bắt đầu lấy tay viết trên đất" (c.6b), Ngài viết gì ? Nhiều tác giả cho rằng hỏi vậy là vô ích. Khi làm như thế (c.6b.8), Ngài chỉ muốm từ chối xét đoán. Viết trên đất không có gì khác hơn là tránh né trả lời (xem mối liên lạc với Ga 8,15: "Phần Ta, Ta không xét xử ai". Mối tương quan này không thể chối cãi được trong văn mạch của Gioan). Nhưng nếu chấp nhận giả thiết là câu chuyện làm thành một khối độc lập, thì có hai vấn đề được đặt ra: cử chỉ của Chúa Giêsu có ý nghĩa nào ? Và Ngài đã viết những gì ?

Thánh Jérôme (Pl 23,553) bênh vực ý kiến cho rằng viết tội lỗi của những người tố cáo. Ông dựa vào Gr 17,13: "Lạy Giavê... tất cả những ai tách lìa Ngài, sẽ khỏi bứng ra khỏi xứ này" (tiếng Hy bá: "Sẽ bị viết").

Derrett đưa giả thiết: người chồng và các chứng nhân đều có dã tâm. Nên ông tin đã đoán được điều Chúa Giêsu viết hai lần khi Ngài cúi xuống. Lần đầu tiên (c.6b): "Ngươi chớ toa rập với kẻ gian mà làm chứng dối" (Xac 23,1b). Lần thứ hai (c.8): "Hãy tránh xa lời gian dối" (Xac 23,7a). Vả lại, sách Đn cũng tham chiếu câu sau cùng này trong trường hợp Suwanna (Đn 13,53).

Những tác giả khác, như Manson, gợi lên trường hợp các bản án La mã đầu tiên cần phải được viết ra (x. bản án mà Philâtô viết trên thập giá Chúa Giêsu) để cho rằng lần đầu tiên Chúa Giêsu viết công thức Ngài sắp đọc (c.7), và lần thứ hai, lời tha tội cho những đàn bà (c.11).

Nhưng lời giải thích có lẽ đúng nhất là xem cử tọa Chúa Giêsu như là sự từ chối phán đoán. Power xác nhận ý kiến này bằng cách trích dẫn nhiều trường hợp lấy ra từ văn chương Ả Rập, theo đó thì cử chỉ đó có ý nói mình không bận tâm đến một công việc nào đó và từ chối không tham gia. Chúa Giêsu không có sứ vụ áp dụng lề luật. Dù có những nguyên tắc hành động khác, Ngài không đối nghịch chúng với lề luật. Nhưng vì kẻ thù của Ngài cứ một mực lên án người đàn bà, nên Ngài cảm thấy bắt buộc phải nói với họ một đôi lời.

4. Trong câu 7, người ta phải cảm phục sự khôn ngoan, vừa công bình vừa nhân ái, mà Chúa Giêsu dùng để trả lời cho những kẻ đối thoại với Ngài. Ở đây, chúng ta đang đứng trước một lời (logion) có lẽ duy nhất, giúp ta biết được Chúa Giêsu.

Khi đáp trả, Chúa Giêsu đã dùng lại các thành ngữ của lề luật. Thật vậy, lề luật ra lệnh cho chứng nhân phải ném đá kẻ có tội đầu tiên (Đnl 13,9-10; 17). Qua việc trực tiếp ám chỉ đến lề luật, Chúa Giêsu cho thấy rằng thực ra luật còn nhân từ và công bình hơn những người tố cáo đã tưởng. Hãy tìm kiếm tinh thần lề luật sau những dòng chữ khô khan.

Do đó, Chúa Giêsu không vi phạm luật ấy, Ngài kêu mời lương tâm của các nguyên cáo. Bây giờ Ngài đặt câu hỏi cho một tòa án vô hình mà quan tòa và nguyên cáo chỉ là một: tòa án của lương tâm mỗi người.

Derret, như chúng ta đã thấy, đã muốn chứng minh rằng người chồng và các nhân chứng đều có dã tâm và đã giăng bẫy để bắt quả tang người phụ nữ ngoại tình, trong lúc đáng ra họ phải can thiệp trước khi bà ta phạm tội. Thật ra không cần gỉa thiết như thế, để hiểu lời Chúa Giêsu. Các lý lục và biệt phái đã khá thiếu lòng nhân từ khi một mực tố cáo người đàn bà. Họ nuôi quá nhiều hận thù với Chúa Giêsu khi lợi dụng trường hợp này để thử thách Ngài. Nguyên việc ấy không đáng lên án sao ? Vì có ai tự xưng là người bảo vệ lề luật lại đi làm chuyện ấy.

Nên lưu ý rằng, khi đã nói ra câu trên, Chúa Giêsu không đặt vấn đề về sự được phép phán đoán, cũng như về xác thực tính của các chứng tá. Ngài không cho rằng tính cách hữu hiệu của một bản án tùy thuộc sự vô tội của quan tòa. Ngài chỉ nhấn mạnh là mỗi người phải coi chừng cái ý hướng đã thúc đẩy họ làm một hành động quyết liệt phương hại đến mạng sống của một người anh em.

Như thế, lời mời gọi lương tâm mỗi người kết tóm tất cả giáo thuyết của Chúa Giêsu (Mt 7,1-15), bêu xấu hạng chuyên kết án kẻ khác (x.mt 18,31tt) cùng bọn giả hình (x. Mt 6 và 23) là những kẻ chỉ thấy lỗi lầm của kẻ khác mà không đếm xỉa đến tội lỗi của chính họ.

Nhưng khi can thiệp, Chúa Giêsu đặc biệt muốn thi hành ý định cứu người đàn bà tội lỗi. Không phải đây là cơ hội để thực thi quyền tha tội sao ? Ngài bênh vực người đàn bà dựa trên luật Môisen, lề luật nại đến tinh thần trách nhiệm của chứng nhân. Vậy là giải quyết được vấn đề mà địch thủ của Chúa Giêsu đặt ra: thái độ mà Ngài phải giữ để phù hợp lời giảng dạy có nghịch lại với lề luật không ? Không, thay vì chống đối lề luật, Chúa Giêsu đã làm cho người ta khám phá trong lề luật những chiều kích mới. Lòng nhân từ của TC, được biểu lộ rõ ràng trong toàn CƯ, bây giờ được Ngài mạc khải cách minh nhiên và đầy đủ hơn.

Tình yêu tha nhân cho chính mình không ngăn cản ta nhìn thấy sự trầm trọng của lỗi họ nhưng đòi buộc ta đối xử với họ một cách công bằng đích thật trước tiên hệ tại ở việc ổn định lương tâm riêng tư của mỗi người.

5. Câu 9 là một thảm kịch cười ra nước mắt. Không phải là một nguyên cáo nào dám cho mình là vô tội và dần dần rút lui, bắt đầu là những người cao niên. Người ta có thể nhìn một kẻ tội lỗi một cách xác thực không ? Không ai có quyền kết án kẻ khác, bởi vì tất cả chúng ta đều ở dưới quyền sự tội (x. Rm 3,10). Và càng lớn tuổi, càng có tội nhiều.

Chỉ còn lại Chúa Giêsu và người tội lỗi (c.9b). Ít cảnh trong phúc âm chiếu soi một cách mãnh liệt sứ mạng của Chúa Giêsu và tạo nên niềm tin tưởng lớn lao vào con người Ngài như vậy. Ngạc nhiên vì lại được tụ do, người đàn bà bất hạnh không nghĩ đến việc trốn chạy. Lòng tốt của Chúa Giêsu không để tuột bà. Một tâm tình không tên đã giữ bà lại.

Cuối cùng, chấm dứt sự yên lặng lê thê và bi thảm kéo dài từ lúc Chúa Giêsu viết trên đất lần thứ hai (c.8) đến lúc các nguyên cáo từ từ rút lui (c.9a). Câu hỏi của Chúa Giêsu (c.10) nhằm gây lại niềm tin tưởng nơi người đàn bà "Bà kia, họ đâu rồi ?". Đây là câu các quan tòa có lệ hỏi trước khi tuyên án. Không biết câu hỏi này chua cay hay hài hước. Có lẽ đó là một cách nói "như thế, họ bỏ cuộc kiện này rồi". Không có nguyên cáo, không thể có phán xét, lên án và xử hình. Trong câu trả lời của người đàn bà "Thưa Ngài, không một ai", ta nhận ra tâm tình biết ơn và phó thác. Nếu Chúa Giêsu đã tìm cách để không một ai kết án bà, thì làm sao bây giờ Ngài lại kết án được ? Sự hiện diện và lời nói của Ngài chỉ nhằm ban cho người đàn bà tội lỗi này ơn tha thứ và lòng nhân từ.

Kẻ thù của Ngài để Ngài tự do, giờ đây Chúa Giêsu có thể thực thi sứ mạng tha thứ. Những lời cuối cùng của Ngài (c.11b) là cao điểm của cả đoạn này. Là người duy nhất không có tội, Ngài cũng từ chối không kết án bà. Ngài không được sai đến "để xử án thế gian, song để nhờ Ngài mà thế gian được cứu" (Ga 3,17), "Phần Ta, Ta không xét xử ai (8,15).

Lời nói của Chúa Giêsu giải thoát vĩnh viễn người đàn bà ngoại tình. Không phải Ngài không cho là quan trọng cái tội đã làm cho bà gặp phải một tình thế xấu hổ; ngược lại, hơn ai hết, Ngài đã lường trước hậu quả của tội đó. Nếu Ngài đã hoàn toàn tha thứ cho bà thì Ngài cũng không kém đưa ra cho bà một lời khuyến cáo nghiêm khắc: "Đi đi và từ nay, đừng phạm tội nữa". Việc gặp gỡ giữa bà và Chúa Giêsu từ nay phải đưa bà quyết định sống một đời hoàn thiện.

KẾT LUẬN 

Không cần phải biện hộ cho câu chuyện lạc loài này đang nằm ngang xương trong phúc âm thứ tư và trong một vài thủ bản của Lc. Thật vậy, tính chất và vẻ đẹp của nó làm cho nó xứng đáng nằm ở đâu cũng được. Nó biểu lộ lòng nhân từ của Chúa Giêsu với nhiều tế nhị như các câu chuyện khác của Lc. Nó trình bày sự bình thản của Chúa Giêsu khi phán đoán, với tất cả vẻ trang trọng mà ta có thể chờ đợi ở Gioan. Người đàn bà tội lỗi và Chúa Giêsu, Đấng Thánh, đứng đối diện nhau được một vài phút: đó là một thảm kịch đặc biệt và đẹp đẽ mà thánh Augustin gợi lên bằng công thức Latin sau: "Relicti sunt duo, miseria et misericordia" (Tract. in Joann. 33,5). Thế quân bình kỳ diệu mà Chúa Giêsu giữ được giữa đức công bình không giảm thiểu tội lỗi và lòng nhân từ tha thứ cho những tôi nhân là một được những bài học lớn nhất mà phúc âm dạy cho ta.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Chúa Giêsu không đặt những phụ nữ này trước LỀ LUẬT, nhưng trước mặt vị Chúa đầy tình thường của bà. Là tình yêu, Ngài thoát khỏi những dục vọng bè phái, Ngài tha thứ cách nhưng không cho bà này. Vì việc tha thứ là cá nhân, nó đi từ con người của Ngài sang con người của chúng ta, vì tội lỗi của chúng ta là tội cá nhân.

2. Theo thánh Augustin, người hay chơi chữ, "lòng nhân hậu đứng trước sự khốn cùng, đó là toàn thể phúc âm" (La miséricord en face de la misère, c'est tout l'Evanggile). Chúa Giêsu nhìn đến sự khốn cùng của tội nhân để kiến tạo lại sự vô tội nguyên thủy, để tái thiết tạo vật theo hình ảnh và giống Ngài. Trên thập giá, Ngài ban ơn tha thứ cho tất cả và cùng với muôn triệu người được cứu thoát, Ngài tạo nên một dân mới. Ngày nay Ngài cư xử đối với nhân loại tội lỗi, và đối với mỗi người chúng ta, đúng như Ngài đã đối xử với người đàn bà kia.

3. Chúa Giêsu không thích những tội nhân hối cải như bà kia hơn những người trung thành với bà đó sao ? Phải chăng chúng ta cũng ghen tức, như đứa con cả nổi sùng khi người cha ân cần tiếp đón đứa con hoang đàng ? Chắc chắn, Chúa thích sự trung thành hơn. Hãy nhớ đến Đức Mẹ. nhưng Ngài tỏ ra âu yếm đối với tội nhân, vì họ cần hơn: người mẹ nào mà chẳng săn sóc đứa con tật nguyền hay đau ốm hơn các đứa con lành mạnh ?

4. Như Đấng Cứu thế, Chúa Giêsu đến tìm kiếm những ai đã hư mất, như vị lương y, Ngài săn sóc những ai đau yếu; như người giải phóng, Ngài cứu kẻ bị giam cầm. Nhưng tất cả chúng ta không phải là những người hư mất ốm đau và bị giam cầm đó ư ? Chúa đã nói: "Phúc cho những tâm hồn trong sạch", Ngài cũng sẽ nói bằng thái độ của Ngài: "Phúc cho những tâm hồn được rửa sạch".

5. Câu Chúa Giêsu trả lời cho bọn biệt phái thật rõ ràng. Khi nói cũng như khi làm, Ngài không chối bỏ lề luật, Ngài không bất tuân gì hết; hơn nữa Ngài ban cho lề luật ý nghĩa đích thật của nó. Những kẻ chống Ngài dùng lề luật như một phương tiện áp chế, một dụng cụ để thống trị kẻ khác, chia rẽ con người. Chúa Giêsu muốn lề luật là phương tiện để thực thi ý định tình yêu của TC. Người ta phụng sự luật, chứ không được lợi dụng luật. Hay đúng hơn, ngang qua lề luật, người ta phụng sự một Đấng.

6. Nếu chúng ta chống lại người khác với ước muốn sửa đổi họ, nhưng bằng cách thống trị họ với những vẻ đẹp bên ngoài, chúng ta trở nên những kẻ đồng lõa với họ trong sự dữ, trong khi chúng ta tưởng làm cho họ tốt hơn. Khi tự phong mình làm quan án của mọi người, của tâm hồn và lương tâm, chứ không phải là quan tòa xét xử hành vi (vì đôi khi do trách nhiệm, chúng ta phải làm quan tòa xét xử hành vi) khi đó chúng ta trở nên như những ký lục và biệt phái trong phúc âm. Thay vì sửa lại sự dữ, chúng ta làm tăng thêm. Ngược lại, cách căn bản nhất để giảm sự dữ trong thế giới, đó là trước tiên nhổ nó khỏi lương tâm riêng mình.

Chúa Giêsu đến cứu người tội lỗi. Hễ chúng ta cảm thấy liên đới với kẻ tội lỗi, cảm thấy mình là tội nhân, thì trong ngày chung thẩm, chúng ta mới có thể nghe nói câu đầy tình âu yếm: "Ta cũng thế, Ta không kết án con".

Noel Quession - Chú Giải

 

CHÚA NHẬT V MÙA CHAY

Ga 8:1-11

Còn Đức Giêsu thì đến núi Ô-liu. Vừa tảng sáng, Người trở lại Đền thờ. 

Ngài có thói quen, nhất là trong tuần lễ cuối cùng, đến vườn Ghếtsêmani và trải qua đêm tại đó, để tìm sự yên tĩnh và cầu nguyện.

Toàn , dân đến với Người. Người vừa ngồi xuống giảng dạy họ . Lúc đó, các kinh sư và người Pharisêu dẫn đến trước mặt Đức Giêsu một phụ nữ bị bắt quả tang đang ngoại tình.

Vừa tảng sáng, Đức Giêsu đã ngồi trong sân Đền thờ, có đám dân vây quanh Ngài. Tự nhiên, ở đằng kia ồn ào nổi lên. Một nhôm người Pharisêu cố kéo một phụ nữ đang vùng vẫy. Đám đông giãn ra và làm thành vòng tròn. "Người ta đã bắt gặp người phụ nữ này nơi nhà một người đàn ông… Chị ta phản bội chồng mình... Chị ta đáng chết... luật lệ đã rõ ràng" (Đnl 22,22-24 ; Lv 20, 10). Làm sao họ chỉ dẫn đến có một người đàn bà ? Trong bất cứ một vụ ngoại tình nào, cũng có đàn ông nữa chứ và luật lệ cũng lên án đàn ông rõ ràng, như đàn bà vậy ! Nhưng chúng ta biết rằng, các Thánh sử (nhất là Luca, vì theo thủ bản cổ nhất, có lẽ ông là tác giả trang Tin Mừng này hơn là Gioan). Không ngừng nhấn mạnh về thái độ mới lạ của Đức Giêsu trước quan niệm đương thời về phụ nữ. Trong khi phụ nữ bị xã hội khinh bỉ và gạt bỏ ra ngoài, thì Đức Giêsu lại làm tảng giá trị và luôn phục hồi danh dự cho họ.

Họ để chị ta đứng ở giữa rồi nói với Người : Thưa Thầy, Người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình". Trong sách luật ông Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó.

Quả thực, ngoại tình là một lỗi nặng, mà mọi nền văn minh đều lên án cách nghiêm khắc. Một xã hội không thể coi thường lâu đài vấn đề này mà không tự hủy diệt. Có cần bao dung cho sự dữ và bất công mà một người phối ngẫu phải chịu không ? Trong một bối cảnh quá phóng túng và lệch lạc về dục tính như thế, nếu gia đình, con cái có thể phát triển mà không gặp thương tổn sao ?

Còn Thầy, Thầy nghĩ sao ?

Mọi người đều biết rằng, Đức Giêsu tái biểu dương tính bất khả phân ly của hôn phối để cứu tình yêu khỏi những tình trạng bất trung (Mt 5,31-32). Đức Giêsu đã dứt khoát và mạnh mẽ lên án việc ngoại tình bằng cách khẳng định, dù chỉ ưng thuận trong lòng đối với ý muốn xấu xa đó thì đã có tội rồi : "Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi" (Mt 5,28). Lòng nhân lành của Đức Giêsu không có nghĩa là Ngài chấp nhận tình trạng phóng đãng.

Họ nói thế nhằm thử Người để có bằng cớ tố cáo Người.

Những người pharisêu và kinh sư biết rằng, Đức Giêsu thương yêu các tội nhân và họ cũng yêu thương Người. Họ vì giao du với người tội lỗi. "ông ấy ăn uống với người tội lỗi". Thực sự, vụ xét xử người đàn bà ngoại tình chỉ là cớ để họ lên án Đức Giêsu, để họ gài bẫy Người. Nếu người lên án tử hình người đàn bà này, Ngài sẽ xóa bỏ hình ảnh xót thương mà Người đã để lại trong tâm trí kẻ tội lỗi: Nhờ đó, Người được quần chúng mến phục, vì tình yêu, vì sự tốt lành của Người. Nếu người tha bổng người đàn bà tội lỗi này, Người sẽ vi phạm luật Chúa , và cổ thể bị tử hình vì đã xúc phạm đến Thiên Chúa, Đấng đã cấm phạm tội này. Như vậy, đây là "vụ xử án của Đức Giêsu" đang diễn ra sau vụ xử án người đàn bà này.

Vụ án biểu tượng :

Bị cáo : Một người phụ nữ .

Người tố cáo : Kinh sư và những người pharisêu

Tội phạm : Ngoại tình, bị phạt theo luật Môsê.

Bản án : Tử hình

Vụ án thực sự :

Bi cáo : Đức Giêsu

Người tố cáo : Cũng nhóm kinh sư và Pharisêu

Tội phạm : Phạm thượng

Bản án : Tử hình

Nhưng Đức Giêsu lại cúi xuống, viết trên đất.

Sư im lặng này khởi đầu cho sự im lặng quan trọng của Đức Giêsu trong vụ xử án chính Người.

Nhưng ở đây, phản ứng trên rất gây ngạc nhiên. Người không làm gì cả. Người không trả lời gì hết. Người đang vẽ Như thể một người muốn lờ đi không gì chung quanh mình. Đó không phải là một thứ tế nhị sao ? Người không ngước mắt lên nhìn người đàn bà, vì Người biết chị ta xấu hổ. Nhưng cũng nhận ra việc Đức Giêsu khước từ phán quyết các biến cố dựa trên những phân tích của con người. Chẳng hạn, Người đã có thể điều tra, đặt câu hỏi, tìm xem những trách nhiệm ? Liệu có những trường hợp giảm khinh hay không ? Quá khứ của người đàn bà này có giải thích được thái độ của chị ta không ? Chồng chị đối xử với chị như thế nào ? Có nên phân biệt trường hợp ngoại tình trơ trẽn, công khai và lâu dài thường xúc phạm, làm nhục người phối ngẫu, làm con cái đau khổ...Với trường hợp ngoại tình kín đáo, tuy cũng có tội nhưng do yếu đuối chóng qua, chỉ gây nhục nhã trong tâm hồn ? Luật lên án tử hình một tội như vậy có quá đáng chăng ? Người ta có nên mở một chiến dịch để xin bãi bỏ luật này không ? Những câu hỏi như thế, con người và xã hội vẫn thường đặt ra. Nhưng Đức Giêsu tự ý đặt mình trên một bình diện khác. Hình như Người không quan tâm gì. Người đang viết trên cát. Đó có phải là một thái độ thoái thác không ? Hẳn là không. Vì Đức Giêsu sắp đề cập đến "lãnh vực khác".

Vì họ cứ hỏi mãi, nên Đức Giêsu ngửa mặt lên và bảo họ.

Chính họ cứ vận hỏi mãi . Lạy Chúa, Chúa đã giữ im lặng bao lâu ? Lúc này, con đang hình dung ra Chúa đưa mắt nhìn từng người trong bọn họ. Con ngắm nhìn đôi mắt đang di động, khi Chúa ngửa mặt lên. Trước tiên, Chúa nhìn người đàn bà đáng thương, rồi những người tố cáo, rồi tới đám đông…

Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.

Chúa đòi hỏi họ phải trở về với lương tâm của mình. Cũng ngày nọ, người ta tìm thủ phạm trong cuộc "Philatô tàn sát những người Galilê" hay trong tai họa do "tháp Silôa" đổ xuống.

Đức Giêsu đặt cuộc tranh luận trên một bình diện khác : Dưới mắt Thiên Chúa, tất cả mọi người đều là tội nhân, và cần phải được tha thứ ? anh em hãy có lòng nhân từ, như cha anh em là Đấng nhân từ . Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại tho anh em bằng đấu ấy" (Lc 6,36-38). Vâng, lạy Chúa, con đang cần lòng nhân hậu thương xót của Chúa và của kẻ khác. Vậy xin Chúa hãy ban cho con, một trái tim biết thương xót.

Ngôn sứ Hôsê (2,4-25) đã so sánh dân ít-ra-en với một người vợ được Chúa yêu thương mà lại "ngoại tình" bằng những hành động "điếm đàng". Mọi sự lìa bỏ Thiên Chúa đều là một thứ ngoại tình, vì xúc phạm đến một Thiên Chúa dễ bị tổn thương và si tình. Nhưng Thiên Chúa tiếp tục yêu thương một cách không mệt mỏi và tha thứ cho người vợ bất trung, là nhân loại tội lỗi. Đó là điều khác hẳn với những cuộc tranh cãi nới toà án, dù những cuộc tranh cãi đó hữu ích đến đâu cũng thế. Tội lỗi của tôi đã gây tổn thương cho Chúa, cho Đấng yêu mến tôi. Chính Đức Giêsu đã nói điều đó. Ngài đã đến để mạc khải như thế !

Rồi Người lại cúi xuống viết trên đất. Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bất đầu từ những người lớn tuổi.

Lạy Chúa Giêsu, lần thứ hai này, Chúa đã giữ im lặng bao lâu ? Lạy Chúa, thực sự Chúa chứng tỏ lòng thương xót với những người Pharisêu nữa. Chúa cũng không nỡ ném đá họ. Sau này, trên thập giá Chúa sẽ cầu xin : "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm" (Lc 23,34). ôi ! Sâu thẳm thay lòng Chúa. Thay vì lột mặt nạ họ ở chỗ công khai, Chúa đã cho phép họ "lần lượt" âm thầm rút lui, nhờ thái độ im lặng của Chúa.

Trong một lúc lâu im lặng, người đàn bà cũng có thời giờ suy nghĩ vì tội lỗi của mình. Nhiều điều đang diễn ra trong đầu óc của Chị. Có thể chị đã không bao giờ thực sự nhận ra tính nặng nề của tội chị phạm ? Nhưng tình yêu xót thương của Thiên Chúa, "không lên án" chị, sẽ phút chốc mạc khải cho chị biết thế nào là tình yêu thực sự. Giờ chị đang nhìn Đức Giêsu . Ngài là một con người nhân hậu. Có lẽ chị ta đang khóc. . . Chị ta đã thoát chết. . . Chị không còn là người "ngoại tình" nữa. Chị ta đã được thanh tẩy .

Sau cùng chỉ còn lại một mình Đức Giêsu và người phụ nữ thì đứng ở giữa.

Sự "khốn khổ" đối với "lòng xót thương", Thánh âu –tinh đã bình luận như vậy. Đó là một hình tượng mà con muốn chiêm ngắm lâu giờ. Lạy Chúa Giêsu, xin tạ ơn Chúa.

Người ngẩng lên và nói : "Này chị, họ đâu cả rồi. Không ai lên án chị sao ?" Người đàn bà đáp : "Thưa ông, không có ai cả". Đức Giêsu nói : "Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu. Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa" .

Tất cả những người tội lỗi khác, các kinh sư và người pharisêu đều không hiểu gì nổi Đức Giêsu, không hiểu gì nơi Thiên Chúa cả ! Nếu họ ở lại với Đức Giêsu hẳn là họ cũng được tha thứ như người đàn bà này. Vì Đức Giêsu vẫn thường nói lại : "Phần tôi, tôi không xét đoán ai cả" (Ga 8,l5). "Tôi đến để tìm và cứu những gì đã mất" (Lc 19,10). Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người mà được cứu độ " (Ga 3,17 ) .

Lạy Chúa, con cũng vậy, lúc này con đang cầu xin Chúa, con cần được cứu độ. Con ở lại với Chúa. Trong cuối Mùa Chay này, con sẽ lãnh nhận dấu chỉ nhạy cảm và hữu hiệu, đó là bí tích tình yêu thương xót của Chúa. Con muốn nghe từ nơi vị đại diện của Chúa, như thể chính Chúa, những lời sau đây : "Tôi không lên án anh chị, cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa".

Lạy Chúa Giêsu, Chúa là Thầy và là người Anh của chúng con, Chúa tốt lành và hài hòa tế nhị biết bao ! Chúa vô cùng thông cảm và đối xử nhân hậu với chúng con, là những người tội lỗi. Xin tạ ơn Chúa ! Chúa tuyệt đối không thỏa hiệp với tội lỗi và sự ác.

Đừng : phạm tội nữa" . Tạ ơn Chúa ! Chúa là Đấng không bao giờ giam hãm chúng con trong quá khứ. Đứng tước người này người nọ mà chúng con thường nói tới. "Không thể làm gì cho hắn được nữa… Tôi đã thử hết cách rồi…Đành chịu thôi . . . " Thì chắc Chúa sẽ dừng lại trước con người đó với lòng tin cậy, Chúa sẽ thương yêu người đó với thái độ trìu mến, Chúa sẽ nhìn họ với một cái nhìn hoàn toàn mới mẻ, đến nỗi có thể làm phát sinh trong họ một trái tim mới. Vậy Chúa là ai mà yêu thương chúng con như thế ? Là Đấng vô cùng cao cả, là Đấng rất dễ bị tổn thương, là Đấng hết sức nghèo nàn ư ? Chúa là tình yêu vô biên. Chúa là tình Yêu !


Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

 

CHÚA NHẬT V MÙA CHAY

"Ai trong các ngươi sạch tội hãy ném đá chị này đi !"


I.ý chính:

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại câu chuyện Chúa Giêsu từ chối việc kết án người đàn bà phạm tội ngoại tình,để nói lên lòng nhân từ thương xót của Thiên Chúa trong việc xét đoán tội nhân.

II. suy niệm:

1. "Chúa Giêsu lên núi cây dầu":

Sau bài giảng trong đền thờ nhân dịp lễ Lều Trại của người Do Thái (Ga 7,11-32) Chúa Giêsu đi ra nghỉ tại Núi Cây Dầu. Bao giờ có dịp về thủ đô,Chúa Giêsu cũng quen ngủ đêm ở Núi Cây Dầu.

2. "và từ sáng sớm Người lại vào đền thờ":

Tảng sáng hôm sau, Chúa Giêsu lại vào đền thờ, ở đây chứng tỏ Chúa Giêsu nhiệt thành với Nhà Cha Người.

3."Toàn dân đến cùng Người…":

Những thính giả nghe Chúa Giêsu giảng gồm những người có tư tưởng khác nhau. "Có kẻ thù ghét tìm cách hại Người"(Ga 7,32). Những người dân quê không hiểu mưu mô của những người thù ghét Chúa(Ga7,20).Nhưng có một số ít nhận thấy lòng thâm độc của họ đối với Người(Ga 7,25).Và cũng có rất nhiều người có thiện cảm thành tâm tin phục Người(7,31).

Danh từ "toàn dân" có ý nhấn mạnh đến những người nghèo khó và những tâm hồn đơn sơ luôn rộng mở đón nghe lời Chúa, ngược với bọn luật sĩ và biệt phái.

4. " Lúc đó, luật sĩ và biệt phái dẫn đến cùng Người…":

Các luật sĩ và biệt phái dựa vào hai đoạn văn của lề luật: Lv20,10: ra lệnh giết chết người đàn ông và người đàn bàngoại tình và Đnl 22,22-24dạy ném đá người đàn bà ngoại tình với tòng phạm, họ dẫn đến cùng Chúa Giêsu một thiếu phụ bị bắt qủa tang phạm tội ngoại tình.

5. "Thưa Thầy,thiếu phụ này bị bắt qủa tang…":

Sự nghiêm khắc của lề luật đi ngược lại lòng nhân từ Chúa Giêsu rao giảng. Đây là cơ hội tốt để các luật sĩ và biệt phái là những người bảo vệ luật, bắt bẻ Chúa Giêsu .Nếu không theo lề luật, Người sẽ bị tố cáo phạm pháp, nếu theo lề luật, danh tiếng và giáo thuyết của Người về lòng nhân từ sẽ bị sụp đổ!

6. " Còn Thầy, Thầy dậy sao?":

Câu này vừa kín đáo khiêu khích Chúa Giêsu chống lại Maisen vừa công nhận giáo lý về lòng nhân từ của Người: "Là Người dạy ơn tha thứ của Thiên Chúa, là Người đến để tìm kiếm kẻ tội lỗi(Lc 15),Thầy dậy sao về trường hợp này ?"

Thâm ý của họ khi đặt câu hỏi này, đã được tác giả nói ngay cho chúng ta "Họ nói thế có ý gài bẫy Người để có thể tố cáo Người".

7. "Nhưng Chúa cúi xuống,bắt đầu lấy ngón tay viết":

Khi làm cử chỉ này Chúa Giêsu chỉ muốn từ chối xét đoán, vì viết trên đất không có nghiã gì khác hơn là tránh né trả lời. Ơ đây có liên quan đến Ga 8,15: "Phần Ta,Ta không xét xử ai".

8. "Vì họ cứ hỏi mãi, nên Người đứng lên và bảo":

Việc nài nẳng Chúa trả lời ở đây, các người tố cáo không có ý tìm đến sự thật, nhưng làđể thúc bách Chúa vi phạm luật hầu có lý do để tố cáo Người. VÌ theo câu hỏi thì trả lời đàng nào cũng mắc lỗi. NHƯNG thay vì trả lời, Chúa lại hỏi họ rằng: "Ai trong các ngươi sạch tội,hãy ném đá chị này trước đi". Chúa Giêsu dùng chính lề luật để chứng minh tinh thần của luật: Ai sạch tội thì có quyền xét xử tội nhân. Người ta cảm phục sự khôn ngoan: vừa công bình vừa nhân ái, mà Chúa Giêsu dùng để trả lòi cho những kẻ đối thoại với Người.

Sự trả lời khôn ngoan này chứng tỏ Chúa Giêsu không vi phạm luật Môisen, nhưng dựa vào luật ấy, Người kêu mời lương tâm của các nguyên cáo. Người đặt câu hỏi cho một tòa án vô hình mà quan tòa và nguyên cáo chỉ là một: Toà án của lương tâm mỗi người.Nêu lên vấn đề này, Chúa Giêsu chỉ muốn nhấn mạnh rằng mỗi người hãy coi chừng cái ý hướng xấu đã thúc đẩy họ làm những hành động có phương hại đến tha nhân.

Cần lưu ý rằng ở đây Chúa Giêsu không có ý nuông chiều tội nhân, vì tình yêu tha nhân không ngăn cản ta nhìn thấy sự trầm trọng của lỗi họ, nhưng đòi buộc ta đối xử với họ một cách công bằng, mà mọi công bằng đích thật, trước tiên hệ tại ở việc ổn định lương tâm riêng tư của mỗi người.

9. "Nghe nói thế họ rút lui từng người một…":

Ở đây chứng tỏ không ai dám cho mình là vô tội, và vì vậy họ dần dần rút lui, bắt đầu là những người cao niên. Điều này chứng tỏ không ai có quyền kết án kẻ khác, bởi vì tất cả chúng ta đều ở dưới quyền sự tội (x Rm 3,10) và càng lớn tuổi càng có nhiều tội.

10. "Còn lại một mình Chúa với người thiếu phụ vẫn đứng đó…":

Câu này muốn nói: chỉ có mình Thiên Chúa là Đấng vô tội,mới có quyền xét xử tội nhân.

11. "Hỡi thiếu phụ, những người tố cáo chị đi đâu cả rồi ?":

Câu hỏi của Chúa Giêsu nhằm gây lại tin tưởng nơi người đàn bà tội lỗi. Đây là câu các quan tòa có lệ hỏi trước khi tuyên án. Một khi không có nguyên cáo, thì không thể phán xét, lên án và tử hình.

Sự hiện diện và lời nói của Chúa Giêsu chỉ nhằm ban cho người đàn bà tội lỗi này ơn tha thứ và lòng nhân từ.

12. "Nàng thưa : Thưa Thầy, không có ai":

Ở đây ta nhận ra tâm tình biết ơn và phó thác của tội nhân.

13. "Ta cũng thế, Ta không kết tội chị…":

Kẻ thù của Chúa để Người tự do. Giờ đây Người có thể thực thi sứ mạng tha thứ. Là người duy nhất không có tội, Người cũng từ chối kết án người đàn bà này. Người không được sai đến "Để xử án thế gian, song nhờ Người mà thế gian được cứu"(Ga 3,17), "Phần Ta, Ta không xét xử ai"(Ga 8,15).

14. "Vậy chị hãy đi và từ nay đừng phạm tội nữa":

Lời nói của Chúa Giêsu "ta không kết tội chị"đã giải thoát vĩnh viễn người đàn bà ngoại tình. Không phải Người kông cho là quan trọng cái tội đã làm cho bà gặp phải một tình thế xấu hổ. Ngược lại, hơn ai hết, Người đã lường trước được những hậu qủa của tội đó. Vì vậy, nếu Người đã hoàn toàn tha thứ cho bà thì Người cũng không quên đưa ra cho bà một lời khuyến cáo nghiêm khắc: "Hãy đi và từ nay đừng phạm tội nữa". Việc gặp gỡ giữa bà với Chúa Giêsu từ đây phải đưa bà quyết định sống một đời hoàn thiện.

II.ÁP DỤNG:

ÁP dụng theo Tin Mừng:


Trong tâm tình sám hối của tuần cuối cùng Mùa Chay này, Giáo Hội muốn dùng bài Tin Mừng hôm nay để đánh động niềm hi vọng và lòng trông cậy của chúng ta là những người đang sống trong sự xa cách Chúa, biết thực tình sám hối quay trở về với Thiên Chúa để sống đời hoàn thiện trong tình yêu thương của Người.

Áp dụng thực hành:

1. Nhìn vào Chúa Giêsu :

a. Xem việc Người làm:


Từ sáng sớm Người lại vào đền thờ :Chúa Giêsu nhiệt thành với những công việc của nhà Cha Người. Chúng ta là con cái Chúa, hãy tỏ ra nhiệt thành trong những công việc thuộc về nhà Chúa như siêng năng trong những công việc đạo đức, những việc lành, và mau mắn trong những công việc phục vụ giáo xứ, nhà thờ, những công việc từ thiện bác ái và phục vụ tha nhân, và đồng thời siêng năng đi nhà thờ đọc kinh,dự lễ…

Người ngồi xuống và bắt đầu giảng dậy: Noi gương Chúa, chúng ta siêng năng dạy giáo lý và chia sẻ Lờ Chúa cho tha nhân.

Chúa Giêsu cúi xuống, bắt đầu lấy ngón tay viết trên đất. Chúa từ chối việc kết án tội nhân. Chúng ta phải biết sáng suốt, đừng nhẹ dạ đua đòi, hoặc toa rập với người khác để kết án những người xấu số, những người lầm lỡ, khuyết điểm thiếu sót.

b. Nghe lời Chúa nói:

"Ai trong các ngươi sạch tội, hãy ném đá chị này trước".Chúa đòi hỏi ta phải kết án mình trước rồi kết án tha nhân sau. Như vậy ta chẳng nên kết án ai vì ta cũng là tội nhân.

"Không ai kết án chị ư ?"chẳng ai có đủ tư cách kết án người khác.

"Ta không kết tội chị !"Chúa không kết tội ta chỉ vì Chúa thương yêu và muốn cứu sống ta.

"Từ nay đừng phạm tội nữa !"điều kiện để đón nhận ơn tha thứ của Chúa là dốc lòng chừa tội.

2. Nhìn vào người đàn bà tội lỗi :

người đàn bà này bị bắt phạm tội quả tang và bị người ta lên án nén đá. Khi chúng ta phạm tội làm điều xấu là xúc phạm đến không những Thiên Chúa mà còn làm gương xấu cho tha nhân nữa. vậy muốn khỏi tội thì phải chừa tội để cất gương xấu cho tha nhân.

"Thưa Thầy, không có ai"không sợ người ta kết án, nhưng sợ chính Thiên Chúa là Đấng có quyền kết án và cũng có quyền tha thứ tội lỗi cho ta. Hãy tin tưởng và phó thác vào lòng nhân từ của Chúa rồi sám hối và chừa cải tội lỗi.

3. Nhìn vào các luật sĩ và biệt phái :

Họ kết án tội nhân là cố ý để gài bẫy Chúa. Chúng ta thường khắt khe trong việc đoán xét tha nhân chỉ vì chúng ta tìm cách vụ lợi cho mình : hạ người khác xuống để nâng mình lên.

Nghe nói thế họ rút lui từng người một mỗi khi muốn xét đoán ai, ta hãy xét trước …sau đó ta sẽ thấy không muốn kết án tha nhân nữa./.


HTMV Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn