Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật VIII Thường Niên C

Tin Mừng Lc 6: 39-45 Không có cây nào tốt mà lại sinh quả xấu, cũng chẳng có cây nào xấu mà lại sinh quả tốt. Thật vậy xem quả thì biết cây. Ở bụi gai, làm sao bẻ được vả, trong bụi rậm, làm gì hái được nho !

SUY NIỆM TIN MỪNG
 

CHÚA NHẬT VIII – MÙA THƯỜNG NIÊN - NĂM C

Hc 27,5-8 ; 1Cr 15,54-58 ; Lc 6:39-45


Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

CÁC ĐIỀU KIỆN CỦA LÒNG NHIỆT THÀNH (Lc 6:39-45)

1."Ngài còn nói với họ một dụ ngôn" (c.39). Chi tiết "kể chuyện" này bắt đầu bài diễn từ tại đồng bằng. "Dụ ngôn" là một tiêu đề chính xác, và những câu tiếp sẽ là 5 dụ ngôn, nhằm mục đích làm thính giả suy nghĩ. Bài diễn từ bằng dụ ngôn tiếp nối các bài diễn từ trước, diễn từ sấm ngôn (6,20-26) và diễn từ khuyến thiện (6,27-38). Trong các đoản văn trước, ta đã thấy rằng các môn đệ phải yêu mến, phải sống cho tha nhân. Trong bài diễn từ trên núi của Mt, sứ mạng các môn đệ được mô tả bằng hình ảnh muối đất, ánh sáng soi chiếu mọi người, thành phố trên núi (Mt 5,13-16). Không chiếu sáng trước mặt mọi người để họ xem thấy các việc lành mà ngợi khen Chúa Cha, người môn đệ đã sống ngược với bản tính và đáng lên án. Trong bài diễn từ tại đồng bằng của Lc, đời sống của người môn đệ cũng được giả thiết là phải có một sức mạnh chiếu sáng tương tự. Nhưng các môn đệ phải được trang bị thế nào để có thể hoàn thành công cuộc tông đồ này ? Họ phải là những thày dạy chân lý (6,39-42), ngôn hành của họ phải là một (6,43-45).

2. Có lẽ câu nói về người hướng đạo đui mù (c.39b-40) đã được CGS trước tiên ám chỉ các người biệt phái, nếu xét theo văn mạch chung của các phúc âm trong đó ta thấy CGS nhiều lần chỉ trích sự mù quáng của các lĩnh tụ tôn giáo Israel này (Mt 15,14; 23,16.19.14; Gio 9,41). Họ tự hào là những người hướng đạo dân tộc trong lãnh vực đạo đức. Họ đã học hỏi tỉ mỉ lề luật và đã tìm cách tuân giữ giới răn bên ngoài. Nhưng những người chân thành nhất trong họ vẫn là những người hướng đạo đui mù, bởi vì họ đã khép kín trước mạc khải lớn nhất của TC, họ tự làm cho mình không thể đạt tới lời của TC do CGS loan báo.

Bây giờ câu nói này lại nhằm đến các môn đệ của CGS. Bởi vì mặc dù trước hết các người Biệt phái và tiến sĩ luật, lời kết án này cũng có giá trị đối với người môn đệ, nếu anh ta không sáng suốt. Người môn đệ CGS phải ý thức trách nhiệm mình. Anh không được mù quáng, nhưng khi nào có thể nói anh không mù ? Là khi anh đã tiếp nhận cùng một giáo huấn như thày mình. Thày, chính là CGS. Ngài là Thày mà không bao giờ có môn đệ nào hơn được. Ngài là thày tuyệt đối độc đáo. Người môn đệ không hơn thày. Trong trường phái các tiến sĩ luật là như thế; bởi vì thày chuyển thông điều chỉnh ông đã tiếp thu và môn sinh không làm gì khác ngoài việc tiếp thu truyền thống đó. Người môn đệ CGS, đến lượt mình, lại chuyển thông điều đã tiếp thu từ nơi CGS. Làm sao anh có thể lãnh trách nhiệm với người khác nếu anh đã không thực sự được giáo huấn trong lãnh vực lời CGS, nếu chính anh đã không nghiền ngẫm sâu xa điều ấy ?

3. Nhưng người môn đệ không chỉ có trách nhiệm huấn giáo cho phù hợp giáo huấn của CGS, như là một môn đệ sáng suốt. Để trung thành với sứ mạng, người môn đệ cũng phải tùy hoàn cảnh mà đưa những kẻ sai lạc hay phạm lỗi về lại chính lộ, phải giúp đỡ họ loại bỏ những lầm lỗi khỏi họ (c.41-42). Những lời nói này của CGS giả thiết rằng, trong đức tin, sự ưu tư về người anh em, người bạn đường là một điều có thật. Mt đã giữ lại một trong các giới luật về đời sống hội thánh tiên liệu một cách sửa bảo huynh đệ như sau: "Nếu anh em con đã phạm tội, hãy đi sửa bảo họ lúc chỉ có con với họ thôi..." (Mt 18,15tt). Như vậy lời giáo huấn của CGS về cọng rác và cái xà không thể nào là một lời kết án việc sửa bảo huynh đệ: đây là một lời cảnh báo về cách thực hành sai lạc về giới luật này. Bởi vì việc sửa bảo huynh đệ có một mối nguy hiểm là ta dễ áp dụng cách bất công. Tính tự ái, sự chua chát và lòng nóng giận làm méo mó chân lý. Hình ảnh cọng rác và cái xà diễn tả rất đúng của một nhiệt tình bất công. Những lỗi nhỏ nhất của tha nhân trở thành to lớn, còn những lỗi to lớn mà ta phạm lại có vẻ nhỏ mọn. Thế nhưng ta chỉ có thể sửa bảo huynh đệ cách hữu ích và đích thật, nếu ta không tự hào về sự công chính của mình và không bị thúc bách bởi tham vọng muốn thống trị.

Nguy hiểm khác, chính là sự giả hình trong việc sửa bảo huynh đệ. Kẻ sửa bảo người khác, tức là muốn chứng tỏ chiến thắng sự xấu trong thế gian. Nhưng nếu anh không chiến thắng sự xấu này được chính mình, thì lúc đó nơi anh có một sự tương phản bi đát giữa bên ngoài và bên trong. Anh chiến đấu chống sự xấu nơi người khác, còn đối với chính bản thân, anh làm gì ? "Trước hết hãy lấy cái xà khỏi mắt anh". Hãy bắt đầu bằng việc sửa bảo chính anh, chừng đó anh mới có cơ sở để sửa bảo người khác.

Nước TC đã bắt đầu được biểu lộ trong người môn đệ CGS. Điều này giả thiết sự hoán cải và thống hối. Thống hối, nghĩa là nhìn nhận ta là tội nhân, là người có lỗi, là trước hết lên án điều tội lỗi trong chính tim ta. Và từ đó, lòng kiên nhẫn, tha thứ và trao ban, lòng thống hối đưa ta lại gần anh em.

4. Nguy hiểm giả hình chỉ có thể tránh được nếu những hành vi bên ngoài hoàn toàn phù hợp với não trạng bên trong. Cái ta có thể thấy được bên ngoài, tức là hành vi và lời nói, là tốt nếu phát sinh từ một cơ sở bên trong thật sự tốt. Đối với các người Biệt phái và các tiến sĩ luật, một hành vi tốt là khi phù hợp với lề luật: CGS nói các hành vi chỉ tốt khi phát sinh từ một nội tâm tốt. Trái tim, trung tâm tư tưởng, ước muốn, tình cảm là nguồn phát sinh các tư tưởng xấu tốt, lời nói cũng như hành vi, là trung tâm của quyết định trong lãnh vực luân lý. "Chính từ bên trong, từ đáy lòng mà các tư tưởng xấu phát xuất: ngoại tình, trộm cắp, giết người...". Nhưng khi nào mới gọi là có một con tim tốt ?

Những lời nói và hành vi phát xuất từ một người cho ta biết thực chất người ấy thế nào. Chúng biểu lộ tâm hồn người ấy, như trái giúp nhận ra loại và phẩm chất của cây. Một bụi gai không thể sinh trái giống như nho được... Có một liên hệ hữu cơ giữa trái và cây. Cũng thế, có một tương quan chặt chẽ giữa hành vi của một người và thâm tâm người đó. Giả vờ hay đeo mặt nạ là vô ích: người ấy vẫn là một, từ nội tâm mà bộc lộ ra bên ngoài: mọi hành vi của người đó đều phát xuất từ trung tâm hữu vị của nhân tính mình. Người ấy tốt xấu tùy con tim tốt xấu. Dĩ nhiên CGS biết rõ cây tốt đôi mùa có thể sinh trái xấu. Nhưng những vấn nạn như thế không phù hợp với tính chất các lời nói của CGS là không bao giờ đề cập đến sự khả hữu các cấp độ trung gian, mà chỉ nhìn nhận và lưu tâm đến sự đối chọi giữa làm và không làm, giữa tốt và xấu, giữa thiện và ác thôi. Ta biết được thế là nhờ văn loại và và mục đích giáo huấn của các lời nói này. Khi trình bày sự việc trong khía cạnh cực đoan của chúng, CGS không có ý phủ nhận sự hiện hữu các cấp độ trung gian, nhưng chỉ muốn làm nổi bật tư tưởng của Ngài để ai không quen phân biệt, dễ dàng tiếp thụ hơn.

5. Trong câu cuối của đoản văn (c.45), hình ảnh thay đổi trái tim, trung tâm các quyết định có tính cách luân lý và tôn giáo nơi con người, lại như một kho tàng. Chính cái tâm của nhân cách, chính trung tâm các quyết định luân lý và tôn giáo làm cho lời nói và hành vi thành tốt hay xấu, tức là cả con người thành tốt hay xấu. Là ánh sáng cho kẻ khác. Người môn đệ CGS phải có một con tim tràn đầy thiện hảo. Sự tràn đầy này, chính là những lời nói và hành vi. Một lương tâm được giáo dục đích thật là điều kiện tiên quyết không thể thiếu của một Kitô giáo mang tính chất tông đồ.

Khi nào ta có thể nói con tim này là một kho tàng chứa toàn là thiện hảo, và chỉ phát sinh toàn là thiện hảo ? Khi nào ta có thể nói nội tâm của một người là tốt ? Khi nào thì người ấy có một lương tâm có giáo dục ? Chiếu theo bản văn phúc âm, hữu thể con người như hiện có thì không đủ. Chỉ khi nào con người hoàn toàn được CGS, Thày mình trang bị, chuẩn bị thì con tim mới thật sự là tốt. Nếu con tim đó đã tiếp thụ Lời CGS, nếu nó đã được Nước TC và sự công chính của Ngài thực sự chiếm hữu, lúc ấy nó mới trở thành một kho tàng, tràn đầy thiện hảo. Đòi hỏi cơ bản luôn luôn vẫn là một: lòng thống hối, sự hoán cải trở về với Chúa. Người tốt, là người nhờ việc hoán cải đã được lại trong tương quan đích thực và chân chính với TC. Tuy nhiên chẳng phải nguyên lòng thống hối tự nó làm con người nên tốt từ bên trong, nhưng là TC và Nước của Ngài. Nhưng Nước TC giả thiết sự trở về với TC, quay lưng lại với tội lỗi và trở nên hoàn toàn bé nhỏ trước mặt Ngài.

KẾT LUẬN

Người môn đệ CGS không chỉ là người chấp nhận yêu thương cả kẻ thù mình. Anh cũng là người cảm thấy nhiệt tình sâu xa với sự thăng tiến thiêng liêng của anh em. Người môn đệ là người nhận thấy có trách nhiệm về người khác, để thực hành bổn phận sửa bảo huynh đệ khi cần. Nhưng để có hiệu quả thực sự, trước hết anh phải tỉnh thức canh giữ mình. Chỉ người nào sau khi đã thành tâm tìm cách sửa đổi các lầm lỗi của mình, mới có thể sửa bảo anh em mà không giả hình như Biệt phái, điều này đòi hỏi người ấy phải luôn luôn tự xem mình chỉ là một môn sinh đối với thày duy nhất dù đang ở địa vị nào trong hội thánh.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Trong phúc âm này mời gọi ta hãy thận trọng:

a) Thận trọng trong việc chọn lựa một người hướng đạo tư tưởng và đời sống. Nhiều lệch lạc trong đức tin và hạnh kiểm đã là hậu quả của một sự tin tưởng mù quáng vào một thày mù.

b) Thận trọng trong khi tự đặt làm người hướng đạo kẻ khác, bằng cách tìm những phương thế thích đáng để tự đào luyện, để có kinh nghiệm cần thiết và biết chờ đợi quyền bính chính đáng trao phó trách nhiệm. Như vậy, ta tránh được lời CGS quở trách các người biệt phái: "Họ là những người mù dắt người mù" (Mt 15,12-14)

c) Thận trọng vì biết cân nhắc những gì ta dấn thân, cam kết. Người môn đệ CGS phải bằng lòng được đối xử không hơn thày mình.

2. Người môn đệ không được tự cho mình khôn ngoan hơn Chúa Kitô, vì chỉ có mình Ngài có những lời ban sự sống. Cũng không được nghĩ tới việc tìm một thày khác dạy cho mình những sự về TC. Bắt chước Chúa Kitô, tức là đi theo Ngài như một người hướng đạo, trong mọi sự đều cảm hứng bằng những tâm tình đã nung nấu Ngài. Cùng đi con đường thập giá và vinh quang với Ngài, cho dù khung cảnh sống và tính chất các hành động của ta khác với Ngài.

3. Nhận định đầu tiên phải có là nhận định về các lầm lỗi của ta. Ta thấy rất nhanh lầm lỗi kẻ khác. Dĩ nhiên đôi khi vì bổn phận (cha mẹ, nhà giáo dục) ta phải sửa bảo họ. Những lúc đó, ta phải làm với một đức ái to lớn, vì ý thức rằng mình cũng có những lầm lỗi tương tự, còn nặng nề hơn nữa.

4. Người tốt là người có trái tim tốt. Lòng tốt được biểu lộ qua muôn vàn chi tiết của cuộc sống hàng ngày: một cử chỉ tiếp đón hay tha thứ, một giúp đỡ hữu hiệu khi cần, một lời khích lệ, một câu nói nhẹ nhàng trước sự khiêu khích... Xin hy lễ tạ ơn này, xin Chúa Kitô hiện diện giữa chúng ta đây biến đổi thực sự tim ta và làm cho nó trở nên một kho tàng đích thật, để mọi người quanh ta có thể đến múc lấy dịu ngọt và ánh sáng mà họ đang cần.



 

Noel Quession - Chú Giải

Luca đã tập họp trong bài diễn từ này của Đức Giêsu, những câu ngắn, những "logia " hoặc "lời" về thái độ của các môn đệ chân chính : Chúa nhật vừa rồi, chúng ta đã nghe giớ răn phải yêu thương các kẻ thù. . . hôm nay, vấn đề là thái độ của chúng ta đối với anh em trong cộng đoàn...

Đức Giêsu còn kể cho môn đệ dụ ngôn này : "Mù mà lại dắt mù , được sao ? Lẽ nào cả hai lại không sa xuống hố?"

Đây là một dụ ngôn hết sức ngắn như một câu tục ngữ. Chúng ta lưu ý thể nghi vấn của dụ ngôn ấy: Đức Giêsu không trả lời thay chúng ta. Người khêu gợi ý thức của chúng ta. Trong đoạn văn song song của Thánh Mát-thêu : nhận xét này dùng để cảnh giác chống lại : Người Biệt Phái, họ tự hào "hướng dẫn" những người khác nhưng lại là những "người mù " trước biến cố trọng đại của Đức Giêsu. . Đấng. phát ngôn của Thiên Chúa (Mt 15,14 ; Ga10, 40). Phần Luca, ngài nghĩ nhiều đến những người đứng đầu các cộng đoàn Kitô hữu mà ở nơi khác, ngài gọi là các "người hướng dẫn" (Lc 22.26) "hégouménoi". Ở Đông Phương, các Cha dòng đứng đầu tu viện luôn luôn được gọi là các Hogoumènes.

Lời của Đức Giêsu về những người "hướng dẫn mù" tự hào mình dẫn dắt được những người khác có thể được áp dụng cho tất cả chúng ta bởi vì trong lãnh vực này hay trong lãnh vực khác, chúng ta đều có trách nhiệm "hướng dẫn" : một gia đình, một xí nghiệp, một nhóm, một hiệp hội, một đô thị. Trách nhiệm của tôi là gì ? Tôi có trách nhiệm với ai ? Ai thuộc về tới ? Tôi có khả năng không ? Tôi có sáng suốt không ? Tôi có nhìn thấy rõ ràng không ? Lạy Chúa, con cầu xin Chúa cho tất cả những người mà con có trách nhiệm. Xin Chúa giúp con tránh được các cạm bẫy đó, những cái "hố" đó trên đường đi của chúng con. Xin Chúa làm cho con nhìn thấy rõ.

Học trò không hơn thầy, có học hết chứ cũng chỉ bằng thầy mà thôi.

Một dụ ngôn ngắn khác : thầy và trò. Để được sáng suốt để trở nên một' "Người hướng dẫn" tốt, một người phụ trách tốt, phải được một ông thầy tốt đào tạo. Trong việc đào tạo ở trường Đại học, các nhà bác học danh tiếng nhất hôm nay đều nói về các ông thầy "đỡ đầu" của họ với lòng tôn kính và biết ơn ; các ông thầy đỡ đầu ấy đã hướng dẫn việc học tập của họ cũng như khi họ làm luận văn và khi họ gặp khó khăn trong công việc, họ lại đến gặp các ông thầy ấy để tham vấn. Cũng thế "Người thợ học việc" phải tôn kính và biết ơn "thầy dạy nghề" của mình.

Tuy nhiên ngày nay, người ta nhận thấy một sự từ khước ông thầy, một sự đề cao bệnh hoạn về tính chất không định hướng trong sư phạm cũng như trong các thương vụ. Thời thượng bây giờ là chia sẻ, giao lưu... và người ta khó mà chấp nhận những bài giảng của các bậc thầy, những bài thuyết giáo. Khía cạnh tích cực của xu hướng này đang được đánh giá : Đó là lúc nào cũng hoạt động hơn và sự tham gia của cá nhân trong việc lãnh hội một kiến thức nào đó. Nhưng khía cạnh tiêu cực của việc từ chối ông thầy là một lòng kiêu ngạo, một sự từ chối tiếp nhận mà trong thực hành dẫn đến một thứ bình quân ở cấp thấp (cào bằng xuống thấp).

Thật vậy không có chân lý hay khoa học nào mà không được tiếp nhận. Điều đó đúng với các chân lý khoa học, chúng chỉ phát triển nhờ một thứ tuân theo thực tại, khuôn mình theo các sự vật. Điều đó càng đúng hơn đối với các chân lý đức tin vốn không phải để chinh phục mà là để tiếp nhận. Khi điều chủ yếu là tiếp nhận sự mạc khải thì học trò không thể hơn thầy... mà chỉ có thể để cho thầy đào tạo. Và Đức Giêsu tự giới thiệu như vị thầy đó ; Người biết nhưng việc mà chúng ta không biết.

Nền văn minh của các sách vở in ấn đã thay đổi sâu sắc tương quan "thầy trò" bằng cách trí thức hóa tương quan ấy. Trong những nền văn minh truyền khẩu, người ta không thể học một mình, tiến bộ một mình, nhưng chỉ tiếp xúc lâu dài với "ông Thầy", nhà "hiền triết", "thầy guru" : Lúc đó, không chỉ là sự truyền đạt kiến thức bằng đầu óc nhưng là học tập một nghệ thuật sống... mà không một cuốn sách nào có thể truyền đạt được. Đức tin trước hết được chuyển thông từ người này qua người khác. Còn hơn cả mốt kiến thức, đó chính là một đời sống. Đức Giêsu tự giới thiệu như "vị thầy của sự sống" : phải chăng tôi thường tìm gặp Người ? phải chăng tôi khao khát sự "đào tạo" sống ấy mà Người đề nghị ? Tôi có là một "môn' đệ" chân chính không ? Lạy Chúa, xin giúp đỡ chúng con để con không nên bằng lòng với những kiến thức lý thuyết về Tin Mừng, những biết sống với Chúa ngày này qua ngày khác.

Sao anh thấy cái rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của chính mình thì lại không để ý tới ? Sao anh lại có thể nói với người anh em : "Này anh, hãy để tôi lấy cái rác trong con mắt anh ra", trong khi chính mình lại không thấy cái xà trong con mắt của mình ?

Chúa nhật vừa rồi, chúng ta đã nghe Đức Giêsu nói với chúng ta đừng xét đoán đừng lên án. Nhưng, khi người ta có trách nhiệm (và chúng ta đều có trách nhiệm ở một số điểm) người ta phải đưa ra những phán đoán, chỉnh, lý những sai lầm, giúp đỡ những người khác thậm chí nói trái ý họ và sẵn sàng xung đột với họ nếu chúng ta nhận thấy có cả điều xấu. Đó là bổn phận của trách nhiệm "cảnh cáo anh em" : "Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi" (Mt 18,15 ; Lc17,3) Môn đệ của Đức Giêsu không thể giữ sự trung lập trước một số hoàn cảnh hay tình - thế .Những trong vai trò sửa chữa, chỉnh lý, trong cuộc chiến đấu chống lại điều ác Đức Giêsu cảnh giác chúng ta trước một cám dỗ rất thường gặp : Chúng ta có nguy cơ phóng đại điều xấu nơi những người khác và giảm thiểu điều xấu trong chúng ta ! Hình ảnh cái rác và cái xà khó mà quên được và một Câu Chuyện giống vậy thuộc Phương Đông làm cho câu chuyện chua chát hơn. Lạy Chúa, xin Chúa giúp chúng con trước hết phải trở nên đòi hỏi đối với chính mình, phải sắng suốt đối với chính mình. Xin Chúa giúp chúng con nhìn thấy trong những người khác điều tích cực nhiều hơn đều tiêu cực .

Hỡi kẻ đạo đức giả ! lấy cái xà ra khỏi mắt ngươi trước đã, rồi sẽ thấy rõ, để lấy cái rác trong con mắt người anh em !

Đức Giêsu đối xử mạnh mẽ với Người phóng đại cái rác trong con mắt người anh em, như "kẻ đạo đức giả", trong bản văn tiếng HyLạp là "upocritès : . Từ này dịch ra tiếng Do Thái là "hanef", có nghĩa là "Con Người có phán đoán sai lầm và không biết nhận ra chân lý, còn quay lưng lại với Thiên Chúa". Theo Lu ca, Đức Giêsu còn dùng từ ngữ mạnh mẽ đó trong hai lần khác : "Những kẻ đạo đức giả kia, sao các người lại không biết nhận xét những dấu chỉ của thời đại" (Lc 12,56) "Những kẻ đạo đức giả kia. Thế ngày Sabát ai trong các ngươi không chăm sóc súc vật của mình... ?" (Lc 13,15). Từ ngữ còn mạnh hơn sự giả hình. Dụ ngộn này về "cái xà và cái rác" đã trở thành truyền thuyết. Tất cả chúng ta đều bị cám dỗ mà xói rằng : "Quả đúng như thế mà ! " . . . Khi nghĩ về người khác . Nhưng một cách chính xác, Đức Giêsu đòi hỏi chúng ta phải cáo giác chính mình... Trước khi thay đổi xã hội, như người ta nói, việc canh tân chính mình không phải là vô ích. Một lần nữa, người ta phải ngạc nhiên mà thừa nhận rằng Đức Giêsu ít khuyến cáo những "canh tân về cơ' cấu" vốn chẳng thay đổi được gì nếu lòng người không thay đổi.

Và chính Giáo Hội phải không ngừng canh tân trước khi có ý định đổi thay thế giới. Và mỗi Kitô hữu phải không ngừng hoán cải bản thân trước khi hoán cải những người khác. Thay vì ' "kết án", thay vì tuyên bố "rứt phép thông công", thay vì mất thời gian để "xét đoán"... Đức Giêsu mời gọi chúng ta biết khiêm nhượng để cùng nhau tìm cách cải thiện và phải bắt đầu từ chính mình.

Không có cây nào tốt mà lại sinh quả xấu, cũng chẳng có cây nào xấu mà lại sinh quả tốt. Thật vậy xem quả thì biết cây. Ở bụi gai, làm sao bẻ được vả, trong bụi rậm, làm gì hái được nho !

Đây là dụ ngôn cụ thể thứ tư. Đức Giêsu là một người thực tế : người ta phán đoán một con người theo hành động thực tế của người ấy, như nhận xét một cây theo quả, mà không theo những ý định hoặc lời tuyên bố đẹp đẽ. Con người hiện đại cũng có đặc tính quan tâm đến hiệu quả. Đức Giêsu cũng thế. Nhưng Người nhấn mạnh để cái bên ngoài phải tương ứng với cái bên trong.

Vì thế, người ta nhận ra người môn đệ chân chính qua các hành động của người ấy. Một lần nữa, chúng ta nhận ra rằng sự phân biệt "lừng danh" : "tín hữu không hành đạo" chỉ là một ảo tưởng và một sự biện minh dễ dãi.

Chính quả cho biết cây tốt hoặc có sâu... sống hoặc có bệnh.

Chính những "hành động" cho biết một người "tin" hay không. . . Yêu mến hay không . . . hy vọng hay không. Và Tin Mừng của 'Luca 'tiếp tục bằng những lời này mà sách kinh đã cắt quá sớm : "Người tốt thì lấy ra cái tốt từ kho tàng tốt của lòng mình, kẻ xấu thì lấy ra cái xấu từ kho tàng xấu. Vì lòng có đầy, miệng mới nói ra. " . . .Tại sao anh em gọi Thầy : "Lạy Chúa ! Lạy Chúa mà anh em không làm điều Thầy dạy ?" Lạy Chúa, xin giúp chúng con thực hành điều chúng con tin tưởng.


HTMV Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn