Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật VI Phục Sinh A

Tin mừng Ga 14:15-21 Chúa Giêsu lặp lại đến năm lần từ "yêu mến". Yêu mến trở thành mối quan hệ giữa môn đệ và Thầy, giữa môn đệ và Thiên Chúa Cha.
CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH – NĂM A



Cv 8,5-8.14-17; 1Pr 3,15-18; Ga 14, 15- 21

Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

 
HỨA BAN THẦN KHÍ

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Đoạn này nằm trong văn mạch nào?

2. Nhiệm vụ của Thần khí đối với các môn đồ sẽ hệ tại ở điểm nào? Tại sao Chúa Giêsu gọi Ngài là "Đấng Bầu chữa khác"? Có nhiều Đấng Bầu chữa sao?

3. Làm sao giải thích việc thế gian sẽ không còn thấy Chúa Giêsu, nhưng các môn đồ sẽ thấy Người (18- 20)? Chúa Giêsu ám chỉ đến loại trở về nào đây?

4. Câu 21 nói đến những lệnh truyền gì? Trong câu này phải chăng Chúa Giêsu xác nhận rằng tình yêu của chúng ta phải đi trước tình yêu của Người?

1. Đoạn này là một phần lấy trong diễn từ giã biệt đầu tiên 13, 31 - 14, 31). Cho nên phải nghiên cứu nó theo văn mạch diễn từ ấy.

"Ta ra đi và Ta sẽ trở lại" Diễn từ giã biệt đầu tiên mang chủ đề chính là sự ra đi và trở lại của Chúa Giêsu. Người sắp bỏ các môn đồ để chịu khổ nạn và chết (13, 33. 36). Nhưng việc ra đi này cũng là trở về với Cha (14, 12; x. 14, 2tt), là tôn vinh Cha và con 3, 31- 32), vì trong Chúa Giêsu, Cha tự tỏ nình như Thiên Chúa cứu độ. Vì thế nên đến giờ chết là giờ Người được tôn vinh, Chúa Giêsu thực 'sự trở thành đường dẫn về Chúa Cha (14, 2- 6) và là kẻ mặc khải Cha (14, 7- 11). Ngoài ra, việc trở về của Chúa Giêsu bên cạnh Cha cũng là trở về với các thuộc nhân của Người, chứ không phải chỉ là việc kéo ơn Thần khí khi được tôn vinh mà thôi (14,16-26; x. 7, 39). Thật vậy, chính Chúa Giêsu sẽ trở lại với môn đồ không phải chỉ vì một ngày kia Người sẽ đem họ đi với người (14, 3), nhưng vì họ sẽ thấy Người "một ít nữa" (14, 18- 19). Người sẽ tỏ mình (14, 21) và sẽ cùng Chúa Cha đến với họ (14, 23).

Một trong những câu cuối cùng của diễn từ giã biệt thứ nhất này tóm tắt lời hứa ấy như sau: "Các con đã nghe Ta bảo các con: Ta ra đi và Ta sẽ đến với các con" (14, 28). Thành thử diễn từ có mục đích chuẩn bị các môn đồ trước các biến cố sắp tới, nó cũng nhắm làm vững mạnh đức tin của họ đang bị lung lay vì lời loan báo ra đi và lời tiên đoán việc giua phản bội (13, 21 -30) cùng Phêrô chối Thầy (13, 36- 38).

Diễn từ mang hình thức một cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và môn đồ. Nó mặc tính cách một bài quảng diễn theo 5 điểm (13, 31- 36b; 13, 36b- 38; 14, 2- 6; 14, 7- 14; 14, 15- 24), điểm này bổ túc cho điểm kia và mỗi điểm gồm ba giai đoạn. Mỗi lần Chúa Giêsu đều khởi sự với một câu xác quyết huyền bí diễn tả bằng những ngôn từ song nghĩa mà các môn đồ không thể nắm được ý nghĩa đích thực, bấy giờ họ đặt câu hỏi. Và câu hỏi này cho Chúa Giêsu cơ hội để xác quyết lại và nói rõ tư tưởng của mình, đồng thời nâng các môn đồ lên lãnh vực của mầu nhiệm con người và công việc Người. Đây là phương pháp hành văn đặc thù của Gioan, một phương pháp ngoài ra còn mang ý nghĩa thần học sâu xa: tự sức nặng, các môn đồ, và cả chúng ta, chân tài nào thấu hiểu được ý nghĩa của các biến cố, ý nghĩa của mầu nhiệm Chúa Giêsu. Đoạn văn của chúng ta thuộc về điểm thứ năm của diễn từ trong đó Chúa Giêsu hứa sẽ tỏ mình ra cho những ai yêu mến Người.

2. Ngược lại với thế gian, các môn đồ nhờ đức tin đã nhận ra bên cạnh họ sự hiện diện của Thần khí trong con người Chúa Giêsu. "Các con biết Ngài vì Ngài lưu lại nơi các con" (17b). Họ được hứa ban một sự hiện diện mật thiết hơn và hữu hiệu thực sự. Lời hứa này được thực hiện khi Chúa Cha sẽ thông ban Thần khí cho họ theo lời xin của Chúa Giêsu vinh hiển: Ngài sẽ ở với họ (16b), trong họ (17b).

Trong bốn đoạn khác, Chúa Giêsu chỉ cho biết nhiệm vụ của Thần khí đối với các môn đồ sẽ hệ tại điểm nào: Ngài sẽ đào sâu đức tin của họ bằng cách làm cho họ hiểu, từ bên trong, cuộc đời và sứ điệp của Chúa Giêsu (14, 26; 16, 12- 15); Ngài sẽ củng cố họ vững vàng trước các đợt tấn công của thế gian và thúc đẩy họ làm chứng những gì đã biết (15,26-27); Ngài sẽ làm cho thế gian bất công đã từ khước Chúa Giêsu phải bẽ mặt (16, 7-11). Chính trong viễn tượng này mà Thần khí do Chúa Giêsu hứa ban là "Thần khí sự thật" (c. 17). Ngài sẽ đem mặc khải sự thật của Chúa Giêsu vào trong các tâm hồn, sẽ ban trí thông hiểu sâu sắc hơn về mầu nhiệm Chúa Giêsu, về đời sống, cử chỉ, lời nói của Người, như thế Người sẽ soi sáng các hoàn cảnh mới mà người Kitô hữu phải đương đầu. Đồng thời Người cũng là "Đấng bầu chữa" (5, 26; 16, 7; 1 Ga 2, 1), không dành riêng để chỉ Thánh Thần đâu. Trong 1 Ga 2, 1, Chúa Kitô cũng là Đấng Bầu Chữa, nghĩa là Người biện hộ cho tội nhân bên cạnh Chúa Cha, và, trong bản văn chúng ta đang nghiên cứu đây, Thần khí được gọi là Đấng Bầu chữa khác, thay thế Chúa Kitô. Thành thử ý nghĩa nguyên thủy của từ ngữ vẫn được duy trì nhưng người ta chú trọng đến vai trò hơn là đến ngôi vị: Kẻ bàu chữa là người giúp đỡ, chuyển cầu, biện hộ hay là chứng nhân gỡ tội trước tòa án (x.15,26; 16,9; 1Ga 2, 1). Để đứng vững trước những biến cố đau thương đang báo điềm và trước thời gian cô đơn, cái thời gian mà như số phận Chúa Kitô phải chịu, là thời gian bách hại, các môn đồ cần có một sự nâng đỡ, một người hướng dẫn, một vị bảo trợ. Cho đến bây giờ, Chúa Giêsu đã phù trợ họ duy trì họ hiệp nhất với nhau và giữ gìn họ cho Chúa Cha (17,12). Đàn chiên đã có thể tin tưởng vào chủ chăn của mình: Nhưng giờ đây, chủ chăn ra di, nên họ cần người trợ giúp khác. Vì thế Chúa Cha sai Ngài đến, nhân danh Chúa Giêsu (14, 26), như kẻ th.ay thế Chúa Giêsu (x. 14, 13), để tiếp tục công việc của Người qua trung gian các môn đồ vậy.

3. Những câu làm thành đoạn văn chúng ta loan báo ba cuộc tỏ mình ba "lần đến": việc ban Thần khí (cc.15-17), việc Chúa Giêsu trở lại bên cạnh các thuộc nhân của Người (cc. 18- 20), việc Người tỏ mình và cùng đến với Chúa Cha (cc.21-24). Không một cuộc tỏ mình nào trong ba lần đó tách rời một trong Ba Ngôi: Thần khí được Cha ban theo lời cầu xin của Chúa Giêsu; sự trở lại của Chúa Giêsu sẽ làm cho các môn đồ hiểu rằng Người hợp nhất với Cha, vì tình yêu của Người đối với môn đồ và tình yêu của Chúa Cha đối với họ chỉ là một; Người sẽ trở lại cùng với Chúa Cha. Tất cả đều cho thấy có một sự mạch lạc sâu xa giữa ba lần tỏ mình.

Trong cả ba trường hợp, việc tỏ mình nhằm cho các môn đồ chứ không nhằm cho thế gian (x.cc.17.19.22). Hạn từ sau cùng này ở đây chăng ám chỉ loài người mà "Thiên Chúa đã sai con Ngài đến để thế gian nhờ Người mà được cứu rỗi" (3,17; x.1, 29; 4, 42; 6, 33. 51; 12, 47), nhưng chỉ toàn thể những kẻ từ khước vị Thiên Chúa Cứu thế đó ví dụ 1,10c; 15, 1- 8t). Đoạn văn của chúng ta đây chứng nhận có một sự đối nghịch quyết hệt giữa thế gian ấy với Thiên Chúa. Đây là một thứ nhị nguyên, không phải thuộc lãnh vực "siêu hình", như thể thế gian tự nguyên thủy là xấu, nhưng là một thứ nhị nguyên mà ta có thể gọi là "luân lý". Có những người cố tình từ khước Thiên Chúa. Vì chẳng thừa nhận Chúa Giêsu và sứ diệp của Người, nên họ không tin vào Người (16, 9; 8, 23tt), không yêu men Người (x.14, 22t), lại còn ghét Người ra (15, 18). Tuy nhiên, Chúa Giêsu chẳng bảo rằng kẻ không tin kẻ đó chẳng có thể đạt đến đức tin và đức mến được đâu! Nhưng để đạt đến đó họ cần phải khước từ sự lệ thuộc vào thế gian. Tất cả đoạn văn chúng ta - ít nhất cách mặc nhiên - là một lời kêu gọi gửi đến mọi người để họ thực hiện một cuộc đổi đời cơ bản vậy.

Thành thử mặc dầu bản văn khởi sự với lời hứa ban Thần khí nhưng việc trở lại của Chúa Giêsu, như chúng ta đã bảo, vẫn được đặt lên hàng đầu, nếu chúng ta xét bài diễn từ trong toàn bộ của nó.

"Còn ít nữa thế gian sẽ chẳng thấy Ta" (c. 19a). Do việc người chết đi mà, theo quan niệm của thế gian, Chúa Giêsu từ ấy thuộc về quá khứ. Nhưng cung tại vì thế mà thế gian tự lên án chính mình: Chúa Giêsu sẽ không còn hiện diện cho họ nữa (so sánh với 7, 33t; 21). Trái lại, đối với môn đồ, những tiếng "còn ít nữa" hàm chứa một lời hứa sẽ trở về (so sánh với 16, 16- 22): Chúa Giêsu sẽ trở về với họ (c. 18b). Xin lưu ý là trong câu này, việc trở lại được nhắc tới bằng động từ erchostai, động từ Gioan thường dùng để chỉ những lần hiện ra của Đấng Phục sinh (x.20,19.24.26). Đây có ý nói về hành động uy quyền tối cao của Chúa Phục sinh, của Chúa cánh chung, Đấng vẫn đến, mặc dầu cửa đóng kín nhưng Các môn đồ bấy giờ sẽ hưởng được một kinh nghiệm độc nhất vô nhị: "Các con sẽ thấy Ta sống". Lời hứa ấy trở nên thực tại chiều ngày Vượt qua khi các môn đồ thấy Đấng phục sinh (x. 20, 20. 25)

Tuy nhiên chữ "các con sẽ thấy" không chỉ áp dụng cho việc quan sát bằng mắt và vào trạng huống Vượt qua mà thôi. Việc các môn đồ nhìn thấy Chúa ki tô còn là một nhận thức đích thực: nó đi liền với ý thức về sự hiệp nhất đời sống giữa Chúa Giêsu và Chúa Cha, sự hiệp nhất mà các môn đồ sẽ đạt được nhờ Chúa Giêsu (c.20b). Họ cũng sẽ sống: "Các con sẽ thấy Ta sống, và các con cũng sẽ sống" (c.19b).

Các môn đồ sẽ hiểu được điều đó khi thấy Đấng phục sinh. Nhưng Chúa Giêsu đã bảo rằng Người sẽ không để họ mồ côi (c 18a). Lời'hứa này cho thấy có một sự hiện diện mà lần hiện ra cuối cùng của Đấng phục sinh sẽ không chấm đứt. "Trong ngày ấy Người nói, các con sẽ biết được là Ta ở trọng Cha Ta, và các con ở trong Ta, và Ta ở trong các con" (c:20), "Ngày ấy" chỉ thời đại cánh chung khởi sự với việc Chúa được tôn vinh lúc Vượt qua và kéo dài suốt thời gian của Giáo Hội. Suốt thời gian chúng ta đang sống, thì Chúa vẫn đến và chúng ta vẫn thấy Người: không còn thấy như các môn đồ thấy Đấng phục sinh, nhưng là thấy bằng đức tin, là ý thức được một sự hiện diện và một sự thông hiệp đời sống. Tóm lại các câu 1 8-20 gợi lên vừa thực tại của các lần Chúa hiện ra sau khi sống lại, vừa kinh nghiệm sống của Giáo Hội sau biến cố Phục sinh.

4. Cái kinh nghiệm của Giáo Hội này cũng được mô tả ở (cc. 21) Chúa Giêsu loan báo Người sẽ tỏ mình (c.21b), hay, như đã nói rõ sau lời cắt ngang của Giuđa, là sẽ cùng với Chúa Cha trở lại (c 23b). Tỏ mình và trở lại cho riêng những ai yêu mến Chúa Giêsu. Tình yêu này hệ tại việc tuân giữ các lệnh truyền của Người (c.21; xin xem c. 15 trong đó "giữ lệnh truyền" không phải là hậu quả, nhưng chính là bản chất của tình yêu đối với Chúa Giêsu) hay!ời Người (cc.23t). Hình như "lệnh truyền" và "lời" đều chỉ cùng một thực tại: mặc khải của Chúa Giêsu xét như là quy tắc hành động: "lời" nhấn mạnh đến yếu tố thứ nhất (mặc khải), "lệnh truyền" nhấn mạnh đến yếu tố thứ hai (quy tắc hành động).

Các bản văn khác của Gioan cho chúng ta biết các lệnh truyền này hệ tại điều gì: tình yêu huynh đệ (13, 34t; 15,12- 24; 1 Ga 4,21), và lòng tin vào Chúa Giêsu như là Đấng được Cha sai đến (x. 16,27). Đó không phải là hai lệnh truyền tách rời nhau: tình yêu huynh đệ dựa trên lòng tin vào Chúa Giêsu, Đấng được sai đến để mặc khải và thực hiện tình yêu cứu độ của Chúa Cha cho hết mọi người. Nên, trong lga 3,23, đức tin và tình yêu huynh đệ được liên kết với nhau dưới một danh xưng "lệnh truyền". Thành ra các môn đồ phải yêu thương nhau như Chúa 'Giêsu đã yêu thương họ (13, 34b; 15, 12): nghĩa là theo gương người và còn hơn thế nữa, do bởi tình yêu của Người.

"Ai yêu mến Ta thì được Cha Ta yêu mến và Ta sẽ yêu mến kẻ ấy" (c. 21; x. c. 23a). Điều đó không có nghĩa là tình yêu của chúng ta có trước. Đúng hơn đây là một cuộc đối thoại tình yêu mà Chúa Cha và Chúa Giêsu đi bước đầu (x.1Ga 4,10. 19). Yêu mến Chúa Giêsu và do đó yêu mến anh em tình tóm lại là tin vào anh yêu Thiên Chúa, là lãnh nhận tình yêu ấy, là đi vào trong sức năng động của nó và lưu lại trong đó: "Như Cha đá yêu mến Ta, Ta cũng đã yêu mến các con. Hãy lưu lại trong lòng mến của Ta. Nếu các con giữ các lệnh truyền của Ta, các con sẽ lưu lại trong lòng mến của Ta" (15, 9- 10a; x. 17, 26). Đối với các môn đồ, tiếp nhận tình yêu của Chúa Cha mà Chúa Giêsu mặc khải, yêu mến anh em mình bằng tình yêu mà Chúa Giêsu yêu mến họ, là yêu mến Chúa Giêsu và Chúa Cha. Vì thế nên trong tình yêu này, sự hiện diện của Chúa Giêsu và của Chúa Cha được thể hiện. "Chúng Ta sẽ đến với kẻ ấy và sẽ đặt chỗ nơi mình họ" (c.23). Đây chính là một sự hiện điện hỗ tương: các môn đồ lưu lại trong tình yêu Thiên Chúa, và Chúa Cha cùng Chúa Giêsu đặt chỗ ở trong mình họ.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

"Nếu các con yêu mến Ta, các con sẽ giữ các lệnh truyền Ta". Gioan không bao giờ cho phép tình yêu thoái hóa thành tình cảm suông hay xúc động thuần túy. Tình yêu được biểu lộ trong sự vâng phục. Điều này cũng đúng cho tình yêu của Chúa Con đối với Chúa Cha (x. 15, 10).

"Đấng Bầu chữa khác": Được vay mượn tư ngữ văn.g pháp luật tiếng Paraklêtos chỉ người được mời tới bên cạnh bị cáo để giúp đỡ và bênh vực cho đương sự: thành thử nghĩa đầu tiên là trạng sư, người biện hộ. Từ đó, ta thấy xuất hiện nghĩa "Đấng An ủi hãy Đấng chuyển cầu. Nơi Gioan thì ý nghĩa pháp lý thắng thế. Thần khí giúp đỡ các môn đồ trong vụ án vĩ đại mà thế gian đeo đuổi chống lại họ, nhưng những tiểu dị vừa nêu trên có thể áp dụng và nhấn mạnh tùy trường hợp. Theo nghĩa Chuyển cầu, thì Chúa Giêsu cũng là Paraklêtos như Thần khí. Vậy nếu chỉ có một trung gian duy nhất là Chúa Giêsu (1Tm 2, 5), thì vẫn có hai Đấng bầu chữa: Chúa Giêsu, "luôn sống để cầu bầu cho chúng ta" (Dt 7,23) và Thần khí, "Đấng chuyển cầu cho ta bằng những tiếng rên khôn tả" (Rm 8, 26).

"Và Ngài ở trong các con". Nhiều chỉ cảo và thủ sao có giá trị dùng động từ này ở thì tương lai: Ngài sẽ ở. Người ta có thể đưa ra nhiều lập luận vững chắc để bênh vực cho cả hai lập trường. Tuy nhiên, phần lớn các nhà chú giải gần đây xem ra thích cách đọc: Ngài ở hơn.

"Ta sẽ không bỏ các con mồ côi" Tiếng orphanos cũng được dùng cho các môn đồ không có thầy: xem Platon, Phédon 116a, trong đó các bạn hữu của Socrate được gọi là những orphanoi khi ông chết, và xem Lucien, De morte Peregrini 6.

"Ai yêu mến Ta, sẽ được Cha Ta vêu mến". Gioan không muốn nói riêng tình yêu của Thiên Chúa bị lệ thuộc vào sự vâng phục của con người, điều ấy sẽ mâu thuẫn với 3, 16; 13, 34; 15, 9. 12; 17, 23. Tư tưởng của ông, trong lúc này, tập trung vào mối liên hệ hỗ tương giữa Chúa Cha, Chúa Con và các tín hữu -xem 13, 34. Bởi vì các môn đồ yêu thương lẫn nhau, nên dưới mắt người đời họ là những thành phần của gia đình Thiên Chúa; tình yêu của họ đối với Chúa Giêsu và sự hiệp nhất giữa họ với Người chứng tỏ là Chúa Cha yêu thương họ trong Người. Trước đó, xét như là thụ tạo, họ đã được Chúa Cha yêu mến rồi (1Ga 4, 10); nay với tư cách là Kitô hữu, họ còn hơn là một sự ngoại trưng của mầu nhiệm Nhập thể; họ là ngoại trưng của nhân cách tập thể của Đầu Nhiệm Thể.

KẾT LUẬN

Trong thời gian của Giáo Hội, thời gian chúng ta đang sống, Chúa Giêsu vẫn hiện diện với Cha Người và với Thần khí. Sự hiện diện ấy được thể hiện cho tất cả những ai mở lòng đón nhận Ba Ngôi Thiên Chúa. Nó là sự thông giao, thông hiệp, vì không phải là một hiện diện trừu tượng, "vô tính" nhưng hiện diện hỗ tương, hiện diện theo nghĩa mạnh của hạn từ. Sự hiện diện của Chúa Giêsu đối với chúng ta bây giờ gần gũi hơn, thắm thiết hơn, hữu hiệu hơn là khi Người còn tại thế, bởi vì nay Người hiện diện như Đấng được tôn vinh, như Chúa cánh chung hằng ban cho chúng ta Thần khí và làm cho chúng ta đi vào. trong sự thông hiệp đời sống với Chúa Cha. Vì vậy chúng ta phải nói đến một sự hiện diện trong khiếm diện. Nối tiếp cách hiện diện lịch sử của Chúa Giêsu, có một cách hiện diện mới là hiệp nhất với Chúa Giêsu và Chúa Cha, dưới sự hướng dẫn của Thần khí.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Trong bài Tin Mừng của phụng vụ hôm nay, Chúa Giêsu hứa sai một Đấng Bầu chữa. Danh xưng lạ lùng này, vốn không có trong cách dùng thông thường của ngôn ngữ chúng ta, là chữ phiên dịch từ một kiểu nói Hy lạp có nghĩa được kêu tới bên cạnh…"; các tiếng đồng nghĩa với nó có thể là: người trợ giúp, trạng sư, kẻ nâng đỡ... Khi Chúa Giêsu nói đến một vị Bầu chữa khác, ta có thể nghĩ rằng chính Người là Đấng Bầu chữa đầu tiên là Vị rồi đây được sai đến với các sứ đồ sẽ làm cho họ hiểu hơn về Người; Ngài sẽ là kẻ mặc khải, bảo vệ Chúa Kitô trong tâm hồn người tín hữu chống lại các cơn cám dỗ và bách hại của thế gian.

2. "Thần khí... mà thế gian không thể lãnh nhận Tiếng "thế gian" ở đây phải hiểu là toàn bộ các quyền lực phản nghịch với Thiên Chúa và Đấng Kitô của ngài Thần khí của thế gian này thiết yếu là một não trạng bất nhất, một bầu khí thiêng liêng nhiễm độc do nhiều sai lầm và ngu đại, do óc kiêu căng cố chấp và tự mãn ngớ ngẩn, một thái độ tâm lý và luân lý đóng kín con người lại. Thế gian ấy không tin cả đến sự khả hữu thần tính của Chúa Kitô và bởi thế cũng chẳng tin việc Thần khí ngự đến. Ở chỗ khác, Chúa Giê-su có nói là Người sẽ cầu xin Chúa Cha che chở các môn đồ người, tức chúng ta hôm nay, cho khỏi thế gian tội lỗi này.

3. "Ai yêu mến Ta sẽ được Cha Ta yêu mến". Chúng ta gặp lại ở đây, dưới hình thức rõ ràng và đánh động hơn, một trong những chân lý cơ bản thường năng được trình bày trong Tân ước. Tương quan giữa chúng ta với Chúa Giêsu cấu tạo nên tương quan với Chúa Cha. Vâng giữ lệnh truyền của Chúa Giêsu là vâng phục Chúa Cha; cầu nguyện với Chúa Giêsu là cầu nguyện với Chúa Cha; ca tụng Chúa Giêsu, tức nhìn nhận thực thể của Người trong niềm thán phục và vui mừng, là phó thác vào Chúa Cha."Các con sẽ phải khốn quẫn, nhưng hãy vững lòng! Ta đã thắng thế gian" (Ga 16, 33).

4. Sự hiện diện hữu hình của Chúa Giêsu không phải là tất cả. Sự hiện diện của Người trong nội tâm còn quý trọng hơn. Như thánh Phaolô, chúng ta không nên tiếc vì đã chẳng sống vào thời của Tin Mừng. Thật là nguy hiểm khi chỉ biết Chúa Giêsu qua những vẻ bên ngoài theo xác thịt, mà không sống mật thiết với Người trong Thần khí.

5. Thánh Thần là hồng ân được ban cho chúng ta như hoa quả mà Chúa Kitô thâu lượm được nhờ cuộc Tử nạn của Người. Chính khi làm cho chúng ta đồng hóa với Chúa Kitô mà Thánh Thần đặt trong chúng ta tâm tình con thảo mà Chúa Cha mong đợi nơi chúng ta. Như thánh Phêrô nói: "Tất cả những ai được Thần khí tác sinh, đều là con cái Thiên Chúa". Quả thế, không phải anh em đã nhận lấy Thần khí của hàng nô lệ để mà phải sợ hãi; nhưng anh em đã nhận lấy Thần khí của hàng nghĩa tử làm cho chúng ta thốt lên: Abba, Cha! Chính Thần khí chứng thực cho thần hồn ta rằng: ta là con cái Thiên Chúa (Rm 8, 14- 16). "Ta sẽ không để các con mồ côi. Ta sẽ trở lại với các con". Chúa Giêsu đã đến làm cho chúng ta thành nghĩa tử của Cha Người. Người đã đến bằng con đường nhập thể để thực hiện kế hoạch tình yêu đó.

Noel Quession - Chú Giải

Ga 14,15-21

 
Bài đọc Tin Mừng hôm nay là phần kế tiếp của Tin Mừng của Chúa nhật vừa qua, để đáp lại câu hỏi của Phi-líp-phê: "Thưa Thầy, Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha". Đó là một câu hỏi mà mọi người trước sau cũng tự đặt ra cho mình. Ngày hôm na, câu hỏi này mang một hình thức triệt để: Thiên Chúa có hiện hữu không? Và, nếu Thiên Chúa hiện hữu, người ta có thể đi vào sự hiệp thông với Thiên Chúa không? Sau cùng người ta có thể biết một điều gì về Thiên Chúa không? Gioan đặt trên miệng Đức Giêsu mộtt câu trả lời gồm hai vế hoàn toàn song song:

Ơn của Thần Khí

Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy...

Chúa Cha sẽ ban cho anh em Thần Khí...

a) mà "thế gian" không thể đón nhận, không thể thấy, không thể biết...

b) còn anh em, các môn đệ biết Người; vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em...

Đức Giêsu trở lại

Thầy đến cùng anh em...

a) nhưng thế gian sẽ không còn thấy Thầy.

b) phần anh em, các môn đệ, anh em sẽ được thấy Thầy

và nhận biết Thầy. Thầy ở trong Chúa Cha và trong anh em... nếu anh em yêu mến Thầy và giữ các điều răn của Thầy.

" Nếu anh em mến Thấy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy ".

sau khi đã yêu cầu các môn đệ tin tưởng mạnh mẽ vào người, Đức Giêsu yêu cầu họ yêu mến Người. Chủ đề này trở lại như một điệp khúc trong suốt buổi trò chuyện lúc chia tay. Và chúng ta nhận thấy rằng "tình yêu" luôn luôn được nối kết với sự "vâng lời: Yêu mến Đức Giêsu chính là tuân giữ các điều răn và lời dạy của Đức Giêsu. Một cách trung tín (Gioan 14,15-21-23-24: 15,10-14). Nói chung, tâm thức hiện đại hoàn toàn phân cách sự vâng lời với tình bạn, quyền bính và tình yêu. Người ta thường nói về "quyền bính" và "sự phục tùng" bằng những từ ngữ tiêu cực. Từ đó, thái độ mà Đức Giêsu yêu cầu có vẻ lỗi thời: Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy" (Gioan 15,14). Tuy nhiên, chúng ta đều có kinh nghiệm rằng khi người ta yêu một ai, người ta "cảm nhận điều làm vui lòng người đó mà không có gì miễn cưỡng, người ta làm mọi sự để làm vui lòng người đó, để hoàn thành ý muốn của người đó. Nếu chúng ta thật sự lắng nghe Đức Giêsu về điểm này. Có lẽ người ta sẽ khám phá Đức Giêau là Cứu Chúa cho tình yêu của chúng ta và do đó Người đã thật sự giải phóng điều gì nhân bản nhất trong chúng ta. Sự cám đỗ tinh tế con mọt đục phá tình yêu đó là yêu chính bản thân mình trong người khác. Người ta không thật sự yêu người khác, nhưng yêu chính mình, than ôi! Đó chẳng phải là lời giải thích thông thường của những thất bại trong tình yêu của thế giới hôm nay hay sao? Và đó chẳng phải là lời giải thích sâu xa nhất của chủ nghĩa vô thần đang lớn dần lên cùng một lúc với những tình yêu đổ vỡ? Người nào không "thực hành" đức tin hay tình yêu Thiên Chúa, không bao lâu sau sẽ nói rằng Thiên Chúa không hiện- hữu.

Lạy Chúa, xin giúp cho con luôn trung tín trong tất cả tình yêu của chúng con đối với Ngài và đối với những người thân yêu của chúng con.

Thầy sẽ xin Chúa Cha...".

Phải, Đức Giêsu hoàn toàn vâng phục Chúa Cha, trong Tình yêu trung tín, không có vẻ gì là miễn cưỡng. Người ta cũng phải ngạc nhiên bởi Đức Giesu không có bất kỳ sự tự mãn nào về bản thân, và không tự hào là trung tâm của thế giới. Người đổi hướng những cái nhìn về Người để đưa về một "đấng khác": Đức Giêsu cầu nguyện... Trong lúc này, người nói với chúng ta rằng Người cầu nguyện Chúa Cha.

Và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật".

Gioan là người duy nhất trong các thánh sử gọi Chúa Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ. Từ này dịch từ một tiếng trong ngôn ngữ về luật pháp của Hy Lạp. "Paraklètos" mà người ta viết thành "Paraclet" có nghĩa là Đấng được gọi đến với một người nào để bảo vệ người ấy như luật sư, người cố vấn, an ủi, bảo vệ. Chúng ta nhận thấy rằng đấng bảo vệ này cũng liên kết với chân lý... vụ án mà các môn đệ có tham gia Chính là vụ án về chân lý" và quả thật đó là "vụ án của Thiên Chúa".

Vậy thì, qua những lời "Chúa Cha đã ban cho anh em Một Đấng Bảo Trợ khác đúng lúc mà Đức Giêsu loan báo Người ra đi, chúng ta gặp lại câu hỏi của Phi-líp-phê và của thế giới hôm nay: Thiên Chúa có hiện hữu hay không? Lạy Thiên Chúa, xin Ngài hãy tỏ mình ra...cùng vụ án của Đức Giêsu không bao giờ kết thúc! Giêsu Na-da-rét. Người bị kết án tử hình ấy, không như những người khác từ khi một số người, các môn đệ của Người nói rằng Người đã sống lại và hắng sống. Thật vậy một chốc nữa, Đức Giêsu sẽ nói với chúng ta "các tín hữu ở trong Người và Người ở trong họ". Từ đó, nơi xử án Đức Giêsu mở rộng ra chân trời của toàn thế giới, ở bất cứ nơi nào các Kitô hữu cố gắng sống vì Người. Và việc lên án Thiên Chúa sẽ có nhiều hình thức: dĩ nhiên người ta nghĩ đến những phiền nhiễu gây ra cho người tín hữu, đến sự tuyên truyền vô thần, đến sự bách hạ, đến các trại tập trung cải tạo của những người mác-xít phương Đông... nhưng ở phương Tây duy vật của chúng ta, chẳng phải tất cả cũng trở thành vô thần với sự bình thản dửng dưng hay sự chế giễu tinh vi sao... Sau càng, chẳng phải trong lòng mỗi người chúng ta một tòa án được thiết lập để lên án Đức Giêsu, để xử tử Thiên Chúa, mỗi lần mà lòng ích kỷ của chúng ta giết chết tình yêu, mỗi lần mà chúng ta chọn lựa những tiện nghi nho nhỏ và êm ái thay vì phục vụ

Thiên Chúa sao...Ôi Lạy Chúa! xin gởi Thần Khí, Đấng Bảo Trợ đến với chúng con. Xin hãy đến Thần Khí gây xáo động và tranh cãi xin hãy đến trong chúng con, để chúng ăn không

buông theo tinh thần xảo trá và bắt chước như đàn cừu của một xã hội, mà toàn thể lúc nào cũng lên án Đấng Phục Sinh "đáng nguyền rủa".

"Đó là Thần Khí sự thật. Đấng mà thế gian không thể đón nhận vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em".

Trong bài giảng này lúc chia tay trước đêm xử án và cái chết của Người, Đức Giêsu nói về "thế gian" ba mươi lần, ở đây, từ này không có ý nghĩa của vũ trụ tự nhiên, cũng không có ý nghĩa lịch sử thông thường: trong một đoạn văn khác, Gioan viết: "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời" (Gioan 3,17). Ở đây, trái lại thế gian không phải là toàn thể nhân loại nhưng trong một ý nghĩa hạn chế nói về phần nhân loại từ chối Thiên Chúa. Thế gian ấy khép kín, khiêu khích và không và không đón nhận những ảnh hưởng của tâm linh... nó luôn mù quáng và ngu ngốc. Trong thế gian ấy luôn luôn có sự ngăn chăn khiến Đức Giêsu không thể biểu lộ mình ra cho thế gian đó.

"Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy lại đến cùng anh em. Chẳng bao lâu nữa thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống".

Ơ đây, Gioan đề cập đến phần thứ hai của lời đáp của Người. Sau khi ban cho Thần Khí, Đức Giẽsu nói về sự hiện diện mới của chính mình. Và như trong bảng tổng lược ở đầu bài giảng này đã làm nổi rõ điều đó, chúng ta ghi nhận sự đóp góp tuyệt đối của hai vế đó: Để thấy và hiểu Thần Khí như Đức Giêsu, phải "yêu mến và thực hành"... trong cả hai trong hợp, Đức Giêsu nhắc lại rằng thế gian vẫn khép kín trước những sự hiện diện mầu nhiệm ấy trong khi các tín hữu thì sống những sự hiện diện ấy.

Trước măt thế gian, Đức Giêsu chỉ là một "Người đã biến mất", một con người của quá khứ... một con người đàng hoàng, bị thù ghét, hoặc đơn giản hơn không quan trọng cũng không có ảnh hưởng gì. Đùng một cái! Những kẻ thuộc thế gian đó rơi vào một tình trạng mà Gioan gọi là mồ côi: Họ không còn cha, họ không còn mẹ, họ không còn nhận được tình yêu. Họ bị ngăn chặn trong một vũ trụ khép kín, "vô gia đình". Chính trong thế giới đó mà những sự truầm uất và tự tử gia tăng gấp bội. Chúng ta trở thành một nhân loại có vẻ trưởng thành, chúng ta chỉ chấp nhận hành động vì mình và đã đánh mất thói quen tra hỏi (tuổi thơ ấu của chúng ta đã xa biết bao!), một cách kín đáo, chúng ta sợ mọi sự chỉ đạo đến từ người khác và không do chính mình; chúng ta tự hào mình vẫn làm chủ được mình... vằ khi chúng ta có kêu gào Thiên Chúa, thì không phải lúc nào cũng để đón nhận một lại giải đáp? Chúng ta hãy suy nghĩ kỹ càng, tất cả điều đó trái ngược với tình yêu. Người tín hữu không mồ côi vì luôn luôn sống trong tình yêu của Thiên Chúa, một tình yêu luôn có mặt mặc dù thế gian không thấy. Người ấy lệ thuộc Thiên Chúa. Người yêu thương nhiều nhất... chính là người lệ thuộc nhiều nhất. Nếu bạn muốn hoàn toàn tự lập, bạn sẽ luôn luôn cô độc và mồ côi.

"Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy và Thầy ở trong anh em".

Trái ngược với sự khước từ dữ dằn, không chịu cởi mở với người khác là một mầu nhiệm về sự thân mật mà Đức Giêsu mạc khải cho chúng ta, người ta tưởng rằng mình cô độc nhưng ng ta đã có bốn: chính mình, Đức Giêsu, Chúa Cha và Thần Khí một đôi khi các bạn hãy mong ước các vị khách bí mật ấy đến. Các bạn hãy thử sống một tình cảm bầu bạn với các Đấng ấy. Các bạn hãy thử nói với các Đấng, thổ lộ với các Đấng... những lời tình yêu mến. Có cần đợi tới "Ngày sau hết" mới khám phá điều kỳ diệu ấy không? Đức tin mở đường cho chúng ta, làm cho chúng ta "tham dự trước".

"Ngày đó", đối với các tín hữu chính là ngày vượt qua, bắt đầu với ngày đầu tiên của một tuần lễ kéo dài vô tận... ngày đó Đức Giêsu đã thổi Thần Khí của Người và Thần Khí ấy luôn luôn ở giữa các bạn.
"Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy và sẽ tỏ mình ra cho người ấy".

Dưới hình thức tóm tắt lại, chúng ta gặp lại đúng tư tưởng lúc đầu, vì là tư tưởng chủ đạo của toàn bộ đoạn văn. Hãy yêu mến! Hãy tuân giữ những điều răn! Đó là điều kiện để Thiên Chúa tỏ mình ra cho một người. Như thế chúng ta đã được báo trước. Biết Thiên Chúa là một sự việc hoàn toàn khác. Với Sự tiếp thu một sự truyền đạt tốt về lý thuyết một giáo huấn tốt về học thuyết. Vấn đề là một kinh nghiệm cao cả nhất của con người. Kinh nghiệm của tình yêu được sống trong sự từ bỏ chính mình vì người khác.

 
Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

"Thầy sẽ sinh Cha và Người sẽ ban cho các con một Đấng Phù Trợ khác".

Ga 14:15-21

I. Ý CHÍNH

Bài Tin Mừng hôm nay là một đoạn trích trong bài diễn từ giã biệt của Chúa Giêsu (Ga 13,31. 14,31). Trong bài này Chúa Giêsu hứa ban Thánh Thần để ở với các môn đệ luôn mãi, còn phần Chúa Giêsu, tuy sẽ chịu chết, sống lại và lên trời, nhưng chính Người cũng sẽ còn hiện diện cách mầu nhiệm trong Giáo Hội.

II. SUY NIỆM

1/ " Nếu các con yêu mến Thầy …":

Ở đây cho thấy Chúa Giêsu không chấp nhận một thứ tình yêu trừu tượng, chỉ bằng tình cảm mông lung, xúc động thuần tuý. Người chủ trương một tình yêu sống động và được biểu lộ trong sự vâng phục theo đường lối của Chúa, tức là tuân giữ các giới răn Người truyền. Chính Chúa Giêsu cũng đã yêu mến Chúa Cha bằng cách giữ các lệnh truyền của Chúa Cha (ga 15,10).

2/ " Thầy sẽ xin Cha và Người sẽ ban cho các con…":

* Kiểu nói "xin" ở đây không mang ý nghĩa của một tình trạng bất lực, thiếu thốn cần được giúp đỡ, nhưng mang ý nghĩa của một tương quan đồng nhất, biểu lộ Chúa Giêsu đồng bản tính với Chúa Cha, vì "Ta và Cha là một" (Ga 10,30). Vì thế ở đây có nghĩa rằng khi Chúa Giêsu về Trời thì Chúa Thánh Thần sẽ đến và vì vậy ở đây nói về ngôi vị của Ba Ngôi Thiên Chúa.

*Đấng Phù Trợ khác": danh từ "phù trợ" được vay mượn từ ngữ vựng pháp luật, do tiếng Hy lạp và Paraeletos, chỉ người được mời đến bên cạnh người bị cáo để giúp đỡ và bênh vực cho đương sự. Vì thế nghĩa đầu tiên của danh từ này là trạng sư, người biện hộ, bầu chữa, chuyển cầu. Từ đó ta thấy xuất hiện nghĩa "Đấng an ủi hay chuyển cầu".

Ở đây thánh sử Gioan dùng để chỉ về Chúa Thánh Thần là người giúp đỡ các môn đệ trong vụ kiện đối với thế gian.
Vậy kiểu nói "Đấng Phù Trợ khác" có nghĩa rằng nếu chỉ có một trung gian duy nhất là Chúa Giêsu (1Tm 2,5) thì vẫn có hai Đấng Phù Trợ:

+ Đấng Phù Trợ thứ nhất là Chúa Giêsu: Nếu có ai trót phạm tội thì này ta có Đấng bầu chữa nơi Cha là Đức Giêsu Kitô, Đấng công chính (Ga 2,1. Dt 7,23).

+Đấng phù trợ khác là Chúa Thánh Thần. Chính Thánh Thần chuyểnc ầu cho ta bằng những tiếng rên khôn tả (Rm 8,26).

* "Người ở với các con luôn mãi":

Ơn Chúa Thánh Thần ban xuống không bị giới hạn bởi thời gian. Người bảo đảm cho ct thông hiệp với Chúa Giêsu cách vững bền mãi mãi. Sự hiện diện này của Chúa Thánh Thần cũng tương tự sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Giáo Hội (Mt 28,20).

3/ "Người là Thần Chân Lý mà thế gian không thể đón nhận":

* Thần Chân lý và thần được ban bởi Chúa Giêsu, Đấng là Chân lý, cũng như Chúa Giêsu hằng quy chiếu về Chúa Cha (Ga 7,17-18. 12,49) thì Chúa Thánh Thần cũng hằng quy chiếu về Chúa Giêsu.

* Nói Thần Chân lý cũng có ý nói đối lại với tinh thần thế gian (1Ga 4,5) là cha sự dối trá (Ga 8,44) đang tác động trên thế giới. Vì vậy sống theo tinh thần thế gian thì không thể tiếp nhận Chúa Thánh Thần được. vì thế gian không thể tiếp nhận và cũng không biết Người. Thế gian ở đây là các quyền lực chống lại Thiên Chúa và Chúa Giêsu. Tinh thần thế gian là tinh thần kiêu căng. Thù hận, chỉ đi tìm chính ab3n thân mình. Họ không tin Chúa Giêsu là Thiên Chúa, họ cũng chăng tin vào Chúa Thánh Thần.

* "Còn các con, các con bếit Người …":

Trong khi thế gian với những phương thế hiểu biết tự nhiên của mình, sẽ không có sức cảm biết được Chúa Giêsu là Thiên Chúa (Ga 7,34. 8,21) và do đó cũng không biết được Chúa Thánh Thần. Đấng bởi Thiên Chúa mà đến, thì các Tông đồ nhờ đức tin, sẽ kinh nghiệm thấy Chúa Giêsu Phục sinh và sẽ chia sẻ cuộc sống mới của Ngài. Cả các kẻ nhờ các Tông đồ làm chứng mà tin cũng vậy.

4/ "Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi":

Sau khi hứa ban Chúa Thánh Thần, Chúa Giêsu cũng hứa chính Người sẽ đến với các môn đệ. Ở đây Chúa Giêsu muốn nói đến việc hiện diện của Người sau khi phục sinh đối với các môn đệ. Thực vậy, Chúa Giêsu sắp ra đi để chịu nạn chịu chết, nhưng sau khi phục sinh Người sẽ đến với các môn đệ, sẽ tỏ mình ra cho họ, không những bằng những lần hiện ra mà còn bằng sức sống của đức tin và sự thông hiệp trong đời sống ơn thánh nữa, như kinh nghiệm củ aghz sơ khai.

5/ "Một ít nữa thế gian không còn thấy Thầy".

Ở đây Chúa Giêsu có ý nói về cái chết của Người đối với thế gian, cái chết của Chúa Giêsu là một sự mất đi và thuộc về quá khứ vì thế họ không còn thấy Người vì Người sẽ không hiện diện cho họ nữa.

6/ "Phần các con, các con thấy Thầy …":

Trái lại đối với các môn đệ kiểu nói "còn ít nữa" hàm chứa một lời hứa sẽ trở lại (ga 16, 16-22) tức là Chúa Giêsu sẽ trở về với họ. Thực vậy, các môn đệ sẽ được xem thấy Chúa Phục Sinh và điều này đã được thực hiện vào chiều ngày lễ Vượt qua khi các ông được thấy Đấng Phục sinh (Ga 16,16-22) tức là Chúa Giêsu sẽ trở về với họ. Thực vậy, các môn đệ sẽ được xem thấy Chúa Phục sinh và điều này đã được thực hiện vào chiều ngày lễ Vượt qua khi các ông được thấy Đấng phục sinh (ga 20,20-25). Nhờ vậy các môn đệ có được niềm tin vào sự hiện diện thường xuyên của Chúa Giêsu trong Giáo Hội cho đến tận thế.

* "Các con thấy Thầy": chữ "thấy" ở đây không chỉ áp dụng cho việc quan sát bằng mắt khi thấy Chúa Phục sinh hiện ra với các môn đệ, nhưng còn để áp dụng cho việc nhận biết bằng đức tin: Tin nhận vào Chúa Giêsu là Thiên Chúa Hằng sống, và nhờ đức tin các ông sẽ được tham dự vào sự sống của Chúa Phục sinh.

7/ "Trong ngày đó các con sẽ hiểu rằng…":

* "Trong ngày đó" là kiểu nói thường dùng trong Cựu ước để chỉ ngày Chúa lại đến (Is 2,17.4,1) tức là ngày Cánh chung.

* "Thầy ở trong Cha Thầy": nhờ vào sự "thấy" được bằng đức tin như vậy, các môn đệ sẽ khám phá ra đời sống kết hiệp thâm sâu giữa Chúa Cha và Chúa Con (ga 14,11) và đồng thời các ông cũngc ảm nghiệm được sự liên kết giữa các ông với Chúa Giêsu Phục sinh.

8/ "Ai nhận các luật Thầy truyền và giữa các luật đó":

* Ở đây có nghĩa biết luật Chúa và kiên trì tuân giữ, đó là bằngc hứng của lòng yêu mến Thiên Chúa.

* "Ai yêu mến Thầy sẽ được Cha Thầy yêu mến": Ở đây không có ý nói Thiên Chúa đợi chúng ta yêu mến Chúa Giêsu trước đã, rồi sau đó Thiên Chúa yêu mến chúng ta, vì chính Thiên Chúa đã yếu chúng ta trước. "Không phải vì ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng là chính Người đã yêu mến chúng ta" (1Ga 4,10. 3,16. 15,9). Nhưng nói lên như vậy Chúa Giêsu có ý nhấn mạnh về sự hỗ trợ của tình thương yêu: như Chúa Cha và Chúa Con hằng yêu mến nhau, Chúa cũng muốn chúng ta được thông phần vào tình yêu hỗ tương đó. (Ga 15,9).

* "Thầy sẽ yếu nó và tỏ mình ra cho nó": Ở đây muốn nói lên mối liên hệ hỗ tương giữa Chúa Cha, Chúa Con và các tín hữu (Ga 13,34). Thực vậy, xét như là một thụ tạo, thì mọi người đều được Chúa yêu mến (1Ga 4,10) nhưng với tư cách là Kitô hữu, tức là người có lòng yêu mến Chúa Giêsu, thì tình thương của Chúa Cha mới sinh ích lợi cho họ, nghĩa là làm cho họ được nhận biết Chúa Giêsu và được hưởng nhờ ơn cứu chuộc của Người.

III.ÁP DỤNG

A/ Áp dụng theo Tin Mừng:

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Giáo Hội nhắc lại giáo huấn của Chúa Giêsu về sự hiện diện và hoạt động cách mầu nhiệm của Ba Ngôi Thiên Chúa trong Giáo Hội và trong cuộc đời mỗi người chúng ta, để từ đó chúng ta biết cậy trông vững vàng vào ơn Chúa trong mỗi bước đường của cuộc đời và đồng thời biết tin tưởng vào hoạt động của Thiên Chúa trong ghz để yêu mến và gắn bó với Giáo Hội hơn.

B/ Áp dụng thực hành

Nghe lời Chúa Giêsu nói:

1/ "Nếu các con yêu mến Thầy hãy giữ giới răn Thầy".

Chúa đòi hỏi chúng ta chứng thực lòng yêu mến Chúa bằng việc tha thiết tuânb giữ mọi giới luật của Chúa và Giáo Hội, cũng như luật chung và riêng theo đấng bậc mình.

2/ "Người sẽ ban cho các con đấng Phù Trợ khác":

Khi gặp những buồn phiền lo sợ thử thách trong cuộc sống, ct nên nhớ chúng ta không cô đơn, không phải đứa con mồ côi vì chúng ta luôn có Đấng Phù trợ là Chúa Thánh Thần hằng hướng dẫn và ban sức mạnh cho ct. vậy hãy can đảm và an tâm hơn.

3/ "Người là Thần Chân lý":

Chúa Thánh Thần là Thần Chân lý vì thế Người sẽ giúp chúng ta nên thánh trong chân lý, giúp ct đón nhận lời Chúa là lời Chân lý (Ga 3,21) giúp chúng ta nhận biết mình có tội và hối cải (1Ga 1,16) và giúp chúng ta tiến bước trong giới luật tình thương (2 Ga 6).

4/ "Phần các con, các con thấy Thầy":

Thấy Chúa bằng con mắt đức tin thì có lợi cho ta hơn là thấy Chúa bằng con mắt khả giác vì sự hiện diện của Chúa Giêsu phục sinh thì trọn vẹn và đầy đủ hơn sự hiện diện của Chúa Giêsu thể theo cách thế của con người hữu hạn của chúng ta. Vì thế chúng ta đừng đòi hỏi Chúa phải làm phép lạ, phải hiện ra để chúng ta tin nhưng chúng ta tự đòi hỏi mình phải tin vào Chúa đang hiện diện với ta cách vô hình.

5/ "Ai nhận các luật Thầy truyền và giữ các luật đó":

Chúa đòi hỏi ta phải tỏ lòng yêu mến Chúa bằng cách hiểu biết và kiên trì tuân giữ các giới luật của Chúa. Vì thế để tỏ lòng mến Chúa chúng ta cần cố gắng học hỏi và cần tìm hiểu các luật Chúa, tinh thần của Chúa được biểu lộ qua Thánh Kinh và qua giáo huấn của Giáo Hội.

6/ "Ai yêu mến Thầy sẽ được Cha Thầy yêu mến":

Lòng mến Chúa của ta là chìa khoá mở cửa cho ta thông hiệp với đời sống Thiên Chúa Ba Ngôi. Khi có lòng mến tất nhiên chúng ta sẽ sống tha thứ, nhịn nhục, quảng đại, hy sinh hơn.

7/ Nếu muốn được tha nhân yêu mến trong tình huynh đệ hiệp nhất, thì chúng ta phải trở nên "giới luật" cho tha nhân bằng một đời sống mẫu mực gương sáng về sự hoàn thiện.

8/ Muốn được tha nhân đón nhận, chúng ta phải trở nên chân lý qua đời sống theo chân lý của Chúa.

9/ Biết tôn trọng lẫn nhau và biết yêu thương nhau thật tình.

Lm Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc - Bài Giảng Lễ

Cặp mắt của trái tim

Cv 8,5-8. 14-17; 1Pr 3,15-18; Ga 14:15-21

Thánh Phanxicô Assisi có lòng mến Chúa và yêu người rất sâu xa. Một hôm Ngài gặp một người bạn, người này nói với Thánh nhân rằng ông ta không thể nào yêu mến Thiên Chúa được. Đang khi hai người đi đường thì gặp một người hành khất vừa mù vừa quê. Thánh nhân hỏi người hành khất:

- Nếu tôi chữa cho anh thấy và đi được thì anh có yêu mến tôi không?

Người hành khất trả lời:

-Dạ thưa Ngài, không những tôi yêu mến Ngài mà tôi xin dâng hiến trọn phần còn lại của đời tôi để phục vụ Ngài.
Nghe câu trả lời của người hành khất xong, Thánh nhân quay sang người bạn đang đứng bên Ngài nói:

- Đấy anh thấy không, người hành khất này chỉ thấy được, đi được, thế mà còn hứa với tôi như thế, huống hồ là anh, anh không những được Chúa dựng nên với chân tay mắt mũi lành lặn. Ngài lại còn chịu chết để cứu chuộc anh nữa, đang khi đáng lý ra anh phải chết vì tội của anh. Vậy mà anh lại không yêu mến Chúa sao?

Thưa anh chị em,

Yêu mến Chúa là bổn phận của mỗi người chúng ta. Nhưng thế nào là yêu mến Chúa? Trong Tin Mừng hôm nay, chính Chúa Giêsu đã trả lời cho chúng ta câu hỏi này. Trước hết, yêu là thấy, Chúa Giêsu đã nói: "Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống". Thực thì ngay trong cuộc sống của xã hội con người, chúng ta cũng có thể gặp những trường hợp một người đã ra đi một chuyến đi xa, nhưng những người thân còn ở lại vẫn cảm thấy người đó như đang hiện diện ở đâu đây, thật gần gủi, nơi từng sự vật, trong từng căn phòng, nơi mỗi lối đi. Chính tình yêu, sự quen thuộc, sự cảm thông đã tạo nên cái điều lạ lùng này. Giữa những người thân yêu, sự vắng mặt không tạo nên sự xa cách: "xa mặt mà không cách lòng". Vì vậy, Đức Giêsu đã nói: "Thế gian sẽ không thấy Thầy, còn anh em, anh em sẽ được thấy Thầy". "Cái thấy" Chúa Giêsu muốn nói ở đây không còn là cái thấy ngang qua cặp mắt của thân xác; cái thấy ấy có những giới hạn nhất định, ở ngoài tầm nhìn thì không thấy được nữa. Còn "cái thấy" ở đây là cái thấy bằng con tim, bằng sự cảm nhận, bằng sự hòa nhập. Tình yêu làm cho người xa cách trở nên gần gủi. Vì yêu mến Thầy, các môn đệ vẫn cảm thấy Thầy hiện diện ở khắp nơi.

Nguyên trong đoạn Tin Mừng này, chúng ta đã thấy Chúa Giêsu lặp lại đến năm lần từ "yêu mến". Yêu mến trở thành mối quan hệ giữa môn đệ và Thầy, giữa môn đệ và Thiên Chúa Cha. Yêu mến đưa đến sự hòa nhập: "Anh em ở trong Thầy và Thầy ở trong anh em" và "Thầy sẽ tỏ mình ra cho anh em thấy Thầy".

Thì ra, trái tim cũng có "cặp mắt" của nó. Cặp mắt của trái tim thấy được những cái mà cặp mắt thể xác không thể thấy được. Chính cái thấy bằng cặp mắt của trái tim sẽ giúp chúng ta thấy được mối quan hệ mật thiết giữa sự hiện diện của Chúa Giêsu với cuộc đời của một người kitô hữu và của cộng đoàn. Có yêu mến Chúa, chúng ta mới thấy được sự hiện diện thân thiết của Chúa ở giữa chúng ta.

Yêu còn là tuân giữ: Tình yêu không dừng lại ở cái nhìn thấy. Tình yêu sẽ dẫn tới hành động. Không có hành động, tình yêu chỉ là giả dối. Hành động mới là bằng chứng của tình yêu đích thực. Chúa Giêsu đã nói: "Ai yêu mến Thầy thì tuân giữ các giới răn của Thầy. Ai giữ các giới răn của Thầy mới là người yêu mến Thầy". Nói rằng: "Tôi yêu mến Chúa" thì ai cũng có thể nói được. Nhưng nếu không tuân giữ các giới răn của Chúa thì những lời nói đó chỉ là những lời nói dối.

Tất cả chúng ta đều có kinh nghiệm rằng: Khi yêu ai, chúng ta cảm thấy được những gì làm vui lòng người chúng ta yêu và không có gì cưỡng bức chúng ta tự nhiên làm tất cả để người yêu được vui, được hạnh phúc. Yêu mến Chúa cũng vậy. Yêu mến Chúa là sống theo ý Chúa muốn, là giữ các giới răn của Chúa, là thực thi ý muốn của Chúa trên cuộc sống chúng ta và trên cuộc sống của xã hội loài người.

Nhưng các giới răn của Chúa là gì?

Thưa anh chị em,

Các giới răn của Chúa là chính Chúa Giêsu với các giáo huấn, với những chọn lựa của Ngài. Tất cả cuộc sống của Chúa Giêsu trở thành mẫu mực cho cuộc sống của người kitô hữu. Giữ các giới răn ở đây là biến đổi chính con người của mình để có thể trung tín với Chúa trong cuộc sống. Như thế, giữ các giới răn là sống trong tình yêu của Chúa.

Chúa Giêsu đã xác định: "Ai giữ các giới răn của Thầy sẽ được Cha Thầy yêu mến. Cha và Thầy sẽ yêu mến người ấy và sẽ đến ở trong người ấy". Giữ các giới răn là ta ở với Chúa và Chúa ở với ta, là lưu lại trong tình yêu của Chúa. Kitô giáo là đạo của tình yêu: yêu Chúa và yêu người. Tình yêu sẽ chắp cho chúng ta đôi cánh để bay lên cao … Vậy mà có nhiều người lại coi kitô giáo như những giới răn cấm kỵ và trừng phạt, như những gông cùm tròng vào cổ hay những gánh nặng đè lên vai. Vì vậy cuộc sống đạo của họ trở thành một bài toán khô khan và nghèo nàn, nhiều khi quá máy móc. Họ bóp méo đạo yêu thương thành đạo sợ hãi. Đạo sợ hãi làm người ta mất nhiệt tình và cởi mở, mất nét vui tươi trên khuôn mặt của những người con cái Thiên Chúa.

Anh chị em thân mến,

Người kitô hữu đích thực phải sống đạo bằng con tim. Tình yêu làm cho cuộc sống đầy sức sáng tạo và năng động. Chính cuộc sống tích cực và đầy sức sáng tạo này mới thực sự là một bằng chứng về sự hiện diện của Chúa Giêsu, Đấng đã chết nhưng đã sống lại và đang tiếp tục hoạt động nơi những kẻ tin ở Ngài, và là bằng chứng của lòng tin nơi sự hiện diện sống động của Ngài. Chính đời sống yêu thương nhau chân thành, hy sinh phục vụ nhau theo mẫu mực của tình yêu Chúa đã yêu thương chúng ta sẽ biểu lộ cho mọi người nhận thấy sự hiện diện sống động của Chúa, Ngài đang sống và đang có mặt sống động trên trái đất chúng ta, như Ngài đã nói khi từ biệt các môn đệ: "Thầy không bỏ anh em cô độc. Thầy sẽ đến với anh em. Anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống".

 
Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng - Bài Giảng Lễ
 
TRONG ÂN SỦNG CHÚA THÁNH THẦN

Tin mừng Chúa nhật VI Phục sinh hôm nay ghi lại sự kiện Chúa Giêsu hứa ban Thánh Thần đến cho các môn đệ sau khi Người rời bỏ các ông. Thánh Thần sẽ đến đổ tràn đầy ánh sáng và sức mạnh của Thiên Chúa, biến đổi các ông trở nên những chứng nhân của Tin mừng, có khả năng đương đầu với những khó khăn thử thách.

Cũng chính Thánh Thần ấy tuôn đổ trên chúng ta trong Bí tích Thánh tẩy và Thêm sức: Thánh Thần cư ngụ trong chúng ta với các ân huệ cao quí của Ngài để làm cho chúng ta có khả năng thực hiện nơi bản thân và trong môi trường sống công trình của Thiên Chúa.

I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

1. Bài đọc I: Cv 8,5-17

Loan báo Tin mừng cho người Samaria

Bài đọc hôm nay đưa chúng ta tham dự vào công cuộc loan báo Tin mừng cho người Samaria của Phó tế Philipphê và việc ban phép thêm sức cho những tân tòng của hai Thánh Phêrô và Gioan.

a. Bị nhóm chống đối cộng đoàn Kitô hữu truy hại, Phó tế Philipphê lánh sang miền Samari, nhân cơ hội đó, ông đã loan báo Tin mừng Chúa Giêsu Kitô cho họ.

b. Đón nhận lời Chúa, nhiều người Samaria đã xin lãnh nhạn phép Thánh tẩy. Sau đó, hai Tông đồ Phêrô và Gioan đã được sai tới để củng cố đức tin và đặt tay ban Thánh Thần cho họ.

c. Trong mọi hoàn cảnh cho dầu khó khăn nếu có lòng tin và sự nhiệt thành tông đồ thì vẫn có thể loan báo Tin mừng. Chính nhờ ơn Chúa Thánh Thần, nhờ ánh sáng của Lời Chúa mà mọi Kitô hữu vừa gia tăng đức tin, vừa can đảm loan báo Tin mừng cho môi trường sống của mình.

2. Bài đọc II: 1Pr 3,15-18

Sự trình bày niềm hy vọng Kitô giáo

Thánh Phêrô viết thư cho những anh chị em Kitô hữu đang phải đương đầu với những vu khống, những bách hại, khuyên nhủ họ hãy bày tỏ trong mọi hoàn cảnh cuộc sống dấu chứng của niềm tin và sự hy vọng của mình.

a. Kitô hữu phải thể hiện bản tính và sự ngay thẳng của mình: lời nói và lòng nhiệt thành của mình luôn là những dấu chỉ sống động của niềm hy vọng đang tác động nơi bản thân.

b. Giống như Chúa Giêsu, Kitô hữu cũng phải biết dựa vào chính sức mạnh của Thánh Thần, sống hiền từ, nhẫn nại, kính cẩn, không đáp trả lại bạo lực bằng sự nóng giận và bất chính.

c. Bị tra vấn về niềm tin và lý lẽ của đức tin, Kitô hữu cần phải sẵn sàng ứng dụng nơi chính mình cách rõ ràng và khách quan những giá trị của niềm tin, phải biết đáp trả bằng chính đời sống ngay thẳng của mình.

3. Tin mừng: Ga 14:15-21

Chúa Giêsu an ủi các Tông đồ

Trước khi đi vào cuộc thương khó và tử nạn, Chúa Giêsu an ủi các môn đệ, trấn an các ông, đồng thời hứa không để các ông đơn độc như những kẻ mồ côi. Người hứa ban Thánh Thần cho các ông.

a. Đoạn này là một phần trong diễn từ biệt ly. Diễn từ này mang chủ đề chính là sự ra đi và trở lại của Chúa Giêsu. Người sắp rời bỏ các môn đệ để đi vào cuộc thương khó và tử nạn. Sự ra đi này là để trở về với Chúa Cha, tôn vinh Chúa Cha và tôn vinh chính Người.

b. Trong diễn từ này Chúa Giêsu hứa ban cho các môn đệ một Đấng Phù Trợ khác để ở với các ông luôn mãi. Tước hiệu Đấng Phù Trợ không thấy xuất hiện ở đâu khác trong Tân ước ngoại trừ nơi Gioan. Ngài chính là Chúa Thánh Thần, thay thế Chúa Giêsu. Ngài sẽ bảo trợ, nâng đỡ, hướng dẫn cho các môn đệ, cho Giáo hội trong suốt thời gian từ khi Chúa Giêsu về trời cho đến khi Người trở lại trong vinh quang.

c. Bản văn này cho thấy sự hiệp nhất giữa Chúa Giêsu, qua đó với Ba Ngôi Thiên Chúa và các Kitô hữu. Thầy ở trong Cha Thầy, các con ở trong Thầy và Thầy ở trong các con. Cuộc sống Kitô hữu là cuộc sống thông hiệp với Ba Ngôi Thiên Chúa trong Chúa Giêsu.

II. GỢI Ý BÀI GIẢNG

1. Trong Chúa Giêsu, chúng ta được hiệp thông với Ba Ngôi Thiên Chúa: Tin mừng hôm nay cho chúng ta thấy có một sự hiệp thông giữa con người với Thiên Chúa qua Chúa Giêsu. "Thầy ở trong Cha Thầy, các con ở trong Thầy, Thầy ở trong các con". Với những lời này, Chúa Giêsu cho chúng ta thấy một sự gắn bó nên một với Thiên Chúa trong chính Người. Nói cách khác, qua Người các môn đệ được gắn bó với Thiên Chúa Ba Ngôi. Toàn bộ sứ điệp của Chúa Giêsu trong Tin mừng hôm nay cho thấy sự hiện diện và cư ngụ của Ba Ngôi Thiên Chúa nơi bản thân các môn đệ. Chúa Thánh Thần, Đấng Bầu Chữa được Chúa Cha ban đến ở trong các môn đệ Chúa Giêsu. Ba Ngôi Thiên Chúa chủ động đến hiện diện và đồng hành với nhân loại, một sự hiện diện mật thiết nên một. Sự hiện diện của Ba Ngôi làm nên sức sống, tình yêu và sức mạnh cho những ai tin theo Chúa Giêsu.

Với mỗi Kitô hữu, cần phải ý thức rằng cuộc đời của mỗi người luôn gắn bó với Thiên Chúa Ba Ngôi, sống nhờ Ba Ngôi, trong Ba Ngôi. Điều này đòi hỏi mỗi người trong đời sống đức tin của mình phải biết hành động, biết ăn nói, biết sống… theo đúng phẩm giá của những người có Thiên Chúa cư ngụ. Đồng thời, cũng phải rèn luyện nhân đức, trau dồi đức tin, thực thi đức ái để ngày càng xứng đáng là nơi Thiên Chúa Ba Ngôi cư ngụ.

2. Yêu thương là điều kiện đòi buộc để được hiệp thông với Ba Ngôi: Chúa Giêsu khẳng định: "Ai yêu mến Thầy sẽ được Cha Thầy yêu mến và Thầy sẽ yêu mến nó và sẽ tỏ mình ra cho nó". Ở nơi khác Người cũng từng nói: "Ai yêu mến Thầy thì Thầy và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy và sẽ đến ở trong người ấy". Như thế, với Chúa Giêsu, yêu thương chính là điều kiện để được Ba Ngôi Thiên Chúa đến cư ngụ. Nhờ tình yêu, con người mới có khả năng đi vào trong sự hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi. Đây cũng là điều dễ hiểu vì Thiên Chúa là tình yêu. Nơi đâu có Thiên Chúa nơi đó có tình yêu và nơi đâu yêu thương đầy thì Thiên Chúa sẽ ngự đến.

Yêu thương là điều răn quan trọng nhất để trở nên môn đệ của Chúa Giêsu, và cũng chính tình yêu phản ánh rõ nét nhất, trung thực nhất phẩm chất người môn đệ Chúa Giêsu. Mỗi người nhờ yêu thương mà nên một với Thiên Chúa Ba Ngôi. Càng gắn bó với Thiên Chúa Ba Ngôi càng gia tăng tình yêu nơi bản thân. Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi Kitô hữu hãy nhìn lại tình yêu của mình trong đức tin.

III. LỜI NGUYỆN TÍN HỮU:

Mở đầu: Anh chị em thân mến, Thiên Chúa luôn yêu thương đến hiện diện và đồng hành cùng chúng ta trong cuộc sống. Trong niềm hân hoan, chúng ta cùng dâng lời cầu xin:

1. Giáo hội chính là dấu chỉ hữu hình nơi Thiên Chúa Ba Ngôi hiện diện. Chúng ta cùng cầu nguyện cho đời sống của Giáo hội luôn đồng hành với nhịp sống của thời đại để chia sẻ niềm tin và hy vọng cũng như sự sống của Chúa cho con người và thế giới hôm nay.

2. Thiên Chúa luôn hiện diện an ủi, nâng đỡ và ban muôn ơn cần thiết cho con người. Chúng ta cùng cầu nguyện cho những anh chị em nghèo khổ bất hạnh trong cuộc sống tìm được sự nâng đỡ nơi những tấm lòng hảo tâm và quảng đại của mọi người chung quanh.

3. "Ai nhận các luật Thầy truyền và giữ các luật đó thì là người yêu mến Thầy". Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta luôn nỗ lực sống và thực thi lời Chúa.

Lời kết: Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi giàu lòng thương xót. Chúng con vui mừng cảm tạ Chúa luôn hiện diện cùng chúng con trong cuộc sống. Xin gia ân nâng đỡ chúng con, để tất cả biết diễn đạt tình yêu Chúa bằng chính cuộc sống bác ái hy sinh của mình. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.

Hành Trang Mục Vụ - Khoá 10 ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn