Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XIII Thường Niên A

Tin mừng Mt 10: 37-42: Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu được cấu tạo trên năm bài giảng của Đức Gỉêsu, kết hợp với năm giai đoạn "Ký thuật"...
 CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT 13 THƯỜNG NIÊN A

 
NGÀY 28/06/2020
 

 

Tin mừng Mt 10: 37-42


Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

BỎ MÌNH ĐỂ THEO CHÚA GIÊ-SU


CÂU HỎI GỢI Ý

1.Đoạn văn này có thuần nhất không? Các câu 37- 39 có đề cập cùng một vấn đề như cc. 40- 42 không?

2. Trong 6 câu này, có mấy câu quy chiếu về Chúa Giêsu? Đâu là hậu quả cho việc khổ chế Kitô giáo?

3. Phải chăng tình yêu đối với cha mẹ là chướng ngại vật giữa Thiên Chúa với tôi? Thiên Chúa không phải là chính tình yêu sao: tình yêu có thể đối nghịch với tình yêu à?

Các câu 37- 39 gợi lên một vài nhận xét tổng quát như sau:

1. Trong lúc mấy đoạn văn trước của Diễn từ này minh nhiên quy hướng về việc làm chứng tá truyền giáo "trước mặt người đời" (c. 33), thì các câu đây, cũng như mấy câu. 34- 35, lại chú trọng tới việc đòi hỏi mọi người phải theo Chúa Giêsu cho đến chết, mà không ám chỉ gì về ý nghĩa truyền giáo của đức vâng phục đó; nơi câu 39, sự chú ý lại hoàn toàn tập trung về ý tưởng cứu rỗi cá nhân; thành thử ta có quyền thắc mắc không biết tác giả Tin Mừng đã đặt đúng ở đây ba lời nói đó (cc. 37, 38, 39) hay không!

2. Cảm tưởng này càng tăng thêm qua sự kiện các câu 38 và 39 lại được lặp lại ở 16, 24- 25; nếu như vậy thì ta đang đứng trước cùng một hiện tượng như trong các đoạn văn trước là: Mt đưa vào trong phần huấn thị cho các sứ đồ những lời Chúa Giê-su có lẽ đã nói cho môn đồ cách chung và ngay cả đám đông nữa; quả thế, câu song song vòi Mt 16, 24- 25 trong Mc 8, 34- 35 cho ta thấy Chúa Giêsu ngỏ lời với đám đông cùng các môn đồ Người".

3. Tuy nhiên sự kiện này không phải chỉ là một lắt léo có tính cách văn chương; vì cái nối kết cách sâu xa hai nhóm huấn dụ của Chúa Giêsu (10, 37- 39 và 16, 24- 25), là trong cả hai trường hợp, Người đều đòi hỏi một sự gắn bó công khai. Người không đếm xỉa đến mọi cuộc tận hiến riêng tư vốn chỉ là một cuộc đào sâu âm thầm, kín đáo. Về vấn đề này, thành ngữ "vác khổ giá mình", có ở cả hai câu, thật là đầy ý nghĩa như ta sẽ thấy sau đây. Vì thế Mt có thể ghi lại các lời đó của Chúa Giêsu ở chương 10 cũng như chương 16. Chẳng có việc gắn bó nào với Chúa Kitô mà không phải là một cuộc mạo hiểm công khai đầy bất trắc; nhưng cũng chẳng có việc công khai "dấn thân" sống các mệnh lệnh của Người mà không đồng thời là hành vi thâm sâu nhất, riêng tư nhất (mất mạng sống). Thành ra, vào cuối bài huấn dụ dài dòng về việc tông đồ truyền giáo này, ta đứng trước cái chủ đề chính yếu vốn chi phối bài huấn dụ từ đầu này đến đầu kia: đó là không có gì che giấu mà có thể bị giấu che mãi, nghĩa là cuộc sống "nội tâm" nhất (của cá nhân cũng như tập thể) sẽ trở thành công khai nhất và nguy hiểm nhất vậy.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

"Kẻ yêu Cha mẹ hơn ta": Ở đây Chúa Giêsu tỏ ra ghen tương theo nghĩa ghen tương của Gioan trong Cựu ước (Đnl 29, 20; 32,16; Ge 2; 18; Dcr 1, 14...); Người không chấp nhận bất cứ tình yêu nào cạnh tranh với tình yêu mà người ta phải có đối với Người. Tuy nhiên hãy ghi nhận các điểm này:

1.Đông từ yêu ở đây chẳng phải là động từ agapân (x 5,43; 19, 19; 22, 37tt) thường được dùng trong các Tin Mừng để chỉ tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân, song là động từ philein, họa hiếm trong Mt, và thường được hiểu theo nghĩa: gắn bó với, có cảm tình với, thích thú điều này điều nọ (6, 5; 23, 6; 26, 48 theo nghĩa cái hôn của Giuđa); thành thử lời ấy tố cáo nhưng gắn bó có tính cách tự nhiên và gia đình, dĩ nhiên là chính đáng, nhưng có thể trở thành chướng ngại vật việc phụng sự Chúa Kitô.

2/ Nghĩa của câu này và nhất là văn mạch trực tiếp và tổng quát cho thấy nó không đặt đối nghịch hai thứ tình cảm nội tâm, nhưng hai thái độ cụ thể: kẻ nào sắp theo Chúa Giêsu mà còn ràng buộc với gia đình thì chẳng xứng đáng với Người vậy.

Về câu 37, hãy lưu ý: Chúa Giêsu là kẻ đầu tiên đem nó ra thực hành. Không phải Người ít quan tâm đến lòng yêu thương chính đáng đối với cha mẹ bà con đâu: trước sự tráo trở của Biệt phái dám tuyên bố là "của cúng" những vật đáng ra phải được cấp dưỡng cho cha mẹ già yếu, Chúa Giêsu đã mạnh mẽ nhắc lại giới luật: "Ngươi hãy thảo kính cha mẹ " (Mc 7, 11tt) Nhưng đối với Người, tình yêu này phải lệ thuộc thánh ý Chúa Cha trên trời. Người đã làm gương về điều đó khi ở lại Đền thờ dịp hành hương Giêrusalem lần thứ nhất: "Cha mẹ không biết là con phải ở nơi nhà Cha con sao?" (Lc 2, 49). Và về sau Người gọi là cha là mẹ những kẻ tụ họp quanh Người và "những ai làm theo ý Thiên Chúa" (Mc 3, 33- 35).

Trong câu 37 này, thánh ý Thiên Chúa được biểu hiệu một cách cụ thể qua con người Chúa Giêsu, hiện thân hoàn toàn của thánh ý đó. Đến nỗi kẻ nào chẳng nhìn nhận sự tối thượng của Người thì không thể thành môn đồ Người được. Vì sao có sự khắt khe đó, sự khắt khe mà tự nhiên ta khó chấp nhận? Lý đo duy nhất có thể đưa ra là vì Người là Thiên Chúa, là Ngôi vị thần linh. Đứng trước ngôi vị này, tất cả mọi giá trị và mọi ngôi vị khác đều phải lu mờ đi.

"Không xứng với Ta ": Tất cả các đoạn văn của Mt có dùng hạn từ "xứng đáng" đều cho thấy đây không phải là một sự xứng đáng nội tại có trước khi được Chúa Kitô kêu gọi, cũng chẳng phải là sự xứng đáng sở đắc được nhờ một khai tâm đạo lý nào đó kiểu tôn giáo Hy lạp, nhưng là sự xứng đáng mà ngày nay ta có thể gọi là hiện sinh: kẻ nào không muốn cắt đứt liên hệ thân thiết nhất (nếu cần) để theo Chúa Giêsu, thì ra bất xứng hay đúng hơn, tự làm cho mình nên bất xứng với Người.

"Kẻ không vác lấy khổ giá mình": Trong truyền thống Nhất lãm, ít nhất đã có 5 lần Chúa Giêsu tuyên bố câu đó: Ý nghĩa nguyên thủy của thành ngữ "vác khổ giá mình" không được minh xác mấy. Tuy nhiên tư tưởng chủ yếu vẫn như sau: Theo Chúa Kitô là theo Người trên một con đường đau khổ mãnh liệt và công khai. Do đó phải tiên liệu và chấp nhận sự chống đối dữ dội và hầu như chính thức mà mình phải chịu vì là môn đồ Chúa Kitô.

"Kẻ cố tìm sự sống mình thì sẽ mất; còn kẻ đánh mất sự sống mìmh vì Ta thì sẽ gặp lại: Người môn đồ chẳng được từ bỏ sự sống vì cho rằng sự sống không có giá trị, vì thích phấn đấu hoặc vì bị cáo chết ám ảnh một cách bệnh hoạn. Không được bỏ sự sống với một thái độ khinh bỉ kiêu căng như các triết gia kiêu kỳ hay các bài ca ái quốc chủ trương. Câu Chúa Giê-su nói nghịch hoàn toàn. Phải mất sự sống đi để được nó. Và ngược lại, kẻ đã gặp" nó, đang chiếm hữu nó bây giờ, đang gắn bó vào nó và xem sự sống mình ở đời này như là sự sống đích thực, thì sẽ mất nó cho mà xem. Điều này không môn luận lý, không khoa luân lý nào của thế gian có thể giúp quán triệt cả. Vì đây là một kinh nghiệm hiện sinh đã bắt đầu trong cuộc sống bình thường mỗi ngày và có thể kết thúc cách cao cả trong hy tế tử đạo: Lời này của Chúa Giêsu không phải là một hình thức tu từ hay biện chứng pháp thuần lý, nhưng là một biện chứng pháp hiện sinh. Chân lý của nó chỉ có thể nhận thức được và sống trong niềm tin. Bảo chứng duy nhất của chân lý này là Thiên Chúa. Và thế là đã đủ.

"Kẻ tiếp đón các con là tiếp đón Ta ": Nguyên tắc "người được sai đi ngang hàng với kẻ sai đi " rất quen thuộc với Do thái giáo. Ngày nay vẫn vậy, vai trò ngoại giao của các đại sứ sứ thần... cũng dựa trên nguyên tắc đó. Động từ "đón tiếp" phải được hiểu vừa theo nghĩa rất cụ thể là hiếu khách, nghĩa đã có từ đầu chương, vừa theo nghĩa "tùng phục " Lời mà sứ đồ đem đến.

"Kẻ tiếp đón một ngôn sứ... tiếp đón người công chính": Nghĩa của câu này không mấy rõ. Một vài nhà chú giải (Schniowind, Bonnard, Légasse...) hiểu các chữ "ngôn sứ" và "công chính" như là tiếng đồng cách hay đồng nghĩa với chữ "sứ đồ". Thật vậy trong Tân ước người ta luôn nói đến các "ngôn sứ" theo nghĩa là những kẻ có ơn đoàn sủng của Giáo Hội sơ khai và một cách nào đó kế vị các ngôn sứ Cựu ước (Cv 11, 27tt; 13, 1; 21, 10tt; 1Tx 5, 20; 1Cr 14, 1- 5. 32. 37). Nếu thế thì nghĩa của câu này có lẽ như sau: Ai tiếp đón sứ đồ, tức là ngôn sứ người công chính, với lòng kính trọng phải dành cho một ngôn sứ và người công chính, thì... Nhưng nhiều nhà chú giải khác (Trilling, E.Meyer, O.Michel v.v...) lại nghĩ "ngôn sứ" và "công chính" là hai chức vụ hay hai loại người khác với các sứ đồ trong Giáo Hội sơ khai.

Cả hai cách giải thích trên đều gặp khó khăn. Cách giải thích đầu không ăn khớp với văn mạch. Quả thế, trong c. 40, Chúa Giêsu trực tiếp nói với các sứ đồ ("chúng con"); vì vậy không thấy làm sao câu sau lại tiếp tục nói về họ ở ngôi thứ ba (trong lúc họ đang có mặt) và lần này gọi họ là các "ngôn sứ" và người "công chính". Hơn nữa, các sách Tân ước luôn phân biệt kỹ lưỡng "sứ đồ" và "ngôn sứ"; không lẽ ở đây lại lẫn lộn hai cả hai cách chú giải thứ nhì ăn khớp vòi văn mạch vì, như đã ở trên, các "ngôn sứ", trong Giáo Hội sơ khai, được biết như là một nhóm người xác định khác với nhóm sứ đồ. Nhưng vẫn còn một khó khăn: nếu người "công chính" của đoạn này là một nhóm đặc biệt trong Giáo Hội sơ khai, sao lại không thấy các sách Tân ước đề cập chỗ nào nữa cả. Có lẽ chữ "công chính" không chỉ nhột chức vụ hay tác vụ như đã có trong các cộng đoàn của Phaolô, nhưng là một tình trạng, phát xuất.

Từ lối sống gương nẫu của một số Kitô hữu, và do đó đã khiến họ được một địa vị trổi vượt trong cộng đoàn. Có lẽ đây là dấu vết lối tổ chức cổ xưa của cộng đoàn sơ khai.

"Một trong những kẻ bé mọn này": Nhóm thứ ba đây gồm các môn đồ tầm thường của Chúa Giêsu, những kẻ không có trách vụ gì trong cộng đoàn Kitô hữu. Tư tưởng của câu này rất táo bạo và cao quý. Ai chỉ mang tư cách môn đồ thôi cũng đã đáng kính trọng vì đó và đáng được đặt ngang hàng với mọi môn đồ. Vâng, các kẻ "bé mọn", vốn không là gì khác ngoài "môn đồ", không làm gì khác ngoài việc "tin " (18, 6) cũng đáng được kính nể và yêu thương đặc biệt. Vì họ dễ bị loại ra một bên, dễ bị "người lớn" đối xử một cách ngạo mạn. Lời khuyến dụ của Chúa Giêsu (như trong 18, 6- 14) nhằm đề phòng các điều đó vậy.

"Phần thưởng của ngôn sứ... của người công chính": Khó mà diễn tả cách cụ thể điều thành ngữ này muốn nói. Có lẽ phải quy chiếu về ý tường chủ yếu của các câu trước, tức là người được sai đi ngang hàng với kẻ sai đi. Trong trường hợp đó có thể hiểu như sau: kẻ tiếp đón một ngôn sứ sẽ nên giống hay ngang hàng với ngôn sứ và như thế sẽ lĩnh cùng phần thưởng như vị này. Đối với người công chính cũng vậy. Việc đặc biệt tôn trọng người "bé mọn" được biểu lộ qua sự kiện là hành động nhỏ nhặt nhất làm cho họ sẽ không uổng công vô ích.

KẾT LUẬN

Diễn từ về sứ vụ môn đồ chấm dứt ở điểm này: chung quy lại cũng chỉ nói về "môn đồ Chúa Giêsu", nghĩa là Ki-tô hữu thông thường, kẻ được sai đi và liên kết với sứ mệnh của Thầy mình. Ngay cả người Kitô hữu khiêm hèn nhất, tức là kẻ "bé mọn", cũng có thể gán cho mình những điều đã nói trước. Họ thấy phẩm giá cao quý của mình được xác nhận cách rõ ràng trong câu cuối cùng của Diễn từ Chúa Giêsu.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1.Theo Chúa Giêsu chẳng phải là bỏ yêu thương cha mẹ con cái mình. Ngược lại thì có. Vì kẻ thật sự theo Người sẽ được một sự tự do mới, sự tự do chân chính để yêu thương cha mẹ và tất cả mọi người một cách đích thực. Nhưng thứ tình yêu này là một tình yêu mới, siêu nhiên (chứ không phải là phản tự nhiên), có khả năng yêu kẻ khác vì Thiên Chúa, trong Thiên Chúa với chính tình yêu của Ngài. Nhưng trước đó, môn đồ phải dứt khoát quyết định theo Chúa Kitô.

2.Trong đời sống mỗi người, có một ngưỡng cửa giúp kiểm chứng cách rõ ràng việc họ phó thác cho Thiên Chúa và từ bỏ chính mình có thật sự và thực tâm hay không Đó là cái chết. Kẻ nào dám liều mất sự sống đời này một cách ý thức, thì có thể nói: quyết định của họ là triệt để và đích thực. "Vác khổ giá của mình" là cho thấy mình sẵn sàng chết đi. Môn đồ chỉ xứng đáng theo Thầy khi sẵn sàng đánh mất sự sống, khi chấp nhận điều đó một cách sâu xa và với tất cả con người.

3. Lúc một người anh em trong Chúa Giêsu Kitô hay một linh mục vào nhà ta, ta không chỉ đón tiếp họ theo phép lịch sự tự nhiên, thường tình, nhưng trong đức tin, như tiếp đón chính Chúa Giêsu vậy.

4. Ta phải lưu lâm đến hết mọi người và phục vụ họ ngay cả trong những chuyện tầm thường nhất, như mời một ly nước lã. Vì bất cứ một sự lưu tâm nào đối với kẻ "bé mọn" nhất cũng là một sự lưu tâm đối với Chúa. Khi mở rộng lòng mình cho tha nhân như thế, ta sẽ "được sự sống" là điều duy nhất có thể làm ta thỏa mãn.


 
Noel Quession - Chú Giải
 
Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu được cấu tạo trên năm bài giảng của Đức Gỉêsu, kết hợp với năm giai đoạn "Ký thuật"

Dĩ nhiên, đây là những tổng hợp mà Mát-thêu tập họp từ các yếu tố thường được tìm thấy trong các văn cảnh khác trong sách Lu ca và Mác-cô. Ngày hôm nay chúng ta đọc phần cuối của "Bai giảng về các Tông Đồ" , "bài giảng thứ hai trong soạn thảo của Mát-thêu. Ơ đây, Đức Giêsu cho các Tông Đồ mà Người đã bổ nhiệm" để thay thế Người.(Mt 10, 1 -2-5 - 1 1, 1) những chỉ thị cho việc tông đồ. Đó là những phán quyết theo mẫu câu nói, vô cùng mạnh mẽ..nghịch lý, gọt giũa nhu những câu châm ngôn, mà một khi đã nghe, người ta không còn quên được.

Ai yêu cha hay yêu mẹ hơn Thầy thì không xứng với Thầy.

Những lời này cứng rắn không thể trạng! Những lời thiếu tình người có thể bị hiểu sai, ở một thời đại mà cha mẹ rất khó chịu vì những quan hệ khó khăn với con cái như thời đại chúng ta.:. Cố vẻ như Đức Giêsu khuyên con cái không yêu cha mẹ chúng! Giới răn thứ tư của Thiên Chúa vẫn là một giới răn thiêng liêng: "Thảo kính cha mẹ?". Chính Đức Giêsu đã làm gương về sự vâng lời và trung tín tế nhị đối với Mẹ Người (Lu ca 2,50; Gioan 19,26-2;). Người cũng nhắc lại rằng sự giúp đỡ cụ thể cha mẹ cũng vượt qua trước "của lễ dâng trong Đền Thờ" (Mát-thêu 15,3-6). Vậy Đức Giêsu muốn nói gì bằng những lời cứng rắn mà Người phát biểu ở đây? Một cách chính xác, Đức Giêsu quan niệm về bổn phận thiêng liêng nhất, và nói với chúng ta một cách mạnh mẽ nhất, rằng người ta phải yêu mến Người hơn tất cả những người đáng yêu nhất, những người mà chúng ta phải yêu nhiều nhất. Theo Đức Giêsu, trở thành tín hữu, đôi lúc có thể gấy ra sự chống đối của những người thân yêu nhất của chúng ta. Lúc đó, Đức Giêsu đòi hỏi chúng ta phải yêu mến Người hơn. Và chúng ta biết rõ ở thời đại chúng ta điều đó rất thường xảy ra. Tin Mừng đề nghị chúng ta một sự chọn lựa dứt khoát dẫn đến sự dấn thân trọn vẹn cho một quan niệm sống. Vì sự chọn lựa ấy triệt để nên nó làm cho người ta không sống như trước đây, Đức Giêsu thường trở thành một nguyên nhân của những sự bất hòa ngay trong những gia đình đoàn kết nhất bởi tình cảm tự nhiên. Qua bản văn cổ này được viết ra từ 2000 năm nay, cuộc xung đột ấy không mới mẻ như người ta tưởng. Lạy Chúa, xin giúp chúng con trung tín với Chúa dù với giá máu của trái tim con.

Ai yêu con trai hay con gái mình hơn Thầy, thì không xứng với Thầy.

Câu thứ hai này hoàn toàn song song với câu trên: sau mối quan hệ của con cái đối với cha mẹ... giờ đây là mối " quan hệ của cha mẹ đối với con cái... Đức Giêsu đòi hỏi vị trí hàng đầu trong tình yêu của chúng tạ; Yêu sách này không thể chấp nhận được, không thể hiểu được, nếu Người không phải Thiên Chúa! Trong tất cả những vị sáng lập các tôn giáo, Đức Giêsu là người duy nhất nói như thế , những vị khác nói rằng: "phải yêu mến Thiên Chúa. Còn tôi, tôi chỉ là người phát ngôn của Thiên Chúa". phải, trong mọi tôn giáo, người ta đặt Thiên Chúa lên trên mọi sự. Nhưng ở đây chính là Đức Giêsu. Táo bạo biết bao? Anh hãy ghi nhận chữ Thầy (Tôi) không ngừng được lặp lại trong các công thức đó: không xứng với Thầy"... "không xứng với Thầy" Vậy Thầy là ai?"

Vào thời đại chúng ta, chúng ta nhạy cảm với sự hiệp nhất của những tình yêu. Chúng ta thường nói rằng khi yêu thương những người khác là chúng ta yêu mến chính Thiên Chúa. Và thật vậy? Theo chiều hướng này, sự liên đới của chúng ta là chính và được Thiên Chúa mong muốn. Và thật thảm hại nếu chúng ta sử dụng những công thức của Tin Mừng ấy để biện minh cho sự thiếu tình yêu thương của chúng ta, sự co quắp của chúng ta trên những lợi ích cá nhân,

sự bất lực ích kỷ của chúng ta không chịu đựng, dung thứ như những người thân yêu. Vả lại, yêu cha mẹ , yêu con cái còn đi xa hơn khung cảnh gia đình chật hẹp. Đó cũng là thừa nhận cội rễ di truyền, địa phương, văn hóa, xã hội: dù muốn hay không, chúng ta là con cái và cha mẹ… chúng ta phụ thuộc và chúng ta tạo ra sự phụ thuộc! Chúng ta là thành phẩm của một "môi trường", một "thời đại Nhưng các sự liên đới ấy dù rất quan trọng, không thể trở thành một cái cớ biện minh cho việc chúng ta không đi theo Đức Giêsu. Biết bao thanh niên hoặc biện minh sự bỏ đạo của họ, bằng sư bỏ đạo của mọi người xung quanh họ!

Ai yêu "môi trường" của mình hơn cả Thầy không xứng với Thầy.

Ai yêu bạn bè mình hơn chính Thầy không xứng với Thầy.

Ai yêu hoàn cảnh, nghề nghiệp của mình hơn chính Thầy không xứng đáng với Thầy.

Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy thì không xứng với Thầy.

Đó là cấp độ thứ ba của nấc thang từ bỏ: trên hết là phải từ bỏ chính mình. Sự ám chỉ thập giá ấy làm chúng ta nghĩ rằng hẳn Đức Giêsu không bao giờ đề nghị những sự hy sinh như thế nếu Người đã không sống chúng trước tiên. Mọi thập giá được chúng ta vác... là một thập giá "đi theo" Đức Giêsu. Bạn đang đau khổ... bạn đi theo sau thập giá của Người.

Vác thập giá của mình! Chúng ta có thể bị cám dỗ làm cho cách diễn đạt ấy mất hết sức mạnh và sự khốc liệt của nó. Đối với Mát-thêu, vấn đề không phải là một hình ảnh sùng đạo, một ngôn ngữ quy ước để nói về những hy sinh nho nhỏ của đới sống. Vào thời đại của Đức Giêsu, sự đóng đinh thập giá vẫn là hình phạt dành cho những kẻ nô lệ, hình phạt tàn ác và ô nhục nhất trong các cực hình Người bị kết án phải hứng chịu sự giận dữ của quần chúng, hấp hối trong sự đau đớn khủng khiếp dưới sự chứng kiến của đám đông. Xem ra Đức Giêsu có thể đã thấy những kẻ bị đóng đinh, trước khi chính Người cũng bị đóng đinh? Ở Pa-lét-tin, vùng đất mà người La Mã chiếm đóng đó là cách xử tử thông thường. Một sử gia của thời đó đã thuật lại rằng khi Hê-rô-đê cả chết, thủ lãnh của đạo quân La Mã, Varus đã ra lệnh đóng đinh cùng một lúc hai ngàn người Do Thái! Thập giá không còn là một vật để thờ phượng hay để điểm trang!

Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm thấy được.

Đây còn là một lời tuyên bố mà bề ngoài như nói ngược lại tất cả những gì thế giới hiện đại đòi hỏi: Ngày nay, sự tìm tòi cao nhất là để "tự thực hiện" bản thân, "phát triển mình", "tự thể hiện mình": Còn Đức Kitô đề nghị chúng ta "mất. mạng sống mình" để "theo Người"!

Tuy nhiên, nếu chúng ta chịu suy nghĩ một chút thì bên trên sự đụng chạm ban đầu, chúng ta khám phá trong tư tưởng của Đức Giêsu một trong những luật căn bản của đời sống chúng ta. Một người không có khả năng từ bỏ mình vì người khác thì người đó không có khả năng yêu thương. Kinh nghiệm hiện sinh hàng ngày của chúng ta cho chúng ta khám phá rằng "phải đánh mất mình đi" để thật sự phát triển trong tình yêu người khác. Vả lại, nghịch lý ấy chỉ có thể hiểu được trong ánh sáng Phục Sinh, chính Đức Giêsu đã sống nghịch lý đó trước tiên. Đánh mất sự sống... để chiếm lấy sự sống!

Lời của Đức Giêsu không có đặc tính gì là thích tự hành hạ mình, tiêu cực, buồn bã; đó là một lời tích cực và vui tươi Vấn đề là phải chiếm lấy". Đức Giêsu đề nghị chết cho chính chúng ta để thật sự sống. "Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào" (Ga 10,10 ). Vậy, đây không phải là một sự bàng hoàng dũng cảm của thuyết hư vô và dù ít dù nhiều cũng là sự tự tử, mà đây là tình yêu thương mỗi ngày đòi hỏi chúng ta phải đánh mất mình vì những người khác... và là sự phát triển cao thượng nhất! Không hề phá hủy con người, sự hy sinh từ bỏ tạo thành những người đàn ông và đàn bà cao cả nhất. Chỉ cần nghĩ đến Charles de Foucault, Mè Têrêxa Can-Quýt-ta, Martm Luther Kinh và nhiều người khác!

Còn nếu co quắp vào tính ích kỷ' nhỏ bé của mình, sự phát triển của cá nhân mình thì như Đức Giêsu đã nói đó là phương tiện chắc chắn nhất làm hỏng cuộc đời mình. Lạy Chúa, xin cho chúng con hiểu được lời Chúa và ban cho chúng con sức mạnh để sống lời ấy. Thánh Phaolô đã nói "được rửa tội" chính là chịu đóng đinh với Đức Kitô để sống với Người" (Rôm 6,6-8) Và mỗi thánh thể nhắc chúng ta rằng Đức Giêsu đã "nộp sự sống của Người".

Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy".

Đoạn văn bắt đầu bằng những lời này là phần kết luận của "Bài giảng về các Tông Đồ". Và thật ra chúng ta luôn ở trong cùng một luồng tư tưởng: luôn là vấn đề của lòng yêu thương... và yêu thương dưới hình thức đơn giản nhất là đón tiếp người khác.

Ai đón tiếp một ngôn sứ, vì ngườ ấy là ngôn sứ thì sẽ được lãnh nhận phần thưởng dành cho bậc ngôn sứ , ai đón tiếp một người công chính, vì người ấy là người công chính thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc công chính.

Và ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ là một chén nước lã mà thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.

Thế giới hiện đại này có vẻ đề cao sự phát triển cá nhân kể cả bằng sự đè bẹp những người khác (ví dụ như trong việc phá thai và nhiều hoàn 'cảnh khác... ) cũng thế giới ấy đã tìm thấy công thức tàn bạo: "Tha nhân là hỏa ngục!"

Còn Đức Giêsu đề cao lòng hiếu khách, cởi mở, đón tiếp chúng ta có dành cho người xa lạ một chỗ khiêm tốn nơi bàn ăn của chúng ta không? Người khách được đón tiếp vào nhà chúng ta là một sự hiện diện của Đức Chúa. Hỡi vị khách xa lạ, hãy nói cho chúng tôi nghe điều bí mật của bạn.

Tiếp đón niềm nở chính là hình thức vui tươi của lòng yêu thương.

Đó là một ơn thường gặp nhất mà người ta có thể thực hiện ở mọi lúc dù khi quá nghèo và người ta không có gì để cho ngoài tính cách của sự đón tiếp Đức Giêsu đã gợi ra ba loại thành viên của cộng đoàn:

Các ngôn sứ, các người công chính và các kẻ bé nhỏ! Hai loại người trên đã được tôn kính trong đạo Do Thái. Nhưng Đức Giêsu còn thêm những "kẻ bé nhỏ", những "môn đệ bình thường", những người mà người ta luôn -liều lĩnh bỏ quên họ để chỉ quan tâm đến các Kitô hữu siêu hạng các chiến sĩ đức tin, các người dấn thân cao cả? Trong một thế giới rất dễ dành mất tình người và lại luôn đi tìm những môi trường mới cho sự hiệp thông nhân loại, lời mời gọi Đức Giêsu luôn có giá trị. Các kỹ thuật viên của mọi hệ thống, các chuyên gia về "nhóm năng động", các người nhiệt thành truyền bá các ý thức hệ xứng đáng... đều phải tìm cách thực hiện động tác đơn giản cho người đang khát một chén nước: chỉ là một chén nước lã! Biểu tượng cho tương quan con người đơn giản nhất. Tin Mừng xem ra không đơn giản. Đức Giêsu cảnh báo sự dửng dưng và vô tâm của chúng ta. Tha nhân! Người khác! Kẻ bé nhỏ nhất..


Lm Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc - Bài Giảng Lễ

Lm được gì cho Cha Gisu chưa?


Một buổi tối, vừa khi từ Marốc trở về, Charles de Foucauld say m kể cho gia đình nghe những cuộc thm hiểm kỳ th của anh qua những khu rừng Phi Chu. Người chăm ch theo di cu chuyện hơn cả l một cơ chu gi chưa đầy mười tuổi.

Khi anh vừa chấm dứt thì cơ b đ bất thần hỏi:

- Thưa cậu, chu thấy cậu lm được nhiều việc lạ qu. Vậy cậu đ lm được gì cho Cha Gisu chưa?

Cu hỏi ấy như một luồng điện giựt, khiến anh bất động. Từ bao lu nay, chưa ai đ khiến anh phải suy nghĩ nhiều như thế: "Anh đ lm được gì cho Cha Gisu chưa?". Charles de Foucauld lục sốt tm hồn mình để chỉ thấy một lỗ hổng khơng đy. Anh đ phí phạm tất cả thời giờ v tuổi thanh xun cho những cuộc ăn chơi trụy lạc v những danh vọng ph phiếm. Mắt anh bỗng mở ra để thấy được nỗi khốn khổ ngho nn của mình. Ngy hơm sau, anh tìm đến xưng tội với một vị linh mục. Sau đĩ anh từ bỏ tất cả, xin vo dịng khổ tu. Rồi ít lu sau, anh lại xin đến Nagiart để sống trọn vẹn cho Cha Gisu.

Một ngy nọ, giữa lc đang đắm mình trong cầu nguyện, anh bỗng nghe từ căn nh bn cạnh cĩ tiếng rn rỉ của một người Hồi gio. Nhớ đến gương bc i của Cha Gisu, anh tự hỏi, anh cĩ thể giam mình cầu nguyện giữa lc cĩ những người anh em đang rn rỉ trong đau thương, thất vọng được chăng? Thế l anh quyết định đến sống giữa họ, trở thnh người anh em của họ, nhất l của những người cơ đơn, lạc lng, ngho hn hơn cả.

Những năm cuối đời, Charles de Foucauld sống giữa sa mạc Sahara, chia sẻ hồn tồn cuộc sống với những người cng khổ. V anh đ chia sẻ tới giọt mu cuối cng của anh khi pht sng oan nghiệt của kẻ st nhn bắn gục anh giữa lc anh đang cầu nguyện vo đầu thng 12 năm 1916. Ngy nay, cc Tiểu đệ v Tiểu muội của Cha Gisu tiếp tục lý tưởng sống của anh. Cc anh chị ấy sống giữa những người ngho nhất trong x hội. Tất cả cuộc sống v sự hiện diện m thầm của họ l một cố gắng lm một ci gì cho Cha Gisu.

Anh chị em thn mến,

Một kitơ hữu chn chính cũng đều phải tự hỏi: "Tơi đ lm được gì cho Cha Gisu chưa?" Khơng phải l cho Cha Gisu mi đu trn trời, nhưng cho Cha Gisu đang tiếp tục đến, đang tiếp tục hiện diện trong cuộc đời tơi, trong tm hồn tơi, nơi những người anh em tơi, cũng l anh em của Ngi, nhất l những ai thấp hn, cng khổ. Tơi tự hỏi, m chính Cha Gisu cũng hỏi tơi mỗi ngy: "Con đ lm được gì cho Cha chưa?", cũng cĩ nghĩa l: "Con đ lm được gì cho những người anh em b mọn nhất của Cha chưa?" Bởi vì trong Tin Mừng hơm nay Cha Gisu đ nĩi: "Ai đĩn tiếp anh em l đĩn tiếp Thầy, v ai đĩn tiếp Thầy l đĩn tiếp Đấng đ sai Thầy"… "Ai cho một trong những kẻ b nhỏ ny uống, d chỉ l một chn nước l m thơi, vì kẻ ấy l mơn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đĩ sẽ khơng mất phần thưởng đu".

Người kitơ hữu chng ta thường đề cao những việc đọc kinh, cầu nguyện, những việc lm cho Cha m coi những việc lm cho tha nhn, nhất l những việc nhỏ nhặt tầm thường, như cho anh em một ly nước l, l những việc lm chẳng cĩ ý nghĩa v gi trị no. Nhưng đối với Cha Gisu thì khơng như vậy, đĩn tiếp một em nhỏ, cho người thấp km trong x hội d chỉ một ly nước l, cũng l một việc lm đng được n thưởng trn trời. Lý do giản dị l Cha đ tự đồng hĩa mình với những kẻ mọn hn (x. Mt 25,40-45).

Thưa anh chị em,

Cha Gisu mời gọi chng ta n cần tiếp đĩn anh em. Tin Mừng nĩi đến Cha Gisu như một người khch m người ta niềm nở đĩn tiếp hay l thờ ơ xua đuổi. Ngi đến cch ring với những người bị loại trừ, những người tội lỗi, để cĩ dịp ku gọi họ trở lại, như tại nh ơng Matthu (Mt 9,10-18) v ơng Giaku (Lc 19,5-10). Ngi đến với gia đình quen thn của hai chị em Matta v Maria (Lc 10,38-42), cũng chỉ để nĩi ln một điều cần thiết l lắng nghe v thực thi Lời Cha. Ngi đến như một người khch lạ đến khuấy động lịng người, đặt lại mọi vấn đề. Vì thế, Thnh Gioan nĩi: "Ngi đến trong nh Ngi m cc gia nhn Ngi đ khơng tiếp đĩn Ngi" (Ga 1,11). Vì thế chng ta phải n cần tiếp đĩn người anh em trong niềm tin, người hnh khất đến g cửa, người hn mọn khơng ai nghĩ tới, người lạc lồi, khơng cửa khơng nh, những người ấy chính l Ngi. Những người anh em ấy cĩ thể l những người ở ngay đường phố, cng chung cư, hng xĩm. Cũng cĩ thể l những người trong gia đình, nhưng chng ta đ cố tình qun họ trong cảnh sống cơ đơn, gĩa bụa, gi cả của họ … Tiếp đĩn họ l tiếp đĩn Cha.

Cu chuyện người thiếu phụ ở Sunm được kể lại trong bi đọc thứ nhất l một mẫu gương tiếp đĩn niềm nở, vơ vụ lợi. B đ tiếp đĩn Ngơn sứ lis, người của Thin Cha, v đ tạo điều kiện cho ơng thi hnh sứ mạng. Vì thế, b được Thin Cha thưởng cơng. "Ai tiếp đĩn một ngơn sứ, vì người ấy l ngơn sứ, thì sẽ được lnh phần thưởng dnh cho bậc ngơn sứ; ai đĩn tiếp một người cơng chính, vì người ấy l người cơng chính, thì sẽ được lnh phần thưởng dnh cho bậc cơng chính".

Anh chị em thn mến,

Được mời gọi đi theo Cha Gisu, chng ta phải quyết định chọn lựa. Chỉ cĩ sự chọn lựa tình yu Cha Gisu mới cho php chng ta xứng đng được gọi l mơn đệ của Ngi. Một khi đ chọn lựa Ngi thì phải đặt tất cả tình cảm gia đình, tình yu tự nhin ty thuộc vo Ngi, đi sau tình yu đối với Ngi. Khi chọn lựa như thế chng ta sẽ khơng trnh được cc mất mt, từ bỏ, hy sinh. Tuy nhin, Thin Cha khơng để cho những kẻ theo Cha phải thiệt thịi. Ngi sẽ đền b, một sự đền b vượt qu sự mong đợi. Trước mặt Thin Cha sẽ khơng cĩ gì bị bỏ qun, d một bt nước l cũng được đền b xứng đng. Vì thế, chng ta đừng sợ mất phần thưởng, nhưng hy sợ mình khơng trung thnh bước theo Cha Gisu.

Anh Charles de Foucauld đ từ bỏ tất cả để đi theo Cha Gisu v để lm một ci gì cho Cha Gisu, anh đ từ bỏ mình để sống cho anh em, nhất l cho những người ngho hn, nhỏ b. Chng ta hy quyết tm lm một ci gì cho Cha Gisu bằng cch tiếp đĩn Ngi đang đến với chng ta trong Bí tích Thnh Thể để tình yu của Ngi thc đẩy chng ta tiếp đĩn những người anh em ngho hn, nhỏ b, cũng l những anh em của Cha Gisu v l hiện thn của Cha Gisu vậy.

Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng - Bài Giảng Lễ

BIẾT ĐÓN NHẬN

Chủ đề nổi bật của các bản văn Kinh thánh Chúa nhật XIII này là sự đón nhận tha nhân. Đón nhận người khác nhất là người nghèo khổ, bị bỏ rơi là đón nhận chính Chúa Giêsu. Biết đón tiếp là sự khởi đầu của tình yêu. Biết đón nhận tha nhân là tiền đề để đón nhận thập giá theo Chúa.

I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

1. Bài đọc I: 2V 4,8-11.14-16

Người phụ nữ Susam tiếp đón Tiên tri Êlisê

Được người phụ nữ Susam đón tiếp quảng đại và tế nhị, Tiên tri Êlisê đã tỏ lòng biết ơn bằng việc khẩn cầu Thiên Chúa ban tặng cho bà một người con.

a. Tiên tri Êlisê sống vào khoảng thế kỷ IX TCN. Ông để lại một dấu ấn sâu sắc trong lịch sử Israel. Sự chăm sóc mà người phụ nữ Susam dành cho ông là một đức tính quí hiếm, hoàn toàn tế nhị và vô tư.

b. Nhờ việc đón tiếp này, bà đã được đền bù xứng đáng. Bà là một phụ nữ hiếm muộn đã được Tiên tri Êlisê hứa ban cho có một đứa con trai. Bản văn này thật là một áng văn biểu cảm.

c. Nếu biết đón tiếp người khác nhất là người nghèo khó, hoạn nạn thì sẽ được Thiên Chúa đền bù xứng đáng.

2. Bài đọc II: Rm 6,3-11

Trong Chúa Giêsu Kitô

Thánh Phaolô giáo huấn, nếu nhờ phép rửa, chúng ta được mai táng trong mồ với Đức Kitô, thì cũng sẽ được sống lại với Ngài để đạt tới một sự hiệp thông huyền nhiệm làm cho chúng ta sống chính sự sống của Thiên Chúa.

a. Ở đây Thánh Phaolô trình bày một cách tổng quát về giáo lý của Bí tích Thánh tẩy. Được thanh tẩy rồi thì không còn chết trong tội nữa nhưng đã được sống trong ân sủng và hơn nữa sẽ được phục sinh vinh quang với Đức Kitô.

b. Với tình trạng cắm rễ sâu trong tội lỗi thì sẽ không bao giờ đứng lên được. Nhưng nhờ Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết, sự chết không làm chủ được Ngài nữa, nên ai cùng chết với Đức Kitô cũng sẽ sống lại với Ngài.

c. Kitô hữu nhờ Bí tích Thánh tẩy đã chết đối với tội nên phải sống cho Thiên Chúa, trong Đức Giêsu Kitô.

3. Tin mừng: Mt 10,37-42

Quên mình để theo Đức Kitô

Theo Đức Kitô là một đòi hỏi khắt khe. Chúa Giêsu đã trình bày những đòi hỏi này: phải yêu Ngài hơn tất cả mọi sự khác, phải từ bỏ quên mình; phải đón tiếp tha nhân, nhất là những ai bé mọn, khó nghèo.

a. Phải yêu Ngài hơn tất cả: Ai yêu cha mẹ, anh em, con cái hơn Ngài thì không xứng đáng với Ngài. Chúa Giêsu xem ra đòi hỏi điều vô lý? Ở đây, Chúa Giêsu không đặt đối nghịch hai thứ tình cảm nội tâm nhưng là hai thái độ cụ thể: chọn lựa theo Chúa thì không để bị ràng buộc bởi gia đình.

b. Theo Chúa xứng đáng với Chúa thì sẽ trở nên người đại diện cho Ngài: Ai đón tiếp các con là đón tiếp Thầy; ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng sai Thầy. Ở đây có một nguyên tắc rất quen thuộc: Người được sai đi ngang hàng với người sai đi.

c. Yêu Chúa hơn tất cả, vác thập giá theo Ngài và biết đón tiếp người khác nhất là người bé mọn đòi hỏi một điều kiện quan trọng là quên mình. Quên mình là từ bỏ những gì liên quan đến con người và mọi liên hệ của bản thân từ sự sống cho đến tình cảm.

II. GỢI Ý BÀI GIẢNG

1. Theo Chúa là đón nhận những đòi hỏi khắt khe:

Những đòi hỏi của Chúa Giêsu dành cho những ai muốn đi theo Ngài quả thật rất khó: không được yêu cha mẹ, con cái, anh chị em mình hơn Ngài; phải vác thập giá theo Ngài và phải liều mạng sống vì Ngài. Nếu không thực hiện được những đòi hỏi này thì không xứng đáng là môn đệ của Ngài. Tất nhiên, những đòi hỏi của Chúa Giêsu cho dù khắt khe nhưng không phải là phi lý, cũng không phải đòi người ta sống trái với luân thường đạo lý. Nhưng thông qua những đòi hỏi ấy người ta sẽ đạt được mức độ tự do mới không lệ thuộc vào những rung động xúc cảm bản năng, nhờ đó, biết yêu thương cách siêu nhiên bằng tình yêu của Thiên Chúa, một tình yêu đích thực. Biết can đảm đón nhận những khó khăn thử thách để đứng vững trong niềm tin và biết hy sinh dâng hiến cuộc đời vì hạnh phúc, vì ơn cứu độ cho tha nhân. Chúa Giêsu, trước khi yêu cầu các môn đệ những đòi hỏi khắt khe ấy, thì chính Ngài đã thực hiện trọn vẹn, sung mãn những đòi hỏi ấy. Ngài đã vâng lời Chúa Cha từ bỏ ngai vị Thiên Chúa, mặc lấy xác phàm và hy sinh chết trên thập giá thực hiện trọn vẹn công trình cứu độ muôn dân của Chúa Cha.

Thông thường khi gặp những đòi hỏi khắt khe từ phía Thiên Chúa, người ta có khuynh hướng lo âu sợ hãi và chối từ, để rồi tìm cách phản biện lại những đòi hỏi ấy. Muốn theo Chúa phải biết đón nhận những đòi hỏi của Ngài. Trong thực tế cuộc sống không biết bao nhiêu người đã cho rằng việc lễ lạy, kinh kệ và nhất là sống Tin mừng là những đòi hỏi khắt khe để rồi từ chối Chúa.

2. Theo Chúa là đón tiếp anh chị em:

Chúa Giêsu đã khẳng định ai đón tiếp các môn đệ của Ngài là đón tiếp chính Ngài; đón tiếp giúp người bé mọn với danh nghĩa là môn đệ thì không bị mất phần thưởng. Chúa Giêsu đến là để đón nhận mọi người vào Nước Chúa, vui hưởng vinh quang phục sinh với Ngài. Do đó, ai muốn theo Ngài thì tất yếu cũng phải đi theo đường lối của Ngài yêu thương đón nhận mọi người. Không thể nào chấp nhận thái độ của người nói là theo Chúa nhưng lại từ chối anh chị em của mình. Chúa Giêsu đã đón nhận tất cả khổ đau, tội lỗi của nhân loại trên thập giá khi xưa. Ngày nay, Ngài cũng mời gọi Kitô hữu cũng phải cùng với Ngài, theo Ngài đón nhận mọi sầu khổ của nhân thế: biết sống vì tha nhân, cho tha nhân.

Theo bản tính thì chúng ta dễ dàng đón nhận những người có ích lợi cho mình, hợp ý mình, những người có địa vị, uy tín. Còn dễ xua đuổi loại trừ những người nghèo khổ, bần cùng, tội lỗi. Điều này không phù hợp với tính cách của người môn đệ Chúa Giêsu. Theo Chúa là phải đứng về phía người nghèo khổ, đón nhận yêu thương và chăm sóc. Trong niềm tin chúng ta khám phá ra rằng: đón tiếp người khác là đón tiếp chính Chúa vậy.

3. Theo Chúa là đón nhận Ngài:

Ai đón tiếp các con là đón tiếp Thầy, ai đón tiếp Thầy là đón tiếp chính Đấng sai Thầy. Theo Chúa thì điều cơ bản là phải đón nhận Ngài. Tin vào Ngài, đón nhận Ngài rồi mới có khả năng theo Ngài. Không thể nào theo Chúa mà không biết Ngài là ai, không gặp gỡ Ngài. Đón nhận Ngài là biết đón nhận sứ điệp Tin mừng, sống Tin mừng; đón nhận Ngài là siêng năng gặp gỡ Ngài trong đời sống cầu nguyện và tham dự Thánh lễ. Cách đặc biệt đón nhận Chúa là đón nhận những người được Chúa sai đến, là đón nhận Giáo hội của Ngài. Đón nhận Ngài còn là thái độ thể hiện niềm tin tưởng vào Ngài.

Mỗi Kitô hữu chúng ta hằng ngày có biết bao nhiêu cơ hội để đón nhận Chúa vào trong cuộc đời mình: cuộc gặp gỡ với tha nhân, giờ cầu nguyện, tham dự Thánh lễ, nghe và sống Lời Chúa… Rất nhiều cơ hội, nhưng chúng ta tận dụng được bao nhiêu? Có thực sự tin tưởng hân hoan đón tiếp Chúa không?

III. LỜI NGUYỆN TÍN HỮU:

Mở đầu: Anh chị em thân mến, Tin mừng mời gọi chúng ta đón tiếp Chúa vào trong cuộc đời. Trong niềm tin tưởng Thiên Chúa hằng chờ mong chúng ta tiếp đón Ngài, chúng ta cùng dâng lời cầu xin.

1. Giáo hội là nơi đón nhận và trao ban Tin mừng cứu độ của Chúa cho muôn dân. Chúng ta cùng cầu nguyện cho Giáo hội ở bất cứ đâu luôn là nơi thể hiện tình yêu của Chúa, biết vui vẻ đón nhận, cưu mang người cùng khổ.

2. Ngày nay biết bao người, bao trẻ em vì nghèo đói, chiến tranh, tệ nạn đã và đang bơ vơ vất vưởng trong xã hội, không có nơi nương tựa và bị gạt bỏ ra bên lề xã hội. Chúng ta cùng cầu nguyện cho những anh chị em ấy luôn được đối xử đúng với phẩm giá làm người, luôn được mọi người yêu thương quan tâm nâng đỡ.

3. Theo Chúa với những đòi hỏi thật là khắt khe. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta luôn được nhiều ơn Chúa để can đảm theo Chúa đến cùng.

Lời kết: Lạy Thiên Chúa giàu lòng thương xót, Chúa đã yêu thương đón nhận chúng con là những kẻ tội lỗi làm con cái Chúa. Chúng con vui mừng cảm tạ Chúa. Xin Chúa mở rộng đôi tay và tấm lòng mọi người chúng con, để chúng con vui bước theo Chúa yêu thương đón nhận anh chị em mình. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.

 
Hành Trang Mục Vụ - Khoá 10 ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn