Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật V thường niên B

Tin mừng Mc 1: 29-39: Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay liên kết ba bản văn khác nhau: trình thuật chữa lành mẹ vợ Phêrô (Mc 1,29-31), một bảng tóm tắt các phép lạ chữa lành (cc.32-34) và một bước tiến trong việc hoàn thành sứ mệnh (cc.35-39). Muốn phân tích ba bản văn, phải lưu tâm đến văn thể khác biệt của chúng...
CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN B

NGÀY 04/02/2018




Tin mừng Mc 1: 29-39


Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải
TỪ CẢM PHỤC ĐẾN LÒNG TIN

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Việc Chúa Giêsu ra khỏi hội đường, theo Mc, có một ý - nghĩa tự nhiên hay biểu tượng?

2. Cách đặt câu 31 có gì lạ thường không? Tại sao Mc dùng động từ "chỗi dậy" (ogeirô) là động từ thường chỉ sự phục sinh trong Tân ước?

3. Trong bảng toát yếu về việc chữa lành bệnh tật (cc.32-34) Mátcô nói đến quỷ ba lần. Ông có dụng ý chi?

4. Câu "chính vì thế mà Ta đã ra đi" (c.38) phải hiểu như thế nào? Có cùng ý nghĩa như Lc 4,43 không?

5. Bài Tin Mừng đưa ra những sứ điệp nào cho thời hiện tại?

Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay liên kết ba bản văn khác nhau: trình thuật chữa lành mẹ vợ Phêrô (Mc 1,29-31), một bảng tóm tắt các phép lạ chữa lành (cc.32-34) và một bước tiến trong việc hoàn thành sứ mệnh (cc.35-39). Muốn phân tích ba bản văn, phải lưu tâm đến văn thể khác biệt của chúng.

Bài đọc thứ nhất (G 7,1-4.6.7) là phần nhập đề cho các cuộc chữa lành của Chúa Giêsu: ta đọc thấy trong ấy hình ảnh con người bị đau khổ vì thân phận trần thế, hay đúng hơn vì bệnh tật. Bà mẹ vợ Phêrô một cách nào đó hiện thân cho thân phận này, và những đám đông đi tìm Chúa Giêsu (cc.32.33.37) cụ thể hóa cái phản ứng đầu tiên của con người đứng trước kẻ có thể chữa lành họ. Con người thời đại hôm nay phải chăng đã được giải phóng khỏi thân phận nói trên nhờ và các khoa học và tiềm lực kinh tế? phải chăng họ đã vượt qua phản ứng của những người đồng thời với Chúa Kitô?

I.TỪ HỘI ĐƯỜNG ĐẾN NHÀ SIMON (c.29)

Trình thuật chữa lành một kẻ bị quỷ ám đã đặt chúng ta tại hội đường Capharnaum (1,23-28), vì thế Mc viết tiếp: "Và lập tức ra khỏi hội đường...". Thật vậy thánh sử hình như vẫn giả thiết một khoảng thời gian khá dài giữa lai phép lạ, bởi vì danh tiếng Chúa Giêsu đã có thời giờ lan xa khắp xứ Galilê. Hiển nhiên Mc đã giản lược. Ta biết ông thường dùng trạng từ "lập tức" nhưng chẳng gán ý nghĩa gì đích xác (11 lần nguyên trong chương một: Cc. 10, 12, 18, 20, 21,23,28, 29, 30,

42, 43). Vì ông không mấy quan tâm đểu tính cách liên tục hợp lý, mà chỉ muốn trình bày ở đây (cc.21-39) một ngày mới về sứ vụ Chúa Giêsu: "Ngày Capharnaum" theo thành ngữ cổ

điển. [như Luca, nơi ch.24 đã cô đọng trong một ngày tất cả các sự kiện từ Sống lại đến Thăng thiên: "Vừa tang tảng bình minh (c.1):.. Đi thăm mộ về (c.9)... Cũng ngày hôm ấy (c.12)... Ngay giờ đó (c.33)... Họ còn đang trò chuyện (c.36)... Đoạn (c 44)..: Rồi (c.50)..."]. Mátthêô và Luca đã bỏ khung cảnh nói trên và để qua một bên tiếng "lập tức" giả tạo vừa nói. Chúng ta không biết thời biểu thật sự của các sự kiện ra làm sao. Tuy nhiên có thể quả quyết rằng cặp trình thuật chữa lành mẹ vợ Phêrô - chữa lành khi chiều đến" bắt nguồn từ một truyền thống có trước các Tin mừng Nhất lãm vì chi tiết "chiều đến" nằm trong Mc lẫn Mt. Nếu Lc đã bỏ qua trạng từ "lập tức" thì trái lại ông đã lưu giữ chi tiết "hội đường". Ông sẽ khai triển ý nghĩa chi tiết này đến độ làm thành một chủ đề thần học, sẽ nhắc tới nhắc lui trong sách Công vụ của ông: khi rao giảng trong một thành hay một thị trấn, thì Chúa Giêsu bắt đầu giảng dạy trong hội đường. Phaolô cũng sẽ làm như vậy.

Chúa Giêsu "ra khỏi hội đường" không chỉ vì đã đến giờ đóng cửa, nhưng vì các thính giả chưa hiểu được Người. Như các môn đồ khi chương kiến cơn bão dẹp yên, họ cũng đặt câu hỏi về bản thân Chúa Giêsu: "Cái gì vậy? (1,27), "ông này là ai thế? (4,41). Nhưng họ chưa trả lời được. Chắc hẳn phải coi đó là một hình ảnh biểu trưng: bao lâu còn ở trong hội đường, ta chưa thể trở nên môn đồ Chúa Giêsu; cần phải ra khỏi đó như một cuộc xuất hành mới. Nơi c.39, Mc sẽ viết với một đại danh từ độc hữu: "hội đường của họ". Xa hơn ông kể rằng sau một phép lạ làm trong hội đường do Chúa Giêsu các biệt phái mới họp với phe Hêrôdê để chống Người. Chính vì thế mà người rút lui về bờ "biển": Người đi ra và có nhiều kẻ đi theo (3,7). Chúa Giêsu cũng sẽ đi xa khi làm phép lạ hóa bánh và nhiều đám đông sẽ đến với Người (6,32-33). Người sẽ còn ra khỏi Đền thờ (11,11) và khỏi Giêrusalem nữa (11,19; 13,1). Về đề tài này, Luca lược đồ hóa rõ ràng hơn Mc: theo Lc Chúa Giêsu rao giảng lần đầu tiên tại hội đường Nadarét. Và ngay từ hội đương này, không những người đã chẳng được hiểu và bị bó buộc phải rời khỏi đó mà còn phải lẩn trốn để khỏi bị giết đi (Lc 4, 16-30).

Chắc Mc đã nghĩ đến chủ đề bất biến này trong Tân ước. Nhưng ta có nên đi xa hơn và xác quyết rằng ông đã muốn đối nghịch hội đường với nhà của Simon-Phêrô, hình ảnh Hội Thánh không? Chưa nên. Vì vẫn biết ngôi nhà này chiếm một chỗ quan trọng trong Tin mừng thứ hai (x. Assemtlées du Seigneur 38, tr.81 và 41, tr.40), nhưng ở đây Lc chưa nói đến Phêrô cách đặc biệt; ông chỉ bảo: "Người đến nhà của Simon và Anrê, cùng với Giacôbê và Gioan.

Bốn môn đồ đã được gọi đầu tiên (1,16-22) và vẫn luôn là những kẻ thân tín nhất này, là chứng nhân của phép lạ. Việc thiết lập nhóm Mười hai chỉ xảy đến về sau.

II. CHỮA LÀNH MẸ VỢ SIMON (cc.30-31)

1. Sự kiện:

Người ta đã đề nghị phân biệt các phép lạ của Chúa Giêsu thành hai: các phép lạ thương xót và các phép lạ chiến đấu (E.Trocmé, La formation đe Levangile de Marc, Paris, 1963, tr.123). Dù không tuyệt đối hoàn toàn, cách phân chia này vẫn giúp làm nổi bật hơn chiều hướng của các trình thuật. Những lần trừ quỷ có thể gọi là các phép lạ chiến đấu: Mc muốn nhân mạnh như vậy (1,23-28.29). Việc chữa lành mẹ vợ Phêrô có thể xem như một "phép lạ thương xót": người ta đã nài xin Chúa Giêsu chữa cho bà (c.30). Tuy nhiên trong tư tưởng Mc, mọi việc chữa lành đều cũng tượng trưng một cuộc chiến thắng ma quỷ; ở giữa việc trừ quỷ và chữa lành tật bệnh, chẳng có phân biệt rõ rệt nào (x. 1,39; 3,15; 6,7 và 13). Còn Lc thì rõ ràng trình bày chuyện chữa lành mẹ vợ Phêrô như một việc trừ quỷ: Chúa Giêsu "hăm dọa cơn sốt" (Lc 4,39).

Theo Mc thì bệnh nhân cảm sốt. Nhưng ta không thể xác định đó là bệnh gì và nặng nhẹ ra sao.

Trong trình thuật của Mc, người ta thường nhận ra được chứng từ của chlính Phêrô, là chẳng nhân trực tiếp của quang cảnh. Hình như thánh sử chỉ lấy chữ "chúng tôi" của Phêrô bằng chữ "họ". Một vài lỗi ngữ pháp hoặc chi tiết văn thể chỉ giải thích được nếu cho rằng chính Phêrô đã kể lại các biến cố: chẳng hạn như chi tiết về Giacôbê và Gioan, vốn có vẻ như một câu ngoài đề.

Việc so sánh với bản văn song song của Mt giúp ta thấy được cách diễn tả phong phú của Mc: Mt không nói đến các môn đồ, họ có vẻ- như vắng mặt: Chúa Giêsu vào, thấy bệnh nhân, cầm tay và và bà cảm thấy "điều đó" (Mt 8,15). Sự đối diện này có lẽ làm cho bài giáo lý của Mt ra rõ ràng và sâu xa hơn, nhưng lại giảm đi tính cách có vẻ thực của trình thuật. Bản văn của Mc thì lại rất đơn giản. Người ta có thể viện dẫn tính cách đơn giản này để biện hộ cho xác thực tính của phép lạ, bởi vì các trình thuật chữa lành bệnh của lương dân thường rất phóng đại chi tiết.

2. Ý nghĩa của phép lạ theo Mc.

Các trình thuật Tin mừng về việc chữa lành. mẹ vợ Phêrô không giúp ta xác định đúng chủ ý của Chúa Giêsu. Khi Người làm hành vi đó, cũng như ý nghĩa đích thực mà các chứng nhân đầu tiên gán cho việc này. Tuy nhiên ta biết người Do thái đã thường xem cảm sốt như là một hình phạt của Thiên Chúa, đi theo với chứng kiệt sức (Đnl 28,22; 32,24; Lv 26,16) hay với bệnh dịch (Hb 3, 5). Về sau, người ta năng gán cảm sốt cho một con quỷ. Trong nhãn giới đó, phép lạ ở Capharnaum, đối với mọi người, hẳn muốn bảo rằng Chúa Giêsu là Đấng được Thiên Chúa sai mà Isaia đã loan báo là sẽ đến cứu con người khỏi đau khổ, hậu quả của sự ác luân lý (Is 26,19; 29,18t; 33 3; 35,5...). Mc đã lấy việc chữa lành mẹ vợ Phêrô làm một trong các yếu tố của "ngày Capharnaum" ngày mẫu của giai đoạn đầu sứ vụ Cứu Chúa; phép lạ minh giải, bằng một ví dụ, các bảng "toát yếu" về bao cuộc chữa lành mà Chúa Giêsu đã thực hiện. Như thế phép lạ này là một dấu chỉ cho thấy thời đại cánh chung hay thiên sai đã đến trong bản thân Chúa Giêsu: Người hành động với chính quyền lực của Thiên Chúa. Nhưng đây vẫn còn là một đấu chỉ. Cần phải mất nhiều thời gian con người mới khám phá và chấp nhận ý nghĩa của dấu chỉ đó (x. Mt 11,4-6). Dẫu sao dự định riêng của Mc sẽ hiện ra rõ ràng hơn khi ta khảo sát kỹ lưỡng câu 31 và câu song song với nó trong Mt 8,15.

3. Chúa Giêsu nâng dậy con người.

Cách đặt câu 31 có một điểm dị thường, ta hãy thử giải thích. Theo nguyên tự, ta có: "Tiến lại, Chúa Giêsu cho bà chỗi dậy bằng cách nắm lấy tay bà, và cơn sốt đã biến khỏi bà". Bình thường lẽ ra phải viết: Chúa Giêsu cầm lấy tay bà và cơn sốt biến khỏi bà; bà chỗi dậy...". Dĩ nhiên Mc trước tiên không lưu tâm đến tính cách thuận lý, nhưng một chi tiết khác tăng cường chú ý của ta: động từ ogeirô Mc sử dụng ở đây đã trở thành một hạn từ chuyên môn chỉ việc sống lại. Mấy chữ "Người cho bà chỗi dậy", hình như đã được thánh sử chèn vào trong một câu đơn giản hơn của Phêrô khi kể lại biến cố, vì là chỉ có nơi ông (Mt và Lc chỉ nói: bà chỗi dậy) Thành thử có lẽ Mc đã đưa những chữ này vào với mục đích giáo lý, và việc chọn động từ ogeirô nói lên ý hướng biểu tượng của ông. Như đã làm cho mẹ vợ Phêrô chỗi dậy khi cơn sốt đã biến bà bất động như chết trên giường, thì Chúa Kitô cũng đến cho ta chỗi dậy, cho ta phục sinh, để ta có thể phục vụ người. Chữ ogeirô cũng còn gặp trong trình thuật chữa lành em bé kinh phong (Mc 9,26-27), nơi lối biểu trưng còn rõ ràng hơn nữa. Thành thử chẳng lạ gì khi Mátcô đã muốn ám chỉ biểu tượng đó ở đây (x. P.Lamrarche, La guérison de la bolle-mère de Pirre ét le gent'e littéraire des Evangiles, trong NRT (1965) tr.518-520).

4. Chỗi dậy dể phục vụ

Trong bối cảnh phép lạ, hay đúng hơn trong khung cảnh tiếp đón Chúa Giêsu tại nhà Phêrô, phục vụ trước tiên là cho ăn uống. Trong cùng ý nghĩa đó, sau những cuộc thử thách ở hoang địa, các thiên thần đã phục vụ Chúa Giêsu (Mc 1, 13), như Người cũng đã truyền cho con gái của Giairô ăn uống sau khi cho nó sống lại (Mc 5,43). Chúa Giêsu không bỏ qua thực tại trần thế giản đơn này, Người còn đi xa hơn nữa. Có lẽ ở đây Mc đã liên tưởng đến lời Chúa Giêsu: "Con người chẳng đến để được phục vụ nhưng là để phục vụ (diakonesai)" (Mc 10,45). Phục vụ không chỉ có nghĩa là hầu bàn, nhưng nếu cần, là "thí mạng làm giá chuộc nhiều người" (c45). Đó là lý tưởng mà Chúa Kitô đã đề ra cho những ai Người phục sinh từ cái chết của tội lỗi.

Trong bản văn ngắn gọn và đặc thù hơn của Mt, ta đã thấy Chúa Giêsu xuất hiện một mình. Số ít của phần cuối câu

15 (bà phục vụ Người) đã làm cho ý nghĩa của động từ được mở rộng. Không còn là vấn đề dọn bữa ăn cho Thầy và cho môn đồ đói mệt vì miệt mài với sứ vụ nữa, song là một chuyện tổng quát hơn. Tình trạng trước của bệnh nhân tượng trưng thân phận con người tội lỗi bao lâu chưa được Chúa Kitô cứu vớt và việc chữa lành thân xác biểu hiệu công trình thiêng liêng Chúa Giêsu hoàn thành. Tin mừng thứ 4 sẽ khai triển cùng lối biểu tượng này trong trình thuật người bất toại ở hồ tắm Bêthesđa (5, 1- 18).

III. BẢNG "TOÁT YẾU" (cc.32-34)

a. Các đặc tính của văn thể "toát yếu": ý nghĩa và việc tổng quát hóa.

Hiển nhiên là ta không nên hiểu theo mặt chữ những lời xác quyết tuyệt đối như: "Người ta đã đem đến cho Người mọi kẻ ốm đau và những người bị quỷ ám" (c.32), nhất là câu của Mt: Mọi kẻ ốm đau, Người đều chữa lành" (Mt 8,16; x.Lc

4,40). Ta biết rằng Chúa Giêsu đã không chữa lành hết mọi bệnh nhân; Người đòi hỏi đức tin của họ. Vì thế Mc đã viết: "Chúa Giêsu đã chữa nhiều kẻ ốm đau" (c.34). Cũng có thể có một thái quá trong kiểu nói: Tất cả thành đều tụ tập trước cửa" (c.33): hình như đây là một sự tổng quát hóa, nhưng chắc chắn cũng là kỷ niệm về một sự kiện có thật đã hơn một lần xảy ra và đã đánh vào trí tưởng tượng của lắm người: truyền thống nhiều lần kể lại rằng người ta đã không thể qua cửa mà vào nhà được vì dân chúng quá đông: nên phải chuyền miệng vô lời nhắn gởi (3,32), hoặc đưa bệnh nhân lên mái nhà thòng xuống (2,1-4).

b. Lũ quỷ

Danh từ hay tĩnh từ quỷ được dùng ba lần trong Mc 1,32-34 và một lần nữa ở c.39. Ta thấy rõ đó là một trong những ưu tư lớn của Mc. Chúa Giêsu đến chiến đấu với ma quỷ và giải phóng con người khỏi quyền lực của nó. Ngay từ đầu, Gioan Tẩy Giả đã giới thiệu Chúa Kitô như là kẻ mạnh hơn" (1,7); Người khai mạc sứ vụ bằng một cuộc tấn công trực tiếp Satan và hắn bị bại trận (1,12-13). Ngay khi Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng thì một kẻ ma ám thử cản trở Người, nhưng quỷ đã bị trục xuất (1,23-27); và trong đoạn kết của Mc", dấu chỉ đặc trưng đầu tiên của người môn đồ là "xua trừ ma quỷ" (16,17) (x. G. Gaide, Les deux maisons, trong Assemblées du Seigneur 41, tr.41-45). Trong nhãn giới này, mọi bệnh tật đều bắt nguồn từ ma quỷ và mọi cuộc chữa lành nhờ trục xuất- ma quỷ đều là một chiến thắng trên quỷ ma.

c "Bí mật thiên sai (c.34b).

Kết luận của bản toát yếu này thường được xem như là do Mc biên soạn. Mc không để mất một cơ hội trở lại với lời căn dặn giữ bí mật thiên sai như với một chủ đề ưa thích (G. Minettè. de Tillesse, le secret messianique danh l'evangile de

Marc, paris, 1968). Câu này sẽ dễ hiểu hơn nếu đặt sau việc trừ quỷ ở hội đường, vì lúc đó người bị quỷ ám kêu lên: "Chúng tôi với Ngài nào có việc gì?... Tôi biết Ngài là ai: Đấng Thánh của Thiên Chúa" (1,24). Để nhắc lại những lời này, Mc hẳn đã thêm một giải thích vào câu 34: "Bởi vì chúng (lũ quỷ) biết Người là ai". Lc muốn rõ hơn nên đã lặp lại những lời của quỷ (4,34-41).

Lũ quỷ này sáng suốt hơn con người đã tức khắc nhận ra được địch thủ của chúng và gào to lên (1,24; 5,7...). Dĩ nhiên tiếng la hét của chúng chẳng phải là những hành vi đức tin, nhưng là những dấu hiệu sợ hãi và thảm bại trước kẻ mà chúng nhận ra là người được Thiên Chúa sai đến, đầy quyền lực thần hình mà chúng không thể đương cự nổi (x. 3,22-27). Đối với con người, Chúa Giêsu tự mặc khải một cách tiên tiến bằng những dấu chỉ về quyền lực của Người trên các bệnh tật nổi tiếng là nan y.(1,40-45), trên tội lỗi mà chỉ mình Thiên Chúa mới có quyền tha thứ (2,5-12), trên ngày của Chúa là ngày hưu lễ (2,28), và cuối cùng là trên sự sống (ch. 15-16).

Tự hỏi "Giêsu là ai?" tức là đã làm một bước đầu trên con đường đưa đến sự hiểu biết hoàn hảo về bản nhân Người, đưa đến đức tin. Vậy mà Mc muốn từng bước dẫn đưa độc giả (hay thính giả) đến chỗ khám phá Chúa Giêsu Kitô như thế.

Khi nhìn thấy những kỳ công đầu tiên Chúa Giêsu đã làm, trong đó có việc chữa lành mẹ vợ Phêrô, con người chỉ nghĩ đến những hồng ân vật chất tức thời mà họ có thể chờ đợi cho chính họ hay cho thân thuộc họ. Ví dụ như dân làng Nadarét theo Lc (4,23). Khi đó Chúa Giêsu liền lánh mặt.

Ta không cần nhắc lại ở đây những gì đã nói về bí mật thiên sai, chỉ cần nhấn mạnh đến một khía cạnh giáo dục của chủ đề nầy: một hành vi đức tin vào Chúa Giêsu sẽ chỉ thực sự có giá trị khi gói ghém một sự hiểu biết đầy đủ về sứ mệnh và công việc Người, đặc biệt về sự cần thiết phải chết và sống lại để hoàn thành công việc đó. Người thứ 4 diễn tả điều này như sau: "Có lắm kẻ đã tin vào danh Người bởi được chứng kiến các dấu lạ Người làm, nhưng Chúa Giêsu không tín nhiệm vào họ" (Ga 2,23-24).

Tuyên bố Chúa Giêsu là Đấng Messia mà chẳng tin rằng Người phải chết và sống lại, đó là nói mà không biết mình nói gì, và có thể liều mình chối Chúa Kitô một khi khám phá được thực tế.

IVHƯỚNG CẢ VỀ XỨ GALILÊ (cc. 35-39).

Trình thuật nơi cc. 35-39 là một bản lề (trình thuật chuyển tiếp): cho đến bây giờ Chúa Giêsu xem ra giới hạn chân trời và hồng ân Người cho dân vùng Capharnaum; từ đây sứ vụ của Người sẽ lan rộng khắp miền Galilê hết thảy (c.39).

Trước lúc hừng đông, khi các môn đồ còn ngủ vì mỏi miệt sau một ngày truyền giáo, Chúa Giêsu đã thức dậy. Sự giao tiếp với con người và niềm vui chữa lành vài bệnh nhân chưa làm Người thỏa mãn. Người lui ra nơi thanh vắng để cầu nguyện, nghĩa là để đặc biệt tìm gặp sự thân mật với Cha Người. Lc sẽ nhấn mạnh điểm này xa hơn.

Simon còn chưa hiểu ý nghĩa sứ mệnh Chúa Giêsu: tựa như ông muốn khai thác thành công của Thầy. Ông chỉ thấy những phép lạ đã được thực hiện và tưởng rằng sẽ còn nhiều phép lạ khác, có lợi cho dân Capharnaum. Ông hy vọng đưa Chúa Giêsu lui về nhà. Đám dân đã tản mác đêm qua bây giờ trở lại, cũng với kỳ vọng thấy nhiều phép lạ mới: họ mong chờ những cuộc chữa bệnh, trong khi đối với Chúa Giêsu, loài ân huệ này chỉ là bước chuẩn bị cho việc đón nhận Tin mừng và mặc khải về mầu nhiệm bản thân Người thôi.

Mc không ghi lại đối tượng lẫn nội dung của lời Chúa Giêsu cầu nguyện nhưng mẩu đối thoại tiếp theo cho ta thoáng thấy được ý nghĩa của lời cầu nguyện đó. Đối với Chúa Giêsu, đấy không hẳn là xin ơn cho bằng là nói về sứ mệnh của người với Đấng đã sai Người đến. Trước đây lúc chịu phép rửa Chúa Giêsu đã nghe tiếng nói Cha Người (Mc 1,11; x Lc 3,21), đã nhận Thánh Thần là đã được Thánh Thần thúc dẩy tấn công ma quỷ (1,12-13).

Thành ngữ chính vì thế mà "Ta đã ra đi" có nghĩa là gì? Phải chăng là đi ra khỏi Capharnaum (nghĩa tự nhiên) hai đi ra khỏi Chúa Cha để đến trong trần thế (nghĩa của Gioan 16,28)? (x. A. Feuillet, Le Logion suy la rancon, trong Rev. Sc. Phil. Théo. (1967), tr.372). Luca đã hiểu câu nói Chúa Giêsu theo nghĩa thứ hai, vì ông đã viết lại: "chính vì thế mà Ta đã được sai đến" (4,43 hiểu là từ nơi Chúa Cha). Tuy vậy ta có thể nghĩ rằng đây là kết quả việc Lc suy ngắm về sứ mệnh Chúa Giêsu, và có chủ đích soi sáng sứ mệnh của Giáo Hội cùng của các môn đồ: qua từng giai đoạn, các môn đồ phải vượt ra khỏi mọi biên giới và đem Tin mừng đến tận cùng thế gian (Cv 1,8). Mc đã chẳng đẩy suy tư về sứ mệnh Giáo Hội xa như thế, ông gần với những sự kiện như đã xảy ra hơn: Chúa Giêsu không muốn bị kéo lôi bởi thành quả của Người. Về sau cũng vậy, sau khi làm phép lạ hóa bánh, Người lui ra nơi cô tịch để tránh sự cuồng nhiệt của đám đông và để đặt mình trong ý định của Thiên Chúa (Mc 6.46; Mt 14,23; Ga 6, 15b). Cơn hấp hối tại vườn Ghetsêmani có thể đem đối chiếu với hai giai thoại này. Trong cả ba trường hợp, Chúa Giêsu lui ra để cầu nguyện ban đêm; các môn đồ, đặc biệt là Phêrô, đều tỏ vẻ kinh ngạc, vì họ chưa hiểu sứ mạng của Thầy.

NHỮNG KẾT LUẬN CHO THỜI NAY

Cuối bài khảo cứu này, ta thấy bản văn Chúa Nhật hôm nay, có một tính cách thời sự đặc biệt, dĩ nhiên không phải ở điểm gán cho ma quỷ các chứng bệnh, nhưng vì giải tỏa được nhiều ưu tư của ta về phương pháp giáo dục đức tin và về nhu cầu truyền giáo của Giáo Hội.

1. Sự dấn thân của đức tin.

Người ta đã có lý khi bảo Tin Mừng thứ hai là một lời rao giảng hơn là một bài giáo lý. Tuy nhiên điều ấy không có nghĩa là để theo Mc, chỉ cần một đức tin tối thiểu mà rồi sau đó sẽ đào sâu với giáo lý của Mátthêô, đoạn với thần học của Phaolô hay của Tin mừng thứ tư. Không! Mátcô rất đòi hỏi. Ông chẳng muốn một sự dấn thân khơi khơi bên ngoài. Chính vì thế mà ông không đặt ngay vấn đề dứt khoát. Ý nghĩa của mệnh lệnh giữ bí mật thiên sai là vậy, và đó là một phương pháp giáo dục tuyệt hảo: kẻ rao giảng Tin mừng luôn luôn nói về Chúa Kitô, nhưng cẩn thận mặc khải, bản thân và mầu nhiệm Người cách tiệm tiến, bằng nhiều "dấu chỉ nhiều lời ẩn bí (mashal). Thỉnh thoảng ông cũng kín đáo để lộ cái cốt yếu của mầu nhiệm nhưng lại che dấu ngay lệnh giữ bí mật), nhưng chính Chúa Giêsu khi Người trốn khỏi quần chúng hoặc khi chỉ tỏ lộ vinh quang trong chốc lát lúc biến hình. Vị thánh sử cũng là giáo lý viên có trách nhiệm về các tân tòng. Đã biết nhận ra thính giả của mình chưa sẵn sàng mấy còn cần phải tiến bước lâu dài và thong thả. Mầu nhiệm của Chúa Giêsu quá vĩ đại, khó mà khám phá trong một ngày, trừ phi được ơn đặc biệt như Phaolô.

Chính nhóm Mười hai cũng đã trải qua nhiều thời gian dài mới tin vào Chúa Giêsu thực sự, mới biết Người đúng như bảu chất Người. Chắc hẳn họ đã gắn bó với Người rất sớm, nhưng chỉ đạt được đức tin sung mãn sau tiến cố Tử nạn, Phục sinh và Ngũ tuần thôi. Cho tới lúc đó, đức tin của họ vẫn còn bất toàn và mỏng manh, như ta thấy rõ vào giờ Chúa Giêsu bị bắt và bị xử án.

Tại sao có sự đòi hỏi, sự tiệm tiến nơi Mc như vậy. Chắc chắn là vì ông ctã hiểu đức tin lôi kéo sâu xa con người đến mức nào. Có lẽ Phêrô, được soi sáng bởi kinh nghiệm riêng của mình (những lần chối Chúa) đã nhấn mạnh đặc biệt về điểm này chăng? Rồi chắc cũng là vì lúc Tin Mừng Mc được biên soạn dứt khoát thì Giáo Hội Rôma đang sống trong những hoàn cảnh đòi buộc thái độ trên: trong trường hợp bị bách hại, người ta chỉ có thể nhận vào Giáo Hội những tân tòng đã được chuẩn bị kỹ càng và đã quyết tâm theo Chúa Kitô, dù phải mất mạng sống.

Ngày nay đòi hỏi này vẫn còn có giá trị, chứ không chỉ dành riêng cho thời hoặc miền đã bị bách hại mà thôi. Người ta đã không luôn luôn chú ý cho đủ giáo huấn của Mc về điểm này. May thay, thời nay, nhờ nhiều đường lối khác nhau, người ta đã khám phá nó lại.

2. Lời mời gọi truyền giáo.

Như mỗi người chúng ta, Chúa Giêsu đã yêu quê hương làng nước của Người (Nadarét, Capharnaum). Người đã khởi đầu sứ vụ tại đó, nhưng Chúa Cha đã gọi Người đi xa hơn. Trong một đoạn ngắn ngủi, Lc cho thấy làm sao Chúa Giêsu đã bỏ Nadarét. Mc kể lại làm sao Người đã rời Capharnaum. Ngày hôm nay, người ta nhấn mạnh nhiều và không phải không có lý do đến nghĩa vụ truyền giáo ngay bên trong những vùng đất được gọi là Kitô giáo từ lâu đời, và cũng nói đến rất nhiều khó khăn mà những người đem Tin mừng đi xa gặp phải, khiến có nguy cơ làm giảm số lượng những nhà truyền giáo phương xa này. Nhưng như vậy là đã bỏ quên một khía cạnh quan yếu của sứ mệnh Hội Thánh. Bài Tin mừng hôm nay nhắc cho ta nhớ khía cạnh đó lại.

3. Đứng trước bệnh tật và những đau khổ trần gian khác.

Phản ứng của người dân Capharnaum vẫn tiếp tục bày tỏ. Biết bao nhiêu người, hôm nay vẫn còn, chỉ đến xin Chúa Kitô và Giáo Hội giúp đỡ vật chất và họ phê phán Chúa Kitô cùng Giáo Hội chỉ qua thái độ đáp ứng nỗi chờ mong đó. đây là phản ứng một phần bị thúc đẩy bởi khuynh hướng đã có từ lâu trong Giáo Hội là chỉ giới hạn trong sứ vụ thiêng liêng. Nhưng đàng khác cũng là phản ứng muôn thuở có thể khiến người ta đi từ cực đoan này đến cực đoan khác. Trước một sự chờ đợt như vậy, Chúa Giêsu lánh mình đi. Dĩ nhiên Người đã ngang qua thi ân giáng phúc và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ áp bức khống chế (Cv 10,38). Và Người cũng muốn các môn đồ làm như Người, một cách thích nghi hơn cho thời của họ. Nhưng Người không hề để nình bị giam hãm trong cái vòng đó Môn đồ và Giáo Hội Người cũng phải như vậy.

Gilles Gaide, Assemblées du Seigneur 36, tr.39-48.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

Bài đọc 1: Gióp hay là "đau khổ trong đức tin". Gióp sống trong đức tin. Có hai điểm ông cho là cốt yếu và phải giữ vững: đó là có một sự đau khổ bất công và Thiên Chúa thì luôn luôn nhân ái và công bình. Ông không hiểu được làm sao có thể dung hòa hai xác quyết tương phản ấy nhưng vẫn giữ vững cả hai. Trước một đau khổ, mọi lối an ủi như: "Chúa nhân từ yêu bạn! Đời sau sẽ đẹp hơn! Bạn chuẩn bị Thiên đàng! Bạn đền thay cho tội nhân!" đôi khi có vẻ thừa thãi. Sự đau khổ không thể thỏa mãn với một lời giải thích giản đơn. Sự đau khổ, nhất là khi xảy đến cho những kẻ vô tội hoặc khi quá sức lớn lao, là một trong những mầu nhiệm lớn của con người. Trước đau khổ, thái độ đích thực chỉ có thể là một đức tin sâu xa. Thiên Chúa đã phán: tư tưởng các ngươi không phải là tư tương của Ta và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta" (Is 55,8).

2. Chúa Giêsu không đến trần gian để tiêu diệt hết mọi khổ đau, bệnh tật. Ngay lúc sinh tiền, Người chẳng chữa lành hết mọi bệnh nhân Người gặp, giải quyết hết mọi vấn đề sinh tồn của con người. Người chỉ ra tay cứu giúp một số ít, đặc biệt những ai có lòng tin để cho họ tin vào sứ điệp Người, thấy lòng nhân ái của Thiên Chúa và hy vọng một tương lai trong đó quyền năng của người sẽ dẹp tan mọi đau khổ. Đúng ra Người đến để mang lại cho đau khổ một ý nghĩa đích thực, một công dụng siêu nhiên. "Sự cao cả tuyệt vời của Kitô giáo là ở chỗ nó không tìm một phương dược siêu nhiên để chống lại đau khổ, nhưng là tìm ra một công dụng siêu nhiên cho đau khổ" (Simone Weii). "Từ khi Chúa Kitô đến, chúng ta được giải phóng không phải khỏi việc đau khổ, nhưng là khỏi việc chịu đau khổ cách vô ích" (P.Charles sj).

3. Thiên Chúa không dẹp tan đau khổ cho con người đang sống trong thời gian bởi vì đau khổ cần cho con người. Đau khổ là giá của tự do, là trường rèn luyện nhân cách, là động lực tiến bộ xã hội, là dấu chứng minh tình yêu, là phương tiện để giúp ta từ bỏ hầu chọn lựa được Thiên Chúa. Xét một cách tiêu cực, còn đau khổ trong trần gian là vì con ngươi còn thiếu tình yêu đối với anh em, còn đau khổ trong bản thân là vì con người còn bám chặt lấy hay chưa dứt bỏ nổi cái không phải là hạnh phúc đích thực. "Ngàn lần chúc tụng sự đau khổ đã đưa tôi về với Thiên Chúa" (Francois Coppée). "phương pháp làm nhẹ đau khổ của mình là giảm bớt đau khổ của tha nhân" (P.Charles sj).

4. Chúa Giêsu không chỉ loan báo Tin mừng, Người còn cụ thể hóa Tin mừng đó bằng các hành vi cho thấy Vương triều Thiên Chúa (mà Người là nhân chứng và là Messia) đang đến. Trong thế giới này, Kitô hữu chúng ta cũng phải là những người kế tục sứ mệnh Chúa Giêsu Kitô. Làm chứng cho Vương triều Thiên Chúa. Sứ mệnh đó sẽ không chỉ nằm trong lời nói, mà còn trong hành động: đức tin chúng ta phải thúc giục chúng ta cụ thể hóa lời rao giảng bằng một hành động tấn công mọi quyền lực của sự ác như Chúa Giêsu. Kitô hữu là người muốn minh chứng Nước Trời đang đến bằng việc tích cực chống lại những gì là xấu xa, bệnh tật, đàn áp, bóc lột, bất công, đau khổ, tội lỗi. Đó là cách duy nhất để làm cho Nước Trời mau đến. Đó cũng là cách duy nhất mà Giáo Hội - dấu chỉ bí tích của Nước Trời gây niềm tin cho thế gian. Phải làm những hành vi có ý nghĩa như Chúa Giêsu đã làm.

5. Thính giả của Chúa Giêsu rất khó chấp nhận giáo lý phổ quát, đại đồng của Người. Họ vấp phạm, họ thắc mắc khó chịu về tính cách phổ quát ấy. Luôn luôn họ vẫn nghĩ họ là dân riêng duy nhất được ưu đãi, chứ không còn nơi nào khác. Đồng ý là Thiên Chúa tự chọn: Giáo Hội Ngài, nhưng việc chọn lựa đó chỉ là điểm khởi hành để đi đến "nơi khác". Với Giáo Hội ngày nay, cả với tôi nữa, Chúa Giêsu vẫn còn nhắc: Chúng ta lên đường đi nơi khác". Lời đó có nghĩa gì cho tôi? Thưa nghĩa là tôi không được bo bo giữ kín Tin mừng để thỏa mãn cho tôi thôi, song phải làm sáng tỏa cho mọi người".


 
Noel Quession - Chú Giải

Hôm nay, chúng ta tiếp tục suy niệm về "Ngày hoạt động Chúa tơi Caphácnaum". Đó là ngày. đầu tiên trong đời sống công khai thi hành tác vụ của Đức Giêsu: ta thấy Người giảng dạy, giải thoát con người khỏi quỷ ám hại, chữa lành người bệnh và cầu nguyện. Đó cũng là bản tóm lược toàn thể hoạt động của Kitô hữu.

Vừa ra khỏi Hội đường Caphácnaum, Đức Giêsu đi đến nhà hai ông Simon và An-rê, có ông Giacôbê và ông Gioan cùng đi theo.

Sau khi đã giảng dạy và làm mọi người ngạc nhiên, sau khi đã giải phóng cho một người bị quỷ ám đáng thương, Đức Giêsu rời khỏi Hội đường, ndi họp mặt chung, để đi đến một tư gia, nhà hai anh em Simon và An rê. Tôi hình dưng ra Đức Giêsu đang bước đi trên đường phố, cùng với bốn môn đệ đầu tiên của Người, vì hai ông Giacôbê và Gioan cũng có mặt ở đó, ngày nay cũng vậy, tác động của Thiên Chúa được thể hiện khắp nơi, trong mọi lãnh vực của cuộc sống: Tôn giáo cũng như trần thế, công cộng cũng như tư riêng. Lạy Chúa, Chúa ở với chúng con trong nhà thờ, Chúa hiện diện cùng chúng con ngoài đường phố, trên các quảng trường, và ngay trong nhà chúng con.

Lúc đó, bà mẹ vợ ông Simon đang bị sốt, nằm trên giường.

Người ta lấy làm ngạc nhiên, vì trong Tin Mừng, có rất nhiều lần Đức Giêsu chữa lành người bệnh. Ngày xưa, bệnh tật mang một ý nghĩa tôn giáo và người chữa trị thuộc lãnh vực y khoa. Tuy nhiên, dù trước mọi tiến bộ về y học, bệnh tật và đau khổ vẫn đeo bám con người và tiếp tục đặt con người vào một tình trạng rất đáng sợ. Ngay giữa nền văn minh kỹ thuật của chúng ta, một "dấu hiệu" biểu lộ sự yếu đuối của thân phận con người vẫn còn luôn như trước: đó là con người có thể chịu những rủi ro xảy đến cách đột ngột bất ngờ. Trong thâm tâm, ai mà không sợ một số những chứng bệnh mà người ta không dám nhắc đến tên? Bệnh tật luôn mâu thuẫn với ý muốn sống yên ổn và bền vững trong tâm lý mọi người. Chỉ cần một cơn sốt nặng cũng đủ quật ngã con người mạnh nhất và buộc họ phải ngưng làm việc không còn trầm trọng hơn, khi mọi người chúng ta đều thừa biết rằng, một ngày nào đó ta sẽ gặp một bệnh mà không thầy thuốc nào chữa nổi.. Mọi bệnh tật đều mang "dấu" của tử thần: đó là biểu tượng của thân phận con người mỏng dòn và ta không thể tránh được.

Họ liền nói cho Người biết bà đang đau ốm. Người lại gần, cầm lấy tay bà mà đỡ dậy.

Thái độ cầu nguyện đầu tiên trước cảnh trên, đó là cần chiêm niệm, như thế chúng ta đang hiện diện tại đó. Tôi ngắm nhìn Đức Giêsu bước vào nhà. Tôi lắng nghe những gì người ta đang trình bày với Người. Tôi hình dung ra Người đang tiến gần tới người bệnh, cầm tay bà ta. Đó là những cử chỉ đầy thân tình, nghĩa thiết và nhân ái. Thần học quả quyết với ta rằng, mỗi bí tích là một "cử chỉ của Đức Kitô". Một bài thánh ca thường ngợi khen bàn tay của Đức Giêsu đã "làm những việc kỳ diệu". Đúng vậy, đặc tính hiện thực của việc nhập thể đã đi đến mức độ đó. Hôm nay, tôi thích chiêm ngắm bàn tày của Đức Giêsu đang nằm bàn tay nóng ran vì cơn sốt của người bệnh. Lạy Chúa, nơi một cách biểu tượng, Chúa- cũng đang nắm bàn tay con như thế, để chữa lành các "cơn sốt". Khi rước lễ, con cầm Chúa trong bàn tay con. Nhưng thính Chúa cũng đang nắm tay con.

Người đỡ bà dậy. Bà liền hết sốt và lo tiếp đãi các Người.

Khi đọc câu này trong bản văn Hí Lạp, cũng do Máccô trước tác, ta cần lưu ý Máccô đá sử dụng ở đây, từ "ègeire", có nghĩa là "làm cho sống lại". Ong cũng dùng một từ đó để diễn tả việc Chúa cho con gái ông Giarô sống lại: "Hãy chỗi dậy!" (Mc 5,41), và kể lại việc phục sinh của Đức Giêsu (Mc 12,26, 16,6). Do đó, đối với Mác-cô, việc chữa bệnh cách cụ thể trên là một "dấu chỉ" theo nghĩa mạnh, một thứ- biểu trung ngôn sứ báo trước nước Thiên Chúa vĩnh cửu. Khi sẽ chẳng còn "tang chế, kêu than, đau khổ, khi Thiên Chúa sẽ lau khô mọi giọt lệ và chiến thắng sự chết" (Kh 21,1-4) Ngay trong thời Người, tại Galilê, chắc chắn Đức Giêsu đã không chữa lành hết mọi bệnh nhân. Người chỉ chữa lành một số người tiêu biểu, như một thứ việc làm trước cho "Thời cánh chung": chỉ khi đó con người mới được "cứu độ" thực sự, nghĩa là không còn sự chữa lành tạm thời một cơn sốt thoáng qua, mà chính là sự sống lại. Việc chữa lành đích thực mà Đức Kitô muốn cống hiến, đó là đi từ tình trạng "không tin" đến tình trạng "tin": kẻ nào đón nhận đức tin nơi Đức Giêsu, thì đã biết rằng mình sẽ được cứu thoát khỏi sự chết rồi. Lúc đó, họ sẽ "chỗi dậy" để "phục vụ".

Sự dữ mà Đức Giêsu nhắm theo đuổi còn thâm sâu hơn là bệnh tật tác hại trên thân xác. Đó là tâm hồn, đó là trung tâm" của người bị bệnh... khi họ không "phục vụ" anh em mình. Khi nói người bệnh chỗi dậy và bắt đầu "tiếp đãi" Máccô muốn nói với ta nhiều hơn là những cử chỉ bề ngoài ông diễn tả. Ong nhớ đến từ "phục vụ" mà ngày nào đó Đức Giêsu đã gán cho ý nghĩa là "thí ban mạng sống mình": "Con Người đến không phải để được kẻ hầu người hạ, nhưng là để hầu hạ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người" (Mc 10,45). Lạy Chúa, xin Chúa dùng Mình Chúa chữa lành tâm hồn con người hôm nay. Xin cứu giúp con để con biết đặt Thiên Chúa lên trên hết, biết đặt "kẻ khác" lên hàng đầu, xin cứu giúp con để con biết "phục vụ', "hiến dâng mạng sống" và yêu thương!

Chiều tối, khi mặt trời đã lặn, dân chúng đem một kẻ ốm đau và những ai bị quỷ ám đến cho Người chữa. Cả thành xúm lại trước cửa nhà. Đức Giêsu chữa đủ thứ bệnh và trừ rất nhiều quỷ.

Có thể nói, cùng một tác động, Đức Giêsu vừa chữa bệnh, vừa biểu dương quyền năng của Người trên Sa-tan, hiện thân của sự dữ. Vâng, đối với Đức Giêsu, sự dữ chủ yếu là phải xa cách Thiên Chúa: do đó, chính tội lỗi mới là bệnh tật thật sự của chúng ta. Bệnh viện được trang bị đầy đủ nhất nhân viên y tế tài năng nhất, cũng không bao giờ thay thế được tình yêu, một yếu tố mà người bệnh còn cần hơn cả thuốc thang.

Ngày nay, cũng như thời Đức Giêsu, trong tâm hồn con người luôn có một điều gì đó cần phải được chữa trị, và trong công cuộc văn minh hóa người ta cần phải thực hiện một sự điều chỉnh đúng đắn.. Không có căn bệnh nào trầm trọng đối với việc phát triển "đô thành trần thế" (bệnh viện cũng như mọi công trình khác) hơn là thứ "chất độc" do tội lỗi đem vào thế gian. Điều đó không có nghĩa là phủ nhận tiến bộ, hay những kỹ thuật chữa bệnh! Nhưng chỉ muốn nói lên, cần phải cho chúng một tâm hồn: Đó là tình yêu. Và Đức Giêsu đã thể hiện điều này tại đó! Lạy Chúa, xin dùng Mình và Máu Chúa, chữa lành tâm hồn con người hôm nay.

Người trừ rất nhiều quỷ, nhưng lại cấm quỷ không được nói gì, vì chúng biết Người là ai.

Đề tài "Bí mật thiên sai" lại xuất hiện ở đây lần thứ hai trong cùng một ngày (Mc 1,25 và 1,33). Đức Giêsu không muốn người ta làm sai đi ý nghĩa sứ vụ của Người.

Người buộc mọi người phải giữ im lặng, không được nói quá sớm Người là "Con Thiên Chúa". Đã có quá nhiều ý kiến sai lầm về Đấng Mê-si-a, về Thiên Chúa đang được phổ biến. Người ta quá để ý kiếm tìm vẻ kỳ diệu bề ngoài.

Người ta chỉ chạy đến với Chúa, như với một "người chữa bệnh" đến thuần. Tuyên bố quá sớm Đức Giêsu là Đấng Mê-si-a, là con Đấng Toàn năng, mà không biết chính Người sẽ phải chịu đau khổ và phải chết, thì kể như nói mà không biết điều mình phát biểu, và như thế có nguy cơ sẽ chối Đức Giêsu, khi chứng kiến thực tế của thập giá. Thiên Chúa không phải là "toàn năng" theo nghĩa chúng ta thường hiểu.. Vì yêu thương, Chúa đã tự trở thành "hoàn toàn yếu đuối" đối với chúng ta... bởi vì Người là "tình yêu toàn năng". Nếu ông là Con Thiên Chúa, ông hãy xuống khỏi thập giá đi... Chúng ta luôn nghĩ rằng, chắc hẳn Thiên Chúa phải chứng tỏ Người là "Ai" chứ! Đúng vậy Người đã minh chứng điều đó: Người là Tình yêu vô biên, tình yêu đi đến tận cùng của thái độ "phục vụ"... Tôi đến để phục vụ và hiến dâng mạng sống! Trong khi chờ mọi giây phút Thiên Chúa tỏ mình ra trên thập giá, cần phải im hơi lặng tiếng.

Lạy Chúa, xin giúp con chấp nhận Chua đúng như con người của Chúa.

Lạy Chúa, xin giúp con hiểu rằng, Chúa không muốn "quyền năng" theo nghĩa trần gian... "bởi vì cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người, và cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người" (l Cr 1,25).

Sáng sớm hôm sau, lúc trời còn tối mịt, Đức Giêsu đã dậy, đi ra một nơi vắng vẻ mà cầu nguyện.

Ngay đêm đầu tiên mà Simon Phêrô trải qua bên cạnh Đức Giêsu, ông đã khám phá ra điều "cốt yếu" sau đây: đó là đối với Đức Giêsu, điều quan trọng là "Gặp gỡ Chúa Cha".

Ông Simon và các bạn kéo nhau đi tìm Người...

Vào sáng sớm; khi bóng đêm còn mù tối, trước lúc rạng đông, Đức Giêsu đã ra khỏi căn nhà mà Người đã nghỉ đêm. Người rời thành Caphácnaum. Hãy ngắm nhìn Người bước đi trên cánh đồng, dưới bóng đêm. Người tìm bầu khí cô tịch, sự yên lặng người lánh mình, đi đến "một nơi hoang vắng". Người dừng chân. Người phủ phục. Người cầu nguyện. Đức Giêsu đang hiện diện ở đó, chính là nhân loại đang ở "bên cạnh Chúa Cha", chính là nhân loại đang ở "gặp gỡ Thiên Chúa". Chính trong khung cảnh đó các bạn hữu cần đến tìm kiếm Người.

Câu Tin Mừng trên đây không phải là một chi tiết bình thường. Đó là một bí quyết, một kết luận, một điểm nóng bỏng của "ngày sống đầu tiên trong cuộc đời công khai của Đức Giêsu. Nhờ đó, Người đang "kêu gọi" ta, nhưng "trong yên lặng": ý nghĩa của đời sống bạn là ở nơi Thiên Chúa... Căn bệnh trầm trọng nhất của bạn, là bệnh tật làm bạn xa rời Thiên Chúa.

…Kẻ nào biết "ẩn mình trong Thiên Chúa " nơi hoang địa là một người được cứu độ...

Lúc đó, mọi cơn sốt và ngay cả sự chết, cũng không thể tác hại được họ nữa.

Này bạn, người anh em đang mang bệnh của tôi...

Này bạn, người anh em đang gặp thử thách trong tâm hồn... bạn có biết nhận ra "tin vui" được chữa lành, ngay giữa cơn thử thách của bạn không?

Khi gặp Người, họ thưa: "Mọi người đang tìm Thầy đấy"' Người bảo họ: "Thôi chúng ta đi nơi khác, đến các làng xã xung quanh, để Thầy còn rao giảng Tin Mừng ở những nơi đó nữa, vì Thầy đến cốt để làm việc đó.

Vâng, lạy Chúa Giêsu, xin hãy nói lại cho chúng con, xin hãy nói lại cho mọi người Tin Mừng của Chúa. Xin cứu giúp chúng con. Xin chữa lành chúng con. Và xin hãy làm cho chúng con, cùng với Chúa, trở nên những sứ giả, những người phục vụ cho công cuộc Phục sinh.


 
Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

" Người chữa nhiều người đau ốm những chúng bệnh khác nhau "

I. Ý CHÍNH:

Bài Tin Mừng hôm nay kể lại câu chuyện Chúa Giêsu chữa lành cơn sốt cho nhạc gia của Simon để nói lên sứ mạng thiên sai của Người.

Sứ mạng Thiên sai của Chúa Giêsu được trình bày qua ba điểm chính trong bài Tin Mừng hôm nay:

+ Chúa chữa bệnh sốt cho nhạc gia Simon biểu lộ ý nghĩa Chúa cứu chuộc con người khỏi ách tội lỗi.

+ Chúa Giêsu đi cầu nguyện: sứ mạng Thiên sai phát xuất từ Thiên Chúa, được Chúa Cha sai đến.

+ Chúa Giêsu đi rao giảng ở các thành lân cận: sứ mạng Thiên sai có tính cách phổ quát, cho hết mọi người.

II. SUY NIỆM:

1/ Chúa Giêsu ra khỏi hội đường:

Bài Tin Mừng hôm nay tiếp nối với bài Tin Mừng Chúa nhật trước. Lần trước kể câu chuyện Chúa vào hội đường giảng dạy Thánh Kinh và trục xuất thần ô uế ngay trong hội đường. Sau đó Chúa ra khỏi hội đường.

2 / " Người cùng với Gia cô bê và Gioan đến nhà Simon và Anrê ":

Simon quê ở Bétsaiđa ( Ga 1, 44 ) nhưng thường ngụ tại Capharnaum để hành nghề ( Mc 1, 20 ). Vì thế Simon mời Chúa và các bạn về nhà riêng dùng bữa.

3 / " Lúc ấy bà nhạc gia của Simon cảm sốt nằm trên giường ":

Người Do thái đã thường xem cảm sốt như là một hình phạt của Thiên Chúa, cũng giống như bệnh dịch ( Dt 3, 5 ). Về sau người ta thường gán cảm sốt cho ma quỷ. Trong nhãn giới này, bệnh tật được coi như bắt nguồn từ ma quỷ và việc chữa lành bệnh tật được coi như là sự chiến thắng ma quỷ.

Lập tức người ta nói cho Người biết bệnh tình của bà: khi tới nhà vì bối rối không có người tiếp khách, nên Simon và tông đồ đi theo đã thưa với Chúa là nhạc mẫu của Simon bị sốt nặng, liệt giường và xin Người chữa cho bà.

4 / " Tiến lại gần, Người cầm tay bà và nâng đõ dậy ":

+ Tiến lại gần: Chúa Giêsu đích thân đến với bệnh nhân, Thiên Chúa khởi xướng việc cứu chuộc nhân loại.

+ Người cầm tay bà: nói nên ý nghĩa Chúa Giêsu gánh vác đau khổ thay cho tội nhân.

+ Và nâng đỡ dậy: bệnh sốt liệt giường tượng trưng cho sự chết, Chúa Cứu thế đến làm cho bệnh nhân chỗi dậy tượng trưng cho sự sống lại.

5 / " Bà liền khỏi cảm sốt và đi tiếp đãi các ngài ":

+ Tình trạng trước của bệnh nhân tượng trưng thân phận con người tội lỗi bao lâu chưa được Đức Kitô cứu chữa.

+ Việc chữa lành thân xác bệnh nhân khỏi bệnh đi tiếp đãi khách biểu hiện công trình cứu chuộc của Chúa Kitô... Chúa Kitô đến để cứu vớt, để phục vụ, Ta đến để phục vụ ( Mc 10, 45 ) và đó là ý tưởng mà Đức Kitô đã đề ra cho những ai Người phục sinh từ cõi chết của tội lỗi. Bà nhạc gia Simon đã được như vậy.

6 / " Chiều đến lúc mặt trời đã lặn ":

+ Ngày hưu lễ người ta rỗi rãi, rỉ tai nhau về những việc lạ Chúa đã làm: trừ quỷ, chữa bệnh, tin tức đồn đi nhanh chóng.

+ Hết giờ hưu lễ, tức là 6 giờ chiều, người ta khiêng đến cho Chúa đủ thứ: người đau yếu, liệt lào, quỷ ám, để trước nhà của ông Simon.

7 / " Người chữa nhiều người ":

+ Chúa tỏ uy quyền qua hành động: chữa lành bệnh nhân xua đuổi ma quỷ.

+ Đối với ma quỷ Chúa truyền lệnh ra khỏi, không cho chúng nói gì vì " chúng biết Người" là Kitô ( Lc 4, 41 ). Quỷ thuộc giới thiêng liêng biết hơn loài người.

+ Trước khi Chúa tỏ mình là Kitô, Người cần chuẩn bị bằng cách sửa sai nhiều quan niệm trần tục của người Do thái về Chúa Kitô, điều này cần một thời gian. Vì thế Chúa cấm không cho ma quỷ nói, sợ hỏng việc đại sự.

8 / " Sáng sớm tinh sương Người chỗi dậy ra khỏi nha ":

+ Hẳn là đêm hôm đó Chúa ngủ rất muộn, vì phải phục vụ đám đông dân chúng như vậy, tuy nhiên, sáng hôm sau Chúa dậy thật sơm, yên lặng ra khỏi nhà, tìm đến nới thanh vắng để cầu nguyện.

+ Chúng ta thường thấy Chúa cầu nguyện trong mọi trường hợp quan trọng:

- Chúa cầu nguyện khi chịu phép rửa (Lc 3, 21).

- Khi chọn các tông đồ (Lc 6, 12).

- Sau khi làm bánh ra nhiều (Mc 6, 64)

- Sau khi các tông đồ đi rao giảng (Mt 11, 25).

- Khi Phê rô tuyên xưng ở Cêsarê (Lc 9, 18).

- Trong vườn cây dầu (Mt 26, 39)

- Khi biến hình trên núi (Lc 9, 29).

+ Chúa Giêsu vừa là loài người, vừa là Thiên Chúa. Là loài người Chúa Giêsu cần phải xin Thiên Chúa giúp đỗ Người, Chúa Giêsu tỏ ra hiệp thông với Chúa Cha.

9 / " Simon và các bạn đi tìm Người ":

Cử chỉ đi tìm đây đã nói lên sự gắn bó với Chúa Giêsu của các tông đồ. Thấy thiếu bóng Thầy là phải đi tìm ngay, bởi vì theo Thầy là phải sốt sắng với Thầy để sống theo như Thầy.

10 / " Mọi người đều đi tìm Thầy ":

+ Khi gặp được Chúa Giêsu các tông đồ đã nói leencasi cảm nghĩ dân chúng đối với Chúa. Mọi người đều đi tìm Thầy có nghĩa mọi người đều cần đến Thầy giúp đỡ.

+ Nhưng Chúa Giêsu không mấy quan tâm về việc tìm kiếm này vì họ tìm Chúa vì vụ lợi muốn được chữa lành bệnh tật hay vì tò mò, chứ không phải vì ơn cứu rỗi Người mang đến.

11/ " Chúng ta hãy đi đến làng, đến thành lân cận ":

Ở đây có ý nói đến tính cách phổ quát của ơn cứu chuộc. Tin Mừng được loan truyền không phải cho một thành hay một dân tọc, nhưng cho tất cả thế giới.

III. ÁP DỤNG:

A / Áp dụng theo Tin Mừng:

1/ Chúa Giêsu chữa bệnh sốt cho nhạc mẫu Simon: chữa bệnh phần xác là dấu chỉ Thiên sai của Chúa Kitô.

Chúng ta phải tìm đến những dấu chỉ qua các ơn tự nhiện phần xác để nhận ra những ơn siêu nhiên của Chúa ban.

2 / Chúa Giêsu đi cầu nguyện: cầu nguyện là thái độ gắn bó và nhờ cậy.

Chúng ta noi gương Chúa Giêsu phải biết gắn bó với Chúa và trông cậy vào ơn Chúa qua việc cầu nguyện hàng ngày.

3 / Chúa Giêsu đi rao giảng các vùng lân cận: ơn cứu độ có tính cách phổ quát.

Chúng ta hiểu như vậy thì nhiệt thành trong việc tông đồ hơn.

B / Áp dụng thực hành:

1 / Nhìn vào Chúa Giêsu:

+ Chúa Giêsu đến đâu thì chữa lành bệnh tật và trừ ma quỷ đến đó.

- Người tông đồ theo Chúa thì làm việc gì, ở chỗ nào, sống với ai, cần phải đem lại sự thăng tiến và hạnh phúc.

+ Chúa Giêsu chữa bệnh cho nhạc mẫu của Simon, đến đây cầm tay và nâng đỡ dậy.

- Chúng ta muốn phục vụ ai thì:

. Đến gần: bằng cách tự nguyện, tự giác và khởi xướng trước.

. Cầm tay: thái độ hiệp thông, chia sẻ, cùng khóc, cùng vui với tha nhân.

- Nâng đỡ dậy: đem lại sự giải thoát, sự biến đổi, sự thăng tiến, sự hoàn hảo cho tha nhân.

+ Chúa Giêsu bỏ đi nơi khác khi người ta đang ưa thích người:

- Chúng ta cần phải biết đặt giá trị của bổn phận, trên quyền lợi và đòi hỏi của bản thân.

- Chúng ta sẵn sàng bỏ điều mình đang thích hoặc bỏ công việc đang có vẻ thành công để vâng lời đi làm một công việc khác, ở một nơi khác, sống với người khác,... mặc dù mình không ưa không muốn.

2 / Nhìn vào bà nhạc gia của Simon:

Sau khi được chữa khỏi bệnh, bà đã đứng dậy đi phục vụ... chúng ta sau khi đã được làm con cái Chúa qua Bí tích Rửa tội, được ơn Chúa gọi qua đời tận hiến, chúng ta phải đem ơn đó phục vụ tha nhân bằng đời sống chứng nhân để tha nhân cũng được ơn như vậy...

3 / Nhìn vào các tông đồ và dân chúng đi tìm Chúa:

Thiếu bóng Chúa là họ đi tìm vì họ cần Chúa, chúng ta cũng phải tìm đến Chúa nơi nhà tạm, nơi tĩnh tâm, nơi cầu nguyện... để gặp Chúa vì chúng ta cũng đang cần đến Chúa..

 

IV. Lời Cầu Chung

* Lời Mở: Anh chị em thân mến. Chúa Giêsu được Chúa Cha sai đến trần gian để cứu độ chúng ta. Trong tâm tình tri ân cảm mến, chúng ta cùng dâng lời nguyện xin.


1. Giáo hội có sứ mạng tiếp nối Chúa Giêsu xoa dịu khổ đau của nhân loại. Chúng ta cùng cầu nguyện cho các công trình của Giáo Hội luôn mang lại lợi ích thiết thực cho con người và thế giới hôm nay. Xin cho Giáo Hội luôn can đảm lên tiếng bênh vực người nghèo, bênh vực công lý và bênh vực sự sống.


2. Ngày nay biết bao người vẫn đang sống trong khổ đau nghèo đói cả tinh thần lẫn vật chất. Chúng ta cùng cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo quốc gia và mọi người biết thành tâm thiện chí sống tình bác ái để cùng nhau xây dựng một nền hoà bình, thịnh vượng và cuộc sống ấm no cho dân nước.


3. Chúa Giêsu đi khắp miền Galilê rao giảng, chữa lành bệnh tật và xua trừ ma quỉ. Ngày nay, Người sai mọi Kitô hữu tiếp nối Người đi vào mọi lãnh vực của cuộc sống để đưa tình thương cứu độ đến với mọi người. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta luôn biết sống yêu thương, quan tâm đến anh chị em nghèo khổ, bất hạnh chung quanh.


* Kết Nguyện: Lạy Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Chúng con cảm tạ Chúa đã yêu thương giải thoát chúng con khỏi ách đau khổ của tội lỗi và sự chết, nhờ cuộc thương khó, tử nạn và Phục sinh vinh hiển của Chúa Giêsu con Chúa. Chúng con xin Chúa thương ban Thánh Thần an ủi, nâng đỡ chúng con trên đường đời đầy gian truân, thử thách để tất cả luôn vững vàng sống trung thành với niềm tin của mình. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.

Hành Trang Mục Vụ Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn