Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật VII Thường Niên A

Tin mừng Mt 5: 38-48: Chúa phán: “Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện”
CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT VII THƯỜNG NIÊN A

 
Tin Mừng Mt 5:38-48


Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải
 
YÊU THA NHÂN VÔ BỜ BẾN (Mt 5, 38- 48)

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Các yêu sách của Chúa Giê-su có thể thực hiện được không ?

a. Chúng là những chỉ thị, chỉ dẫn hay điều luật ?

b. Chúa Giêsu ngỏ lời với ai ? Với một nhóm ưu tú? Với tất cả môn đồ? Thánh Bonaventura phân biệt hai hạng người : hạng của điều luật, hạng của lời khuyên, và cho rằng ở đây Chúa Giêsu nhắm đến hạng thứ hai. Phải nghĩ sao về ý kiến này? Các "lời khuyên" thuộc phần nào trong Tin Mừng?

c. Vài tác giả khác cho rằng nghiêm chỉnh mà nói thì các lời Chúa Giêsu không thể nào thực hiện được. Từ đó họ bảo có hai nền luân lý, một có tính cách hão huyền, do Chúa Giêsu tưởng tượng ra, nhằm thúc đẩy ta ăn năn hoán cải và nhận biết mình là tội nhận; một có tính cách thực tế, tầm thường, công dụng.

Hãy rút ra phần sự thật trong lối giải thích thứ nhất (cánh chung học) : Các yêu sách của Chúa Kitô tự chúng có thể thực hiện được không? Ai làm cho chúng có thể thực hiện được? Nếu không thì Diễn từ chẳng trở nên một khảo luận luân lý sao?

2. Tầm mức và giới hạn của Diễn từ trên núi:

a. Phải chăng đó là một chương trình sống xã hội (Tolstoi)? Một chương trình đào tạo Kitô hữu?

b. Phải chăng đó là toàn bộ hiến chương Kitô giáo? Thiếu điều gì chủ yếu trong Diễn từ này không, hoặc trong các yêu sách, hoặc trong lời mặc khải mầu nhiệm Nước Trời?

c. Hãy tìm tương quan giữa luật Chúa Kitô với luật tự nhiên : mối tương quan giữa luật Môisen và luật Chúa Giêsu phải chăng không tương tự với tương quan bản tính-ân sủng và với tương quan thế trần Kitô giáo ?

3. Tìm ý nghĩa của câu : "Hãy nên trọn lành như ..." (5,48 ; x. Lv 19, 2 ; Lc 6, 36). Câu đó phải chăng không nói lên một mệnh lệnh bất khả thực hiện ? Giữa sự "trọn lành" và "đức công chính dư dật" (5, 20) có tương quan gì ?

1.Người ta đã dày công tìm hiểu giáo huấn luân lý Do thái để xem các lời khiển trách của Chúa Giêsu, ví dụ về luật báo thù, có đúng hay không, và để xem tính cách mới mẻ của các yêu sách "mới" của Người hệ tại ở chỗ nào. Kết quả của những cuộc nghiên cứu này không bất lợi mấy cho Do thái giáo. Đối chiếu với mọi giới luật luân lý được Chúa Giêsu phát biểu một cách như khiêu khích, ta có thể trích dẫn nhiều câu tuyên bố của các giáo sĩ cũng nói ít nhiều một chuyện như thế, cũng đạt tới một tầm mức luân lý cao như thế, trên một vài điểm hoặc ít ra cũng rất tương hợp trên nhiều điểm khác. Phải thành thật mà công nhận điều đó. Tuy nhiên việc so sánh ấy làm lệch lạc quan điểm. Vì một trong những đặc điểm của truyền thống trường phái Do thái là thu gộp lại các câu nói khác nhau của các giáo sĩ, đến nỗi có nhiều ý kiến có giá trị luân lý cao đã được đặt bên cạnh các ý kiến khác từng bị Chúa Giêsu tấn công. Thành thử ta phải công nhận Tân ước như là nguồn mạch của mọi quan niệm thông thường ảnh hưởng trên tâm thức nhân gian thời bấy giờ. Sau cùng và đặc biệt, điều quan trọng đối với Chúa Giêsu, đó là một sứ điệp tôn giáo và luân lý tổng hợp, mà tìm cách mới mẻ đã được tỏ bày cùng với giờ của lịch sử cứu rỗi.

2.Trong tất cả các phản đề Chúa Giêsu nêu lên, hiện ra một yêu sách duy nhất, dứt khoát. Điều thiện cần làtn thì phải làm cho trọn vẹn. Ai chỉ làm một phần, với sự hạn chế, cốt cho xong mệnh lệnh bên ngoài, là không làm gì cả. Và để người ta hoàn toàn chú ý tới yêu sách đó, cái yêu sách ăn sâu đến tận tâm hồn, Chúa Giêsu dùng một thể văn đặc biệt : thể văn phóng đại. Câu tuyên bố về việc làm gương xấu và về yêu sách chặt bớt các phần thân thể là một trường hợp rõ ràng. Và ta cũng phải hiểu theo một nghĩa tương tự phán quyết của Chúa Giêsu về sự giận hờn và nhục mạ. Tuy nhiên, đừng lạm dụng hình thức giảng dạy bình dân thông dụng ở phương Đông này, để làm yếu đi các đòi hỏi khách quan mà nó chứa đựng. Vì quả thực Chúa Giêsu buộc phải triệt để xa lánh ngay cả dịp tội, chấp hành tốt tình huynh đệ không chỉ bên ngoài mà còn từ ý tưởng con tim, và từ chối mọi quyền trả thù chính đáng (5, 38- 42).

3.Nố sau cùng này đặc biệt gây ra nhiều vấn đề khó giải quyết. Phải chăng như thế là Chúa Giêsu đã không phá bỏ trật tự pháp lý bên ngoài cần thiết cho đời sống xã hội? Trật tự đó há chẳng bắt nguồn từ Thiên Chúa sao? Và đặc biệt riêng về đoạn văn này, phải chăng nó không tạo nén một nền tảng Kinh Thánh vững chắc cho các luồng tư tưởng chủ hòa hiện thời, những luồng tư tưởng nghiêm cấm mọi hình thức tham chiến. Rồi người bị thiệt thòi cách bất công có thể nại đến toà án không .. Đó là những câu hỏi hóc búa khó trả lời trong vài dòng chữ. Chúng ta hãy tạm đưa ra một vài nhận xét tổng quát ít nhất như những cái mốc đầu tiên của một câu trả lời.

Tất cả các quy định của luật Cựu ước mà Chúa Giêsu trích dẫn, dù chưa thực sự hoàn hảo, cũng đã nói lên một tiến bộ luân lý không thể chối cãi so với luật rừng hay tình trạng man rợ vẫn có khuynh hướng ưu thắng trong đời sống xã hội thời bấy giờ. Tất cả các quy định đó đều nhằm mục đích làm cho đời sống xã hội trở nên công bình và huynh đệ hơn. Thế mà, sở dĩ Chúa Giêsu đến kiện toàn Lề luật Môisen, chính là để kiến lập thêm công bình và huynh đệ giữa con người . Dĩ nhiên, việc kiện toàn luật Môisen chỉ có thể được thực hiện trong chiều hướng triệt để hóa các yêu sách tuyệt hảo nhất của nó. Thành ra mọi lời giải thích học thuyết luân lý của Chúa Giêsu trong Diễn từ trên núi đều phải lưu ý đến bối cảnh tổng quát đó : lối giải thích nào khuyến khích các lạm dụng và có khuynh hướng biến xã hội thành một đàn cừu phó mặc cho lũ sói cắn xé, thì không phù hợp với bồi cảnh này. Vì thế, thái độ bất kháng cự tuyệt đối trước mọi hình thức bạo lực đang hoành hành trong thế giới ngày nay, chỉ tổ khuyến khích việc bóc lột kẻ cô thân yếu đuối, tước đoạt các nhân quyền và làm phương hại phẩm giá con người cách trầm trọng.

Thứ đến, có thể tự hỏi phải chăng Chúa Giêsu chỉ muốn đứng trên bình diện pháp định hoàn toàn. Có nhiều bằng chứng cho thấy phải hiểu ngược lại. Thực vậy, các bản văn pháp luật thường mang tính cách điều độ, dùng từ ngữ chính xác, không có những hình ảnh thái quá hay kiểu nói khoa trương, đầy dấy nhiều điều khoản tiên liệu các luật trừ v.v... Thế mà văn thể Chúa Giêsu dùng trong Diễn từ lại hoàn toàn khác biệt. Người ưa sử dụng kiểu nói đại ngôn. Hãy lấy một trường hợp điển hình: lời khuyên bảo chìa cả hai má cho kẻ vả mặt (5, 39). Hiển nhiên đây không phải là một nguyên tắc về phản lệ chính thức, song chỉ là một ví dụ cố ý phóng đại ra; cũng vậy khi nói phải móc mắt hay chặt bàn tay. Vì trong thực tế, hành động như thế chẳng có hiệu quả gì. Cũng như con mắt bị móc hay bàn tay chặt lìa không thể bảo vệ người tín hữu khỏi bị một gương xấu khác, thì cũng vậy, cái vả má thứ hai chẳng cản ngăn được cái tát thứ ba, hay làm cho người hung ác trở nên thiện cảm. Hơn nữa, chính Chúa Giêsu sẽ đưa ra một lối giải thích hay nhất về câu nói của Người: đó là khi bị tên đầy tớ vả mặt, Người đã chẳng đưa má kia, song nghiêm nghị hỏi nó: "Nếu Ta đã nói không phải, thì hãy làm chứng không phải chỗ nào: còn nếu là phải, sao lại đánh Ta ?" (Ga 18, 23). Hãy phân biệt rõ: một đàng là mệnh lệnh, có giá trị đối với mọi người và cho mọi hoàn cảnh, đàng kia là một ví dụ cố ý phóng đại mà chẳng xét đến các điều kiện cụ thể hằng biến đổi luôn. Chúa Giêsu công bố một lý tưởng, chứ không ban hành một đạo luật.

Lại nữa, giả thiết rằng Giáo Hội và xã hội phải tuân theo một quá trình tiến hóa có tính cách năng động, và quá trình này, ít ra trong các nguyên tắc, nhằm tinh luyện ý thức luân lý dưới tác động của Chúa Thánh Thần (như đã xảy ra trong suốt lịch sử Israel), thì có thể Chúa Giêsu đã biết đến một quá trình như vậy và muốn trình bày, trong Diễn từ trên núi, các nguyên tắc năng động sẽ hướng quá trình đó tiến về việc thực hiện ngày càng hoàn hảo một xã hội công bằng và huynh đệ. Trong viễn ảnh ấy, các lời khuyên bảo có tính cách tuyệt đối của Người có lẽ không nhằm đưa ra các mệnh lệnh cụ thể phải thực hiện tức khắc, nhưng đưa ra một đường hướng phải theo để dần dà, với thời gian, sự thiện lướt thắng sự ác.

Hiển nhiên, mọi suy luận trên đây chẳng làm mất đi tính cách khẩn trương của một nỗ lực vô điều kiện nhằm thực hiện các yêu sách luân lý của Chúa Giêsu. Vì Người cũng muốn đưa ra, không phải một bộ luật mới, song là những đường hướng mới và đòi buộc một thái độ cụ thể. Điều đó hiện ra rõ ràng qua cung giọng sai khiến của các phản đề, và được xác định bởi dụ ngôn cuối cùng về việc xây nhà, trong ấy Chúa Giêsu đối chiếu người khôn biết nghe lời Người và đem ra thực hành, với kẻ dại chỉ nghe qua mà thôi. Tuy nhiên, trong cụ thể, việc đem ra thực hành đó cũng bị chi phối bởi nhiều hoàn cảnh. Điều cốt yếu là biết cảm hứng theo lý tường mình nhận ra trong Diễn từ này và chân thành phấn đấu đưa lý tưởng đó vào trong một thế giới mà, mặc dầu bị nhiều thất bại thê thảm, cũng biết cách mù mờ rằng nó phải chọn hoặc luân lý Tin Mừng, hoặc là bị hủy diệt tiêu tan.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

"Mắt thế mắt, răng đền răng": Nguyên tắc báo thù theo đó phạm nhân phải bị bồi thường tương xứng với thiệt hại đã gây nên, vẫn được áp dụng chung chung và từ lâu, trong thế giới văn minh. Nguyên tắc đã xuất hiện trong bộ luật Hammourai 2000 năm trước Chúa Giêsu. Ở đây nó quy chiếu về Xh 21, 24 (x.Đnl 19, 21 ; Lv 24, 20). Trong bối cảnh Cựu ước, nó nhấn mạnh đến tính cách nghiêm khắc cần thiết của hình phạt, song cũng đánh dấu một bước tiến quan trọng so với chế độ báo thù cá nhân hỗn loạn (xem bài ca man rợ của Lamek trong St 4, 24 chẳng hạn).

"Đừng cự lại người ác": Huấn thị này không nói với các quan tòa là những kẻ phải tìm cho ra phương cách mới để áp dụng luật lệ trường hợp các truyền thống giáo sĩ Do thái), nhưng trái lại ngỏ lời với người bị tổn thương để bảo họ biết phải xử trí ra sao cho hợp với tư cách môn đồ Chúa Kitô. Chúa Giêsu và các Kitô hữu đầu tiên không muốn hủy bỏ pháp chế hiện hành thời đó (như thánh Phaolô, với tư cách công dân Rôma, đã kháng cáo lên Hoàng đế để xin minh oan : Cv 25,11) ; song các ngài đã đưa vào xã hội một thái độ nhân bản mới làm phát hiện tính cách sơ thiển, hạn chế trong thời gian của các bộ hình luật chính thức hiện hành; các bộ luật này không bị hủy bỏ nhưng đã trở nên lỗi thời vì thái độ cụ thể của các Kitô hữu, là thái độ dù cảm hứng theo một lý tưởng, vẫn để ý tới các hoàn cảnh con người, không gian và thời gian.

"Đi một dặm": Chắc hẳn ví dụ này ám chỉ đến một khổ dịch ; binh sĩ và viên chức này xưa có thể buộc một bộ hành nào đó vác một gánh nặng (x. trường hợp ông Simon thành Xyrênê vác thập giá) hoặc đi theo họ để làm con tin hay người dẫn đường.

"Ai xin ... ai muốn vay": Lời khuyên gồm hai xác ngôn song song- hầu như đồng nghĩa: việc cho vay mượn thường tương đương với việc bố thí. "Cho đồng loại vay là làm việc từ thiện", Hc 29, 1 khẳng định thế. Giữa người Do thái với nhau, cho vay không được ăn lời (Xh 22, 24 ; Lv 25, 35- 37 ; Đnl 15, 7- 11 ; 23, 20-21 tất cả các bản văn này đều quy chiếu về các "anh em" Do thái) và đến hưu niên (année sabbatique) thì mọi nợ nần và vay mượn đều được tha ít nhất trên lý thuyết (Đnl 15). Làm thế là vì Israel muốn mãi mãi là một dân tộc sống tình anh em. Ở đây hình như Chúa Giêsu muốn nới rộng luật ấy theo nghĩa là người yêu cầu hãy cho vay bất cứ ai xin vay, mà đừng để ý đến chủng tộc hay tôn giáo của họ. Gia đình Israel phải mở rộng cửa nhà mình cho tất cả mọi người.

"Hãy ghét địch thù ": Trong lúc mấy phản đề trên kia quy chiếu về các khoản luật đích xác của Cựu ước thì ớ đây lại khác hẳn. Quả vậy, ta chẳng tìm đâu ra trong Cựu ước mệnh lệnh minh nhiên phải ghét địch thù. Có lẽ lời huấn thị chỉ muốn chống lại tư tưởng khá phổ biến trong Do thái giáo suy đồi là: tất cả những ai không thuộc thành phần cộng đoàn quốc gia và tôn giáo đều là thù địch. Đặc biệt trong các bản văn Qumrân, ta thấy tỏa ra lòng khinh miệt ghê gớm đối với "con cái tối tăm"; các Thánh vịnh của Salomon cũng cho nhiều ví dụ tương tự. Thành thử có lẽ trong bối cảnh này, thù địch không phải là đối phương cá nhân bên trong cộng đoàn tôn giáo, cũng chẳng phải là thù địch của quốc gia theo nghĩa chính trị hay quân sự, nhưng là kẻ bách hại đức tin, kẻ thù của cộng đoàn thiên sai do các Kitô hữu đầu tiên thành lập. Trước đó, trong bản 70, chữ echthros đã thường chỉ các thù địch của dân Thiên Chúa (Tv 31, 7 ; 139, 21 v.v...) ; lời ám chỉ đến các người bắt bớ trong câu tiếp theo củng cố giả thiết vừa nói; sau cùng các thánh thư cũng cho thấy chữ này thường được dùng theo nghĩa ở thế kỷ thứ nhất (2 Tx 3, 15 ; Rm 5, 10 ; Cl 1, 21 ; Gc 4, 4). Tình yêu nói đây không phải chỉ là chẳng giận hờn, chẳng báo oán nhưng, như trong Cựu ước và Tân ước, luôn luôn là hành động cụ thể, là hiệp thông sống động biểu lộ qua các cừ chỉ rõ ràng (Vd. Lời chào hỏi nơi c.47). Cầu nguyện cho các người bắt bớ không phải là biểu thức duy nhất của tình yêu đó, song chỉ là một trong các cách biểu lộ tình yêu ; chữ khi (và) chẳng có nghĩa giải thích nhưng có nghĩa: và đặc biệt. trong khi làm các cử chỉ yêu thương này, có thể ta vẫn mang tâm trạng oán hận hay ác cảm tự nhiên đối với kẻ thù hiện gây cho ta đau khổ. Trong một trường hợp như vậy, dù cố gắng thế nào, cũng khó mà chế ngự các phản ứng nhạy cảm được. Nhưng Chúa Giêsu không đứng trên bình diện tâm lý, và chẳng muốn phân biệt giữa điều cảm thấy và điều ưng thuận như các nhà luân lý học thường làm một cách chính đáng. Người đứng trên bình diện hành lang cụ thể (vd : cầu nguyện, c.44; chào hỏi, c.47), nơi phê phán sau cùng sự chọn lựa sâu xa của con người vượt trên mọi xao động của cảm giác.

"Hãy nên trọn lành, như Cha các ngươi trên trời là Đấng trọn lành": Hình như lời tuyên bố này không chỉ kết thúc đoạn văn về lòng yêu thương thù địch, mà còn kết thúc cả đoạn gồm cc. 17- 48 về việc chu tất Lề luật theo quan niệm của Chúa Giêsu. "Câu nói" (logion) rõ ràng cảm hứng từ Lv 19, 2 : "Hãy nên thánh, vì Ta là Đấng thánh" và từ Đnl 18, 3 : "Ngươi hãy nên trọn. lành trước mặt Chúa là Thiên Chúa của ngươi". Có nhiều cách giải thích nó. Nhưng hình như phải loại bỏ ý tưởng về một sự tương đồng kiểu hữu thể học (xa lạ với tư tưởng Hy bá) hay kiểu luân lý học theo nghĩa tuyệt đối không thể phạm tội là một điều bát khả đối với tạo vật, trừ phi được đặc ân ngoại thường). Thật ra, chủ đề "trọn lành", trong các bản văn Kinh Thánh, diễn tả ý tưởng dấn thân hoàn toàn, thuộc trọn về một mình Thiên Chúa. Đó cũng là ý nghĩa của teleios (trọn lành) được một dùng thêm một lần nữa, trong câu chuyện Chúa Giêsu đề nghị người thanh niên giàu có bán của cải anh ta có và đi theo Người nếu anh muốn nên trọn lành (19, 21). Hạn từ này xem ra liên hệ với hạn từ công chính": người trọn lành là người thực thi tròn đầy Lề luật đã được Chúa Kitô tái giải thích.

KẾT LUẬN

Dù la có thể nghĩ rằng các thành ngữ Chúa Giêsu dùng trong đoạn văn này có tính cách nghịch lý, thì sứ điệp căn bản vẫn rành rành: môn đồ của Chúa Giêsu được mời gọi hãy yêu thương tất cả mọi người không trừ ai và yêu thương một cách cụ thể, chứ đừng để cho tà ý hay hận thù lấn át tình yêu. Như thế, họ mới tỏ ra mình là con cái đích thật của Cha trên trời.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1.Trong một thế giới bị chi phối bởi luật "do út des" (hòn đất ném đi, hòn chì ném lại), giáo huấn của Chúa Giêsu thật mở ra nhiều viễn tượng mênh mông. Nó giúp ta tránh khỏi cái vòng quỷ quái của toan tính ích kỷ, của hành động vụ lợi, của thù hận đáp trả hận thù. Chỉ tình yêu mới có thể phát sinh tình yêu. Chỉ các Kitô hữu bị thu húat bởi sức mạnh chinh phục của sự dịu dàng nơi Chúa Kitô, mới có thể tạo nên trong thế giới một cuộc cách mạng ôn hòa có sức đánh đổ việc bóc lột người hèn yếu và bạo động quá đáng.

2.Các bản văn này buộc ta tự vấn về mức độ cởi mở của ta đối với kẻ khác. Phải chăng ta chỉ phục vụ, yêu thương cha mẹ và bằng hữu? Khi gặp dịp, ta có biết chấp nhận phiền toái để giúp đỡ những người xa lạ không ?

3.Lý tưởng trọn lành của Kitô hữu chẳng phải là lý tưởng tránh phạm tội của Biệt phái, tiết độ của Khắc kỷ, hay vô cảm của phât giáo. Kitô hữu không nhìn đến bản thân mình nhưng nhìn đến Chúa Cha, không tìm cách trau dồi các nhân đức như người ta vun trồng cây cối hay tìm cách tạc nên bức tượng thiêng liêng của mình, nhưng chỉ cố gắng bắt chước Chúa Cha, bằng cách gieo rắc tình yêu quanh mình. Và so với lòng nhân lành vô biên của Chúa Cha, người Kitô hữu luôn cảm thấy mình thiếu sót.

4.Khi thấy mình hoàn toàn không thể sống tình yêu mà Chúa Giêsu truyền dạy, Kitô hữu liền ý thức rằng chỉ ân sủng của Chúa Thánh Thần mới có thể biến đổi tâm hồn hẹp hòi của mình và làm cho mình nên giống như Chúa Giêsu cầu nguyện trên thập giá: "Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm" (Lc 25, 34).


Noel Quession - Chú Giải

 
CHÚA NHẬT VII THƯỜNG NIÊN

Mt 5:38-48

 
"Anh em đã nghe luật dạy người xưa rằng….còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết…"

tiếp nối bài giảng trên núi, chúng ta đang ở phần đề thứ năm và thứ sáu trong luật mới. Đức Giêsu đã chống lại những gì đã được nói trước kia hay đúng hơn người kiện toàn chúng. Nhưng cách nói này có một uy quyền chưa từng thấy, nhất là khi người ta biết công thức ở thể thụ động ("luật dạy người xưa" = luật được dạy cho…) là một ngữ điêu trong ngôn ngữ Do thái, được dùng vô vị, để tránh việc sử dụng danh của Thiên Chúa mà người ta không bao giờ nói ra vì lòng tôn kính Người. Nói rõ ra công thức này có nghĩa ; "Thiên Chúa đã nói..còn Thầy , Thầy cho anh em biết…". Cũng thế, công thức "anh em đã được nghe, được dạy…" gợi lại việc đọc trang trọng luật trong phụng vụ ở Hội Đường. Đó là luật thánh, bất khả xâm phạm toả ánh vinh quang của núi Xi-nai. Vậy, Đức Giêsu đã dám chống lại lời của Thiên Chúa , sách kinh Tô-ra bằng những khẳng định riêng Người. Không bao giờ có một ngôn sứ nào đã nói như thế. Vai trò của họ chỉ là truyền đạt lại hay chú giải sứ điệp của Thiên Chúa : " Đức Chúa nói như thế . . . " Để nói như Đức Giêsu, phải là ng điên hoặc là Thiên Chúa.

Thiên Chúa đã dạy anh em... Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em. . . " Người ta biết rằng Người đã bị buộc tội phạm thánh.

Nhưng phần tiếp theo sẽ chứng tỏ cho chúng ta thấy rằng đó là một sứ điệp thật sự siêu phàm, một sứ điệp của Thiên Chúa !

Anh em đã nghe Luật dạy rằng : "Mắt đền mắt, răng đền răng".Còn Thầy, Thầy bảo anh em đừng chống cự người ác..."

Tầm thước thời đại của chúng ta ...khó mà hiểu được "luật phạt ngang bằng" (loi du talion). Làm thế nào mà Luật của Môsê (Luật của Thiên Chúa) đã có thể phát biểu một luật như thế .. Vả lại, luật này đã là một tiến bộ to lớn đối với bản năng : trả thù rất tự nhiên nơi con người . Bởi luật phạt ngang bằng ấy, những luật theo tập quán của Phương Đông Cổ đại (ví .dụ: bộ luật Ham mourabi) cố gắng giới hạn những sự trả thù thái quá. Hành động tự nhiên của người bị tấn công là "trả' đũa nhiều hơn",. Như một bài ca man rợ mà La-méc đã hát : "Ca-in sẽ được báo thù gấp bảy, nhưng La-méc thì gấp bảy mười bảy. . . " (St 4,24). Vì thế luật ấy đã cố gắng giới hạn bạo lực và khuyến cáo chỉ nên bắt kẻ tấn công chịu sự đối xử giống như người này bắt nạn nhân của hắn phải chịu (Xuất hành 21 , 24 ; Lê-vi 24,20; Đệ nhị luật 19,21). Hình như chúng ta đã hoàn toàn vượt qua luật này của Kinh Thánh vì nó được viết ra cho một thời- đại khác với thời đại của chúng ta. Than Oi ! Nếu như người ta cứ sống mãi theo luật hình phạt ngang bằng ! Biết bao thành phố bị ném bom bởi sự "trả thù" thật biết bao cuộc đấu tranh chủng tộc, quốc gia, xã hội trong đó người ta áp dụng điều ngược lại với "luật hình phạt ngang bằng, nghĩa là sự leo thang của bạo lực". Nó áp dụng cho Người nào sẽ !à người mạnh nhất, cho – người nào sẽ trả đũa lại những cú đòn đã nhận được ! người ta nói một cách ngây thơ về "những tương quan lực lượng nhưng đó luôn luôn là một bản năng man rợ lâu đời.

Đức Giêsu đã táo bạo mời gọi con người đi đến hoàn thiện của tình yêu Người bảo chúng ta rằng không nên trả thù về mọi việc. . . không nên đánh trả kẻ hung ác ! và vốn là một nhà thuyết giảng cụ thể, đại chúng, Người sẽ cho chúng ta bốn ví dụ :

"Nếu ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa... 

Nếu ai muốn kiện anh để lấy áo trong của anh, thì hãy để cho nó lấy cả áo ngoài...

Nếu có người bắt anh đi một dặm, thì hãy đi với người ấy hai dăm... 

Ai xin thì anh hãy cho ; ai muốn vay mượn thì anh đừng ngoảnh mặt đi.."


Ơ đây cũng thế , Tin Mừng không bao giờ cho chúng ta những công thức đạo đức hoàn toàn có sẵn. Điều quan trọng là một "tinh thần" chứ không phải là một "quy tắc". Chính Đức Giêsu, khi đã nhận cái vả của người đầy tớ Thượng Tế, đã không giơ má kia ra ! Người đã đáp lại dũng cảm và xứng đáng : ."Sao anh lại đánh tôi" (Gian 18,23).

Vả lại người ta không có quyền dựa trên những lới đó của Đức Giêsu để bảo lãnh cho sự bất công, ở đây, chúng ta không có những quy tắc luật pháp có thể áp dụng nguyên xi cho xã hội dân sự : điều này sẽ khuyến khích tình trạng ăn xin, khích lệ bạo lực và tội ác, không bảo đảm sự trừng phạt những kẻ bất lương. Chắc chắn, Đức Giêsu đã không muốn công nhận một tình -trạng áp bức bất bình thường khi đòi hỏi những kẻ yếu phải cam chịu . Cũng có những trường hợp mà một môn đệ chân chính của Đức Giêsu phải chiến đấu : cam chịu sự bất công, nhất là sự bất công mà những người khác là nạn nhân, hoàn toàn trái ngược với tinh thần của Đức Giêsu. Sau khi đã nêu ra những khía cạnh đó, hãy để Đức Giêsu tra hỏi chúng ta. Phải, tất cả chúng ta đều phải chiến thắng bản năng trả thù tròng con người của mình. Điều ác sẽ không bị vượt qua khi chúng ta đáp lại nó bằng một sự tàn nhẫn tương đương. Khi người ta trả đũa điều ác bằng điều ác, người ta trở về với vòng tròn hỏa ngục. Thật vậy, điều ác mà chúng ta chịu đựng thật ra vẫn còn ở bên ngoài chúng ta... nhưng khi người ta đáp trả lại điều ác, điều ác ấy sẽ có thêm một chiến thắng phụ nữa, bởi vì nó đã đi vào lòng chúng ta. Đức Giêsu muốn mở ra một con đường khác cho nhân loại : chiến thắng điều ác bằng điều thiện, dùng tình yêu để đáp lại hận thù.

"Anh em đã nghe Luật dạy rằng : "hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù".

Trong Kinh Thánh, người ta có tìm kiếm một quy tắc như nhưng thế cũng vô ích. Thật vậy, Đức Giêsu muốn ám chỉ thái độ thông thường của toàn thể nhân loại.. . được diễn tả rất mạnh trong nhiều bài Thánh vịnh về "sự trừng phạt của Chúa", trong đó lòng thù ghét tội lỗi đi đến chỗ biện minh cho sự thánh chiến" : "Lạy Chúa, ước chi Ngài tiêu diệt kẻ gian tà… Lạy. Chúa, kẻ ghét Ngài, làm sao con không ghét ? Con ghét chúng, ghét cay, ghét đắng, chúng trở thành thù địch của chính con" (Tv 139,19-22). Những thủ bản kinh Thánh ở Qumram có lệnh truyền này : "Ngươi sẽ ghét những đứa con của bóng tối" . Vả lại, phải hiểu ở đây trước hết không phải là những kẻ thù của mình mà là những "kẻ thù của Thiên Chúa" tức là những kẻ thù của của nhóm giáo sĩ gồm "con cái của ánh sáng. Vậy sự thù ghét trước hết có ý nghĩa là từ chối ý thức hệ của họ.

"Còn Thầy, Thầy bảo anh em : hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính".

Đây là điều mới mẻ cao cả nhất của Tin Mừng. Cho đến bây giờ người ta đã cầu nguyện "chống lại" các kẻ thù của mình (Thánh vịnh 17,13 ; 28,4: ; 69,23-29 ; v.v…) Giờ đây phải cầu nguyện cho họ, nghĩa là để cho họ được hoán cải. Nhưng hãy coi chừng, người ta không thể sống Tin Mừng, bằng cách chỉ ở lại trên bình diện con người. Làm điều mà. Thiên Chúa vừa đòi hỏi chúng ta là đã vượt quá những khả năng của con người. Nếu Đức Giêsu bảo chúng ta yêu mến kẻ thù, chúng ta bởi vì Thiên Chúa là người đầu tiên yêu chúng ta như thế Phải đọc lại đoạn văn nổi tiếng của thánh Phaolô gởi tín hữu Rôm (5,7.8) : "Hầu như không ai chết vì người công chính, họa may có ai dám chết vì một người lương thiện chăng. Thế là.. Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi. Khi chúng ta đứng trước - một tình yêu thướng mà về mặt con người, chúng ta khó sống hoặc không thể sống nổi thì chúng ta không còn ở lại trên bình diện tâm lý, đạo đức và xã hội…mà phải đặt mình trước măt ảnh chuộc tội : Lạy Chúa Giêsu con của Chúa Cha, Chúa đã muốn điều tốt lành cho những người muốn Chúa chịu điều ác...Chúa đã đau khổ và đã chết…Tình yêu chúng kẻ thù chỉ có thể đến từ Thiên Chúa không ngừng thực hiện, "Người cho mặt trời của Người mọc lên trên cánh đồng của người vô thần bách hại đạo, cũng như trên khu vườn của các nữ tu Cát Minh". Bạn có tự hỏi mình phải làm gì để yêu thương người không yêu thương bạn không ?

Thiên Chúa đã yêu bạn như thế nào ? Bằng cách không ngừng tha thứ cho bạn. Đức Giêsu chỉ dám yêu cầu chúng ta sống tình yêu thương xem ra không thể có đối với kẻ thù bởi vì Người đã sống nó trước tiên : "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm (Luca 23,34).

"Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu mình, thì anh em nào có công chi ? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao ? Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có gì lạ thường đâu ? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao ?

Người đã nói: chúng ta hãy trở thành muối và ánh của thế gian. Vì thế Người mời gọi chúng ta chấp nhận một cung cách hoàn toàn mới về mặt nhân loại là không thể có cắt đứt với mọi cung cách của những người khác. Để bắt chước Thiên Chúa; noi gương Người, chúng ta phải đi đến tận cùng tình yêu ấy vốn không đơn giản là một tình yêu có qua có lại : "Tôi yêu thương bạn bởi vì bạn yêu thương tôi, tôi chào bạn bởi vì bạn chào tôi . . . "Đức Giêsu nói, người ngoại cũng chẳng làm như thế. Phần Thiên Chúa; trước sự khước từ tuyệt đối không đáp lại tình yêu, Người vẫn duy trì quyết định tuyệt đối là yêu thương. Theo Đức Giêsu yêu không thể chỉ được giản lược vào bình diện tình cảm, sự lôi cuốn, cảm tính, quyến luyến. Đức. Giêsu không chê trách tình yêu đó . . mà chúng ta rất cần . Ai có thể sống mà không có sự dịu dàng âu yếm đó ? Có điều, Đức Giêsu bảo chúng ta rằng không nên ở lại mãi trong Tình yêu đó.

Phải Đức Giêsu bảo chúng ta phải yêu thương kẻ thù của mình. Và chúng ta có sẵn nghệ thuật xoa dịu yêu sách của Tin Mừng, chúng ta nói : "Tôi không có kẻ thù . . . " Lúc đó, chúng ta phải chấp nhận ánh sáng sống sượng và mạnh mẽ mà Đức Giêsu soi chiếu trên cuộc đời con người đã mang dấu ấn của những xung đột không thể tránh khỏi : Thật ra mọi người không giống tôi đều xúc phạm và làm tôi tổn thương. "Cái làm cho người khác khác tôi", cáo giác tôi và nhắm đến việc loại bỏ tôi... "Tính tình ấy rất khác tính tình của tôi" làm tôi bực dọc giết chết tôi. "Cái cách nói năng đó . . . cái cách cư xử đó . . . " làm tôi phát cáu. Bạn đừng chờ đến ngày mai. Ngay trong giây phút này bạn. hãy ngừng ngay suy nghĩ của bạn.... và hãy làm điều Đức Giêsu bảo bạn : Hãy cầu nguyện, dù chỉ trên danh nghĩa cho những người làm bạn bực bội, những người làm bạn đau khổ, những người mà bạn không yêu hoặc những người không yêu bạn.

"Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện".

Yêu thương những người không yêu chúng ta . . . đó là noi gương Thiên Chúa. Hãy làm điều thiện hảo cho những ai làm hại chúng ta, đó là điều linh thánh. "Kitô hữu là gì ? Đó không. phải là đã đạt đến mục đích cao cả nhất tức tình yêu phổ quát. . . mà là cố gắng vươn lên tình yêu ấy. Đây không phải là một thứ đạo đức hiền từ nhu nhược dành cho những người có tình cảm bất lực. Chúng ta là những con cái của một Chúa Cha được "ôm ấp tròng lòng của Người" dù là kẻ xấu cũng như người tốt. Trên thập giá Đức Giêsu có quyền nói với chúng ta những yêu sách ấy. Người là Đấng. bị người ta vả vào má... bị người ta lột áo trong, áo ngoài... bị người ta đem ra xét xử trong một vụ kiện bất công... bị người ta đem ra xét xử trong một vụ kiện bất công. . . bị người ta lôi đi hai dặm trên con đường lên núi Can-va-ri-ô. Người là "Đấng bị đóng đinh mà không có lòng thù hận " .

Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

 
"Các con hãy yêu thương thù địch các con"

BÀI TIN MỪNG : Mt 5:38-48

I. Ý CHÍNH :

Bài Tin Mừng hôm nay tiếp nối bài Tin Mừng Chúa nhật tuần trước, được trích từ bài giảng trên núi. Ở đây ghi lại việc Chúa Giêsu kiện toàn hai điều luật về thái độ đối xử với địch thù.

II. SUY NIỆM :

1/ "Mắt đền mắt, răng đền răng…" : 


+ Khi Môsê chưa truyền dạy luật Chúa chod ân Do thái, thì dân này cũng như dân ngoại chung quanh, đối xử quá mức trong việc trả thù. Ví dụ : Lamck đã báo thù cách hung bạo : vì bị thương, ta giết một người, ta trầy da, một nam nhi toi mạng (Kn 4,23-24).

+ Nhưng khi luật Talion ra đời, luật này quy định một hành phạt tương đối với thiệt hại đã gây ra (St 21,24-25). Ví dụ : Ai đánh ta một mắt, ta có quyền làm hư họ một con mắt. Như thế luật này đã hạn chế việc báo thù tới mức thấp nhất, tuy chưa đi đến chỗ tha thứ và yêu thương thù địch như Chúa Giêsu đã dạy.

2/ "Đừng chống cự lại với kẻ hung ác" : 

+ Ở đây Chúa Giêsu muốn đề cao nguyên tắc bỏ hẳn việc báo thù và chủ trương bác ái quảng đại tha thứ.

+ Việc quảng đại này không phải là một thái độ nhu nhược để cho sự dữ tự do hoành hành, nhưng là để lấy điều lành mà thắng sự dữ, chứ đừng lấy dữ mà đổi lại với điều dữ (Rm 12,21). Thánh Phaolô với tư cách là một công dân Rôma, vì bị kế án ở Cêsarê, đã kháng cáo lên hoàng đế Roma để xin minh oan (Cv 25,11).

+ Để diễn tả giáo lý trên, Chúa Giêsu đã lấy điển hình 3 ví dụ cụ thể :

a) "Ai vả má bên phải con…" . Ở đây muốn nói hãy nhịn nhục, tha thứ dầu họ muốn tát cả má kia nữa, ta cũng vui lòng tha thứ.

b) "Ai muốn kiện con để đoạt áo trong" :

Chấp nhận sự thiệt thòi và sẵn sàng chịu thiệt thòi hơn nữa, dầu có phải cho đi cả áo choàng nữa thì cũng sẵn lòng. Ở đây muốn đề cao sự duy trì hiệp nhất, yêu thương và tránh những thái độ đối kháng như buồn, giận, ghét, thù oán…với những kẻ gây thiệt hại cho mình cách này hay cách khác.

Người Do thái quen mặc một áo dài trùm kín cả người và thắt dây chẽn ngang lưng rồi choàng một cái áo khoác bên ngoài. Ao choàng được dùng trong Cựu ước như của cầm để bắt nợ : "Nếu người giữ áo choàng đồng loại, làm của cầm, lúc mặt trời lặn, người sẽ hoàn lại cho nó". (Xh 22,25 ; Đnl 24,13).

c) "Ai bắt con đi một dặm…"(14,7-8) :

Sẵn lòng làm thêm nữa để tỏ lòng bác ái quảng đại và tránh thái độ chống cự lại. Chắc hẳn ở đây ám chỉ đến một khổ dịch (corvéc) theo đó thì quân đội và công chức có quyền bắt người qua đường vác một vật nặng (kiểu ông Simon vác thập giá thay cho Chúa Giêsu) hoặc bắt người đó đi theo họ để dẫn đường hoặc làm con tin.

Những thí dụ điển hình trên đây không nên hiểu theo nghĩa đen, nhưng hiểu theo tinh thần Chúa dạy, là đừng theo luật báo thù : lấy ác báo ác, nhưng phải ở bao dung đại lượng, đừng sa vào tội giận hờn báo oán kẻo trở lại thành người gian ác.

3/ "Ai xin thì con hãy cho" :

đối với người Do thái, thì việc cho vay mượn thường tương xứng với việc bố thí ( Hc 19,18) và họ có truyền thống đối xử dễ dãi đối với đồng bào của họ trong việc cho vay hoặc cho luôn (Xh 22,24 ; Đnl 15). Nhưng Chúa Giêsu muốn nới rộng truyền thống này bằng cách không muốn giới hạn con số đồng bào (Do thái) mà phải rộng rãi với hết mọi người, tức là với cả dân ngoại nữa. Ở đây muốn nhấn mạnh bác ái không ranh giới, không phân biệt đối tượng.

4/ "Hãy yêu thương tha nhân và ghét thù địch" : 

+ Yêu tha nhân : Luật cũ Lêvi 19, 18 dạy yêu tha nhân. Tha nhân, trong quan niệm Do thái là người đồng chủng (Do thái). Tất cả mọi người khác là ngoại bang, là kẻ thù không được thương mà cũng không được giúp.

+ Ghét thù địch : Trong Cựu ước không thấy đâu nói rõ ràng là hãy ghét thù địch. Việc ghét thù địch àny diễn ra từ những bản văn khuyên xa tránh dân ngoại (Đnl 20,13-17 ; 23, 4-5 ; 25,17-19). Sự ghét thù địch có ý nói đến một sự thù địch tập thể (giữa dân Do thái và dân ngoại) hơn là một sự thù địch giữa cá nhân với cá nhân.

5/ "Các con hãy yêu thương thù địch các con" :

Theo giáo huấn của Chúa Giêsu về luật yêu thương tha nhân, thì sự bao dung đại lượng của ta còn phải đi tới chỗ yêu thương thù địch nữa.

Luân lý của người Do thái xưa chỉ buộc yêu thương những người gần gũi, nghĩa là những người đồng hương đồng bào, đồng tín ngưỡng với mình. Nhưng nay Chúa Giêsu dạy phải yêu thương hết mọi người, vì mọi người là anh em với nhau : Tứ hải gai huynh đệ.

Để thực hiện luật yêu thương này Chúa Giêsu đã đan cử ra hai việc thực hành :

a) "Hãy làm lành cho những kẻ ghét con" :

Ở đây muốn nói : Tình yêu thương tha nhân không phải chỉ thôi không giận hờn, không báo oán nữa nhưng phải tỏ ra bằng hành động cụ thể qua những cử chỉ rõ ràng là những việc lành như giao tiếp, giúp đỡ, bác ái, câu nguyện…

b) "và cầu nguyện cho những kẻ bắt bớ" …

Đây là thái độ biểu lộ tình yêu tha nhân cách tích cực : lấy điều lành để đối đáp điều dữ.

"Để các con nên con cái Cha các con trên trời" : thực hiện việc thương người như trên là phản ánh tình yêu của Thiên Chúa. Đấng làm cho mặt trời mọc lên trên người lành cũng như kẻ dữ.

6/ "Vì nếu các con chỉ yêu thương những kẻ yêu thương" :

+ Chúa Giêsu so sánh với cách thức yêu thương của người thu thuế để làm nổi bật cách thức yêu thương theo luật Chúa dạy.

+ Người thu thuế : vì làm việc cho đế quốc Roma, lại thường lạm dụng chức vụ mình mà làm giàu cách bất công, nên bị dân chúng coi như những kẻ phạm tội công khai và đáng khinh. Họ chỉ yêu thương những người có lợi cho họ và vì vậy ai yêu thương theo kiểu đó thì chẳng có công phúc gì, vì :

Làm sự dữ để trả ơn lành là ma quỷ.

Làm sự lành để trả ơn lành là nhân loại.

Làm sự lành để trả sự dữ là Thiên Chúa.

Vì vậy, người Kitô hữu phải vượt qua ma quỷ, không được dừng lại ở chỗ nhân loại nhưng phải tiến xa hơn đến chỗ Thiên Chúa. Đấng đã làm ơn cho tất cả kẻ lành lẫn kẻ dữ.

7/ "Và nếu các con chỉ chào hỏi anh em" : 

Chào hỏi là thái độ tỏ ra thân thiện và hoà đồng. Vậy chi tỏ ra thân thiện bằng cách chào hỏi những người thân thì không hơn gì những người dân ngoại, là dân chưa nhận biết giáo lý của Chúa, là con cái của Chúa, phải hơn dân ngoại ở chỗ sẵn sàng sống thân thiện với hết mọi người qua thái d89ộ chào hỏi mà không kỳ thị hạng người nào.

Dân ngoại ở đây là tất cả những người không phải là dân Do thái khinh bỉ, tránh xa không thèm giao tiếp.

8/ "Vậy các con hãy nên trọn lành" :

Câu này là âm hưởng của sách Lêvi 19,2 "Hãy nên thánh vì ta là Đấng Thánh". Chỉ một mình Thiên Chúa là Đấng trọn lành vô cùng, chúng ta không thể trọn lành như Ngài được. nhưng chúng ta phải nên trọn lành như ý Ngài muốn, theo mẫu gương thánh thiện của Ngài là Đấng làm cho mặt trời mọc lên trên người lành cũng như kẻ dữ.

Vì vậy Chúa Giêsu khuyên ta phải chọn lành bằng cách yêu thương thù địch cũng như yêu thương bạn bè. Tình thương trọn lành không nên phân biệt đối tượng và không có ranh giới.

Sự trọn lành cũng đồng nghĩa với chữ "công chính" Người trọn lành là người chu toàn lề luật theo như Chúa Giêsu đã trình bày và giải thích trên đây.

III. ÁP DỤNG

A/ Áp dụng theo Tin Mừng 


Qua bài Tin Mừng hôm nay, Giáo Hội nhắn nhủ chúng ta phải sống xứng đáng con cái Thiên Chúa bằng cách lấy sự lành đáp lại sự dữ và sẵn sàng yêu thương những người xa lạ và cả những người đang gây tai hại cho mình bằng những hành vi cử chỉ cụ thể như chào hỏi giao tiếp với họ và ước muốn sự lành cho họ qua lời cầu nguyện.

B/ Áp dụng thực hành

Nhìn vào Chúa Giêsu 

Nghe lời Người nói :


1/ "Đừng chống cự lại kẻ hung dữ" : lấy nhu thắng cương và nhược thắng cường. Chúa bảo ta lấy sự lành mà đối đáp sự dữ. Làm như vậy không phải là nhu nhược, cũng không phải để sự dữ tự do tung hoành, nhưng để tránh sự ác, vì nếu ta lấy sự ác để đánh trả sự ác, thì ta cũng là kẻ ác.

2/ "Nếu ai vả má bên trái con…" Ai muốn kiện con…Ai bắt con đi một dặm. Qua những lời này Chúa muốn chúng ta đừng chống lại sự dữ nhưng hãy bao dung tha thứ và tha thứ vô điều kiện để duy trì lòng nhân từ quảng đại đối với tha nhân.

3/ "Ai xin thì con hãy cho…" : Ở đây Chúa muốn chúng ta chia sẻ của cải vật chất, giúp đỡ tha nhân mà không phân biệt đối tượng, ranh giới, kỳ thị,…

4/ " Các con hãy yêu thương thù địch các con…" : Đây là điều đặc sắc của bác ái Kitô giáo. Yêu thương thù địch ở đây không có nghĩa là nuông chiều sự dữ nhưng là yêu thương con người đang làm sự dữ, vì họ là người đáng giúp đỡ và nhất là họ là con Thiên Chúa, là anh em với ta.

5/ "hãy làm lành cho kẻ ghét các con". Chúa muốn chúng ta không những không chống lại những kẻ hành hạ và vu khống cho mình, mà còn muốn sự lành bằng việc cầu nguyện cho họ nữa. Cầu nguyện cho ai là muốn người đó được đẹp lòng Chúa. Cầu nguyện cho kẻ bắt bớ và vu khống cho mình là muốn cho họ là muốn cho họ được hoàn thiện, bỏ thái độ độc ác và xấu xa của họ.

6/ " Các con nên con cái Cha các con ở trên trời". Chúa muốn chúng ta yêu thương người lành lẫn người dữ để phản ánh tình thương của Thiên Chúa, là Đấng làm cho mặt trời mọc trên người lành cũng như kẻ dữ.

7/ "Vậy các con hãy nên trọn lành như Cha các con ở trên trời". Lẽ dĩ nhiên chúng ta không thể trọn lành như Chúa. Nhưng Chúa muốn chúng ta sống trọn lành theo mẫu gương của Chúa. Muốn được như vậy chúng ta hãy nhìn Chúa sống để noi gương và nghe Chúa dạy để thực hành. Điều này đòi hỏi ta phải làm suốt đời.


HTMV Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn