Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật VI Thường Niên A

Tin mừng Mt 5: 17- 37 Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo thì phải bị lửa hỏa ngục thiêu đốt...
CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT VI MÙA TN NĂM A


(Mt 5:17-37)



Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

 
KIỆN TOÀN LỀ LUẬT VÀ ĐỨC CÔNG CHÍNH MỚI (Mt 5: 17- 37)

CÂU HỎI GỢI Ý

1. "Làm trọn Lề luật" (5, 17) có nghĩa là gì? Phải hiểu thế nào các "tương phản" (5, 21. 27. 31. 33. 38. 43) sau khi đọc đoạn khai triển về việc làm trọn Lề luật (5, 17- 20)? Chúa Giêsu kiện toàn "điều đã được nói cho người xư'a "ở điểm nào? Đâu là sự "dư dật" của đức công chính được đề ra (c. 20)?

2. Hãy nêu lên trong Tin Mừng những cử chỉ Chúa Giêsu tỏ cho thấy Người không đến bãi bỏ Lề luật: ví dụ đối với Đền Thờ, việc nộp thuế, lễ Vượt Qua, việc chúc lành các bữa ăn, kinh nguyện hằng ngày, chính quyền, việc hành hương Giêrusalem v.v...

3. Theo nghĩa nào Chúa Giêsu đã giải phóng Lề luật khỏi các khoản thêm thắt của Biệt phái đã khiến mục đích chân chính của Lề luật bị đổi hướng?

4. Có thể ly dị vợ trong trường hợp gian dâm không? Khoản luật này có nghĩa gì? Phải chăng đây là một luật trừ?

1. Sau khi kêu gọi môn đồ và dân chúng, trong các câu dẫn nhập vào Diễn từ, bằng cách phác họa cho họ thấy dung mạo con cái Nước Trời, Chúa Giêsu lập tức đề phòng một ngộ nhận: điều Người loan báo có thể xem như bãi bỏ Cựu ước (được gọi dưới cái tên Lề luật - tức bộ Ngũ Thư - và các Ngôn sứ tức là toàn thể các sách linh ứng khác), nhưng kỳ thực là không: Người không đến bãi bỏ, song để làm trọn, kiện toàn. Việc hoàn tất ấy nhắm lới Thánh Kinh xét như là tuyển tập các sấm ngôn mà Chúa Kitô đến thực hiện, và xét như là tuyển tập các luật lệ diễn tả thánh ý Thiên Chúa, mà Chúa Kitô đến kiện toàn.

2. Một trong các bản tuyên tín cổ xưa nhất, có lẽ từ khoảng năm 35- 40, quả quyết như sau: "Chúa Kitô đã chết vì tội lỗi ta, theo lời Thánh Kinh. Người đã bị chôn cất, đã sống lại ngày thứ ba, theo lời Thánh kinh" (1Cr 15, 3- 5). Niềm xác tín Chúa Kitô hoàn tất Thánh Kinh như vậy đã ăn sâu vào tâm thức Kitô hữu. Nó cấu thành niềm tin của cộng đoàn nguyên thủy, và là trọng tâm của việc họ hiểu Lời Chúa. Nhờ việc hoàn tất này, Giáo Hội xuất hiện như là đích điểm của chuyển động lịch sử mà Thiên Chúa đã lèo lái, và Chúa Kitô tỏ ra như là trung tâm bảo đảm sự duy nhất của Thánh Kinh. Người là Đấng "đã được nói đến trong Lề luật Môisen và các ngôn sứ " (Ga 1, 45): Tin lời Thánh Kinh tức là tin và Người: Vì chính về Ta mà Môisen đã viết" (Ga 5, 45). Và suốt cuốn Tin Mừng, Mt đã chú tâm làm nổi bật việc Chúa Kitô hoàn tất Thánh Kinh như vậy.

3.Nhưng nếu Chúa Giêsu đến hoàn tất các sấm ngôn, thì Người cũng đến trình bày một cái nhìn đúng đắn hơn về tinh thần được tiềm ẩn dưới các giới lệnh chính thức của Lề luật. Ngoài ra, công cuộc kiện toàn này còn có đặc điểm là tinh thần Tin Mừng nay thấm nhập vào pháp chế cổ xưa, là cái có mục đích chuẩn bị sự nẩy nở của Tin Mừng. Như nụ hoa kết liễu và biến mất trong đóa hoa, Cựu ước cũng nở ra trong Tân ước. Thay cho văn tự ngột ngạt đè nén, này đây tinh thần đến giải phóng con người.

Các kiểu so sánh Chúa Giêsu dùng - không một chấm một. phết của Lề luật sẽ bị biến mất - thoạt nhìn tưởng là có nghĩa duy trì hoàn toàn bộ luật Cựu ước bao lâu còn vũ trụ ("trời và đất", thành ngữ cổ điển). Nhưng các ví dụ đưa ra đi ngược lại và cho thấy Người không nhằn bảo tồn chất thể tính của các giới lệnh. Người chỉ duy trì chúng bằng cách vượt trên chúng. Không phải bằng cách chồng chất thêm điều khoản, như nhóm Biệt phái và tiến sĩ luật đã làm, song là đưa vào một não trạng có tính cách tôn giáo hơn, khả dĩ làm nổ tung các khuôn khổ cũ (9, 16- 17) mà vẫn không hủy diệt các giới răn. Đây chẳng phải là việc phá hủy, song là đổi mới canh tân. Toàn bộ đóng góp tích cực về tôn giáo của Cựu ước đều được duy trì, gạn lọc khỏi các thể chế lỗi thời và thối nát.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

"Không một chấm một phết": Phải giải thích câu này trong cái nhìn toàn bộ Tin Mừng Mt. Nếu Chúa Giêsu muốn đề nghị ở đây một sự tuân hành mặt chữ Lề luật, Người sẽ trực tiếp mâu thuẫn với thái độ của chính mình, vì xem ra Người đã chẳng giữ đúng các khoản luật nhỏ nhặt của Cựu ước, nhất là khoản về thu nhập và tinh sạch theo lễ nghi (15, 3; 19, 17; 22, 36. 38. 40 v.v...), hơn nữa Người sẽ mâu thuẫn với lời giảng huấn của mình, vì trong các ví dụ sau đó, Người sửa đổi Lề luật trên nhiều điểm quan trọng như khoản luật về ly dị của Đnl 24, 1. Do đấy phải xem thành ngữ của Chúa Giêsu là một kiểu nói Do thái, đặc biệt của các giáo sĩ, nhằm làm nổi bật uy quyền tuyệt đối và trường tồn của Lề luật, nhưng là một Lề luật đã được giải thích lại, được gạn lọc khỏi các yếu tố lỗi thời, được kiện toàn nhờ tinh thần tình yêu sinh dộng nó. Thứ Lề luật đã được chú giải lại như thế phù hợp với chủ ý nguyên.

thủy của Thiên Chúa, là Đấng đã ban nó cho Môisen đầu tiên. Chính trong chiều hướng ấy mà ta có thể xác quyết tính cách bền vững của Lề luật: trời đất sẽ qua đi nhưng thánh ý Thiên Chúa sẽ không qua bao giờ.

"Một trong những điều răn nhỏ hèn nhất": Một lần nữa, đây không phải là bắt chước việc giữ luật theo mặt chữ của Biệt phái. Khi đã lưu ý đến văn mạch của Diễn từ, chớ quên rằng từ đây Luật chẳng phải là luật Môisen đối nghịch với tinh thần mới, nhưng là Luật Thiên Chúa với sự viên mãn mà Chúa Giêsu đã thực hiện. Nên so với Lề luật diễn tả thánh ý Chúa Cha và được Chúa Giêsu giải thích lại như thế, thì các điều răn phụ tùy cũng có giá trị riêng của chúng. Ở đây nhấn mạnh đến việc thực hành Luật Tin Mừng, có lẽ vì muốn ám chỉ tới nhóm Biệt phái "nói mà không làm" (23, 3). Lối giải thích này được xác nhận bởi cách đặt tiếp liên các động từ ("phạm - dạy... làm- dạy"); đặt việc vi phạm hay thi hành điều luật trước, và việc dạy dỗ ra sau trong cả hai lần.

Câu 20 phát biểu chủ đề của những điều sẽ nói: "'Nếu đức công chính của các ngươi không dư dật hơn ký lục và Biệt phái...". Lời tuyên bố long trọng này sau đấy được minh giải qua 6 ví dụ cụ thể, trong đó Chúa Giêsu đối chiếu lời Người tái giải thích Lề luật với giáo huấn chính thức của Do thái giáo. Tất cả các ví dụ đều được kết cấu theo một kiểu như nhau: trích dẫn một điều luật đoạn đề ra các yêu sách mới ("Ta bảo các ngươi..."). Sáu ví dụ này là: giết người (cc.21- 26), ngoại tình (cc. 27- 30), ly dị cùng tính cách bất khả phân ly của hôn nhân (cc.31- 32), thề thốt (cc.33- 37), báo thù (cc.38- 42) và yêu kẻ thù nghịch (cc.43-47). Trong cả 6, sự công chính mà Chúa Giêsu rao giảng tỏ bày ra một cách sâu xa và hiện thực.

Từ luật cấm giết người (c. 21), Chúa Giêsu đi qua các yêu sách của bác ái: không nhục mạ tha nhân (c.22), song hãy làm hòa với họ. Đối với Mt, tính cách mới mẻ của Kitô giáo phát xuất từ trực giác căn bản Chúa Giêsu đã mặc khải cho môn đồ: đó là sự kiện tất cả chúng ta đều là con cái của Cha trên trời. Và sự kiện chủ yếu này đưa tới một hệ luận quan trọng: mọi người là anh em. Trước đó Chúa Giêsu đã nhấn mạnh đến điểm thứ nhất, đã luôn luôn quy chiếu về Thiên Chúa như là Cha từ đầu đến cuối Diễn từ. Ở đây Người chạm tới điểm 2, khi dùng chữ anh em 4 lần trong các câu 22- 24.

Trong mấy câu 22-24, chở đi tìm các phân biệt theo kiểu giải nghi học xa lạ với não trạng của Chúa Giêsu. Thực ra, Người chỉ muốn sử dụng những phạm trù pháp lý của môi trường mình và kiểu nói của các giáo sĩ, để kết án sự giận hờn như là một hành động giết người, dù nó xuất hiện dưới hình thức nào đi nữa. (Về ý nghĩa các chữ "đồ ngốc", "đồ khùng", "tòa án", "công nghị", xin xem chú thích của BJ).

"Khi ngươi dâng của lễ nơi bàn thờ": Câu này không rõ ràng mấy về chi tiết. Có thể là người sắp dâng hy lễ đã làm phật lòng tha nhân, hay tha nhân đã tức giận người dâng lễ (có duyên cớ hay không, bản văn chẳng xác định gì). Giả thuyết thứ hai có vẻ đúng hơn, vì người dâng lễ đã ở bên bàn thờ khi sực nhớ lại: điều này minh chứng cơn giận không ở trong lòng anh ta nhưng cái đó chẳng quan trọng; điều đáng kể là trong hai trường hợp, thiện ích của sự bình an đòi hỏi ta phải tìm cách giải hòa với nhau, trước khi trình diện trước mặt Thiên Chúa. Đó là sự tế nhị của lòng bác ái Chúa Giêsu mà ta không mấy thích, vì nhiều khi mình là đối tượng của một sự hờn oán bất công. Câu tiếp theo (c. 25) trình bày một dụ ngôn tiềm ẩn nhằm cụ thể hóa lời giảng huấn đi trước: cũng như người ta tìm cách thỏa thuận với chủ nợ để khỏi gặp cảnh khốn khổ hơn, thì cũng vậy phải tìm cách giải hòa gấp với nhau để tránh thoát hình phạt của Thiên Chúa. Ý tưởng sau chỉ được hiểu ngầm thôi, tuy nhiên cung cách long trọng của c. 26 gợi lên điều đó.

Về vấn đề ngoại tình (cc. 27- 30), tính cách triệt để của Lề luật được đặc biệt nhấn mạnh: người Kitô hữu chẳng những sẽ không phá vỡ tổ ấm của anh em mình qua việc lấy vợ anh em, mà còn không được để phát sinh trong lòng mình ý muốn phá vỡ đó. Sự toàn vẹn của tổ ấm gia đình phải vượt lên ngay cả trên sự toàn vẹn thể lý, là cái gì rất quý đối với con người, vì con mắt giúp đi đứng, còn tay chân lại giúp hành động. Đây là kiểu nói đại ngôn cho thấy phải coi trọng đến độ nào yêu sách tuyệt đối của Lề luật. Truyền thống giáo sĩ cũng đi theo chiều hướng ấy.

"Trừ phi là nố dâm bôn": Câu này (được Mt 19, 9; Mc 10, 11- 12; Lc 16, 18 bổ túc) không phải là dễ hiểu, vì nó nại đến nhiều ý niệm pháp lý mà ta chẳng còn quán triệt được ý nghĩa đích xác. Dù sao đại ý vẫn rõ ràng: sự bao che của luật Môisen, được bảo đảm nhờ ly thư, trở nên thất liệu trong lời Chúa Giêsu tái giải thích Lề luật. Kết luận tổng quát này dựa trên các lý chứng sau đây:

1. Toàn bộ Diễn từ cho thấy Chúa Giêsu muốn vượt quá Lề luật cho đến bây giờ hãy còn hiệu lực. Thế mà trong trường hợp hôn nhân, dù công nhận sự vô hạnh (gian dâm) như là luật trừ, Người vẫn không đi xa hơn mấy lập trường của Shammai, một giáo sĩ Do thái đương thời.

2. Trong Mt 5- 7, cũng như các chỗ khác, ta chẳng hề thấy Mt phát biểu một sự chế hạn nào đó khi ghi lại một huấn thị luân lý của Chúa Giêsu; thực vậy, các bản văn ấy cho thấy Người rõ ràng không muốn sa vào lối phân biệt các nố đặc biệt như các giáo sĩ thường làm, mà chỉ nhắc lại cách đại cương trật tự sáng tạo Thiên Chúa đã thiết lập.

3. Mc và Lc không nói đến điều khoản này. Khó mà nghĩ rằng hai ông đâ bỏ qua một lời tuyên bố thật sự biến đổi nguyên tắc bất khả phân ly của hôn nhân.

4. 1Cr 7, 10- 11, lời giải thích xưa nhất về câu nói của Chúa mà Phaolô cũng biết, xác nhận luật cấm tuyệt đối không được ly dị (tuy nhiên câu 11 nói đến trường hợp ly thân mà không tái giá).

Do đó không thể chủ trương rằng trong tâm trí Chúa Giêsu, việc ngoại tình làm thành một luật trừ, như người Tin lành và Chính thống giáo vẫn kết luận từ điều khoản đó (tuy nhiên có nhiều thần học gia Tin lành mới đây đã chấp nhận cách đại cương lời kết luận của chúng tôi). Thế nhưng các nhận xét trên đây không phải là lời chú giải điều khoản của Mt. Muốn tìm hiểu, xin khảo cứu các sách chú giải chuyên môn và các bài đăng trong tạp chí.

"Ta bảo các ngươi đừng thề thốt chi cả": Lời nghiêm cấm này xem ra tuyệt đối đến nỗi nhiều giáo phụ đã lên án mọi sự thề hứa, cũng như có nhiều giáo phái Tin lành từ chối không tuyên thệ bất cứ điều gì. Để không lại ý kiến họ, ta có thể trưng ra sự kiện thánh Phaolô (Rm 1, 9; 2 Cr 1, 23; 11, 31; Ga1 1, 20; Pl 1, 8 ) và việc thực hành trong Giáo Hội: Giáo Hội không những cho phép thề trước các tòa án, mà còn buộc phải thề trong một vài trường hợp nữa (vd thề chống Duy tân chủ nghĩa). Điều đó giả thiết lời nghiêm cấm của Chúa Giêsu không có tính cách tuyệt đối. Người muốn nói (thánh Agustinô) trong lời thề tự nó không phải là một điều tốt. Nó phải biến mất khỏi một cộng đoàn xã hội được tổ chức theo tư tưởng của Chúa Giêsu. Chỉ khi gặp trường hợp đáng tiếc và nghiêm trọng mới nên thề. Để quán triệt tư tưởng của Chúa Giêsu, ta phải xét nó trong hoàn cảnh cụ thể của nó. Các thính giả của Chúa Giêsu là những người không phải bận tâm về tính cách chính đáng trên lý thuyết của một lời thề quy định bới quyền bính dân sự hay tôn giáo. Họ sống trong một môi trường mà văn từ của Lề luật, theo lối chú giải của Biệt phái, coi như đi đôi với một sự lạm dụng quá trắng trợn, với một sự biến đổi rõ ràng tâm tình đạo đức. Chúa Giêsu đưa ra một hướng đi quyết liệt, Người tình bày điều duy nhất phù hợp với danh dự của Thiên Chúa và phẩm giá con người, làm quy luật mà các môn đồ Người phải theo trong các hoàn cảnh sống thông thường. Nền tảng của quy luật thực tiễn này là: con người không được dùng lời mình để cam kết cái điều thuộc về Thiên Chúa; đó sẽ là một toan tính bắt Thiên Chúa phục vụ mình, một toan tính rõ ràng là vô ích phù phiếm, vì con người không thể thay đổi ngay cả màu sắc tóc mình, theo nghĩa là không thể làm mình trẻ hơn hay già hơn được.

KẾT LUẬN

Việc Chúa Giêsu tái giải thích Lề luật luôn luôn được thực hiện trong cùng một chiều hướng: khi triệt để hóa Lề luật, vượt trên mọi toan tính phân tích từng nổ nhằm giảm thiểu yêu sách của nó, Người hoàn lại cho nó chiều hướng nguyên thủy là làm cho con người trở nên huynh đệ hơn, tôn trọng nhau hơn, trung thành hơn với các lời cam kết và tình yêu, ngay chính hơn đối với anh chị em mình.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1.Con người luôn luôn bị cám dỗ rơi vào não trạng nệ luật, là não trạng bao giờ cũng dễ dàng vì gây cho ta một sự an lòng: ta vững tâm cho rằng mình sống đúng luật đối với Thiên Chúa và tha nhân, một khi làm tròn một quy luật nào đó. Nhưng Chúa Giêsu mời ta vượt qua các tính toán so đo ấy để đi vào bình diện tình yêu. Và mức độ của tình yêu là yêu không mức độ.

2. Chúa Giêsu không chỉ hài lòng với việc chu tất hay kiêng cữ bên ngoài. Người đi tìm con người tận trong căn nguyên hành vi của họ, tận trong tư tưởng, ước muốn, ý hướng của họ: "Ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết sức hết linh hồn ngươi ".

3.Khi ban Thập điều cho Israel, Thiên Chúa đã dẫn Israel bước một bước dài trong quá trình tiến bộ về mặt luân lý: so sánh với luật rừng hay tình trạng man rợ, luật Môisen tượng trưng cho một bước tiến đáng kể cho lương tâm con người. Tuy nhiên Thiên Chúa cũng lưu ý đến sự yếu đuối của dân Israel và đến các phong tục hãy còn thô lậu của thời đại: như một nhà sư phạm khôn ngoan, Ngài đã thích ứng các yêu sách của Ngài với não trạng hãy còn thô lỗ của dân, chấp nhận nhượng bộ việc ly dị, trả thù v.v... Đó là thời kỳ thơ ấu của Israel, thời kỳ tập luyện. Nhưng Thiên Chúa đã yêu thương tạo vật đến nỗi không muốn duy trì nó trong sự sống tầm thường. Vì thế Ngài đã sai phái Con Một Ngài để Người hoàn tất công trình Ngài và dẫn đưa con người đến tình yêu hoàn hảo. Đây là một sự liên tục đáng khâm phục trong chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa.

Noel Quession - Chú Giải

CHÚA NHẬT VI THƯỜNG NIÊN

Mt 5:17-37

 
Sau các mối Phúc thật, là phần dẫn nhập. Bài giảng trên núi được tiếp tục trong ba chương dài trong đó Mát-thêu trước hết tập họp sáu phần đề giữa Luật của Mô-sê ("Anh em đã nghe Luật dạy rằng ") và Luật mới của Đức Giêsu (Thầy bảo thật cho anh em biết..). Chúa nhật này, chúng ta, đọc bốn phân đề đầu tiên, đi trước bằng một soạn mở đầu đem lại định hướng tổng quát cho cả bài đọc.

Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ lề luật Môsê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ nhưng là để kiện toàn".

Đức Giêsu không phải là một nhà cách mạng muốn thay đổi mọi sự như thế quá khứ đã không tồn tại, để bắt đầu lại từ con số không?.. cũng không phải là một nhà bảo thủ không muốn thay đổi gì cả như thể. mọi việc trong quá khứ luôn luôn hoàn hảo… chúng ta chớ quên rằng Tin Mừng của Thánh Mát-thêu được gởi đến các cộng đoàn Kitô hữu, ở Pa-lét-tin và Ki-ri theo Kitô giáo từ đạo Do Thái. Những câu hỏi về các sự "tiến hóa" được trình bày với nhiều sự kịch liệt: có nên bảo vệ các tập tục cắt bì cho các em nhỏ không bởi vì giờ đây đã có phép rửa tội? Có nên tiếp tục tôn trọng ngày Sa-bát. không? Có nên tiếp tục chỉ ăn thức ăn "theo đúng nghi lễ" không? Vấn đề tiến hóa, tiến bộ lịch sử ấy vẫn còn là một trong những vấn đề quan trọng nhất của mọi thời đại. Trong những thời kỳ lịch sử biến động, những cuộc xung đột giữa "cũ và mới", giữa "truyền thống" và "tiến bộ" trở nên quá khích... Và điều đó được đặt ra ở khắp nơi: trong Giáo Hội, trong thành phố, trong chính trị trong nghề nghiệp, trong gia đình. Đối với Đức Giêsu, không có vấn đề bãi bỏ quá khứ, cũng không có việc bảo tồn nguyên xi mà phải cho nó một sự sống mới, trong một thành tựu. Không phải vì truyền thống cổ xưa mà nó tốt. Không phải vì một ý tưởng mới mà nó tốt hơn: Đức Giêsu sẽ cho chúng ta sáu ví dụ trong phần nối tiếp của Bải giảng trên núi…

"Vì Thầy bảo thật ảnh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm, một phết trong Lề Luật cũng không thể đi được, cho đến khi mọi sự được hoàn thành. Vậy ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm như thế thì sẽ bị gọi là bé nhỏ nhất trong Nước Trời. Còn ai tuân hành và dạy làm như thế, thì sẽ được gọi là lớn trong Nước Trời".

Theo Đức Giêsu, Kitô giáo đến để hoàn thành Do Thái giáo Tân ước là một chồi ghép hoàn toàn mới được nuôi bằng nhựa của cây ô-liu cũ tức "Cựu ước", để làm cho cây sinh ra nhiều quả (Rô-ma 11, 17-24) Vâng Đức Giêsu là Đấng được loan báo và chuẩn bị, Đấng đến để kiện toàn Luật và lời các ngôn sứ nghĩa là toàn bộ Kinh Thánh. Ap –ra-ham, Mô-se, Đa-vít, I-sai-a, các Thánh vịnh, các Hiền nhân, toàn bộ lịch sử và tư tưởng của It-ra-en sẽ trổ hoa và phát triển trong Đức Giêsu.

" Giêsu, Thầy bảo cho anh em biết, nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pha-ri-sêu, thì sê chẳng được vào Nước Trời".

Công thức này phát triển nguyên tắc tổng quát mà sáu phản đề mà Đức Giêsu sắp triển khai sẽ đem lại sự minh họa.

Sự công chính là một từ' ngữ Kinh Thánh rất phong phú mà Mát-thêu ưa thích một cách rất đặc biệt (Mát-thêu 1,19; 3,15; 5, 6.1 0 -20; 6, 1. 33; 9, 1 3; 10, 4 1; 11, 1 9; 12, 37; 13,17-43-49; 20,4; 21,32; 23,28.29.35; 25,37.46; 27,19.24). Từ "công chính" này không chỉ có ý nghĩa hạn hẹp mà ngôn ngữ hiện đại cho nó: sự Công bằng xã hội điều hành những tương quan giữa con người với nhau "sự công chính" theo nghĩa Kinh Thánh chủ yếu là "theo đúng điều mà Thiên Chúa muốn chúng ta trở thành". Một người công chính là người hoàn toàn đồng ý, cộng sinh,liên minh, hòa hợp với Thiên Chúa, Đấng suy nghĩ và thiết lập vũ trụ và điều hành nó với sự thông minh kỳ diệu. Người công chính, bởi "sự tương ứng" của đời sống người ấy với ý muốn của Thiên Chúa, sẽ tham dự vào Thiên Chúa và đi đến hạnh phúc, nghĩa là đến "mục đích vì đó mà người ấy được sinh ra". Vả lại Đức Giêsu đề nghị một sự "công chính mới", một sự hoàn thiện con người mới. Đức Kitô nói phải vượt qua sự công chính... vậy của ai nào?

- Các kinh sư những nhà thần học của thời đại ấy, những nhà chú giải Kinh Thánh, những vị thầy có chục vị, những giáo trưởng dạy đạo một cách chính thức…Các người "pha-ri-sêu (Biệt phái những giáo dân dấn thân của thời đại ấy, liên kết với nhau trong một "phong trào" của những người nhiệt thành, cố gắng sống mọi yêu sách của đức tin thuần túy nhất không để thanh danh bị tổn hại.

Làm thế nào các môn đệ của Đức Giêsu, những con người nghèo khổ và đơn sơ, không học vấn lại có thể so sánh với những học giả và các chuyên viên nhiệt tình của Lề Luật?

Ba ví dụ đầu tiên về sự "trội hơn" mà Đức Giêsu đề nghị là hoàn toàn có ý nghĩa và chủ yếu cho cả đời người:

1) Bạo lục, những mối tương quan sức mạnh giữa con người..

2) Tính dục, những tương quan tình cảm và thể xác giữa đàn ông và đàn bà...

3) Chân lý, những tương quan lắng nghe và đối thoại trong sự truyền thông…

BẠO LỰC:

"Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng: "Chớ giết người". Ai giết người thì đáng bị ra tòa. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: " ai giận anh em mình, thì phải bị đưa ra tòa. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc thì phải bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo thì phải bị lửa hỏa ngục thiêu đốt. Vậy nếu khi anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã; rồi trở lại dâng lễ vật của mình. Anh hãy mau mau dàn xếp với đối phương, khi còn đang trên đường đi với người ấy tới cửa công, kẻo người ấy nộp anh cho, quan tòa, quan tòa lại giao cho thuộc hạ, và anh sẽ bị tống ngục. Thầy bảo thật cho anh biết: anh sẽ không ra khỏi đó, trước khi trả hết đồng xu cuối cùng...".

Đây là "môi trường" thứ nhất mà con người phải trội hơn; môi trường của những mối tương quan nhân loại có xung đột và gây gỗ. Đức Giêsu biết rõ lòng dạ con người, trước khi trở thành những hành động xấu thì thù hận, sự khinh khi, bản năng thống trị đã làm hư hỏng tâm hồn con người. Bạo lực không chỉ là quả bom của kẻ khủng bố làm cho bạn kinh hoàng... bạo lực đã ở trong lòng bạn, khi bạn tức giận trong lòng chống lại những người không suy nghĩ như bạn. Và Thiên Chúa bảo đảm:cho phẩm chất các mối quan hệ của bạn: bạn phải "hòa giải" với kẻ thù của mình trước khi cầu nguyện! đó là cái mới mẻ, cái triệt để của Tin mừng... trong tương quan với luật cũ.

TÍNH DỤC:

Anh em đã nghe Luật dạy rằng: "Chớ ngoại tình Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngọai tình với người ấy rồi. Nếu mắt phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc mà ném đi, vì thà mất mộ phần thân thể, còn hơn là toàn thân bị ném vào hỏa ngục. Nếu tay phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy chặt mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân phải sa hỏa ngục... Luật còn dạy rằng: "Ai rẫy vợ thì phải cho họ chứng thư ly dị". Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ngoại trừ trường.hợp hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ là đẩy vợ đến chỗ ngoại mình, và ai cưới người đàn bà bị rẫy, thì cũng phạm tội ngoại tình..".

Những quan hệ giữa "đàn ông" và "đàn bà" là "môi trường" thứ hai trong đó Đức Giêsu mời gọi chúng ta "trội hơn" Lề Luật. Trước tiên chúng ta hãy ghi nhận rằng lời của Đức Giêsu nói ra là theo "quan điểm" của đàn ông, bởi vì xã hội thời Người, là một xã hội của đàn ông. Rõ ràng ngày hôm nay phải đọc những lời ấy trong sự hỗ tương trọn vẹn. "Mọi người đàn bà bỏ rơi chồng mình …

Những lời này của Đức Giêsu, liên quan đến tính dục của bạn, vợ chồng bạn, đời sống độc thân của bạn... bạn hãy đọc lại những lời ấy, như thể Đức Giêsu nói với chính bạn, mặt đối mặt. Những lời này đụng đến nhiều vết thương còn đau nhức, nhiều lý tưởng bị nhạo báng, nhiều ước mơ không được thực hiện đến nỗi có lẽ cần được giải thích đôi chút. Những cuộc tranh luận về "ngoại lệ của Mat-thêu" trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp) rất khó chỉ rõ, và tốt hôn hết là tham khảo đến những lời ghi chú của Kinh Thánh có ghi nhận về các cách hiểu về ngoại lệ ấy.

Tuy nhiên mỗi người chúng ta phải đón nhận lời yêu cầu của Đức Giêsu như một lưỡi gươm.: Trong thế giới sự phi nhân mà chúng ta đang sống; những lời ấy của Đức Giêsu quả là thúc bách và dường như đi ngược lại với sự phát triển của đàn ông và đàn bà. Thật vậy, trong đáy lòng, chúng ta nhận biết những lời ấy xác định đường lối duy nhất và thật dũng cảm của việc phát triển thật sự. Cũng không nên hiểu những lời ấy như những điều quy định về luật pháp: Sự "'trội hơn" Luật mà Đức Giêsu đề nghị chỉ có thể sống... với Người, với ân sủng và tình yêu của Người..

CHÂN LÝ:

"Anh em còn nghe Luật dạy người xưa rằng: "Chớ bội thề, nhưng hãy trọn lời thề với Đức Chúa". Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: đừng thề chi cả. Đừng chỉ trời mà thề, vì đất là bệ dưới chân Người. Đừng chỉ Giêrusalem mà thề, vì đó là thành của Đức Vua cao cả. Đừng chỉ lên đầu mà thề, vì anh không thể làm cho một sợi tóc hoá trắng hay đen được. Nhưng hễ "có" thì phải nói "có", "không" thì phải nói "không". Thêm thắt điều gì là do ác quỷ…".

Đây là những lệnh truyền của Đức Giêsu mang tính hiện đại rất cao. Đây hoàn toàn là vấn đề hiệp thông giữa con người với nhau. Những tương quan của con người bị làm hư hỏng từ bên trong bởi sự lừa bịp, bởi thủ đoạn, sự giả vờ, sự giả mạo, quỷ quyệt, dối trá…sự quảng cáo và thông tin thương mại…Đức Giêsu mời bạn đến với chân lý của cuộc "đối thoại", các cuộc đàm luận của chúng ta. Tìm một sự bảo đảm bên ngoài trong một lời thề là một điều vô ích (tôi thề với anh tôi nói sự thật!) lời nói của một con người, lời nói của bạn tự nó phải có một giá trị: hễ có thì phải nói có, không thì phải nói không…Đức Giêsu tạo ra một "nền đạo đức" mới. Người không bãi bỏ gì cả, người "kiện toàn" từ trong nội tâm điều mà tự nền tảng là lý tưởng của mọi chủ nghĩa nhân bản chân chính.

Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

"Người xưa đã bảo như thế, còn Ta, Ta bảo các con thế này".

BÀI TIN MỪNG: Mt 5,17-37

I. Ý CHÍNH:

Bài Tin Mừng hôm nay ghi lại việc Chúa Giêsu xác định mối tương quan giữa Ngài với luật cũ, đồng thời việc Người kiện toàn lại một số điều trong luật cũ.

II. SUY NIỆM:

1/ "Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng":

Bài Tin Mừng hôm nay được trích ra từ bài giảng trên núi, vì thế Chúa Giêsu nói với đám đông dân chúng nữa, chứ không riêng cho các môn đệ.

a) "Các con đường tưởng Ta đến đây để huỷ bỏ lề luật hay các tiên tri".

Lề luật: tức là 5 cuốn sách đầu của bọ Kinh Thánh, gọi là Ngũ Kinh gồm các sách: Sáng Thế, Xuất Hành, Lêvi, Dân Số và Đệ Nhị Luật.

Các tiên tri: gồm những sách của các tiên tri và những sách Cựu ước khác nữa.

Kiểu nói: "Lề luật và các tiên tri" là chỉ toàn bộ Kinh Thánh Cựu ước.

b) "Ta không đến để huỷ bỏ, nhưng để kiện toàn".

Không để huỷ bỏ. Những lời nói và hành động của Chúa Giêsu đã làm đã làm cho nhiều người chú ý và thắc mắc như Người tự so sánh mình như rượu mới (Lc 5,39). Người tuyên bố Con Người là chủ ngày Sabát (Mt 12,8). Người có quyền tha tội (Mt 9,6). Người dạy dỗ không nhân danh Môsê, nhưng nhân danh riêng mình (Mt 7,28-29). Thấy như vậy có nhiều người thắc mắc: Phải chăng ông này đến để phá huỷ lề luật và các tiên tri?

Vì thế, ở đây Chúa Giêsu đã tuyên bố mối tương quan giữa Người với lề luật là: "Ta không đến để huỷ bỏ, nhưng để kiện toàn.

Nhưng để kiện toàn: Chúa Giêsu kiện toàn bằng cách thực hiện các lời tiên tri đã báo trước (Mt 3,2) và làm cho tinh thần luật của Cựu ước được hoàn hảo hơn, vì chữ viết thì giết chết, tinh thần mới giải thoát.

2/ "Cho dù trời đất có qua đi…":

Trời đất là kiểu nói thời xưa để chỉ toàn vũ trụ. Ở đây được hiểu là trước khi vũ trụ này qua đi, tức là ngày tận thế.

" Thì một, chấm một phẩy trong bộ Luật…". Nguyên văn là một chữ, một vạch nhỏ, tức là chữ và dấu nhỏ nhất trong bộ mẫu tự Hy lạp. Do đó cho dù một chi tiết nhỏ nhất trong luật cũng được tôn trọng. Không phải tôn trọng những luật lệ tỉ mỉ do các Luật sĩ và Biệt phái thêm vào, nhưng là tôn trọng luật Môsê sau khi luật này đã được kiện toàn và đã được Chúa Giêsu xoá bỏ những gì lỗi thời và được kiện toàn nhờ có động lực là tinh thần bác ái (mt 9,17).

"Cho đến khi mọi sự hoàn thành" tức là cho đến ngày tận thế.

3/ "Ai huỷ bỏ một trong những điều luật nhỏ mọn nhất":

Có ý ám chỉ đến những Luật sĩ và biệt phái là những người: "Họ nói mà không làm" (Mt 23,3).

"Ai giữ và dạy người ta giữ …": có ý nhấn mạnh đến sự thực hành các lời khuyên Tin Mừng.

"Người nhỏ nhất là người cao cả nhất Nước Trời":

Ở đây không có nói về vị thứ` hay cấp bậc trong Nước Trời nhưng có ý nói về thái độ sống được chấp nhận, hoặc không được chấp nhận.

4/ "Nếu các con không công chính hơn các luật sĩ…":

Công chính ở đây không phải là thứ công bằng xã hội ở trần thế, nhưng là sống trung thành với luật Chúa, tức là mọi việc theo tinh thần Tin Mừng. Cách sống này là nền tảng của những sự công chính khác trong xã hội.

5/ "Các con đã nghe (Luật) dạy người xưa rằng…":

Đến đây Chúa Giêsu trưng ra những điều luật được Người kiện toàn. Người đã trưng ra 6 điều luật, nhưng ở bài Tin Mừng hôm nay chỉ nói đến 4 điều. Những điều luật được Người kiện toàn thì được trình bày theo một cấu trúc như sau:

Nêu lên luật cũ: "Người xưa…".

Giáo huấn của Chúa Giêsu nêu lên như một phản đề "Còn ta, Ta bảo các con…".

Và giải thích hay khuyến khích.

Trong cách trình bày này, Chúa Giêsu muốn đưa vào hình thức của luật cũ một tinh thần từ bên trong.

6/ "Không được giết người":

Chúa Giêsu kiện toàn luật giết người. Kiểu nói "người xưa" có ý chỉ Môsê và các tiên tri là những người đã qua đi trước và là nguồn gốc của truyền thống Do thái.

Luật xưa cấm giết người, chỉ cấm đổ máu thực sự thôi, còn những cách làm cho người ta đau khổ trong lòng hay làm thiệt hại danh dự người ta thì luật lại không nói gì.

Nay Chúa Giêsu dạy rõ: điều ác gây thiệt hại cho người ta, dẫu mới lập tâm phạm, cũng có tội rồi. Làm đau khổ lòng người như giận dữ, chửi mắng cũng có tội tương tự như đâm chém người ta thực sự vậy.

Chúa dùng kiểu nói "ngốc, khùng" ở đây chúng ta phải hiểu rằng khi chửi anh em là ngốc là khùng thì đâu đến nỗi xuống địa ngục, nhưng những lời mắng chửi đó chỉ thành trọng tội khi kèm theoi lòng giận hờn nặng nề. Vì thế, cốt yếu Chúa lên án cái lòng giận dữ, chứ lời chửi mắng chưa đến nỗi bị lên án nặng.

7/ " Nếu ngươi đang dâng của lễ lên bàn thờ…":

Vì giận dữ anh em là đáng tội như vậy nên Chúa Giêsu đòi hỏi phải làm hoà với anh em khi có giận dữ để được ơn tha thứ.
Việc làm hoà này phải được thi hành trước khi đến toà án, tức là lúc phán xét, thì mới có giá trị để được ơn tha thứ. Nếu đợi đến quan toà (lúc chết) thì chỉ còn cách bị kết án và lãnh án phạt thôi và khi đã lãnh án phạt thì phải đền cho hết chứ không được tha nữa.

8/ "Chớ ngoại tình, còn Ta, Ta bảo…":

Ở đây Chúa kiện toàn luật về gia đình.

a) Luật xưa cấm ngoại tình (Ed 20,14; Ds 5,18). Ai ngoại tình bằng hành động mới thành tội. Những việc còn manh nha trong trí khôn như ước muốn ngoại tình thì chưa thành tội vì chưa làm ra việc.

b) "Còn ta, Ta bảo…": Chúa Giêsu sửa sai quan niệm của luật xưa bằng cách dạy rằng: ước muốn làm điều xấu như thèm muốn tà dâm, ngoại tình, dù chưa làm cũngc ó tội như đã làm. Vì thế phải tránh mọi tư tưởng xấu và mọi dịp tội.

c)Những kiểu nói "móc mắt, chặt tay" ở đây là những kiểu nói bóng, có ý nhấn mạnh phải tránh mọi dịp tội, thà chết chẳng thà phạm tội, thà bị hy sinh một phần thân thể mà bảo toàn được phần rỗi còn hơn là đầy đủ toàn thân mà phạm tội sa hoả ngục.

Ở đây Chúa đề cao luật đơn hôn trong gia đình, sự trong sạch bậc hôn nhân cũng như đức thanh khiết của bậc độc thân.

9/ "Ai ly dị vợ mình…":

Chúa Giêsu kiện toàn luật hôn nhân.

Luật xưa cho phép ly dị, tức là tiêu hôn (Ds 24,1).

Nhưng nay Chúa Giêsu xác định lại rằng từ đầu hết không có như vậy. Môsê bó buộc cho phép như vậy là do lòng chai đá của con người đó thôi (Mt 19,8-9). Vì thế, Ngài kiện toàn rằng: "Hễ ai ly dị vợ mình thì làm cớ cho vợ ngoại tình, và ai cứơi người vợ đã ly dị, cũng phạm tội ngoại tình". Chứng tỏ không được phép ly dị.

"Trừ trường hợp gian dâm". Câu này không có trong Tin Mừng Mc 10,11-12 và Lc 16,18. hiện nay Giáo Hội vẫn không chấp nhận ly dị vì lý do: giây hôn nhân là bất di dịch cho đến khi một bên qua đời. "Điều gì Thiên Chúa đã phối hợp, thì loài người không được phân ly". (Mt 19,6). Vậy tại sao Mt lại viết: "Trừ trường hợp dân giam"?

a) Những người Tin Lành và Ch1inh thống giải thích theo nghĩa: khi có nỗi gian dâm thì được ly dị. Nhưng gần đây có những thần học gia Tin Lành giải thích như lập trường công giáo, tuy có rộng hơn đôi chút.

b) Nhiều nhà chú giải ngày nay (Cha Thuấn) cho rằng nối trừ ở đây có thể là thứ hôn nhân bất hộp pháp, trái với luật Thiên Chúa là chưa thành hôn.

c) Cho đến nay việc giải thích theo văn tự còn nhiều khó khăn chưa vượt qua được. nhưng nếu dùng phương pháp so sánh thì vấn đề sáng tỏ hơn:

+ Toàn bài giảng cho thấy Chúa Giêsu muốn vượt qua luật cũ, vậy mà Chúa chấp nhận cho ly dị vì tà dâm thì chẳng hơn gì luật cũ.

+ Maccô và Luca không có câu hạn chế này. Không lẽ các vị đó bỏ qua một điều quan trọng như thế?

+ 1Cr 7,10-11: bản văn này có trước 4 Tin Mừng, nên đã diễn lại trung thực hơn các bản văn khác về giáo lý Chúa Giêsu đã giảng cũng không chấp nhận việc ly dị, tuy có chấp nhận cho ly thân với điều kiện không được lấy người khác.

Qua việc so sánh này, chúng ta nhận ra Giáo Hội và khẳng định không được phép ly dị để bảo toàn về luật vĩnh hôn trong hôn nhân.

10/ "Chớ thề gian…":

Ở đây Chúa kiện toàn cách phụng thờ Thiên Chúa trong việc thề.

Xưa cấm thề gian, nhưng hãy giữ trọn lời thề với Thiên Chúa.

Nhưng nay Chúa bảo "đừng thề chi cả".

Lời nghiêm cấm này xem ra tuyệt đối đến nỗi nhiều giáo phụ công giáo đã lên án mọi sự thề hứa, đồng thời có nhiều giáo phái từ chối không tuyên hệ bất cứ điều gì. Tuy nhiên dựa vào một vài bằng chứng trong Thánh Kinh, chúng ta có thể nhận ra luật này không cấm hết mọi lời thề.

a) Thánh Phaolô đã thề nhiều lần: Rm 1, 9; 2Cr 1,23; Gl 1,20; Pl 1,8: "Tôi xin Thiên Chúa chứng gián và lấy mạng sống tôi mà thề rằng…".

b) Chúa Giêsu mặc nhiên chấp nhận lời thề khi Người trả lời cho vị thượng tế nhân dnah Thiên Chúa ra lệnh cho Ngài: "Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, tôi thỉnh cầu ông nói cho chúng tôi biết, ông là Đức Kitô Con Thiên Chúa phải không?" (Mt 26,63).

Như vậy luật mới Chúa ban hành đây, không cấm mọi lời thề. Nhưng Chúa dạy phải rất thận trọng trong lời thề. Thề theo lý thuyết cốt để tránh sự nghi ngờ của người khác, đồng thời giúp mình khỏi gian lận. Đừng bao giờ nghi ngờ và gian lận vì hai thói xấu này là ma quỷ. Vì thế, cần phải thận trọng trong lời nói, phải thật thà: "Có thì nói có, không thì nói không" (Mt 5,37).

c) Giáo Hội công giáo không những cho phép thề mà còn có một số trường hợp phải thề nữa (xem giáo lý Tân Định số 309 điều răn II).

d) Chúa cấm thề vì nhiều người đã lạm dụng lời thề hoặc thề mà không giữ. Nay Giáo Hội đặt ra những qui định trong Giáo lý cần phải tuân theo, khi cần thề thì kínhc ẩn và trung thành.

III. ÁP DỤNG

A/ Áp dụng theo Tin Mừng

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Giáo Hội muốn nhắc nhớ chúng ta khi tuân giữ lề luật cần phải ý thức từ tinh thần và ý hướng bên trong là hình thức bên ngoài.

B/ Áp dụng thực hành:

Nhìn vào Chúa Giêsu:

1/ Xem việc người làm:

a) "Ta không đến để phá huỷ, nhưng để kiện toàn": Chúa Giêsu tôn trọng lề luật cũ bằng cách kiện toàn để luật được hoàn hảo hơn. Noi gương Chúa, chúng ta tôn trọng tha nhân, tôn trọng công việc của tha nhân bằng cách không phá huỷ hay từ chối, nhưng xây dựng và giúp đỡ cho hoàn hảo hơn.

b) Qua việc kiện toàn luật cũ. Chúa dạy ta khi thi hành lề luật, cần tỏ thiện chí trong tinh thần và ý hướng ngay lành bên trong hơn là hình thức giữ luật bên ngoài.

2/ Nghe lời ngài nói:

a) "Nếu các con không công chính hơn…": Chúng ta phải trung thành và vâng phục Chúa hoàn toàn bằng cách tuân giự mọi chi tiết của lề luật để tỏ ra công chính hơn những kẻ giữ luật vụ hình thức.

b) Bất cứ ai phẫn nộ với anh em mình, thì kể…": Chúa dạy ta không được để lòng giận hờn thù ghét anh em, nhưng có gì yếu đuối xảy ra bất hoà thì vì danh Chúa phải làm hoà với nhau càng sớm càng tốt để duy trì sự hiệp nhất với anh em, hiệp thông với Chúa và bảo đảm được ơn Chúa tha thứ.

c) "nếu con mắt…nếu tay phải…nên dịp tội…": Chúa đòi hỏi ta phải tránh mọi dịp tội, dù có phải hy sinh, chịu thệit thòi đến mức độ nào đi nữa, để duy trì và bảo đảm phần rỗi đời đời của ta.

d) "hễ ai ly dị vợ mình…": Chúa dạy chúng ta không những phải giúp đỡ tạo điều kiện cho hôn nhân được duy trì luật vĩnh hôn mà còn phải tránh mọi cơ hội, mọi duyên cớ gây ra tội ngoại tình hay tà dâm cho tha nhân.

e) "Đừng thề chi cả". Chúa dạy ta phải thận trọng trong lời nói và có lòng ngay thẳng thật thà, đừng lợi dụng danh Chúa mà thề thốt để che đậy sự gian lận quanh co của mình. Thật thà là dấu chỉ con cái Chúa. Quanh co gian lận là tật xấu của ma quỷ.

Lm Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc - Bài Giảng Lễ
 
Luật mới của Đức Giêsu

Hc 15,16-21; 1Cr 2,6-10; Mt 5,20a.27-28.33-34a.37

 
T
ạp chí Reader's Digest, số xuất bản tháng 11 năm 1985 có đăng một chuyện ngắn:
 
Đôi vợ chồng kia đã nhiều lần cãi nhau, và lần này, đang lúc hai người cãi nhau hăng say, thì người chồng đề nghị với vợ: "Thôi, chúng ta đừng cãi nhau nữa. Bây giờ mỗi người hãy lấy giấy, viết ra tất cả những lỗi lầm, những tật xấu của người kia, rồi trao cho nhau". Người vợ đồng ý. Người chồng cầm lấy tờ giấy, nhìn người vợ và cúi mặt xuống viết một câu. Người vợ thấy chồng mình bắt đầu viết, liền hối hả viết liên hồi, dường như cố ý tranh với chồng, để kể ra nhiều tật xấu hơn. Người chồng chỉ viết một câu rồi dừng lại nhìn vợ. Sau vài phút, trang giấy của người vợ đầy những dòng chữ kể ra tật xấu của người chồng, và người vợ xem ra hả dạ, vì đã viết nhiều hơn.
Đến lúc không còn gì để viết nữa, hai người trao cho nhau bản kể tội của nhau. Sau khi nhìn vào tờ giấy của chồng, nét mặt của người vợ bỗng biến đổi vì xúc động. Bà vội vàng đòi lại tờ giấy đã đưa cho chồng và tỏ thái độ làm hòa ngay với chồng. Trong tờ giấy của người chồng, bà chỉ đọc được có một câu duy nhất: "Anh yêu em!"

Anh chị em thân mến,

Tình yêu chính là Luật mới đã được Đức Giêsu công bố trong bài giảng trên núi: "Tôi không đến để bãi bỏ lề luật, nhưng là để kiện toàn", nghĩa là Đức Giêsu công bố lại ý hướng nguyên thủy của Thiên Chúa diễn tả qua Lề Luật, đó là Tình Yêu. Ngài muốn đặt tình yêu làm nền tảng cho mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa và giữa con người với nhau. "Yêu mến Thiên Chúa hết lòng và yêu thương tha nhân như bản thân mình".

Nếu tình yêu chân thật là nền tảng cho mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa, thì con người sẽ không bao giờ dám lên tiếng phàn nàn than trách Thiên Chúa. Nếu tình yêu là nền tảng cho mối tương quan giữa người với người, thì sẽ không còn cảnh tranh giành, xung đột, hận thù lẫn nhau nữa.

Luật mới của Đức Giêsu sẽ tạo nên những con người mới, một xã hội mới, tạo nên "Nước Trời": "Anh em hãy trở nên hoàn thiện như chính Thiên Chúa là Đấng Hoàn Thiện". Trong một số ví dụ được Đức Giêsu đưa ra như giết người, gian dâm, bội thề… Luật mới không chỉ dừng lại ở những hành động tội ác, mà đòi hỏi phải đổi mới tận chiều sâu của tâm hồn, tận trái tim yêu thương:

¤ Trước kia, có hủy hoại sự sống thể xác mới phải ra tòa. Nhưng từ đây, chỉ mới có tâm tình giận dữ, hay buông lời nhục mạ anh em là đã đủ để lãnh án nặng nề.

¤ Thậm chí chưa tích cực giải hòa với một người anh em đã gây căng thẳng, bất bình, cũng phải kể là không được liên hệ tốt với chính Thiên Chúa, không còn quyền dâng của lễ cho Thiên Chúa.

¤ Luật cũ xử phạt người có hành động ngoại tình. Từ đây, Luật mới đòi buộc phải trong sáng từ ánh mắt đến tận tâm hồn. Phải tôn trọng và lãnh trách nhiệm bảo vệ người bạn đời của mình.

¤ Luật cũ cấm phản bội lời thề. Luật Mới đòi phải xử dụng lời nói thế nào trong cả đời anh, để người nghe, hiểu và nhận được lòng chân thành của anh, mà không cần anh thề thốt gì hết.

Do đó, chúng ta không lạ gì lối giữ đạo duy hình thức, vụ lề luật của các luật sĩ và các nhóm Biệt Phái Pharisiêu thời Chúa Giêsu, đã bị chính cuộc sống của Chúa Giêsu vạch trần là giả hình là "mồ mã tô vôi": Giữ luật chi li, nhưng là để cho bản thân mình nổi danh đạo đức trước người khác và tự mãn nơi lòng mình. Tệ hơn nữa là hạng người mượn danh "luật Chúa" để kết án người có tội, người nghèo khổ, hoặc người mang bệnh tật. Và còn đáng Ngài phản đối nặng nề hơn nữa khi họ chủ trương bắt người khác cũng phải họa theo lối sống hà khắc của họ. Chính Chúa Giêsu đã bảo: "Nếu anh em không ăn ở công chính hơn các Kinh sư và nhóm Pharisiêu, thì anh em sẽ chẳng được vào Nước Trời".

Anh chị em thân mến,

Luật mới là một "Giao ước mới ", một "hợp đồng tình thương" với những điều khoảng được Chúa "ghi tạc tận đáy lòng, tận trái tim con người " (Gr 31,33). Ngôn sứ Êzêkiel còn diễn tả qua hình ảnh cụ thể hơn nữa: "Ta sẽ ban tặng các con một trái tim mới, Ta sẽ đặt vào lòng các con một tinh thần mới, Ta sẽ lấy trái tim chai đá ra khỏi lòng các con và ban tặng các con một trái tim thịt mềm biết yêu thương. Ta sẽ đặt Thần Khí của Ta vào lòng các con để làm cho các con theo đúng luật của Ta " (36,26-27).

Đức Giêsu đã kiện toàn Luật của Thiên Chúa. Ngài đã sống trọn vẹn đến từng chi tiết. Ngài đã bày tỏ cho chúng ta một Thiên Chúa lấy con người làm đối tượng của tình yêu thương, khi đích thân Ngài, như một tên tử tội khốn nạn nhất, chết treo trên Thập giá, chỉ vì muốn nâng con người lên tận hàng con cái Thiên Chúa. Mầu Nhiệm Nhập Thể không chỉ là mầu nhiệm của Ngôi Lời Thiên Chúa làm con người, mà còn là dấu chứng của tình yêu, cũng là bản thể Thiên Chúa đã dính chặt vào với mỗi con người của trần thế, đến độ bất cứ ai làm gì cho mỗi con người, đều là làm cho đích thân Ngài, và bỏ qua không làm tốt cho con người, cho dù với mọi thứ lý do, sẽ chỉ đưa đến kết quả là: "không được sống đời đời" (Mt 25,41).

Thưa anh chị em,

Đạo của Chúa, Luật của Chúa là như thế đó. Nó nhằm mục tiêu cho mỗi người chúng ta hòa nhập vào giòng suối vô tận của tình thương vô biên, khơi nguồn từ Chúa Cha và thông qua Chúa Giêsu và nhờ Thánh Thần chuyển đến mỗi người chúng ta, đến với mọi người muôn thế hệ. Bởi vì chỉ có tình thương mới cho chúng ta góp phần xây dựng, phát triển hạnh phúc của con người anh em. Và chỉ có hạnh phúc của anh em, có chúng ta góp phần, mới cho chúng ta cảm nghiệm và dự phần hạnh phúc của Thiên-Chúa-Tình-Thương.

Hành Trang Mục Vụ - Khoá 10 ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn