Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật VI thường niên B

Tin mừng Mc 1: 40-45: Chúa Giêsu chữa lành cho người bị phong cùi để tỏ bầy vì lòng thương yêu nhân lành, Chúa đến để cứu giúp kẻ tội lỗi trong chương trình cứu chuộc nhân loại khỏi ách nô lệ tội lỗi...
CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT VI THƯỜNG NIÊN B

NGÀY 11/02/2018




Tin mừng Mc 1: 40-45

Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải
 

CHỮA MỘT KẺ PHUNG CÙI

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Thánh Kinh định nghĩa bệnh phung cùi như thế nào (x. Lv 13-14)?

2 Có thể đặt giai thoại trong một khung cảnh lịch sử không (đối chiếu 3 Tin mừng Nhất lãm).

3. Tại sao vừa chữa lành người phung hủi xong, Chúa Giêsu vội quát mắng và xua đuổi kẻ ấy đi? phải chăng là mâu thuẫn?

4. Tiếng "họ" trong câu "để làm chứng trước mặt họ" (c.44) nhắm đến ai?

5. Trình thuật song song của Mt (8,2-4) có cùng đường hướng như trình thuật Mc không? Khác biệt ở chỗ nào?

6. Dựa vào đâu mà chúng ta biết trình thuật có tính cách lịch sử?

1. BỆNH PHUNG CÙI.

Ta chỉ có thể hiểu chữ phung cùi đối với người Do thái là gì sau khi đã đọc lại các bản văn Cựu ước nói về chứng bệnh khủng khiếp ấy? Có hai chương của Lề luật hầu như dành cho nó hoàn toàn; và một điều ý nghĩa là hai chương này nằm trong sách Lêvi, cuốn sách đặc biệt của tư tế (Lv 13-14, được các giáo sĩ xác định và chú giải trong tập Noga'im của sách Mishna).

Bảng liệt kê các loại bệnh cùi khác nhau trong hai chương nói trên cho chúng ta thấy từ ngữ không những chỉ cơn bệnh như vẫn thường gọi, mà còn chỉ nhiều chứng bệnh ngoài da khác, ví dụ những vết do một vài thứ nấm để lại trên da. Vì loại suy, người ta đã thường đồng hóa các vết mốc xuất hiện trên tường với chính bệnh cùi con người mắc phải. Việc hiểu rộng cơn bệnh như thế chứng tỏ người ta sợ nó biết chừng nào. Ngoài ra, vì xem như là bệnh truyền nhiễm, người ta rất quan tâm xa lánh tất cả những gì có thể giúp nó lạn rộng ra. Bởi thế, phải cô lập người bệnh, dù họ có bị thiệt hại đến thế nào. Nhưng nghiên cấm thôi chưa đủ, người ta còn thêm vào đó một điều húy kỵ, bằng cách cho rằng bệnh cùi dưới mọi hình thức đều là một sự nhơ uế chiếu lễ nghi (Lv 13,45-46; Ds 5,2).

Trong viễn tượng thần học về sự thưởng phạt đời này cơn bệnh ghê gớm và đáng sợ nhất đó bị xem như là hình phạt một tội lỗi. Để nói người ta không nói chữa trị" bệnh cùi, nhưng là "được thanh tẩy" khỏi nó. Đó cũng là ý nghĩa của lỗi chơi chữ nôga"(= Ngài đánh phạt) và nòga" (= vết đánh hay vết phung cùi hoặc kẻ mắc bệnh cùi): 2V 15,5; 2Sk 26, 19-20. Is 53, 4.8.

Tôi tớ Giavê được mô tả như một kẻ phong cùi (Is 53,3-5). Khi thấy người, thiên hạ tưởng người đã phạm tội? "Chúng tôi kể người như kẻ bị trời đánh, bị Thiên Chúa trừng phạt và làm cho xấu hổ" (Các bạn của Gióp cũng chẳng lý luận khác hơn: G 4,7tt; 8,13tt; x. 2,7-8). Nhà ngôn sứ không phủ nhận rằng nguyên nhân tai họa của người Tôi tớ là tội lỗi, nhưng theo ông, đó chính là tội lỗi của toàn thể dân Người: "Chính là các đau khổ của chúng tôi là người đã vác... chính vì sự ngỗ nghịch của chúng tôi mà người đã bị đâm thâu...chính nhờ những vết thương người đã chịu mà chúng tôi có phương được lành".

Từ đấy ta hiểu tại sao việc biệt phân các trường hợp phung hủi được dà.nh cho các tư tế: vì cần có một chuyên viên kinh nghiệm; và đàng khác, sự ô uế nhiễm phải khi mắc bệnh lại đòi hỏi một cuộc thanh tẩy cho tư tế trong trường hợp bệnh lành. Thành thử ông này là người đầy đủ thẩm quyền tuyên bố về các trường hợp đem đến cho ông ta (Lv 13; Đnl 24.8). Khi một kẻ phung cùi được khỏi thì phải trình diện ngay với tư tế ông kiểm nhận sự việc và có lẽ cấp một chứng minh thư (Lv14). Đoạn cử hành nghi thức thanh tẩy, đặc biệt là dâng một hy lễ tạ tội và một lễ thượng hiến (Lv 14, 19).

Tuy nhiên, bệnh phung cùi đích thực bị xem như nan y. Duy mình Thiên Chúa mới có thể chữa khỏi. Và Ngài đã chỉ bản quyền này cho các đại ngôn sứ: Môisen (Ds 12,9-14; x. Xh 4,6-8) và Elisa (2V 5,9, 14). Quyền cho bệnh cùi biến mất và xuất hiện trên bàn tay đã được Thiên Chúa ban cho Môisen để xác nhận ông là kẻ Ngài sai đến (Xh 4,6-8).

Vậy người ta còn có thể chờ đợi ai chữa trị bệnh cùi trong tương lai nếu không phải là Đấng Messia? (x. Mt 11,5).

2. KHUNG CẢNH LỊCH SỬ

Có lẽ chúng ta muốn xác định phép lạ chữa người phung hủi vào một lúc rõ liệt trong đời Chúa Giêsu và vào một địa điểm đánh dấu được trên bản đồ. Thế nhưng nếu so sánh trình thuật của Mátcô với trình thuật của Mátthêô và Luca, chúng ta sẽ thấy có nhiều bất đồng về vấn đề đó.

Mátcô chỉ nối kết giai thoại một cách rất mơ hồ và giả tạo với những gì đi trước, nghĩa là với ngày kiều mẫu của sứ vụ Chúa Giêsu, khiến nó có vẻ như một phụ lục. Mối liên hệ với phần kế tiếp việc chữa lành người bất toại ở Capharnaum. Cũng thật lỏng lẻo:."Sau nhiều ngày, Người lại vào Capharnaum…" (Mc 2,1). Dầu sao, nơi c.39, Mátcô đã đặt phép lạ vào giữa sứ vụ Chúa Giêsu tại Galilê.

Luca bảo phép lạ đã xảy ra "trong một thành" (5, 12) mà không xác định gì thêm nữa; những chi tiết này hình như quy về chi tiết ở 4,43, câu song song với Mc1,38-39, nên đây là một thành xứ Galilê. Ý tưởng cho rằng phép lạ đã xảy ra tại một thành có lẽ Luca đã rút từ đoạn cuối trình thuật Mátcô: sau khi chữa lành người phung hủi, Chúa Giêsu đuổi anh về (c 43) và anh ta "đi ra" (c.45). Thành thử có thể kết luận: phép lạ đã được thực hiện trong một ngôi nhà nằm chơ vơ nơi cửa một thị trấn, nếu không thì người phung hủi chẳng có thể đến gần được (so sánh với 2V7,3) (Động từ exerchomai của câu 45 đã được dùng nơi c.35 với nghĩa minh nhiên là ra khỏi một ngôi nhà (nhà Phêrô). Các câu 45 và 35 còn nhiều điểm tương hợp khác, như ta sẽ thấy về sau).

Còn Mátthêô thì rõ ràng hơn: theo ông, chính sau bài giảng Bát phúc, khi Chúa Giêsu xuống núi, có đoàn lũ đông đảo đi sau, thì kẻ phung tiến đến gần Người. Mọi tác giả đều cho khung cảnh này là giả tạo. Vì nếu Chúa Giêsu đã trước đám đông vây quanh, thì kẻ phung không thể đến gần; và nếu tưởng tượng rằng Người đi trước, hơi cách xa đám đông thì cũng chẳng đủ để giải quyết khó khăn vừa nêu (Có lẽ để sửa chữa điểm khó tin này mà Lc, nếu đã biết một, đã đem chi tiết đám đông để vào cuối trình thuật: sự hiện diện của họ bấy giờ có vẻ như hậu quả, chứ không như là khung cảnh của phép lạ Chúa Giêsu). Hơn nữa việc nghiêm cấm người phung cùi không được nói với ai sẽ vô nghĩa nếu phép lạ xảy ra trước mặt quần chúng. Rõ ràng tương quan mà Mátthêô thiết lập giữa Bài giảng trên núi với việc chữa lành người cùi đúng ra có tính cách thần học, như ta sẽ thấy về sau.

Rốt cục, trình thuật chữa lành người phung cùi, trong truyền thống nhất lãm, có vẻ như một trường hợp tiêu biểu cho những đoạn văn bị tách khỏi bối cảnh lịch sử và địa hình của chúng. Mỗi một thánh sử đã đặt và sửa chữa nó lại tùy theo các bận tâm riêng của mình.

3. TRÌNH THUẬT CỦA MÁTCÔ.

"Một kẻ phung hủi đến với Người, khấn xin Người". Không một lời mở, chẳng một chỉ dẫn không gian thời gian, Mátcô đi vô ngay đề tài và lập tức định hướng cho trình thuật. Chỉ cần liếc mắt vào một bảng nhất lãm là đủ nhận ra ngay 4 câu hay 4 vế câu thuộc riêng Mc, liên kết với nhau mật thiết? Kẻ phung hủi van xin Chúa Giêsu (c.40); Chúa Giêsu chạnh lòng (c.41 ), nhưng vừa mới chữa kẻ khốn khổ thì xem ra Người đã hối tiếc. Người gắt gỏng anh chàng tội nghiệp và đuổi anh đi (c 43), đồng thời cấm anh ta nói lại mọi chuyện xảy đến. Tuy nhiên anh đã hối hả tung tin cho mọi người... (c.45a).

Thoạt nhìn, phản ứng thứ hai của Chúa Giêsu có vẻ mâu thuẫn vì phản ứng đầu tiên. Thật ra không phải. Để thấu triệt sự mạch lạc của chúng, phải nhở rằng lệnh giữ bí mật là một trong các chủ đề ưa thích của Mátcô. Nếu không kể tiếng Chúa Cha nói lúc Chúa Giêsu chịu phép rửa, thì theo Mátcô, chính một thần ô uế là kẻ đầu tiên la lên: "Tôi biết Ngài là ai? Đấng Thánh của Thiên Chúa" (Mc 1,24). Về phía Chúa Giêsu, để mặc thiên hạ công bố Người là Đấng Messia trước khi cái chết mặc khải bản chất đích thực của sứ mệnh Người, tức là mắc vào cạm bẫy của ma quỷ nhằm thúc đẩy người. Do thái lẫn lộn Vương quốc Thiên Chúa với một vương quốc trần gian. Nên Chúa Giêsu dã quyết định bắt phải im lặng.

Tuy nhiên, trường hợp kẻ phung cùi giống trường hợp người đàn bà xứ Canaan hay viên bách quản. Lời cầu xin của kẻ đáng thương, quá tha thiết và đầy tin tưởng, nên Chúa Giêsu đã phải động lòng dầu chẳng muốn.Vẫn biết là không nên liều mình hoa mắt đám đông bằng những việc kỳ diệu có thể bị hiểu sai. Nhưng làm sao cưỡng lại khi thấy một nỗi khốn cùng như thế? Trước một nhu cầu cấp bách, chẳng còn quyết định nào đứng vững cả. Cũng vậy, trước một niềm tin sâu xa như niềm tin của viên bách quản, tin rằng chỉ một lời của Chúa Giêsu cho dù từ xa, đủ để chữa gia nhân của mình, thì làm sao từ chối lời kêu xin của ông ta được? (Mt 8,8-13). Làm sao cầm mình trước đức tin quá khiêm nhường của người phụ nữ xứ Canaan, một kẻ ngoại chấp nhận bị coi như một con chó (Mc 7,26-29). Lòng thương xót thắng vượt mọi lợi ích của một chương trình hành động đã được thiết lập kỹ lưỡng (c.24) là rao giảng Tin mừng trước tiên cho dân Ngoại: "Ta chỉ được sai đến cho những chiên lạc nhà Israel thôi" (Mt 15,24). Nếu sự thiếu lòng tin đã khiến Chúa Giêsu ra bất lực trước tội lỗi và đau khổ thể lý (Mc 6,5-6), thì phải nhận rằng một đức tin chân thực giựt được nhiều phép lạ từ tay của Người.

Trong trường hợp viên bách quản và người phụ nữ xứ Canaan, tên đầy tớ và đứa bé gái bị quỷ ám đều ở xa; vì vậy những kẻ cầu xin phải rời Chúa Giêsu để về chứng thực phép Lạ. Trường hợp kẻ phung hủi thì khác: phép lạ được hoàn thành cách kín đáo, dân chúng không ai hay; còn có thể cấm loan tin nữa. Khi gắt gỏng kẻ bị phung, Chúa Giêsu muốn bảo là đã làm một ngoại lệ trong quyết định của Người (c.43); và lập tức, Người mạnh mẽ buộc anh đi xa, để khỏi bị dân chúng biết và đám đông tụ tập (c.44; so sánh với Ga 9,8tt và Cv 3,9-11) {chính với cùng lý do và trong những hoàn cảnh tương tự mà người mù thành Betsaiđa nhận lệnh phải về nhà ngay, không được vào làng (Mc 8,26). Nhà của anh ta như thế hẳn nằm khá xa Betsaida hoặc trong một vùng khác. Cũng vậy, sở dĩ người đàn bà băng huyết sợ run lên sau khi được khỏi, chắc hẳn là vì cái nhìn bất mãn của Chúa Giêsu đang xung giận vì phép lạ xảy ra giữa đám đông, không thể che dấu (Mc 5,32t).

Thành thử sự nghiêm khắc của Chúa Giêsu khi đuổi người phong hủi không phải là vì anh ta đã bất tuân Lề luật, trà trộn vào đám đông như một vài tác giả đã nghĩ]. Nhưng vô ích. Người phung không thể chế ngự niềm vui của mình (c.45) Đám đông chạy tới. Tuy nhiên Chúa Giêsu đã lánh vào nơi cô tịch.

Thành thử rõ làng Mc không tìm cách lôi kéo chú ý của ta về dấu chỉ thiên sai hoàn tất trong dịp này cho rằng là về lòng thương xót của Chúa Giêsu đối với một kẻ khốn khổ vì bệnh hủi. Những hành vi nhân ái như thế chẳng phải là chủ đích chính yếu của sứ mệnh người. Chủ đích này có tính cách thiêng liêng hơn: loan báo Tin mừng vương quốc Thiên Chúa , kêu mời ta vác thập giá của ta. Nhưng ơn cứu độ Người hứa không có tính cách phi nhân bản, vì nhắm trọn vẹn con người. Chúa Giêsu có một trái tim, và một trái tim biết thương xót. Trong viễn tượng này, cử chỉ dùng tay chạm đến người phung hủi trước tiên là một cứ chỉ nhân hậu.

Cử chỉ này cũng làm nổi bật vai trò của nhân tính Chúa Giêsu. Việc tiếp xúc với thân thể Người cho kẻ tin tiếp xúc với thần tính, và không ban cho kẻ ấy ân sủng. Mátcô và Luca nhấn mạnh: sự đụng chạm này có hiệu lực chữa lành các bệnh nhân (Mc 3,10; Lc 6,19). Thường thường, chính như đặt tay mà Chúa Giêsu chạm đến các bệnh nhân Người muốn chữa lành, chạm đến các trẻ nhỏ Người muốn chúc phúc (Lc 6,5; 7,32-33; 8,22-25; 10,13-16; x.16,18). Người cũng để cho chạm đến tua áo Người (Mc 5,28-29; 6,56). Người cầm lấy tay con gái Giairô (Mc. 5,41). Còn kẻ ngọng điếc thì Người đặt ngón tay thiên tai và lưỡi anh ta (Mc 7,33). Đôi lúc, Chúa Giêsu dùng nước miếng: Mc 7,33; 8,23; Ga 9,6.1.

Dầu sao, quyền năng của Chúa Giêsu không lệ thuộc sự hiện diện thể lý của Người: nguyên lời Người có khả năng chữa lành một bệnh nhân ở xa (Mt 8,5-13ss). Ngược lại, đụng chạm mà không nói cũng đủ (Mc 5,25-29) nhưng thường thường, Chúa Giêsu liên kết cả hai để dấu chỉ được trọn vẹn và cuộc gặp gỡ đầy tình người hơn.

Đó là trường hợp ta đang thấy. Chúa Giêsu nói: "Ta muốn, hãy nên sạch" (c.41). Phần nhiều các dịch giả thêm một đại danh từ để cho câu văn lưu loát hơn: "Ta muốn điều đó, hãy lành bệnh hành văn đúng đấy, nhưng kiểu nói mất đi hình thức gãy gọn. Bản Hy lạp trực tiếp đối chiếu: "Nếu Ngài muốn" và "Ta muốn". Điểm nhấn mạnh nằm trên việc Chúa Giêsu nhận lời người phung hủi hơn là việc chữa lành. Việc chữa lành sẽ được xác định trong vế thứ hai của câu: "Hãy nên sạch".

"Và tức khắc phung hủi biến mất và anh ta được sạch" (c 42). Câu văn hủi rắc rối. Đáng lẽ nên viết đơn sơ hơn: và lập tức anh ta được sạch bệnh cùi. Mátthêô và Luca nhận thấy hành văn nặng nề này nên đã sửa lại, nhưng mỗi người một cách.

Thi ân xong, Chúa Giêsu buộc người lãnh phép lạ phải im, không được nói cho ai hay trừ ra tư tế: "Coi chừng! Đừng nói gì với ai song hãy đi trình diện với tư tế; và vì được sạch rồi, thì hãy dâng lễ vật như Môisen truyền, để làm chứng trước mặt họ" (c.44).

Phần cuối của câu có thể hiểu nhiều cách. Có lẽ người ta dễ tưởng rằng Chúa Giêsu nhắn nhủ kẻ phung hủi đừng quên trình diện với tư tế, dâng hy lễ mà Lề luật đã quy định cho việc thanh tẩy bệnh nhân phong cùi và xin tư tế một sự xác nhận - có lẽ bằng văn thư -- mà đương sự cần để trở về giao tiếp lại với những người khác. [Ví dụ về mười người phung hủi cho thấy niềm vui được lành dễ làm người ta quên những bổn phận sơ yếu nhất: Lc 17, 12-18}. Các hạn từ "để làm chứng trước mặt họ" như thể nhắm đến toàn dân (Vì thế Lagrange đã dịch: "để làm chứng trước mặt toàn dân"). Lối giải thích này hơi cưỡng ép bản văn. Vẫn biết Chúa Giêsu sai người phung hủi đến với tư tế và nhắc anh ta nhớ phải dâng hy lễ như Lề luật dạy (Lv 14,1-32), nhưng theo nghĩa tự nhiên và trực tiếp nhất thì đại danh từ "họ" chỉ các tư tế. Việc đi từ số ít sang số nhiều là do sự kiện chứng từ sẽ vượt quá cá nhân được nghe mà thấu đến toàn thể giai cấp tư tế.

Chúa Giêsu giao cho kẻ phong cùi một sứ mệnh bên cạnh các tư tế, như trong một trường lợp khác đã giao cho người quỷ ám xứ Ghêrasa một sứ mệnh bên cạnh bà con (Mc 5,19; Lc 8,39) [Trong cả hai trường hợp, Người từ chối không cho kẻ lãnh phép lạ ở mãi bên người]. Sứ mệnh của kẻ phung sẽ là làm chứng cho Chúa Giêsu trước mặt các tư tế: vì việc chữa lành bệnh phung là một dấu chỉ thiên sai. Chúa Giêsu lợi chung quy khoản của sách Lêvi để thử đến với họ. Vì lợi ích của họ, Người đi ra ngoài quy tắc bảo mật của Người. Là những nhà hữu trách chính của dân Israel, họ phải được báo cáo về sự xuất hiện của các dấu chỉ thiên sai. Vì thế họ sẽ không thể nào chạy tới khi sau này họ mù quáng dựng lên một vụ kiện chống lại Chúa Giêsu (x. Ga 15,22).

Trái với lời căn dặn của Chúa Giêsu, kẻ phung cùi tiết lộ cái tin mình được chữa khỏi. Từ đấy, mỗi lần Chúa Giêsu vào một thành nào là dân chúng đổ xô chạy đến, hy vọng Người sẽ mang lại cho họ nhiều ơn phúc (so sánh với Ga 6,26; 4,15) và có lẽ là sự phục tùng về mặt chính trị (so sánh với Ga 6,15 và 1Sm 8,5). Nhưng Chúa Giêsu không đến vì những thứ ấy; thành thử Người sẽ tránh các cơ hội tụ họp, sẽ chẳng công khai vào các thành. Từ đây Người thích ở "trong những nơi thanh vắng" (c.45). Tuy nhiên đoàn lũ vẫn đeo đuổi Người đến tận những nơi ấy vì bị lôi cuốn quá mạnh.

Thành ngữ "trong những nơi hoang vắng", được sử dụng trước đấy đôi câu, có mấy tiếng đi tiếp liền: "và ở đó, Người cầu nguyện" (l,35). Sở dĩ sau khi chữa lành kẻ tật phung, Chúa Giêsu rút vào nơi thanh vắng, không phải chỉ vì mục đích duy nhất là chạy trốn đám đông và sự ngộ nhận, nhưng tích cực hơn là để tìm trong đó sự thinh lặng thích hợp cho việc nguyện cầu.

4. CÁC TRÌNH THUẬT SONG SONG.

Mátthêô cho trình thuật chữa lành kẻ phung hủi một chiều hướng hoàn toàn khác biệt với chiều hướng của Mc. Ông liên kết giai thoại vơi bài giảng khai mạc của Chúa Giêsu, vì muốn thiết lập giữa hai sự kiện không phải một thứ tự thời gian, nhưng là một tương quan thần học.

Trong bài giảng trên núi, Chúa Giêsu quả quyết mình không đến để phá hủy Lề luật và các Ngôn sứ, nhưng là dể hoàn thành. Và đây là bằng chứng; người truyền cho kẻ bị phung hủi phải trình diện với tư tế, và như thế là chu toàn một quy khoản của lề luật (Mt 8,1-4); Người chữa lành những kẻ ốm đau và như thế là hoàn thành các lời Ngôn sứ. (Mt 8,5-17; x Is 53,4 được trích dẫn cách minh nhiên). Và để đặt nổi hơn nữa việc Chúa Giêsu tuân phục lề luật, Mc đã loại bỏ những gì mà trong trình thuật Mc, đi tiếp theo sau những lời Chúa Giêsu nói với kẻ bị phung (c.45). Trong cùng mục đích ấy, Mt cũng bỏ qua một bên những tình tiết làm cho bài trình thuật của Mc thêm sống động: lời van xin của kẻ phong cùi, sự cảm động của chúa Giêsu và nhất: là cơn giận của Người, một chi tiết khó giát thích.

Tuy nhiên, Chúa Giêsu không chỉ là kẻ tuân phục lề luật; Người cũng là chủ lề luật. Như là chủ của ngày hưu lễ (Mt 12,8), Người là chủ của bộ Luật cấm động đến kẻ bị phung. Người không sợ trở nên ô uế tiếp xúc với anh ta; trái lại chính kẻ phung sẽ được sạch lành. Cũng vậy, Người sẽ chẳng ngại dơ bẩn vì người đàn bà lấy nước mắt rửa chân Người tại nhà Simon biệt phái; mà chính người đàn bà sẽ được sạch mọi tội lỗi (Lc 7,39-49). Khi hành động như thế. Chúa Giêsu còn "hoàn tất" lề luật, nghĩa là dẫn lề luật đến chỗ kiện toàn hơn (so sá nh với Mt 5,21.27.31…)

Mátthêô làm lu mờ lý do trực tiếp nhất của việc chữa lành người phung hủi: xoa dịu nỗi khốn cùng kinh khủng đó. Đúng hơn, ông nhấn mạnh đến ý nghĩa của phép lạ, được đặt đầu một loạt 10 phép lạ củng cố uy quyền Chúa Giêsu trước mặt dân chúng, rõ ràng nó có một ý nghĩa thiên sai hơn. [Loạt phép lạ này đã được loan báo nơi Mt 4,23. Uy quyền Chúa Giêsu dùng để giảng dạy đã được ghi nhận cuối Bài giảng trên núi (7,29). Trong vụ đuổi quân buôn bán ra khỏi Đền thờ, người Do thái sẽ đòi Chúa Giêsu làm nhiều phép lạ để minh chứng Người được Thiên Chúa sai (Ga 2,18). Môisen trong Cựu ước cũng đã được quyền năng thi thố một vài phép lạ, đặc biệt là khiến bệnh cùi xuất hiện và biến mất khỏi tay ông, để làm chứng sứ mệnh ông là do Thiên Chúa]. Ngoài ra, phép lạ còn chuẩn bị cho lời sẽ hứa với các môn đồ là được quyền thực thi những dấu chỉ y như Thầy của họ: các dấu chỉ này sẽ làm cho sứ mệnh họ tăng thêm uy tín (Mt 10,8; x: Ga 14,12). Trong câu trả lời cho các sứ giả của Gioan, Chúa Giêsu sẽ ám chỉ đến việc chữa lành kẻ phong cùi, kể nó vào số những dấu chỉ của thiên sai thời đại (Mt 11,5).

Chưa hết, Mt còn đi xa hơn: qua niềm tin của kẻ bị phong cùi, ông cho chúng ta thấy các hoa trái đầu mùa của đức tin Kitô hữu, những kẻ tôn thờ Chúa Giêsu như Con Thiên Chúa. Mátcô đã mô tả kẻ xấu số quỳ xuống trong một cử chỉ cầu khẩn (vị thế quỳ không phải là dáng điệu cầu nguyện quen thuộc của người Do thái) mà thôi: nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi sạch". Mátthêô cho ta thấy anh bái lạy ra dấu tôn thờ và tung hô bằng tước hiệu phục sinh của Chúa Giêsu: "Lạy Chúa, nếu Chúa muốn..". Quả là Mt có những ưu tư về Giáo Hội. Khi nghe trình thuật đây. Cộng đoàn Kitô hữu sẽ có thể hiện tại hóa nó cho mình và lấy lại lời cầu nguyện của người phong hủi: "Lạy Chúa, nếu Chúa muốn, Chúa có thể làm con được sạch trong" (L. Deiss, Synopse. 1962, t.1, tr. 79).

Các đặc điểm còn lại khác của trình thuật Mátthcô phát xuất từ nhiều lý do đơn sơ thuộc lĩnh vực văn chương; còn những đặc điểm của trình thuật Luca (5,12-10) thì hoặc do cách biên soạn hay do một vài đặc tính của thánh sử.

5. BÊN KIA CÁC TIN MỪNG NHẤT LÃM.

Sự song song giữa 3 Tin Mừng Nhất lãm quá chặt chẽ đến nỗi ta không được nghĩ rằng đây là những trình thuật độc lập. Một vài chi tiết đầy ý nghĩa bắt buộc ta phải coi Mátthêô và Luca là lệ thuộc Mc hay có một nguồn chung với Mátcô. Cách thức họ giản lược c.42 của Mc đặc biệt nói lên điều này. Ngoài ra, Luca hình như theo Mt một đôi khi.

Dầu sao, ngay trước khi 3 Tin Mừng của chúng ta được biên soạn, truyền thống đã chuyển lại cái kỷ niệm về một phép lạ chữa lành người phong hủi mà tiếp theo sau là một phản ứng khá dữ dội của Chúa Giêsu. Các chi tiết riêng của Mc về đề tài này chắc hẳn đã chẳng được cộng đoàn sáng tác, vì chúng quá làm nổi bật khía cạnh nhân loại của Chúa Giêsu (Có thể bảo Chúa Giêsu hối tiếc vì đã để mình bị dụ hoặc). Lịch sử tính của các chi tiết này bảo đảm lịch sử tính của nhiều điểm khác chung cho 3 Tin mừng Nhất lãm: chính sự kiện chữa lành, việc sai đến tư tế, mục đích sự sai phái ấy, và việc làm chứng trước mặt họ. {Từ khi Bultmann, Dibelius v.v... cho là huyền thoại các phép lạ của Tin mừng, người ta không thể tránh né vấn đề lịch sử tính đặc ra về chúng nữa. Đúng hơn, Bultmann xếp việc chữa lành người bị phung hủi vào loại "lịch sứ phép lạ", còn Dibelius vào loại "novellon}. Không có những điểm chủ yếu này, các chi tiết riêng của Mc chẳng còn chỗ dựa; trên phương diện lịch sử, chúng không tách rời nhau.

Ý tưởng trọng tâm phát xuất từ cái nhân nguyên thủy lý tưởng dấu chỉ thiên sai. Thứ đến: nhiều giáo huấn khác cũng được bao hàm trong đó: các thánh sử đã nhấn mạnh chúng như sau:

- Mt đã làm nổi luật uy quyền của Chúa Giêsu cũng như sự chống đối giả các tư tế, những kẻ đã bác bỏ chứng từ về Người, với anh chàng phung hủi tôi nghiệp đã tin và đã làm gương cho Kitô hữu.

- Mc đặc biệt nhấn mạnh đến nối nguy hiểm là hiểu lầm quan niệm thiên sai của Chúa Giêsu và ơn cứu độ Người mang lại, đồng thời cũng nhấn mạnh đến những phản ứng đầy nhân tính sâu xa của Chúa Giêsu.

Còn Lc thì đã tìm cách trình bày cho lương dân một Cứu Chúa có khả năng giải cứu họ khỏi tội lỗi.

Gillés Gaida, Assemblées du Seigueur 37, tr. 53-61.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Theo luật Cựu ước (x. Bài đọc 1), người mắc bệnh cùi phải ở riêng ngoài trại, không được đến gần ai, và cũng không ai được đến với họ. Ở đây người cùi bất chấp lề luật, đã tiến đến bên Chúa Giêsu và Chúa Giêsu thay vì phải xa lánh con bệnh kẻo bị ô uế, đã chạm đến anh ta: đối với Chúa, không có vấn đề kỳ thị chủng tộc, tật bệnh, cấm kỵ, văn hóa, giàu nghèo. Chúa là tất cả cho mọi người. "Ai đến với Ta sẽ không bao giờ đói, ai tin vào Ta sẽ không khát bao giờ"-"Hãy đến với Ta, hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng, Ta sẽ bổ sức cho".

2. Chúa Giêsu khuyên người bệnh mới được chữa khỏi đi dâng lễ vật để tỏ lòng biết ơn. Mỗi lần Chúa đến giải cứu ta cũng phải biết tạ ơn Người như vậy. Thánh lễ là Hy tế tạ ơn: Chúng ta hãy thông hiệp với tâm tình của Chúa Giêsu.

3. Chúa Giêsu muốn gởi đến các tư tế Do thái một lời mời gọi khi bảo kẻ phong cùi đến trình diện với tư tế: họ sẽ nhận ra Chúa Giêsu là Đấng Messia qua phép lạ này không? Đối với họ, việc chữa lành bệnh cùi có phải là một dấu chỉ thiên sai không? Trong thực tế, họ đã lì lợm, mù quáng, không muốn thừa nhận dấu chỉ hiển nhiên trước mắt. Còn chúng ta, chúng ta có sẵn sàng nhận ra sự hiện diện của Chúa qua các dấu chỉ thời đại không, có muốn lắng nghe lời mời gọi, thúc đẩy của Chúa qua các biến cố nhỏ nhặt hàng ngày không?

4. Kẻ được hưởng phép lạ đồn ra khắp nơi việc mình được chữa lành. Tất cả chúng ta đều có bổn phận làm chứng cho tình yêu lân tuất của Chúa bên cảnh tha nhân như vậy.

5. Chúng ta đừng bao giờ tự biến thành những kẻ mắc bệnh cùi: tự cô lập mình với anh chị em, tự giam mình trong pháo đài ích kỷ, thù hận... Nhưng hãy biết quảng đại yêu thương bằng việc sẵn sàng quên mình vì mọi người. Nhiệm tích giải tội và Thánh Thể chính là phương tiện Chúa dùng để "tẩy sạch" bệnh cùi của ta: mỗi người hãy mau chóng đến nhận ơn tha thứ và lương thực của Chúa. Và cũng đừng bao giờ biến anh chị em mình thành kẻ mắc bệnh cùi, sống cảnh cô đơn, vì lời ăn cách ở đầy chia rẽ, kỳ thị của ta.


 

Noel Quession - Chú Giải



Có người bị phong hủi đến gặp gỡ Đức Giêsu... và dân chúng từ khắp nơi tuôn đến với Người.

Theo lối hành văn Sê-mít cổ xưa, mà người ta gọi là "gom kết" lại, thì trang Tin Mừng của Mác-cô trên đây được đóng khung trong hai câu giống nhau. Ở đầu trình thuật ông diễn tả một bước chân của cá nhân. Kết thúc trình thuật, ta thấy nhiều người đến từ khắp nơi.

Đức Giêsu, là chính Thiên Chúa đến gặp gỡ con người. Nhưng con người, cũng phải đến gặp gỡ Thiên Chúa. Lạy Chúa, xin dẫn con đến gặp gỡ Chúa.

Anh ta quỳ xuống van xin rằng: "Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch".

Đừng quên chúng ta mới ở chương đầu của Tin Mừng Mác-cô. Con người đó thật là mạnh dạn... hay anh ta đã có một lòng tin phi thường. Anh ta làm một cử chỉ, thưa gửi vài lời... Đó là những gì mà người ta thường chỉ có thể làm và nói với một mình Thiên Chúa.

Thực tế vào thời đó, bệnh phong hủi vẫn còn là một thứ bệnh không thể chữa trị được. Việc chữa lành người phong hủi là một thứ kỳ công giống như việc phục sinh một người chết. Đó là một trong những "dấu chỉ" của thời Thiên sai (Mt 11,25 - Lc 7,18-22). Thái độ khiêm tốn phủ phục của người phong hủi biểu lộ lòng tin của anh nơi Đức Giêsu. Đúng vậy, có những tình huống mà cách cầu cứu duy nhất là "kêu xin" Thiên Chúa, Đấng làm chủ tất cả, ngay cả những gì con người không thể thực hiện được: "Thưa Ngài, Ngài muốn là Ngài chữa tôi được khỏi bệnh". Đó là một lời nguyện xin cần được lặp đi lặp lại.

Động lòng thương trước người đó...

Ở đây bản thảo Hy Lạp giữ hai từ: "splagknisteis" có nghĩa là động lòng thương, xốn xao lòng dạ, cảm động đến tận tâm can, và "orgisteis" có nghĩa là "nổi giận". Thiếu gì dịp Máccô đã sử dụng rất chính xác từ "nổi giận" nhưng ở đây thật là khó giải thích: Trường hợp một kinh sư, khó chịu trước kiểu nói trên, có lẽ ông ta đã làm giảm nhẹ ý nghĩa. Nhưng vì cả hai "câu dịch" đều có trong bản thảo, nên suy nghĩ về hai ý nghĩa, tưởng là không vô ích. Tại sao Thánh Thần, Đấng linh hứng Kinh thánh, lại không có thể đi đến mức đó, nghĩa là có thể sử dụng những sai lầm của những người sao chép Kinh thánh để nói với ta? Dù sao, qua hai từ trên, chúng ta cũng nhận thấy một "phản ứng rất nhân bản"! Việc nhập thể của Thiên Chúa thật là "hiện thực", đi tới tình trạng chấp nhận cả những tình cảm của con người tầm thường như thế: xót thương, giận hờn. Lạy Chúa. Xin tạ ơn Chúa vì đã muốn cảm nghiệm những cảm xúc của chúng con và đã bầy tỏ cách công khai những diễn biến tình cảm đó. Nổi giận... " Thực ra điều đó ý nghĩa gì? Riêng tôi , tôi thấy ở đó phản ứng tự nhiên của Thiên Chúa trước nỗi đau khổ của con người". Đức Giêsu nhìn thấy tận mắt một khuôn mặt đáng thương bị các vết thương mâng mủ làm biến dạng. Và Người không thể chịu nổi điều đó, Người nổi giận. Đừng quên rằng, Đức Giêsu là Chính "Thiên Chúa hiện hình cụ thể". Qua thái độ biểu lộ tính khí trên, Đức Giêsu muốn nói với ta rằng, Thiên Chúa lên án định mệnh khắc nghiệt của con người, luôn bị bệnh tật tác hại trên thân xác. Phẫn nộ, đó cũng là phẫn nộ của biết bao người, nhưng trước "vấn đề sự dữ", họ chỉ biết chống đối mãnh liệt nhất đến nỗi phủ nhận sự hiện diện của Thiên Chúa.

Động lòng thương...". Kiểu nói này ta có thể hiểu ngay. Thực vậy, Thiên Chúa của chúng ta không phải là một Thiên Chúa vô cảm, dửng dưng... nhưng là một Thiên Chúa dễ bị thương tổn một Thiên Chúa cùng chịu khổ với nhưng người đau khổ, một Thiên Chúa mang trên mình những thương tích của chúng ta (Is 53,5). Đấng "làm cho Thiên Chúa hiện diện cụ thể nói cho ta biết tấm lòng trìu mến của Thiên Chúa đối với bệnh nhân. Vậy khi nào chúng ta mới chấp nhận thế giới này, như thực trạng hiện nay của nó, không thể "hoàn hảo" được? Chỉ có mình Thiên Chúa là Thiên Chúa. Chỉ có mình Thiên Chúa là hoàn hảo. Thế gian không phải là "Chúa". Thế gian không thể hoàn hảo. Thiên Chúa đã không thể làm khác hơn là tạo dựng một thế gian "không phải là Chúa nếu không Người đã không làm được điều gì cả, và Người có thể sẽ muôn đời cô đơn. Do đó, Người đã quyết định tạo dựng con người, được ghi dấu ấn "hữu hạn", rõ ràng "không phải là Chúa". Và như thế, con người phải gánh chịu những rủi ro về tình trạng sức khỏe suy sụp, với khả năng nguy hiểm trỏ thành phong hủi, điên khùng, khi các nhiễm thể hoạt động lệch lạc. Cần phải có can đảm nhìn thẳng vào "thế gian này". Nhưng, nếu Thiên Chúa tạo thành một tạo vật mang dấu tích hạn hẹp và bất toàn... thì Người chỉ tạo dựng nó trong chương trình là một ngày kia sẽ ban cho nổ sự sống thần thiêng của Người.

Đối với Thiên Chúa, con người chưa hoàn hảo, vì chưa được sống lại, chưa được thần hóa. Và sự dữ tác hại con người; đã làm cho Người" nổi giận" , đã khơi dậy "lòng thương xót" của Người. Do đó, Đức Giêsu chữa lành một số người bệnh, như là một "dấu chỉ" báo hiệu Ngày cánh chung, lúc đó mọi sự "sẽ được hoàn tất" (Rm 8,18).

Đức Giêsu giơ tay đụng vào anh tay…

Chúng ta lại có dịp suy nghĩ đến "bàn tay". Ở đây, đối với một người phong hủi, một người "không ai được sờ động đến", thì cử chỉ của Đức Gìẽsu phải mang một ý nghĩa đặc biệt vì không ai được sờ chạm, ôm ấp, vuốt ve họ bao giờ cả. Luật đã cấm như thế. Ngay cả, khi một ai đó tiến lại sát kề họ, họ cũng phải kêu to lên để người khác lánh xa: "Nhơ! Nhơ!": Thế mà ở đây, Đức Giêsu lại dám phá đổ một điều cấm kỵ nguy hiểm đó: Người đụng chạm đến người phong hủi.

Người bảo: "Tôi muốn, tôi cho anh được khỏi bệnh".

Đức Giêsu cứu chữa, nhờ một "cử chỉ" và "bằng một lời phát biểu: Đó là nguyên lý để cử hành mỗi bí tích. Chúng ta là những tạo vật có thể xác, và chúng ta cần đến những cử chỉ trên thân xác. Khi chịu phép rửa, nước đổ:ên trán chúng ta, thì một lời cũng được đọc lên nói rõ ý nghĩa của cử chỉ đó. Trong Bí Tích Thánh Thể, khi bánh ban sự sống chạm đến tay và liên hệ đến thân xác ta; thì đồng thời cũng có một lời đọc nêu lên ý nghĩa: "Mình Thánh Đức Kitô".

Tôi cũng có thể dành một chút thời gian để suy gẫm về lời phát biểu: "Tôi muốn!". Ở đây, một lần nữa, người dịch đã làm giảm nhẹ ý nghĩa bản văn chính thức bằng tiếng HyLạp của Máccô (thật là đáng tiếc!). Người phong hủi đã không nói: "Nếu Ngài muốn điều đó", nhưng là nếu Ngài muốn". Và Đức Giêsu cũng không đáp lại: "Tôi muốn điều đó", mà là "Tôi muốn". Điểm quan trọng muốn đề cao ở đây, không phải là đại danh từ "điều đó", những quyền năng thuộc nguyên ý muốn của Đức Giêsu... nghĩa không nhấn mạnh đến điều mong muốn.

Ngay tức khắc, chứng phong hủi biến đi, và anh ta được khỏi bệnh...

Câu nói trên phản lại bối cảnh văn hóa của thời đại, là Máccô lúc đó đang viết Tin Mừng. Đối với một người Do Thái, bệnh phong hủi là một "hình phạt của Thiên Chúa", Đấng đã phạt My-ti-am, chị của Môsê (Ds 12,9).

Gêhadi, đầy tớ của Ê-li-dê (2V 5,27), Ô-di-a, ông vua đầy tham vọng (2 Sb 26,16). Bệnh phong hủi là chứng bệnh gây sợ hãi, đến nỗi có người kinh sợ dù chỉ nhìn thấy một vết loang lỗ trên tường. Vì thế, sách Lê vi đã dành cả hai chương nói về bệnh này. Chứng bệnh làm cho mặt và tay chân người bệnh thối rữa, chứng tỏ sự khủng khiếp của nó. Người ta coi đó như súc tác hại của ma quỷ. Nói đúng ra, người bị phong htủ không được sống thông hiệp với kẻ khác, bị loại ra khỏi cộng đoàn (Lv 13,1-6).Trong chứng bệnh làm ung thối con người như thế, người ta coi đó là "biểu tượng" của tội lỗi. Như thế, ai mà không bị phong hủi! Và ai sẽ cứu chữa ta khỏi chứng bệnh ác độc đó? Thưa, đó là nhờ sự "tiếp cận" và "lời" của Đức Giêsu. Lạy Chúa Giêsu Kitô, nhờ Mình Chúa xin cứu chữa tâm hồn con người hôm nay. Hiện nay, vẫn còn hàng triệu người trong các nước thuộc Thế giới thứ ba mắc bệnh phong hủi.

Và giũa chúng ta trong những xã hội tân tiến, vẫn cần tìm kiếm những bàn tay và những tấm lòng để thực hiện tác động "chữa lành" của Đức Giêsu đối với biết bao người nghèo khó: Đó là những người không có vẻ đẹp và ngoại hình lôi cuốn cái nhìn của kẻ khác, đó là những kẻ bị gạt ra khỏi-xã hội chúng ta, những trẻ em khuyết tật, những người mắc bệnh nan y.

Người nghiêm giọng đuổi anh ta đi ngay.

Đó là câu dịch chính xác theo đúng bản văn của Máccô (nhưng ta cũng thấy có kiểu dịch làm giảm nhẹ ý nghĩa: "Người cho anh ta ra về với lời cảnh giác nghiêm trọng"). Nếu tôn trọng bản văn, thì Giêsu được giới thiệu cho ta ở đây, không phải là hạng người "nhu mì", mà các bức ảnh thuộc thế kỷ trước đã trình bày cho ta, nhưng là một con người đầy cương nghị.

Coi chừng, không được nói gì với ai cả.

Như Đức Giêsu đã truyền cho quỷ phải im lặng, Người cũng đòi buộc kẻ được ơn lạ phải im hơi lặng tiếng, kiểu nói rất mạnh: "không gì hết" , "không với một ai cả ".

Đó là "bí mật thiên sai" nổi 'tiếng, đã được Máccô lặp đi lặp lại tới 10 lần trong Tin Mừng của ông. Do đó, hầu như Đức Giêsu tránh làm phép lạ, vì thường bị người ta hiểu lầm! Người Do Thái (và cả chúng ta nữa!) dễ mong đợi một Đấng Mêsia theo kiểu trần gian. Từng đám đông tuôn đến với hy vọng rằng, Đức Giêsu có thể mang lại cho họ hạnh phúc đời này, Người có thể giải quyết những vấn đề thuộc sức khỏe, hay khôi phục nền độc lập có tính chính trị. Đúng vậy, đối với Đức Giêsu, làm phép lạ thật là nguy hiểm! Điều đó có thể làm hỏng sứ vụ của Người, hay có thể làm cho người ta hoàn toàn hiểu sai ý nghĩa. Các phép lạ có thể làm cho nhiều người tưởng rằng, Nước Thiên Chúa chỉ bao gồm một thứ hạnh phúc tầm thường. Đúng ra, công cuộc cứu độ thực sự việc cứu rỗi triệt để, mà Đức Giêsu trình bày, chỉ có thể được hiểu tường tận dưới ánh sáng tử nạn và phục sinh của Chúa. Cần phải chờ đợi đến lúc đó để không còn lầm lẫn nữa về bản chất của công cuộc "giải phóng" con người, mà Đức Giêsu chủ động thực hiện! Còn những việc chữa bệnh chỉ là cách loan báo sự sống lại.

Nhưng lo đi trình diện tư tế, và vì anh đã được khỏi bệnh, thì hãy dâng của lễ như ông Môsê đã truyền để làm chứng cho người ta.

Đức Giêsu truyền cho người được ơn lạ phải im lặng, không được lộ chuyện với dân chúng, đồng thời Người cũng trao cho anh trách nhiệm phải đến gặp các tư tế. Đây là việc rất cần thiết, để có thể tái hội nhập vào xã hội. Nhưng hơn nữa, Đức Giêsu còn muốn mở mắt các tư tế ở Giêrusalem là những người sẽ kình chống Người kịch liệt. Cho họ dấu chỉ thiên sai qua việc chữa lành người phong hủi, để họ sẽ không có lý do nào biện minh khi họ kết án Người. (Ga 15,22).

Nhưng vừa ra khỏi đó, anh ta đã vội công bố và tung tin ấy ra; đến nỗi Đức Giêsu không thể công khai vào thành nào được, mà phải ở lại những nơi vắng vẻ ngoài thành. Và dân chúng từ khắp nơi tuôn đến với Người.

Đối với Mác-cô. "Lời" được công bố trên đây là một thuật ngữ, được ông sử dụng tới 10 lần khác nhau trong Tin Mừng: đó là Phúc âm là Tin Mừng. Dù bị Đức Giêsu ngăn cấm, nhưng ta thấy người được cứu chữa", khi đến lượt mình lại trở nên "kẻ cứu độ" người khác. Còn chúng ta thì sao? Chúng ta có công bố Lời Chúa không? Một lần nữa, ta chiêm ngắm tình yêu Đức Giêsu dành cho bầu khí cô tịch, cho nhưng "nơi hoang vắng". Người thực sự là hình ảnh của Thiên Chúa, một Thiên Chúa kín mật, một Thiên Chúa không gây ồn ào, một "Thiên Chúa ẩn giấu".


 

Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

"bệnh cùi biến mất và người ấy được sạch"



BÀI TIN MỪNG: Mc 1, 40 - 45

I. Ý CHÍNH:

Chúa Giêsu chữa lành cho người bị phong cùi để tỏ bầy vì lòng thương yêu nhân lành, Chúa đến để cứu giúp kẻ tội lỗi trong chương trình cứu chuộc nhân loại khỏi ách nô lệ tội lỗi.

II. SUY NIỆM:

Bài Tin Mừng hôm nay nối tiếp bài Tin Mừng tuần trước, tiếp tục tỏ bày sứ mạng Chúa cứu thế của Đức Kitô.

1 / " Có một người bệnh cùi... ":

+ Theo luật Do thái, những ai mắc bệnh cùi không được sống trà trộn trong dân chúng vì bệnh này là bệnh nan y và hay lây. Vì vậy số phận của họ đã khổ vì bệnh hoạn lại còn khốn nạn hơn vì tình trạng cô đơn.

+ Các nhà luật sĩ coi bệnh này như là hình phạt bởi tội.

+ Người bệnh nói đây thấy mình không còn phương nào để khỏi, sự hy vọng duy nhất là ở Chúa Giêsu, và anh tin như vậy, nên anh đã bất chấp luật lệ chạy đến Chúa Giêsu.

+ Van xin Chúa Giêsu: van xin là thái độ tha thiết cần đến, biểu lộ một niềm tin tưởng vào tình thương và quyền năng của Chúa Giêsu, vì xin ai thì tín nhiệm vào người đó và sẵn sàng cho điều mình xin.

+ Và quỳ xuống: đây là thái độ khiêm nhường và thống hối vì tỏ ra sự bất lực của mình trước mặt Thiên Chúa.

2 / " Nếu Ngài muốn, Ngài có thể khiến tôi nên sạch ":

Đây là thái độ khiêm nhường tin tưởng phó thác, vì người nàu có một tâm trạng sẵn sàng đón nhận ý Chúa " Nếu Ngài muốn" thay vì đòi hỏi Chúa chữa theo ý mình.

Chính thái dộ này đã làm siêu lòng Chúa và vì thế Chúa đã động lòng thương.

3 / " Chúa giơ tay đặt trên người ấy và nói ":

Việc đặt tay biểu lộ ý nghĩa: qua nhân tính của Chúa Giêsu trong việc đặt tay, con người được tiếp xúc thần tính của Người và do ddod được nhận lãnh ân sủng là sức sống của Người thông ban cho.

Chính vì vậy mà bệnh cùi biến mất và người ấy được sạch.

4 / " Ta muốn, anh hãy khỏi bệnh ":

Thánh ý của Chúa là muốn mọi người được cứu rỗi. Việc chữa lành bệnh cùi là thể hiện thánh ý của Thiên Chúa.

5 / " Nhưng Người nghiêm nghị bảo anh đi ngay ":

+ Thái độ nghiêm nghị của Chúa nói lên tầm mức quan trọng về điều mà Người dặn bảo người được khỏi bệnh cùi.

+ Anh hãy ý tứ đừng nói gì với ai: Chúa cấm vì sợ dân, nhất là những người lãnh đạo dân, vì chưa hiểu gì về chương trình cứu chuộc của Chúa, họ có thể bồng bột làm hỏng chương trình của Người.

+ Anh hãy đi trình diện: là người Do thái, người phong cùi phải tuân giữ luật Do thái là đi trình diện với hàng tư tế để được xác nhận là đã khỏi bệnh thật sự. Ở đây biểu lộ sứ mạng của người cùi sau khi khỏi bệnh sẽ làm chứng cho Chúa Giêsu trước mặt các tư tế vì việc chữa lành bệnh cùi là một dấu chỉ Thiên sai. Là những người hữu trách của dân Israel, họ phải được báo cáo về sự xuất hiện của các dấu chỉ thiên sai.

6 / " Nhưng đi khỏi người ấy liền cao rao và loan truyền ":

+ Lệnh cấm của Chúa không vì sự việc khỏi bệnh nhưng vì sợ sự sai lầm của người nghe tin về sự việc đó. Vì thế, với tấm lòng nhiệt thành biết ơn, người được khỏi bệnh không cầm lòng được nên đã loan truyền sự việc khỏi bệnh của mình ra cho những người xung quanh.

+ Từ đây mỗi lần Chúa Giêsu vào thành là dân chúng đổ xô chạy đến mong tìm lợi lộc gì cho mình. Nhưng Chúa Giêsu không đến vì ý như vậy nên Người tránh sự công khai vào các thành, Người thích ở trong " Những nơi thanh vắng". Tuy nhiên đoàn lũ dân chúng vẫn theo đuổi Người đến tận những nơi ấy vì bị lôi cuốn quá mạnh.

III. ÁP DỤNG:

A / Áp dụng theo Tin Mừng:

1 / Chúa Giêsu đa thanh tẩy người phong cùi được sạch và cho trở lại đời sống xã hội và tôn giáo, đó là biểu hiện cho tội nhân sa ngã được phục hồi, cho kẻ chết phần hồn được sống lại.

2 / Việc chữa lành này bắt nguồn từ đức tin " Nếu Thầy muốn, Thầy có thể cho tôi được sạch" nhưng sự việc được thực hiện qua phép Bí tích:

- Chúa sờ vào anh ta ( đó là thể chất )

- và phán boả " Tẩy sạch" ( đó là mô thức của Bí tích )

- Trong các phép Bí tích, lời nói và việc làm cũng biểu hiện một sức mạnh siêu nhiên. Sức mạnh của Thiên Chúa được thông ban cho ta qua nhân tính của Chúa Giêsu, ngày nay là Giáo Hội của Người.

3 / Bệnh phong cùi là hình bóng của tội lỗi:

+ Tội làm linh hồn ra xấu sa, tê bại, đau khổ, lương tâm cắn rứt...

+ Chỉ có Thiên Chúa mới chữa được bệnh cùi thiêng liêng này. Ai muốn khỏi hãy bắt chước người phong cùi kia chạy đến xấp mình trước mặt Chúa xin Người chữa cho.

+ Tội được tha trong toà giải tội: một lời đọc tha tội của linh mục giải tội đem lại ơn tha thứ.

B / Áp dụng thực hành:

1 / Nhìn vào Chúa Giêsu:

Chúa Giêsu đã đến tiếp xúc và đem lại hạnh phúc cho người bệnh phong cùi, thứ bệnh mà mọi người kinh tởm.

Chúng ta noi gương Chúa, đến với những người bị bỏ rơi, bị khinh miệt để an ủi, giúp đỡ, phục vụ: hãy trở nên tất cả cho mọi người, trong đời sống chung, đừng để ai trong cô đơn...

Chúa Giêsu động lòng thương...

Lòng thương của chúng ta đối với tha nhân phải được thể hiện bằng việc làm cụ thể, chứ đừng chỉ bằng tâm tình và lời nói suông...

2 / Nhìn vào người bị bệnh phong:

Người này đã xé hàng rào luật lệ để đến với Chúa Giêsu.

Chúng ta cần phải xé những hàng rào ngăn cản nơi bản thân: lười biếng, ngại khó... nơi tha nhân: sự dèm pha, ngăn cản... để đến với Chúa.

 

Hành Trang Mục Vụ Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn