Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật V Phục Sinh Năm A

Tin mừng  Ga 14: 1-12: Bài Tin Mừng hôm nay ghi lại những lời Chúa Giêsu trấn an các Tông đồ bằng cách kêu gọi các ông giữ vững lòng tin vào người, khi Người không còn ở với các ông nữa.
CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT V PHỤC SINH - NĂM A




Cv 6,1-7 ; 1Pr 2,4-9 ; Ga 14,1-12


Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

CHÚA GIÊSU, ĐƯỜNG VỀ CHÚA CHA


CÂU HỎI GỢI Ý

1. Trong nhà Cha, "có nhiều chỗ ở" theo nghĩa nào ?

2. Chúa Giêsu ám chỉ điều gì khi bảo sẽ trở lại đem các môn đồ đi theo Người ?

3. Chúa Giêsu muốn nói gì khi quả quyết Người là Đường, là Sự Thật và lâm Sự Sống (c.6) ?

4. Phải hiểu thế nào lời xin của Philipphê (c.8) và câu trả lời của Chúa Giêsu (c.9) ?

5. "Các việc" của môn đồ vượt trên các việc của Chúa Giêsu theo nghĩa nào (c. 12) ?

1. Tiếp theo sau lời kêu gọi hãy tin tưởng và phó thác (14, 1), Chúa Giêsu nêu rõ một trong những lý do khiến Người ra đi, có lẽ là lý do an ủi hơn hết. Người về với Cha để chuẩn bị chỗ ở cho môn đồ. Các ông chẳng nên sợ vì không thể theo Người. Nhà Cha Người rộng rãi, chỗ ở có rất nhiều. Mặc dù người ta thường viện dẫn cách nói này để chứng minh là có nhiều cấp độ khác nhau trong hạnh phúc thiên giới (thánh Irênê, Clêmentê thành Alexandria, Origène), ở đây chỉ muốn bảo rằng sẽ có chỗ cho tất cả mọi người. Chẳng thế thì Chúa Giêsu đã nói rõ để khỏi làm cho các môn đồ rơi vào niềm thất vọng cay đắng. Chỗ ở không thiếu. Bằng chứng là Người sắp đi dọn cho họ ("Vì Ta đi dọn chỗ ..."). Cách giải thích này xem ra thỏa đáng hơn hết (Maldonat, Lagrange, Durand, Hudy). Vẫn biết ta có thể hiểu phần thứ hai của c.2 theo một cách khác : "Nếu không phải vậy, thì sao Ta đã nói với các con là Ta đi dọn chỗ ?" (Bauer, Bernard, TOB). Nhưng trong trường hợp này thì phải giả thiết là trước đó, Chúa Giêsu đã loan báo quyết định về với Cha Người trước các môn đồ để dọn chỗ cho họ: nhưng điều này chúng ta không thấy đâu cả. Về cách thế Chúa Giêsu dọn chỗ cho các môn đồ Người, thánh Augustinô đã tóm lại trong một câu ngắn: "Chúa Kitô dọn chỗ cho các môn đồ mình bằng cách chuẩn bị những người sẽ ở các chỗ ấy"(PL 35, 18)

2. Chúa trở về với Cha, về nhà Người (8, 35- 36) không phải là không có lý do, cũng chẳng phải chỉ cho riêng Người. Việc Người lên trời trên nguyên tắc bao hàm việc các môn đồ cùng Người lên với Chúa Cha (12, 26 ; 17, 24). Chúa đi vào vinh quang như Đấng dọn đường cho chúng ta: Người đi trước chúng ta (Dt 2, 1c ; 6, 20) như trưởng tử của một thế hệ được tiền định cho sự sống vinh hiển, được kêu mời phục sinh trong sự sống vinh hiển ấy (1Cr 15, 20) và thông phần với Người vào gia tài vinh quang tương lai (Rm 8, 17- 18).

Các Kitô hữu đầu tiên đã nóng lòng ao ước được đoàn tụ như vậy với Chúa Giêsu. Họ chờ đợi việc đó thể hiện, lúc Chúa quang lâm trong ngày Chung thẩm, ngày mà họ hằng cầu mong cho mau tới (Ga 21, 22- 23 ; 1Ga 2, 28 ; Kh 22, 20 ; 1 Tx 4, 16- 17, 1 Cr 4, 5 ; 11, 26 ; 16, 22 ; Mt 26, 29 ; Lc 22, 29- 30 v.v...). Trong viễn tượng của niệm trông đợi nơi cộng đoàn ki tô hữu đầu tiễn ấy nhiều nhà chú giải muốn nhận ra ở đây, chỗ nói về việc Chúa trở lại và đoàn tụ với các môn đồ Người, một lời ám chỉ đến ngày Quang lâm; nhưng nhiều tác giả khác lại nghĩ đến sự đoàn tụ xảy ra tiếp theo cái chết của mỗi môn đồ.

Thực ra, vào cuối thế kỷ thứ nhất, lúc mà Tin Mừng thứ tư được phổ biến, nỗi chờ mong ngày cánh chung không quá căng thẳng như vậy, mặc dù vẫn còn sống động như một yếu tố cơ bản và thường xuyên của Kitô giáo. Với dòng thời gian, ngày phán xét cuối cùng, chung cho toàn thể vũ trụ, càng lâu càng khó dự liệu và chìm vào trong một tương lai càng lâu càng thụt lùi.

Mặc dầu chậm trễ như vậy, ngày cánh chung vẫn được khai mào bắt đầu từ Giờ tôn vinh. Từ lúc ấy, Chúa Giêsu đã được đặt làm Con Người và Quan án tối cao của thế gian trong hào quang sáng láng giữa triều thần thiên quốc (Ga 1, 51 ; 3, 13 ; 5, 20- 29 : 6, 62 ; 8, 28). Kỷ nguyên cứu rỗi và phán xét khởi sự từ giây phút ấy, giây phút bẻ quặt dòng lịch sử của thế giới. Từ nay, Chúa luôn hiện diện, hoặc như một người anh em (20, 17), hoặc như một người bạn (15, 15) hoặc như một quan tòa có thể ngây nên một tai họa cuối cùng vào bất cứ lúc nào. Những lần Chúa Kitô hiện ra cho các tín hữu của Người không phải là một cuộc Quang lâm trước kỳ hạn, như khi Người biến hình, cũng chẳng phải là tiền ảnh của lần xuất hiện cuối cùng trong vinh quang. Đúng hơn, đó là bằng chứng khả giác hữu hình của sự hiện diện thường xuyên của Chúa với tư cách Con Người đã được tôn vinh trong cộng đoàn các tín hữu để tiếp tục nâng đỡ họ chống lại các cuộc tấn công luôn đáng sợ của Satan. Những lần hiện ra đó, bất thần xảy đến sau ngày sống lại và ngay cả thời gian tiếp theo (14, 18- 24, 16, 16), còn có một ý nghĩa khác hơn là một hiện tượng nhất thời; chúng nói lên sự hiện diện chắc chắn thường xuyên của Chúa Kitô. Như thế, nỗi trông đợi ngày phán xét cuối cùng vẫn còn sống động ngay cả khi người ta không còn chờ đợi ngày Quang lâm như một biến cố gần kề. Từ biến cố trở lại vinh quang người ta chuyển sự chú ý qua thực tại thâm sâu của việc kết hợp với Chúa Kitô ; từ việc phán xét chung, người ta chú trọng đến vận mệnh riêng biệt của mỗi người Kitô hữu.

Do đó, thật là hữu lý khi xem việc trở về của Chúa ở Ga 14, 3 ám chỉ biến cố Phục sinh (20, 19. 24. 26 ; 21, 13), biến cố được coi là sự bảo đảm cho việc Chúa hiện diện giữa cộng đoàn (14, 18 .23 ; 16, 16) cũng như ám chỉ đến việc các môn đồ đoàn tụ với Chúa, được thể hiện một cách thành toàn vào giờ chết của mỗi người trong họ. Như vậy luật tuyển chọn môn đồ được thực hiện cách trọn hảo : "Ta ở đâu, kẻ hầu hầu hạ Ta cũng ở đó". (12, 26 ; 17, 24). Nếu trong truyền thống Nhất Lãm (Mt 16, 25 ; Mc 8, 34 ; Lc 9, 23 ; 14, 27), luật này buộc môn đồ phải theo Chúa Ki-tô mà thôi (15,18 - 16, 4), nhưng còn bao hàm một lời mời gọi theo Người vào trong vinh quang của Chúa Cha (14, 3 ; 17, 24). Chúng ta đã gặp thấy cái nhìn lưỡng diện này trong câu trả lời cho Phêrô: "Ngươi sẽ theo Ta ... về sau" (13, 36- 38). Ở đây luật này còn nói mạnh hơn điểm giống nhau giữa vận mệnh của các môn đồ và vận mệnh của Chúa Kitô: như cái chết của Chúa, theo quan niệm Gioan, là sự trở về với Cha (8, 14. 21 .22 ; 13, 1. 33 ; 14, 4. 5. 28 ; 17, 11), thì cũng thế, cái chết của người môn đồ cũng là sự trớ về với Chúa Cha, một cuộc vinh thăng với Chúa bên Chúa Cha.

Nếu tạm thời họ còn ở lại trong thế gian này, thì giờ chết họ sẽ được chiêm ngưỡng ánh vinh quang của Chúa (17, 15. 24). Nhưng hiệu quả này của cái chết không có tính cách tự động và không nhất thiết bảo đảm cho người môn đồ thể hiện.vận mệnh của mình đâu; người môn đồ không thể tự mình đến vinh quang Thiên Chúa được (7, 34. 36 ; 8, 21- 23; 13, 33), vì tự bản chất, có một hố sâu ngăn cách thế giới trên cao với thế giới chúng ta. Chỉ có Chúa bởi trên xuống và bây giờ lại trở về mời có thể đưa chúng ta từ thế giới này về nhà Cha. Người Kitô hữu phải nhận thấy sau cái chết là bàn tay chìa ra và nụ cười tiếp đón của Đấng đã đi trước mình và đang đến tìm mình.

3. Là một người điềm đạm, sứ đồ Tôma cảm thấy buồn cười khi phải liều mạng sống một cách vô ích (11, 16) và sau cái chết của Chúa Kitô, ông không muốn phải tỉnh mộng lần nữa. Ông bắt đầu sốt ruột. Sự trở về với Cha đối với ông xem ra là một cái gì bí nhiệm, và quá mơ hồ mong manh để ông có thể liều mạng sống mình được. Như người Do thái (7, 35- 36 ; 8, 14. 22), hay Phêrô (13, 37), ông chẳng hiểu được ý nghĩa của chuyến đi này. Chúa Cha, Đấng lấp đầy thần trí và tâm hồn Chúa Giêsu, các môn đồ coi là người xa lạ, vì họ thuộc về thế gian này và không thể hướng tầm mắt qua khỏi những chân trời trần tục để nhìn về thế giới trên cao. Vì thế, họ cần phải nhận phép rửa của Thần khí.

Tuy nhiên, Chúa Giêsu vẫn không nao núng vì câu nói cúp ngang nửa chừng của Tôma. Một lần nữa, Người giới thiệu đường và mục đích cho các môn đồ như một lệnh truyền độc nhất và không thể hủy bỏ. Ta là Đường ; Tôma đừng có mơ tưởng đến một quê hương nào xa lạ, hãy chỉ cần nhìn nơi Thầy, vì Người là con đường, con đường độc nhất dẫn về cùng đích duy nhất. Các môn đồ chẳng biết cùng đích, vì họ không nhìn cho kỹ con đường. Họ quá chú ý tới những chi tiết phụ tùy, họ không chỉ nghĩ đến một mình Chúa Giêsu, họ muốn thấy Ladarô nữa (12, 9) Họ hành động như thiếu phụ Samari, chỉ nghĩ tới nước tươi mát, vọt ra từ giòng suối (4, 11- 15) mà không nghĩ tới Đấng đang ở trước mặt bà (4, 26). Họ giống những người Do thái hy vọng nhận được nơi Người bánh và manna, nhưng bánh là chính Người thì họ chẳng hề mơ ước (6, 33tt). Thay vì phỏng đoán về nơi chốn mà con đường dẫn tới, họ nên quan sát con đường ấy thì hơn, vì từ đó họ sẽ biết được hướng đi: Chúa Giêsu là con đường độc nhất dẫn về Chúa Cha.

Người là đường vì Người là sự thật. Đối với Gioan cũng như với mọi người Do thái, sự thật là cái gì cụ thể và thực tế, là cái gì có thực, chắc chắn, ta có thể tín nhiệm, có thể xây dựng cuộc sống của mình lên trên, là cái khả dĩ làm nền móng cơ sở và hướng đi cho cuộc đời. Trong truyền thống cổ xưa của Israel, từ ngữ này đã có một ý nghĩa tôn giáo đặc biệt ; nó thường diễn tả sự trung tín của Giavê với lời hứa và giao ước của Ngài. Nhưng lúc mà, trong Do thái giáo, Lề luật trở thành dữ kiện chính yếu của các việc đạo đức, thì từ đó lề luật được xem như hiện thân đích thực của sự thật, "Luật sự thật nghĩa là quy tắc đời sống do Thiên Chúa mặc khải. Tư tưởng của Gioan nối dài quan niệm trên; đối với Gioan, sự thật là mặc khải cuối cùng do Chúa Kitô mang đến, hay đúng hơn là mặc khải được thể hiện trong con người và hành động của Chúa Kitô. Chúa Kitô-sự Thật là giai đoạn chung kết của việc mặc khải. Mặc khải chung cục này đối nghịch với mặc khải tạm thời của Cựu ước, như thực tại đối với hình bóng.

Sự thật ấy đối với Gioan cũng là quy tắc đời sống vững chắc do đó có thành ngữ "đi trong sự thật, thực thi sự thật": 3, 21 ; 1Ga 1, 6 ; 3Ga 3- 4). Sự thật không phải là một giáo huấn lý thuyết, một hệ thống giáo điều do Chúa Giêsu soạn thảo, nhưng là toàn thể Chúa Kitô, là toàn thể con người, hành động và lời nói của người cũng như ý nghĩa cứu độ bao hàm trong đó. Vì thế nên tùy theo từng trường hợp mà dịch chữ sự thật là "ơn cứu độ hữu hiệu" hoặc "mặc khải đích thực, trọn hảo, chung quyết", làm sao để cho nổi bật đặc tính chung cục của mặc khải thể hiện trong con người của Chúa Kitô ân sủng và sự thật, theo Ga 1, 14. 17 không phải là nại thực tại đặt kề với nhau. Ân sủng của Thiên Chúa được thực hiện và được thông ban cho Ngôi Lời cách trọn hảo nhất, và nhờ Ngôi Lời, ân sủng xác định toàn thể đời sống chúng ta. Trong Chúa Giêsu, ân sủng trở thành sự thật, nghĩa là thực tại tràn đầy. Việc thờ phượng đích thực trong Thần khí và Sự thật mà Chúa Giêsu đề cập tới trong cuộc đàm thoại với thiếu phụ Samari là việc cầu nguyện tương xứng với thực tại thần linh được tỏ lộ trong Chúa Kitô. Và để đạt đến thực tại ấy, cần thiết phải có sự trợ giúp của Thần khí (4, 23- 24). Những ai làm chứng cho Sự thật (5, 33 ; 18, 37), thì không chỉ thỏa thuận với những gì Chúa Giêsu nói, nhưng còn phải quả quyết sứ mạng thần linh của Người là xác thực, phải chứng nhận rằng Chúa Cha hành động và nói qua Chúa Giêsu. Sự thật ấy, xét như mặc khải thần linh (8,40), là một thực tại năng động, đầy Thần khí (4, 23- 24 ; 6, 63 ; 1Ga 5, 6) Nó giải thoát người tín hữu (8, 31), thanh tẩy họ (15, 3), hành động trong họ (2Ga 2), thánh hiến họ cho Thiên Chúa (17, 17-19) và lôi họ ra khỏi thế gian đầy gian dối mà Satan là Cha (8, 41- 45). Vì là thực tại thần linh của ơn cứu độ được mặc khải trong Chúa Kitô, nên Sự thật chỉ có thể được tiếp nhận như thần khí sự thật mà thôi (14, 17 ; 15, 26).


Thành thử Chúa Giêsu là đường dẫn tới Chúa Cha, vì Người là sự thật, là mặc khải thần ánh có sức cứu rỗi, vì Người là ánh sáng đích thật và duy nhất. Và vì Người là sự thật và là sự sáng, bởi hiện thân cho ánh sáng cứu độ của Thiên Chúa trong thế gian, nên Người là sự sống, Người ban sự sống, Người là nguồn mạch của Thần khí, nghĩa là của sinh lực và của sự sống Thiên Chúa.

Chỉ một vài tiếng mà đủ nói lên mọi sự: Người là đường: về cùng Cha, bởi vì Người là sự thật, là hình ảnh của Cha trong thế gian; đồng thời Người là sự sống của kẻ lớn lên trong Người. Vì Cha là nguồn gốc nguyên thủy của sự sống - sự sống mà Con cũng có - và của sinh lực mà Ngài thông ban cho các kẻ tin (Ga 3, 34- 36 ; 5, 26 ; 6, 57 ; 10, 28- 29). 

4. Trong lúc hăng say bồng bột như trẻ con, Philipphê tưởng mình đã hiểu được một chút gì rồi. Ông nghĩ sắp xảy ra một cuộc thần hiện, một sự tỏ mình oai phong của Thiên Chúa, giống như những cuộc thần hiện mà ngày xưa Môisen đã chiêm ngắm trên núi Sinai (Xh 24, 9- 11 ; 33, 18), Elia trên núi Horeb (1 V 19, 10- 14), hoặc như Isaia trong Đền Thờ (Is 6). Người Do thái nào cũng ao ước hưởng được đặc ân này, tuy nhiên vẫn hơi lo sợ vì thị kiến được xem như có nguy hiểm đến tính mạng. Lòng ước muốn được thấy cảnh tượng này làm cho vị môn đồ hết kiên nhẫn.

Chắc Chúa đã đón nhận lời nguyện cầu của ông với một cử chỉ gật đầu. Vậy phải chăng Người sắp đem Chúa Cha từ trời xuống để cho họ một cảnh tượng vui mắt? Không ! Chẳng có ai thấy Thiên Chúa bao giờ (1, 18 ; 6, 46) ; hơn nữa chẳng ai có thể thấy Thiên Chúa trừ ra trong Chúa Kitô. Philipphê mong đợi Thiên Chúa tỏ mình một cách tỏ tường nơi nào đó trên đám mây, nhưng Thiên-Chúa-trong-Chúa-Kitô lại ở trước mặt ông. Thiên Chúa không còn tỏ hiện trong sấm chớp, cũng như trong thị kiến nữa; từ nay Ngài tỏ mình trong hình thể con người Chúa Ki-tô, Đấng không bao lâu nữa sẽ được ánh vinh quang bao phủ . Vinh quang mà Isaia đã chiêm ngắm trong Đền thờ chỉ là một tiền ảnh xa vời của mặc khải Thiên Chúa trong Con (Is 6, 1 ; Ga 12, 41). Và khi người Do thái nại đến các vị anh chàng của giòng giống họ là những người đã nghe tiếng Thiên Chúa và chiêm ngắrn dung nhan Ngài, thì cũng chẳng còn sót lại cho họ một âm vang hay một tia sáng nào, mặc dầu họ thông hiểu Kinh Thánh, vì các lần mặc khải mang tính cách chuẩn bị của Thiên Chúa trong Cựu ước không có mục đích nào khác ngoài việc dẫn đưa họ đến vị Sứ giả cuối cùng của của Mặc khải thần linh là Chúa Kitô (5,37-38). Mọi mặc khảo của Thiên Chúa trong Cựu ước chỉ có ý nghĩa cho Lời, và từ khi lời ấy hóa thành nhục thể (1,14), thì Thiên Chúa chỉ có thể tiếp xúc được trong Chúa Giêsu. Tất cả mọi thánh điện dầu hết công dụng, Đền thờ Giêrusalem cũng như Đền thờ của người Samari trên núi Garizim; chỉ còn tồn tại một đền thờ duy nhất, một nơi gặp gỡ với Thiên Chúa là chính bản thân Con của Ngài (4, 21- 24 ; 2, 13-22). Ai có lòng đạo đức thật, thì đến với Giêsu là ánh sáng (3, 21) và ai mở lòng đón nhận luồng khí của Chúa Cha bằng cách lãnh nhận giáo huấn của Ngài, thì đến với Chúa Giêsu (6, 45). Không có con đường nào đến với Chúa Cha ngoài Chúa Con vậy.

"Philipphê, làm sao con nói: Xin tỏ cho chúng con thấy Cha". Khi xin Chúa Cha tỏ hiện cách rõ ràng ngoài con người Chúa Giêsu, Philipphê tỏ ra mình đã chẳng biết, chẳng hiểu Thầy. Vì thấy Chúa Giêsu, chiêm ngắm Người là thấy Chúa Cha trong Người; cũng giống như tin vào Người là tin vào Đấng đã sai Người (12, 44- 45). Chúa Cha và Chúa Con không thể tách lìa nhau: Con đâm rễ sâu trong Cha và Cha ẩn mình sau Con. Ngài ở nơi Con, Ngài nói và hành động qua Con. Nếu Philipphê không tin vào lời người thì ít nữa hãy tin vào các việc Người làm là các phép lạ vậy (10, 25. 37. 38): Biết bao lần Người đã nói cho họ điều đó? Các lời nói và việc làm của Chúa Giêsu là lời nói và việc làm của Cha (5,17- 26. 30. 36 ; 7, 16- 17 ; 8, 26- 29 ; 9, 16- 33 ; 10, 25. 36- 38 ; 12, 49- 50). Việc Người nên một với Cha trong hành động giả thiết là Người đã nên một với Cha trong hữu thể. Sở dĩ Chúa Giêsu -vẫn luôn nhất trí với Cha chính vì Người tự bản thể là một với Cha.

5. Sau khi loan báo cuộc ra đi của mình, Chúa Giêsu chuyển qua những lời hứa sẽ khích lệ an ủi các môn đồ Người trong thời gian chia ly. Lời hứa đầu tiên có liên quan đến quyền năng sẽ được trao ban cho các môn đồ sau khi Người ra đi Quyền năng ấy vĩ đại đến nỗi sẽ giúp họ làm được những việc cả thể hơn việc Người đã làm. Không kể đến các phép lạ, mà chắc chắn chẳng vượt qua nổi các phép lạ của Chúa Giêsu, họ sẽ mở rộng Nước Thiên Chúa đang còn quá nhỏ bé và còn đâm rễ quá yếu trong mảnh đất Palestine "ra cho đèn tận cùng trái đất" (Cv 1, 8). Giữa các kết quả trông thấy mà Chúa Giêsu đã đạt được vào cuối đới công khai của Người và những thành công do các sứ đồ mang lại không đầy 30 năm sau tại Syri, Tiểu A, Hy lạp, Rôma, thì chẳng có sự so sánh nào mà không nghiêng về các sứ đồ. Tuy nhiên, ta chớ nên ngộ nhận; thành công ấy là hậu quả của việc Chúa Giêsu trở về với Cha Người. Thành ra, Chúa Giêsu dành sức hành động cách oanh liệt nhờ các sứ đồ sau khi chết. Sứ vụ của họ sẽ biểu lộ sức mạnh ẩn náu sẽ tác động trong họ. Chỉ cần họ có một điều kiện duy nhất là tin vào con người Giêsu.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT 

"Hãy tin vào Thiên Chúa, mà cũng hãy tin vào Ta". Xét theo văn phạm, thì hình thức pisteuete có thể là một trực thuyết cách hiện tại (indicatit présent) hoặc là một mệnh lệnh cách (impératif). Bởi thế có hai cách dịch: "Các ngươi tin vào Thiên Chúa, thì cũng hãy tin vào Ta" (Bản Phổ thông, thánh Augustin, bê đa, Maldonat, Knabenbauer, Tillmann, Lagrange, Durand, TOB ...) hoặc là "Hãy tin vào Thiên Chúa và cũng hãy tin vào Ta" (Cyrille thành Alexandna, giun Kim khẩu, "Théophylacte, Hilaire, Jouon, Bernard, Huby, Van den" Bussche, BJ ...). Khó mà chọn lựa giữa hai cách dịch, vì cả hai" đều có thể chấp nhận. Cách thứ hai giả thiết là chúa Giêsu muốn khơi dậy cách nào đó niềm tin vào Thiên Chúa của các sứ đồ. Cách thứ nhất trước hết xác quyết rằng các sứ đồ đã có lòng tin vào Thiên Chúa rồi chuyển qua khuyên nhủ họ cũng hãy có một !òng tin như vậy vào chúa Giêsu. Nhưng nhận cách dịch nào thì ý chính vẫn là Chúa Giêsu kêu mời các sứ đồ hãy tin vào Người như tin vào Cha, nghĩa là hãy tin vào thiên tính của Người.

"Nếu các con biết Ta, tất các con cũng biết Cha Ta". Các thủ bản chia rẽ gần như đồng đều nhau về tính chất của điều kiện cách (cơnditionnel) được nhắm tới ở đây; một vài thủ bản thì viết egnôkate, là hình thức của trực thuyết cách quá khứ (indicatif partait) để nói lên một điều kiện có thể có thực (nếu các con biết Ta); các thủ bản khác lại ghi egnôkeite, là một hình thức của trực thuyết cách đại quá khứ (indicatiì plusque-partàit) để nói lên điều kiện không thể nào có được nữa (nếu các con đã biết Ta). Vì thực-điều-kiện-cách (conditionnel réel) thích hợp hơn với phần thứ hai của câu này, nên bị nghi ngờ là muốn tu chỉnh bản văn: có lẽ một vài người sao chép đã thấy lời Chúa Giêsu nói với các sứ đồ hơi nặng nên đã sửa đổi nó. Bởi thế chọn hư-điều-kiện-cách (conditionnel irréel) thì đúng hơn.

KẾT LUẬN

Chúa Giêsu nhắn gởi lời khuyến dụ này cho các môn đồ Người thuộc mọi thời đại. Người kêu gọi họ giữ vững lòng tin vào Người trong những bước đường tối tăm và trong các cơn dông tố thiêng liêng của cuộc đời, đồng thời hãy dâng cho Người một tình yêu quảng đại và vâng phục, cái tình yêu sẽ đặt họ vào trong tình yêu thân mật của Ba Ngôi Thiên Chúa và sẽ làm cho họ sống trong bình an và hoan lạc của Chúa Giêsu.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Bản văn này tóm tắt sứ điệp Tin Mừng Gioan. Nó diễn tả cách gián tiếp điểm đặc trưng và sâu xa nhất của đời sống Kitô hữu. Nó là một phần trong toàn bộ các .lời nói của Chúa Giêsu giải thích về chính mình Người. Cùng một trật nó trình bày cho thấy Người là gì đối với chúng ta và chúng ta phải trở nên nhất thế nào đối với Người. Chúa Giêsu là một người thật, hoàn toàn giống chúng ta trong mọi sự, ngoại trừ tội lỗi, nhưng đồng thời được tràn đầy thực tại thần linh sống động đến nỗi trở nên duy nhất và đồng hóa với Chúa Cha trong hữu thể, trong bản chất và trong đời sống: Người mặc khải Chúa Cha cách dịch thực Người, chúng ta là những kẻ Cha đã ban cho Người và Người muốn rằng Người ở đâu, chúng ta cũng ở đó. Người cầu nguyện và hành động để trong Người chúng ta được thông phần vào sự sống Chúa Cha ban. Ở đây, chúng ta đứng trước một mầu nhiệm dày đặc đối với tâm trí nhưng sáng tỏ cho những ai dấn thân cách sống động nhờ đức tin.

2. "Lòng các con chớ xao xuyến. Các con tin vào Thiên Chúa, thì cũng hãy tin vào Ta". Đây là một cách Chúa bảo rằng nòng cốt đức tin của chúng ta là chính Người, bản thân của Người, sứ điệp Người. Ta có thể tự hỏi: Làm sao Chúa Giêsu Kitô, vốn là Thiên Chúa, lại có thể nói về Thiên Chúa như nói về một Đấng khác với chính Người. Ở đây chúng ta đụng đến một trong những khía cạnh của mầu nhiệm Nhập thể. Nghĩa là mầu nhiệm Thiên Chúa xâm nhập vào thời gian, vào không gian và vào trong những giới hạn của con người. Con Thiên Chúa, có thể nói, là đã tự giới hạn mình vào trong những chiều kích của thực tại nhân loại, mà vẫn không thôi là chính Người. Chúa Giêsu muốn bảo điều này: Con người hữu hình của Người dễ gần gũi với hành động đức tin của chúng ta hơn là Thiên Chúa vô hình; sự kiện lạ lùng là lòng tin của chúng ta vào Người làm cho chúng ta đụng đến Đấng không thể nào tới gần được. Khi tin vào người là Chúa Con, chúng ta có thể tin vào Chúa Cha. Mà tin vào Chúa Cha là nguyện vọng và tiếng gọi sâu xa nhất của con người vốn thường bị đau khổ làm cho xao xuyến. Niềm tin tưởng ấy làm cho sự xao xuyến tách ra khơi chúng ta và mang lại bình an, sức mạnh, niềm vui.

3. "Ta là Đường, là Sự Thật, là Sự Sống". Trong cuộc sống của người-không-có- Thiên-chúa, dường là một hệ thống tư tưởng hay là sự khôn ngoan, sự thật là một chọn lựa giữa nhiều ý kiến, sự sống là một sình hoạt, một tình yêu suy nhược, và thường là một sự chịu đựng. Đối với người-có-Chúa-Kitô, thì sự sống là một sự thông hiệp mà những khám phá có sức làm được điều ta tưởng là bất kham. Trong Chúa Kitô, người Kitô hữu tìm được đường đi, lối về, nhờ đó họ vượt qua những biên giới của thế gian. Mà tự bản chất là một cánh cửa đóng kín tuyệt vọng. Hơn nữa con đường này, tức là Chúa Kitô, là một lời mời gọi ra đi, tiến tới đằng trước, vươn mình lên mãi. Người Kitô hữu khám phá nơi Chúa Kitô câu trả lời cho nhu cầu bí mật mà con người cảm thấy, là phải nương tựa vào một cái gì vửng chắc để luôn có thể tìm kiếm mãi. "Con sẽ không tìm Ta, nếu con đã không gặp Ta" (Th. Augustin). Sự thật sống động không bao giờ là một cái gì hoàn toàn đạt được, nhưng nó bảo đảm với ta rằng nó xác thực. Càng gặp Chúa Giêsu, ta càng tìm kiếm để biết Người hơn. Khỏi phải nói là biết Chúa Kitô là trước tiên sống bởi Người. Khi ta sống bởi Chúa Kitô, phải chăng các thực tại tự nhiên của đời sống đ.eu thay đổi . Không? người Kitô hữu có một sinh hoạt nhân sinh và thực tế như tất cả mọi người, nhưng sinh hoạt ấy được một cái hồn. Có một cách suy nghĩ, một cách chọn lựa mục đích, một cách gặp gỡ con người ... được hướng dẫn bởi sự hiện diện của Chúa Kitô trong cuộc đời. Chúng ta có biết ngạc nhiên về điều không thể làm được lại trở nên có thể được cho chúng ta trong Chúa Kitô không ?


Noel Quession - Chú Giải

Ga 14:1-12


Trước khi rời khỏi thế gian này để về cùng Chúa Cha. Đức Giêsu nói với các môn đệ : "Lòng anh em đừng xao xuyến...".

Trong Tin Mừng ngày hôm nay viết về ngày thứ Năm Tuần Thánh vào cuối bữa ăn sau cùng của Đức Giêsu. Quả thật bầu khí của nhóm các môn đệ thật bi thương : Đức Giêsu vừa loan báo sự phải bội của Giuđa và y đã đi ra khỏi căn phòng vào đêm tối bên ngoài (Gioan 13,21-30)...rồi Đức Giêsu bảo rằng Người sẽ ra đi và nơi Người đi, các bạn hữu Người không thể theo được (Gioan 13,31-36)... sau cùng, đầy nỗi lo sợ, Đức Giêsu báo trước cho Phêrô rằng ông sẽ chối Người "ba lần" trong đêm hôm ấy trước khi gà gáy (Gioan 13,37-38)... Như thế, người ta biết được sự xao xuyến kinh hoàng đang xiết chặt mọi tâm hồn và tư tưởng các môn đệ. Trong đời sống của chúng ta cũng thế có chăng giờ phút sự sợ hãi kinh hoàng ập xuống trên chúng ta. Một tương lai bấp bênh, một thiệt hại không vượt qua được, những suy sụp của tuổi già, một căn bệnh không thể chữa khỏi Và còn có những sợ hãi tập thể : sự thất nghiệp. Bao lực, nạn nhân mãn, nạn đói, sự ô nhiễm môi trường những nguy cơ của nguyên tử. Và trong bối cảnh khủng hoảng ấy, những câu hỏi nghiêm trọng mà mọi tín hữu chân chính phải đặt ra : Những giá trị cao cả của con người chẳng phải đang bị xoá nhòa đó sao ? Nhân loại ngày mai sẽ tin vào điều gì ? Và một ngọn gió hoảng sợ cũng xâm chiếm những tín hữu mạnh mẽ nhất và người ta lẩm bẩm rằng trong Giáo Hội cũng không có gì là ổn cả.

Chính trong bối cảnh nhân loại như thế mà tính lạc quan không gì thắng nỗi của Đức Giêsu bùng lên như một ngọn lửa nồng nàn, cháy sáng trong đêm tối ! Chỉ còn mấy giờ nữa Người phải lên thập giá thế mà Người đã cố sức vực dậy tinh thần của các bạn hữu của Người : "Lòng anh em đừng xao xuyến !chúng ta hãy lắng nghe những lý do người sẽ đưa ra để chúng ta không bao giờ còn sợ nữa..về bất cứ điều gì.

"Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy".

Đức Giêsu yêu cầu các bạn hữu bang xao xuyến của người hướng cái nhìn về một hướng duy nhất : Đức tin thâm sâu xa của Đức Giêsu, vượt qua mọi nỗi sợ hãi không dựa trên sức người, nhưng dựa trên Thiên Chúa. Tất cả, không chừa môt ai đều có thể suy sụp, chỉ có Đức Giêsu nắm giữ sự trợ giúp siêu nhiên nằm bẽn ngoài ảnh hưởng của mọi sức mạnh phá hoại. Cái chết cũng không thể phá hủy sự binh an của Người : Sự bình an của Người không do sức con người mà do Thiên Chúa ! Vả lại, chúng ta nhận thấy rằng Đức Giêsu đòi hỏi đối với bản thân Người một thái độ đđc tin mâ người ta có thể có đối với Thiên Chúa. Tính duy lý của con người vỡ tung như một nhân nguyên tử, dưới sức ép khó quan niệm nổi của cái vô cùng thánh thiêng : Làm thế nào mà Đức Giêsu vốn là Thiên Chúa lại có thể nói về Thiên Chúa như một Đấng khác mình ? Và điều đó mang lại công thức làm ngạc nhiên : "Hãy tin vào THIÊN CHÚA... Hãy tin vào THẦY…" Vậy thì Người là ai để nói như thế ?

"Trong nhà Cha của Thầy có nhiều chỗ ở, nếu không Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em".

Phải, đó là mầu nhiệm không thể hiểu thấu của Nhập Thể Đức Giêsu với tư cách con người, phân biệt không ngừng với Thiên Chúa ! Người nói về Thiên Chúa như thể đó là một Đấng Khác (Tha Thể Tuyệt Đối). Người nói về Chúa Cha. Không bao giờ Đức Giêsu hướng cái nhìn của con người về chính mình. Không bao giờ Đức Giêsu lôi kéo sự tôn kính hay thờ phượng về bản thân Người : Người hoàn toàn hướng về một Đấng Khác. .. và Người muốn xoay hướng chúng ta về Đấng Khác ấy. Đấng Hoàn Toàn Khác, Đấng mà chưa có ai đã từng trông thấy, tức là Chúa Cha. Như thế, Đức Giêsu đối diện với cái chết của Người, sự ra đi khỏi thế gian này, như một sự trở về nhà mình : Người sẽ tìm lại nơi đó một Đấng mà Người yêu mến và mến yêu Người. Đức Giêsu biết mình được yêu.

Sau những lời làm vỡ tung lý trí, giờ đây là những lời hoàn toàn thân mật, những lời thừơng nói mỗi ngày :nhà, chỗ ở, dọn chỗ...

Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy".

Đây là những lời dịu đàng không tả nổi : "Đem về với Thầy.. trở lại …" Thiên Chúa tất nhiên là Đấng Hoàn Toàn khác không thể đạt đến được nhưng cũng là Đấng Rất thân thiết. Chúng ta không có một Thiên Chúa dửng dưng và lãnh đạm, nhưng là một người Cha đầy tình âu yếm, một người Anh để cho những nỗi lo sợ của chúng ta làm thương tổn và Người nói với chúng ta những lời an ủi và thân ái.

"Để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó".

Chúng ta chớ lướt qua nhanh quá trên những lời xem ra có vẻ đơn giản và thân mật một cách ngây thơ. Có cả một thần học được diễn tả xuyên qua mạc khải ấy. Khi dám nói rằng "Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó". Đức Giêsu mở ra cho nhân loại một viễn cảnh có âm vang vô tận, siêu nhân, siêu nhiên : Chính "đời sống thánh thiêng" được ban chúng ta. Mục đích của con người không còn ở trong con người, mà ở trong Thiên Chúa ? Nhân loại đi về hướng có Đức Giêsu ở đó. Con người đã được lập trình để trở thành "như Thiên Chúa". Người ta hiểu được lời Người nói : "Lòng anh em đừng xao xuyến !".

"Và Thầy đi đâu thì anh em biết đường rồi". Ông Tôma nói với Đức Giêsu : "Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường ?".

Đây là một điệp khúc : "Thầy đi "chúng con không biết Thầy đi đâu...". Đó là câu hỏi nền tảng của nhân loại mà Tôma dũng cảm đặt ra nhân danh chúng ta. Chúng ta sẽ đi về đâu ? ý nghĩa, mục đích sau cùng của đời sống là gì ? Có cái gì sau khi chết ?

Đức Giêsu đáp : "Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy".

Đối với Đức Giêsu, chân trời không bao giờ bị ngăn chặn, gây ra sự tuyệt vọng.

Đối với người tin, ai chấp nhận lời Đức Giêsu, lịch sử sẽ có một ý nghĩa, đời sống sẽ không còn phi lý nữa. Đức Giêsu là "người mở đường", Người đã mở ra một lối thoát cho các hữu hạn và cho đăc tính phải chết của con người. Không có Đức Kitô con người bị giam hãm trong những giới hạn của mình. Với Người, và chỉ với Người, như Người khẳng định có một con đường không dẫn tới cái hố đen của nấm mộ, nhưng về "nhà của Chúa Cha".

"Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng sẽ biết Cha của Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người ".

Câu này của Thánh Gioan là một câu làm hiện ra tính không thể diễn tả của Thiên Chúa, sự "mạc khải" này vẫn còn một phần "không thể quan niệm được" : ánh sáng...nhưng vẫn còn một thứ ánh sáng của đêm tối... ánh sáng của đức tin.

Thật vậy, câu này gồm hai khẳng định bề ngoài trái ngược nhau : Anh em cũng (sẽ) biết Cha của Thầy (ở thì tương lai)... bây giờ, anh em biết Người (thì hiện tại).

Rõ ràng là Thiên Chúa không hiển nhiên và thật ra. Chúng ta không biết Người. Người ta cũng có thể nói rằng chúng ta hiểu được Người ! rõ ràng có một thứ hồ nghi. Không chắc chắn đã xuất hiện trong câu hỏi của Tôma : chúng con không biết...". Tính cảnh của chúng ta hiện nay đúng là như thế. Có thể một ngày nào dó, chúng ta sẽ biết Thiên Chúa. Sự vô tri về Thiên Chúa hôm nay, sẽ biến đổi thành tri thức, như lời Đức Giêsu nói : Anh em sẽ biết Người ! Vả lại trong Đức Giêsu, sự hiện diện vô tri của Thiên Chúa chịu một "cú sốc của tương lai" đến độ những thực tại phải đến đã trở thành hiện tại : "Ngay từ bây giờ, anh em biết Thiên Chúa và đã thấy Người ?". Có thể nói rằng, bằng một cảm thức siêu nhiên, tướng lai được tiên cảm trong hiện tại đối với những người tin Đức Giêsu : thời sau hết đã ở đó, mặc dù chưa hoàn tất. Giáo Hội, nơi cư ngụ của các tín hữu đã trở thành nơi cư ngụ của Thiên Chúa ở giữa con người" (Khải Huyền 21,3). Một ngày nào đó, chúng ta sẽ có một sự hiểu biết nào đó về Chúa Cha, còn bây giờ chúng ta đã hiểu biết Chúa Cha qua bức màn của đức tin. Đó là điều mà các nhà thần học gọi là cánh chung ? tương lai được cảm nghiệm trước trong lòng của các tín hữu. trong Đức Giêsu Kitô.

Ong Phi-líp-phê nói : ' Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện". Đức Giêsu trả lời : "Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Phi-líp-phê, anh chưa biết Thầy ư ? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói : xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha ? Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao ?".

Mới rồi, chúng ta vừa nghe Đức Giêsu phân biệt Người với Chúa Cha. Giờ đây dường như Người đồng hóa với Chúa Cha. Đức Giêsu đi về với Chúa Cha, Người là con đường dẫn đến Chúa Cha và đồng thời, Người ở trong Chúa Cha và ai thấy Đức Giêsu là thấy Chúa Cha Đức Giêsu là một con người, nhưng một con người "chứa đầy Thiên Chúa " một con người Thiên Chúa ! Chúng ta phải để những từ có vẻ đơn giản ấy thấm nhuần chúng ta : "Thầy ở trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở trong Thầy... Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy...".

Phải, đâu có một con người là Giêsu Na-da-rét, sống cách nay hai ngàn năm trong một tổng nhỏ ít người biết đến của Đế quốc La Mã, một con người bằng xương bằng thịt đã đứng trên đôi chân của mình và trên một miền đất xác định, đất ít-ra-en, một con người có những bạn hữu, một con người ăn uống như mọi người... một người sắp chết như mọi người... và con người này lúc này đây hiệp thông với Thiên Chúa và đồng nhất với Thiên Chúa và hoàn toàn không là một kẻ điên. Một con người quân bình tột bậc. khiêm tốn, không tham vọng và kiêu ngạo : một con người vừa mới quỳ gối trước các bạn hữu để rửa chân cho họ như một tôi tớ bình thường vào thời đó... đồng thời giao nộp thân thể tan nát, và đã đổ máu ra vì họ.

"Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy chính Người làm những việc của mình. Anh em hãy tin Thầy : Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy, bằng không thì hãy tin vì chính các việc kia vậy. Thật Thầy bảo thật anh em ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc. Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha".

Thiên đàng không phải là môt sự chạy trốn vào một giấc mơ của tương lai hoang tưởng. Thiên đàng không phải một miếng đường được hứa ban cho sau này để bỏ qua chua cay hiện tại. Thiên Chúa không phải là một thứ thuốc phiện dùng để ru ngủ những đau khổ cho một cuộc đời đời.

Một thiên đàng đã bắt đầu và được cảm nghiệm bởi những người "làm những việc Đức Giêsu làm" : Có một cách nào đó để suy nghĩ, để chọn lựa, để gặp gỡ Thiên Chúa và con người, một cách sống nào đó công chính là cách sống của Đức Giêsu.

Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

" Thầy là đường là sự thật và là sự sống "

Ga 14, 1 - 12


I. Ý CHÍNH : 

Bài Tin Mừng hôm nay ghi lại những lời Chúa Giêsu trấn an các Tông đồ bằng cách kêu gọi các ông giữ vững lòng tin vào người, khi Người không còn ở với các ông nữa.

II. SUY NIỆM:

1/ "Lòng các con đừng xao xuyến" :

Những lời loan báo Giuđa nộp Thầy (Ga 13,21-26). Phêrô chối Chúa (Ga 13, 3-6). Chúa Giêsu ra đi chịu tử nạn (Ga 12,32) và viễn cảnh phải sống vắng bóng Thầy giữa một thế giới thù nghịch, đã làm cho tâm trí các môn đệ tràn ngập lo âu xao xuyến (ga 14, 23.16, 6-20). Chúa Giêsu trấn an bằng cách tỏ cho các ông thấy Người và với Chúa Cha và chính Thánh Linh sẽ bảo đảm cho việc phù trì che chở các ông trong cơn giông tố thiêng liêng của cuộc đời.

"Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy":

Ở đây có nghĩa rằng : "Các con đã tin vào Thiên Chúa thế nào thì cũng hãy tin vào Thầy như vậy". Từ xưa nay niềm tin vào Thiên Chúa đã giúp các tổ phụ và các con cháu tốt lành thằng vượt được bao khó khăn, thì nay niềm tin vào Chúa Giêsu. Con Một Chúa Cha, xuống thế làm người là Đấng mặc khải tột cùng, cũng sẽ giúp các môn đệ như vậy (Ga 5,38 ; 8,46-47). Ở đây kêu gọi các môn đệ tin vào thiên tính của Chúa Giêsu.

2/ "Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở".

Nhà là nơi người ta ở cách vững bền. Kiểu nói này được áp dụng :

Trước tiên áp dụng cho Đền Thờ là nơi Thiên Chúa hiện diện giữa dân Người (Xh 33,7.40.34-38. Ds 12,7. 2Sm 7.13-14. Tv 69, 10).

Về sau dùng để chỉ tính cách siêu việt của sự hiện hữu của Thiên Chúa. Vì ngôn ngữ của loài người không đủ sức để diễn tả nên người ta hay nói cách tượng trưng rằng Thiên đàng hoặc trời là nhà của Thiên Chúa.

Kiểu nói "có nhiều chỗ ở" không có ý nói nhiều cấp bậc, nhưng muốn diễn tả là có sẵn chỗ cho mọi người.

Ở đây Chúa Giêsu muốn trấn an các Tông đồ rằng các ông có quê hương ở trên trời thì bây giờ đừng xao xuyến trước những thử thách ở trần gian nữa.

3/ "Thầy đi để dọn chỗ cho các con" :

Dọn chỗ ở đây có nghĩa là Chúa Giêsu đi chịu nạn chịu chết và phục sinh để đem lại ơn cứu chuộc cho mọi người, mà các Tông đồ là những được kẻ hưởng ơn cứu chuộc ấy, tức là được vào Nước Trời.

Thực vậy, khi Chúa Giêsu phục sinh vinh quang, Người sẽ bảo đảm cho tất cả những ai tin vào Người sẽ bảo đảm cho tất cả những ai tin vào Người, được thông hiệp vĩnh cửu với Chúa Cha (Ga 1,14-51).

4/ "Thầy sẽ trở lại đem các con đi với Thầy" :

Vào giờ chết của mỗi người, và vào ngày tận thế. Chúa Giêsu sẽ trở lại để phán xét và đem những người thuộc về Chúa vào tham dự cuộc sống vinh quang của Người (Mt 16,27 ; 25,31. 1Tx 4,16-17 ; 1Cr 4,5 ; 11.16 ; 1Ga 2,28).

Nhưng trước khi trở lại vinh quang thì Chúa đang âm thầm đến trong thời kỳ hiện tại của Giáo Hội bằng ơn thánh (Ga 14,18).

Và Ngài cũng sẽ đến qua Chúa Thánh Thần (Ga 15,26. 16,7).

5/ "Lạy Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu ":

Ở đây diễn tả tâm trạng của Tôma là một con người thực nghiệm, thích sờ mó nhìn xem và kiểm chứng (Ga 11,16.21, 24-29) chứng tỏ Tôma hay Phêrô (ga 13,37) cũng như những người Do thái (Ga 7, 35-36.8,14) chẳng hiểu được ý nghĩa việc Chúa ra đi.

6/ "Thầy là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống" : 

a) Thầy là Đường

* Trong Cựu Ước : con đường chỉ cuộc xuất hànhc ủa dân Israel, được Thiên Chúa hướng dẫn đến đất hứa (Đnl 1,30-33. 2,1-2. Tv 77.20.136). về sau con đường cũng có ý chỉ các giới luật của Thiên Chúa đã ban cho dân Người phải theo để được hưởng muôn đời (Đnl 32,4. Tv 25.10.128,1).
*Trong Tân Ước : Chính Chúa Giêsu là con đường mới và sống động (mc 8,34 ; Mt 16,24 ; Lc 9,23). Vì thế những người tin theo Chúa, theo Giáo Hội của Người được gọi là theo Đạo (Cv 9,12.18.15.24.22).

*Những ý nghĩa của chữ "đường" trong bài Tin Mừng còn sâu xa hơn. Không chỉ Chúa Giêsu chỉ là đường theo nghĩa Người đã dùng giáo huấn Người mà dẫn ta đến sự sống. Nhưng chính Người còn là đường dẫn đến Chúa Cha nữa. Vì chính Người mặc khải Chúa Cha (Ga 12,45. 14,9), tuy Người bởi Chúa Cha mà đếbn và về với Chúa Cha (Ga 7,29-33. 13,3. 16,28) nhưng Người lại là một với Chúa Cha (Ga 13.30.12,45). Vì chính Người là Sự Thật và là Sự Sống (Ga 3,15).

b/ Thầy là Sự Thật :

* Sự thật là cái gì cụ thể và thực tế, là cái gì có thật chắc chắn, ta có thể tín nhiệm, có thể xây dựng cuộc sống của mình lên trên, là cái khả dĩ làm nền móng, cơ sở và hướng dẫn cho cuộc đời.

* Trong Cựu ước : Sự thật có ý nghĩa tôn giáo, n1o chỉ sự Giavê trung thành với giao ước. Trong giao ước có Lề luật và đó là mẫu mực của đời sống do Thiên Chúa mặc khải và được gọi là luật của sự thật.

* Trong Tân Ước : Với tư cách Chúa Con Nhập Thể. Chúa Giêsu diễn tả Chúa Cha một cách hoàn toàn cho người ta thấy Người bày tỏ Chúa Cha cho họ (ga 17,8-14) bằng hành động của Người cũng như bằng lời Người nói và bằng chính con người của Người. Chính nhờ đó Người dẫn các Kitô hữu vào hiệp thông với Chúa Cha, mà chính sự hiệp thông này là sự sống thật viên mãn hoàn toàn (Ga 17,3.1,4.3.16 ; 6,40 ; 47,63).

* Ở đây muốn nói Chúa Giêsu là Sự thật vì chính Người giải thoát các tín hữu (Ga 8,31) thanh tẩy họ (Ga 15,3) hành động trong họ (2Ga 2) thánh hiến họ cho Thiên Chúa (Ga 17,17-19) và lôi họ ra khỏi thế gian đầy gian dối mà Satan là cha (ga 8,41-45) và đem họ vào thông hiệp với Chúa Cha là sự sống đời đời.

c) Thầy là Sự Sống :

Chúa Cha là nguồn gốc mọi sự sống. Ngài ban sức sống cho Chúa Con (sinh ra Ngôi Hai) Chúa Con lại thông truyền sự sống đó cho những kẻ tin Người. "Cha yêu mến Con và ban mọi sự trong tay Người, kẻ nào tin vào Con thì có sự sống đời đời". (Ga 3,35-36).

7/ "Nếu các con biết Thầy thì cũng biết Cha Thầy" :

Thực ra, các môn đệ không xem thấy Chúa Cha. Họ chỉ xem thấy Chúa Giêsu. Nhưng ai xem thấy Chúa Giêsu thì cũng kể như xem thấy Chúa Cha "vì Ta và Cha Ta là một" (Ga 10,30).

Chính bếin cố Phục sinh đã mở ra cho các môn đệ cái khả năng gặp gỡ và biết Chúa Giêsu và đồng thời biết Chúa Cha ở trong Người. Ở đây Chúa Giêsu muốn tỏ cho các môn đệ nhận biết mối tương quan có tính cách đồng nhất giữa Người và Chúa Cha.

8/ "Lạy Thầy xin tỏ cho chúng con xem thấy Cha" : 

Khi Chúa Giêsu nói tới sự xem thấy Chúa Cha, thì Philipphê, trong lúc hăng say bồng bột như trẻ con, đã nghĩ đến ngay việc xem thấy Chúa Cha cách hữu hình như kiểu thần hiện, như ngày xưa Môsê đã chiêm ngắm trên núi Sinai (St 24,9-11), như Êlia trên núi Horeb (1V 19,10-14) hoặc như Isaia trong Đền Thờ (Is 6). Nhưng dầu sao thì Philipphê cũng đã diễn tả nguyện vọng sâu xa nhất của con người là được xem thấy Đấng vô hình (Dt 11,27).

9/ "Con không tin rằng Thầy ở trong Cha…"

Ở đây cho hiểu chỉ nhờ đức tin chúng ta mới nhận ra được Chúa Con hiện diện trong Chúa Cha và Chúa Cha hiện diện trong Chúa Con liên kết Chúa Cha bằng sự hiệp thông thâm trầm khôn tả (Ga 5,17-36). Khi ta chịu lễ cách sốt sắng ta cũng được thông phần trong sự liên kết này (Ga 6,36).

10/ "Những điều Thầy nói với các con…" : 

*Chúa Cha và Chúa Con không thể tách lìa nhau, Chúa Cha ở nơi Chúa Con, nên Chúa Cha nói và hành động qua Chúa Con.

*Các việc Thầy đã làm". Tức là chỉ chung công việc cứu độ, nhưng đặc biệt chỉ các phép al5, tức là những việc làm cho người ta nhận thấy quyền năng của Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu hơn cả (ga 5,18 ; 8,28).

11/ "Ai tin vào Thầy…" :

Sau khi loan báo cuộc ra đi của mình, Chúa Giêsu chuyển qua những lời hứa sẽ khích lệ an ủi các môn đệ Người trong thời gian chia ly, những lời hứa ấy là :

* "Sẽ làm những việc Thầy đã làm" : Ở đây muốn nói đến sứ mệnh của Chúa Giêsu cũng là sứ mệnh của các Tông đồ và tiếp tục các Tông đồ là Giáo Hội muôn thế hệ, thực hiện ơn cứu rỗi cho nhân loai.

* "Làm những việc lớn lao hơn" : "Các việc lớn lao" ở đây không có nghĩa là các Tông đồ sẽ làm nhiều phép lạ hơn Chúa Giêsu, nhưng có ý nói các Tông đồ sẽ đi rao giảng cho nhiều dân tộc hơn. Quả vậy, Chúa Giêsu chỉ giảng dạy trong xứ Palestina, còn các Tông đồ đã rao giảng mở rộng Nước Chúa trong những vùng như Syria, Tiểu Á, Hy lạp, Rôma, và về sau cho đến tận cùng thế giới (Cv 1,8).

Vì vậy Chúa Giêsu dành sức hành động cách oanh liệt cho các Tông đồ sau khi Người ra đi chịu chết và phục sinh. Nhưng các Tông đồ cũng như sau này, Giáo Hội chỉ có thể thi hành sứ mệnh ấy cách hiệu quả khi họ có một điều kiện duy nhất là tin vào Con Người Giêsu "Ai tin vào Thầy, người ấy sẽ làm được những việc Thầy đã làm…"

III.ÁP DỤNG :

A/ Áp dụng theo Tin Mừng :


Qua những lời Chúa Giêsu khuyên dụ các Tông đồ trong bài Tin Mừng hôm nay, Giáo Hội kêu gọi ct hãy giữ vững lòng tin vào quyền năng của Thiên Chúa đang hoạt động trong Giáo Hội để chúng ta hăng say nhiệt thành làm Tông đồ mở rộng Nước Chúa và để ct biết can đảm trên những bước đường tối tăm và trong các cơn giông tố thiêng liêng của cuộc đời.

B/ Áp dụng thực hành :

Nghe lời Chúa Giêsu


1/ "Lòng các con đừng xao xuyến". Cuộc đời mỗi người làm sao tránh khỏi những lúc xao xuyến, nhưng chúng ta hãy tin tưởng vào sự quan phòng tình thương và sức sống của Thiên Chúa. Hãy liên kết thân mật với Ba Ngôi Thiên Chúa qua các Bí tích, các giờ cầu nguyện và suy niệm ta sẽ tìm được sức mạnh, niềm vui và sự an bình.

2/ "trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở" : Nhờ công cuộc cứu chuộc của Chúa Giêsu, mỗi người chúng ta đều có chỗ ở trên Nước Trời. Vì thế ngay bây giờ chúng ta hãy xây dựng Nước trời trong chính bản thân mình bằng một cuộc sống mỗi ngày hoàn hảo hơn, thánh thiện hơn…

3/ "Chúa Giêsu là Đường dẫn ta đến sự sống đời đời". Chúng ta hãy theo Người bằng cách từ bỏ mình vác thập giá mình hằng ngày và theo Chúa.

4/ "Chúa Giêsu là Sự Thật" : bảo đảm cho ta được sự sống đời, vì thế ct không còn do dự, ngập ngừng trong công việc tin yêu và tín thác vào Chúa nữa.

5/ "Chúa Giêsu là Sự Sống" : Chúng ta hãy tha thiết gắn bó với Chúa bằng Đức tin mạnh mẽ, lòng cậy vững vàng và lòng mến thiết tha để thông phần sự sống với Chúa trên Nước Trời.

6/ Nhìn vào Philipphê : Chúng ta hãy khơi dậy trong lòng ta một nguyện vọng sâu xa được xem thấy Đấng vô hình không phải bằng phép lạ như Philipphê đòi hỏi bằng đức tin : Qua Chúa Giêsu hữu hình nhận ra Thiên Chúa vô hình, qua những biến cố tự nhiên nhận ra dấu chỉ siêu nhiên của Thiên Chúa.

HTMV Khóa X - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn