Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XIII Thường Niên C

Tin Mừng Lc 9: 51-62 Chúng ta muốn hiến thân phụng sự Chúa, nhưng chưa dứt khoác với những gì đã từ bỏ, như lo lắng về những quan hệ trần thế, những lề lối sống theo kiểu trần thế … Sống như vậy thì không thể hoàn thành sứ mệnh Tông Đồ được vì cầm cày đừng ngoái cổ lại sau lưng.

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT XIII THƯỜNG NIÊN C



1V 19,16b.19-21 ; 1V 5,1.13-18 ; Lc 9,51-62

Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải
 


THÁI ĐỘ VÔ TÂM CỦA MỘT LÀNG Ở SAMARIA.

NHỮNG ĐÒI HỎI CỦA SỨ VỤ TÔNG ĐỒ (Lc 9,51-62)

1. Đoạn văn này mở đầu cho phần thứ ba của phúc âm Lc: hành trình lên Giêrusalem (9,51 đến 19,28). Mục đích của cuộc hành trình này còn được định rõ 2 lần nữa sau này (13,22 và 17,11). Cho dù giá trị lịch sử được gán cho khung cảnh mà Lc xử dụng ở đây là thế nào đi nữa, ý hướng của Lc đã rõ ràng: 10 chương này (đa số được cấu thành bởi những đoạn văn của riêng phúc âm thứ ba, trong đó Lc đã tập hợp những dữ kiện và lời nói tương đương với nhau) có nội dung là hướng về cuộc hành trình lên Giêrusalem, và như thế là hướng về cuộc khổ nạn của CGS. Đây là "khởi đầu của cuộc tử nạn" (Calvin). Bản văn này gồm hai phần khác biệt nhau: thái độ vô tâm của một làng Samaria (cc. 51-56) và những đòi hỏi của sứ vụ tông đồ (cc. 57-62).

2. Giọng văn long trọng của câu 51 rõ ràng biểu thị hai điều: trước tiên, thời gian mà Chúa Cha ban cho Con Ngài để thực hiện công trình tại thế của Ngài sắp kết thúc và việc CGS ra đi đã gần kề. Sứ vụ tại thế của CGS được lồng vào trong việc kiện toàn thời gian (Mc 1,15; x. Gal 4,4), đưa tới việc hoàn thành nước TC. Nước Trời sẽ được hoàn tất nhờ việc analempsis, siêu thăng hay về trời của CGS. Trong hy ngữ của TƯ, danh từ "ana lempsis" này chỉ xuất hiện ở đây, nhưng động từ của nó được xử dụng (đặc biệt trong các văn phẩm của Lc) để chỉ việc nhắc lên trời (Cvsđ 1,2.11.22; 10,16), ngoài ý nghĩa thông thường là: đón lấy, mặc lấy (Cvsđ 20,13.14; Eph 6,13). Chính bản LXX cũng dùng động từ này để chỉ việc Elia được cất về trời (2V 2,9-11); sự kiện này có thể được móc với việc nhiều thủ bản nhắc đến Elia trong câu 54 (x. Nguyễn Thế Thuấn).

Tiếp đến, ý định của CGS trở lên Giêrusalem là một quyết định quan trọng. CGS ý thức rõ ràng Ngài phải chịu đau khổ và chịu chết trong thành thánh, và theo Lc, Ngài đã hai lần loan báo cuộc khổ nạn của Ngài (9,22 và 9,44-45). Nhưng phúc âm vẫn thường ít chú trọng đến tâm lý cũng như trạng thái tâm hồn của CGS, ở đây lại nhấn mạnh rằng CGS không dấn thân trên con đường đưa tới cái chết một cách bộp chộp hay thản nhiên như một cách nhàn du đi theo con đường đã vạch trước. Câu văn diễn theo từng chữ là: Ngài rắn khuôn mặt lại. Vẫn biết từ ngữ "khuôn mặt" là một đặc ngữ Hy bá ám chỉ cả con người, nhưng không được phép hiểu từ ngữ này theo ý nghĩa là Lc cho thấy CGS biến đổi diện mặt bị xúc động mạnh. Nhưng "rắn khuôn mặt lại" có nghĩa là bày tỏ một quyết tâm dùng can đảm để vượt qua nỗi sợ hãi. Ở đây Lc đã khơi mào cho thấy những đau khổ đầu tiên của cơn hấp hối mà CGS sẽ phải chịu ở Giêtsimani (22,39-46).

Thành ngữ "CGS rắn khuôn mặt lại khi lên Giêrusalem" xem ra cũng ám chỉ đến bài ca thứ ba về Người tôi tớ của Giavê. Bài ca đó có nói: "Chúa Giavê đến cứu giúp tôi, vì thế tôi không còn cảm thấy bị lăng nhục. Vì thế tôi trơ mặt ra như đá; tôi biết rằng tôi sẽ không phải xấu hổ" (Is 50,7). Qua sự tương cận này, Lc đồng hóa CGS với Người tôi tớ của Giavê mà ông đã ám chỉ trong cuộc Biến Hình (9,35). Như thế cuộc hành trình lên Giêrusalem là khởi điểm của công cuộc hiến tế của Người-tôi-tớ Giavê.

Vậy CGS đi lên Giêrusalem với tư cách là Người-tôi-tớ, là vị ngôn sứ, là Đấng thiên sai, đại diện TC viếng thăm dân Người và ban cho họ đầy tràn ân sủng. Vì thế, Lc đã dùng ngôn ngữ long trọng: "Ngài sai phái bộ đi trước Ngài" (c.52). Rất có thể khi xử dụng một ngôn ngữ long trọng như thế, Lc đã muốm ám chỉ đến lời tiên tri thiên sai của ngôn sứ Malakia: "Này đây Ta sẽ sai phái sứ giả của Ta, để người đó dọn sạch đường trước mặt Ta. Và vị Chúa mà các ngươi tìm kiếm sẽ bất ngờ đi vào thánh điện của Ngài" (Mal 3,1). Nhưng ở đây có một sự chuyển dịch ý nghĩa: chính CGS là Giavê và các sứ đồ là các sứ giả. Và thực sự, như sẽ thấy trong chương 19, cuộc hành trình của CGS lên Giêrusalem sẽ chấm dứt bằng việc Ngài long trọng đi vào đền thờ để xua đuổi những kẻ buôn bán và để giảng dậy ở đó (19,45-48).

3. Nhưng những sứ giả đi trước CGS không chỉ có một nhiệm vụ biểu trưng. Cụ thể hơn họ có phận sự tìm kiếm lương thực, và sắp xếp chỗ ở cho Ngài. Biện pháp này thật là cần thiết cho cả đoàn người đi theo CGS. Chúng ta không thể đánh giá được tầm quan trọng của đoàn tùy tùng này và xem ra không chắc gì trong ngày Chúa khởi hoàn vào Giêrusalem (19,29-40) đoàn người này được tăng số bởi những kẻ hành hương lên Giêrusalem để dự lễ vượt qua, vì ngày lễ trọng đại này còn quá xa. Nhưng chắc hẳn đoàn tùy tùng này, ngoài 12 môn đồ và các bà đạo đức ra, còn có cả một số cảm tình viên, trong đó CGS sẽ chọn lấy 72 người mà Ngài sẽ sai đi rao giảng (10,1-30).

4. Giữa người Do thái và người Samaria, có những xung khắc trên bình diện quốc gia và trên bình diện tôn giáo. Người Samaria là miêu duệ của các bộ lạc Đông Á đến định cư này vào thời vương quốc phương bắc của người Do thái bị người Assyria chiếm đóng (722) và cũng là miêu duệ của những thổ dân bản xứ. Họ đã theo đạo Giavê của dân Do thái, nhưng họ đã xây dựng đền thờ riêng cho họ trên núi Garizim, và họ còn khác với dân Do thái về nhiều điểm trên bình diện tôn giáo (x. 2V 17,24-41). Người Do thái khinh dể người Samaria, xem họ như người nửa lương nửa giáo và tránh tiếp xúc với họ (Gio 4,9). Nhiều lần, vì thù ghét giữa hai dân tộc đã có những cuộc tấn công lẫn nhau. Khi người Samaria nghe biết CGS lên Giêrusalem họ chống đối Ngài ra mặt và từ chối tiếp đón Ngài. Thật vậy, nếu đã từ lâu người Samaria nuôi dưỡng một lòng thù ghét đối với người Do thái, thì họ còn đặc biệt ác cảm những lữ hành đi lên Giêrusalem, bởi vì những người này mặc nhiên chối bỏ phụng tự trên núi Garizim.

Phải chăng CGS chỉ tìm cách đi qua xứ Samaria để lên thẳng Giêrusalem ? Chúng ta có thể nghi ngờ điều đó, vì nếu thế thì Ngài chỉ cần vài ngày đường là đi đến thành thánh - điều này hoàn toàn trái ngược với cuộc hành trình dài dòng tường thuật trong những chương 9-19. Phải chăng Ngài cũng muốn rao giảng Tin mừng cho người Samaria ? Không ai biết rõ, nhưng điều này xem ra ít phù hợp với lời khuyên răn của CGS (x. Mt 10,5) là "đừng đi vào trong một làng nào của xứ Samaria cả". Dẫu sao đi nữa, sự việc một làng xứ Samaria từ chối không cho một đoàn người xứ Galilea hành hương Giêrusalem (c. 53) trú ngụ là điều phù hợp với những gì chúng ta biết về thành kiến của người Samaria và người Do thái đối với nhau. Và đúng với những lời giáo huấn của Ngài đã trao ban cho các môn đệ (9,5), CGS không mấy để ý đến sự kiện này (thái độ vô tâm của người Samaria) và ra đi nơi khác (c.56), nhưng cũng không quên khiển trách 2 anh em Giacobe và Gioan ("con của sấm sét" theo Mc 3,17) về sự bất bình và nóng giận của họ (c.55). Họ đã không muốn khiến lửa từ trời xuống sát phạt những dân lành kém hiếu khách đó sao (c.54).

Trước đó chưa bao lâu, Gioan, dù đã hoàn toàn ý thức về phẩm chất cao cả của người sứ đồ - nhưng một cách hẹp hòi - đã có một lối cư xử mà CGS phải sửa sai (9,49-50). Và sau khi Chúa loan báo cuộc khổ nạn lần thứ ba (theo Mc 10,35-40), Chúng ta thấy hai anh em Giacobê và Gioan nẩy ra một tham vọng thái quá về chỗ đứng của họ trong vương quốc sắp tới. Trong cuộc biến hình vừa mới đây (9,28-36), Elia đã hiện ra với họ, và có thể họ nhớ lại rằng đã hai lần, theo lệnh của vị ngôn sứ, lửa từ trời đã xuống đốt cháy những binh sĩ vua Ochozias sai đến (2V 1,9-12). Dầu sao, đối với CGS, khi Ngài đến gần loài người, Ngài chỉ muốn mang lại ân sủng của TC mà thôi (Gio 3,17; 12,47). Nay chưa phải lúc thi hành việc phán xét, mà chỉ mình TC mới có quyền chứ không phải con người, cho dù là sứ đồ đi nữa.

5. Ba câu chuyện ngắn ngủi tiếp theo trong các câu 47-62 có lẽ thực sự đã do Lc tập hợp lại (2 câu chuyện đầu được thu tập trong Mt 8,19-22 chuyện thứ ba là của riêng Lc) vì cùng trả lời cho một vấn đề: làm thế nào để theo CGS ? Rất có thể cả ba câu chuyện xảy ra lúc bắt đầu lên đường một chỗ nào đó (Mt đặt chúng vào lúc CGS sắp vượt qua biên Galileêa để đến Gađara). Điều quan trọng là không phải con người của các nhân vật trong câu chuyện; vì người ta nhận thấy rằng Lc không nói rõ ràng một ai trong hai người đó trở nên môn đồ của CGS. Điều quan trọng chính là giáo huấn mà CGS ban ra vào dịp này. CGS đặt ra ba đòi hỏi cho kẻ muốn trở nên môn đệ Ngài.

a/ Phải từ bỏ mọi an toàn (cc.57-58). Một kẻ vô danh đầu tiên hứa hẹn theo CGS bất cứ nơi đâu. Có lẽ người ta trông chờ CGS nói trắng ra hay mạc khải cho người đó mục đích tối hậu của cuộc sống Ngài: Giêrusalem và cuộc khổ nạn. Nhưng CGS đã trả lời cho anh ta rằng Con Người không có nhà ở đâu hết và cuộc sống Ngài cũng không an toàn bảo đảm bằng cuộc sống của con thú rừng. Thành ngữ: "không có chỗ ngả đầu", gợi lại việc trú ngụ ở Belem (2,7) và củng cố thêm ấn tượng mà các sách phúc âm cho thấy về cuộc sống lang thang và bấp bênh của CGS.

Ở đây cũng như nhiều chỗ trong các sách phúc âm, CGS tự gán cho mình tước hiệu Con Người. Thành ngữ này khi thì chỉ con người xét như là một phần tử của nhân loại (đây là ý nghĩa mà CƯ thường dùng) khi thì ám chỉ nhân vật mầu nhiệm mang lấy tư cách thẩm phán tối cao của thời cánh chung mà Đn 7,13 và sách Hê-nóc nói đến (đây là ý nghĩa mà CGS xử dụng để tự gọi mình) (khi tự coi mình như là Con Người, CGS đã chọn tước hiệu thiên sai ít liên hệ nhất với quốc gia chủ nghĩa và niềm hy vọng thiên sai chính trị của người Do thái). Như thế CGS nhấn mạnh một điểm tương phản mà có lẽ kẻ đối thoại không nhận ra, đó là nét tương phản giữa bản chất đích thực của Ngài và cuộc sống Ngài đang theo, mà mối hiềm thù của những dân làng Samaria vừa mới cho một ví dụ.

Thân phận của một môn đồ cũng là thân phận của Thày mình: ngoại kiều và lữ hành trên mặt đất này (1P 2,11). Cả hai đều không có một nơi trú ẩn bảo đảm (theo thư Do thái 13,14: "không có thành trì lâu bền"). Theo CGS tức là chấp nhận băng mình vào những khó khăn của cuộc sống.

b/ Phải xem tất cả đều là phụ tùy trước bổn phận cấp bách rao giảng Tin mừng. Kẻ đối thoại thứ hai không tự ý xin nhưng CGS ra lệnh cho anh ta theo Ngài. Người đó tự biện giải bằng cách nói mình tự phải chôn cất cha mình trước đã. Điều này không nhất thiết có nghĩa là cha anh ta vừa mới chết, như đa số nhà chú giải thường hiểu (bởi vì tại xứ Palestine, việc chôn cất một người chết phải thực hiện ngay trong ngày nên khó mà nghĩ rằng CGS đã không đồng ý cho người được gọi triển hoãn vài giờ trong trường hợp ấy. Đúng hơn, người ấy thoái thác là vì muốn đợi cho cha mình, chắc chắn đã cao niên, chết đi đã rồi mới có thể đến theo CGS. Đó là một trì hoãn mà CGS từ chối).

Làm thế, CGS khẳng định rằng những bổn phận nhân loại là phụ tùy đối với những đòi hỏi của Nước Trời. Ngài không cho rằng những bổn phận gia đình là không đáng kể (x.Mt 15,3-9; 1Tm 5,8), nhưng trong trường hợp có xung khắc, thì những đòi hỏi của Nước Trời phải ưu vượt tất cả. Có một sự ưu vượt tối khẩn và quan trọng, "hầu mọi kẻ làm cha dưới đất khỏi ngăn trở Đấng tối cao và Cha mọi người được toàn quyền trên mọi sự" (Calvin). Đây cũng là tư tưởng mà Chúng ta tìm thấy trong câu 14,26 (và trong đoạn song song nhưng có vẻ nhẹ hơn: Mt 10,37) nơi mà CGS nói rằng tình yêu đối với Chúa phải vượt quá tình yêu tha nhân và tình yêu chính mình, và trong trường hợp có tranh chấp giữa trung thành với Chúa và trung hiếu với tình cảm nhân loại, thì chính tình yêu Chúa phải vượt lên trên hết cho dù phải xảy ra một sự cắt đứt do bởi hận thù.

Trong câu trả lời, CGS dùng chữ "chết" với cả hai ý nghĩa vật lý và thiêng liêng (như trong Gio 5,21-29; Eph 2,1...): những ai mà cuộc sống đã không được đổi mới nhờ đức tin thì không phải là những người sống thực sự với Chúa.

Dầu vậy rất có thể là trong thực tế, câu trả lời của CGS ít cứng cỏi hơn câu thánh Lc kể lại (và Mt 8,22). Từ nguyên thủy, có lẽ có một lối chơi chữ của người Aram giữa "Mâtâ" (làng) và "metâ" (chết) với ý nghĩa là: "những người dân làng sẽ liệu chôn cất cha anh", vì người ta bắt buộc phải chôn cất những tử thi không có thân nhân mai táng (giả thiết của Batiffol). Trong khi, dịch từ Aram qua Hy ngữ, truyền khẩu có thể đã làm mất lối chơi chữ đó và hiểu đó là những kẻ chết (hơn là những người dân làng) chôn cất kẻ chết. Một giả thuyết khác (M.Black) cho rằng trong bản Aram nguyên thủy có một lối chơi chữ giữa tiếng methinin (không dứt khoát) và tiếng mithin (chết, số nhiều). Theo giáo thuyết này, CGS đã có thể truyền lệnh cho kẻ được gọi hãy để việc chôn cất lại cho những kẻ không thể dấn thân vì nước Trời, những người không dứt khoát. Cho dù có giả thuyết nào đi nữa, hai bản văn chính lục và linh ứng này của Mt và Lc vẫn chỉ nói là kẻ chết chôn kẻ chết và cuối cùng những bản văn này là mẫu mực đức tin cho chúng ta.

c/ Phải quay lưng lại với quá khứ và nhìn về đàng trước (cc. 61-62). Như người đối thoại đầu, người thứ ba tự ý xin đi theo CGS. Điều kiện tiên quyết mà ông ta đặt ra gần giống điều kiện của Elise (1V 19,19-21) hơn nữa động từ "từ giã" (epitrephô) cũng có thể áp dụng cho của cải như trong 14,33 .

Câu trả lời chủ CGS như là một châm ngôn, mà nền văn chương thời cổ cho chúng ta nhiều ví dụ: "người cầm cày mà không khom lưng xuống thì dễ cày trật lất" (Pline). Để vạch một đường cày cho đúng không được quay mặt lui. Ở đây, người ta cũng nhớ lại lúc Elise đang cày thì Elia gọi ông.

Câu trả lời của CGS có ý nghĩa như câu trả lời trước nhưng tổng quát hơn. Theo CGS thì phải dứt khoát với quá khứ. Không những phải cắt đứt những ràng buộc cũ với gia đình mà còn phải từ bỏ nỗi lo lắng giữ lại tất cả gia sản những giá trị và kinh nghiệm luân lý mà quá khứ đã cho ta đạt được. Để trở nên thích hợp với Nước Trời, phải từ bỏ tất cả quá khứ (x.Ph 3,8). Và trong cuộc sống mới, phải có một con tim không chia sẻ, phải bước đi mắt nhìn về phía đằng trước (x. Ph 3,13), nghĩa là nhìn vào Đấng đi trước là CGS Kitô (Do thái 12,1-2).

KẾT LUẬN

Người ta có thể từ chối làm môn đồ CGS vì những thiên kiến tôn giáo: đó là trường hợp người xứ Samaria. Nhưng người ta cũng có thể từ chối lời mời gọi làm môn đồ bởi quá bận tâm đến sự an toàn, đến những tình cảm nhân loại hoặc đến quá khứ của mình: đó là trường hợp của ba người được gọi trong phần thứ hai của bản văn (dầu vậy nên nhớ rằng tác giả Tin mừng mô tả ba ơn gọi ấy dưới quan điểm những đòi hỏi của CGS, chứ không nói đến việc họ từ chối hay chấp nhận). Trong cả ba trường hợp CGS chỉ đưa ra lời mời gọi, chứ không bức bách tự do của họ bằng đe dọa hay trừng phạt, hứa hẹn hay ân thưởng. Cả trình thuật này đều qui chiếu về con người của CGS. Thiếu vắng Ngài là đau khổ lớn lao nhất, ở với Ngài (cho dù là phải lên Giêrusalem để chết với Ngài ở đó) là phần thưởng cao quí, tuyệt hảo.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Lc là tác giả phúc âm nói về lòng tốt lành và xót thương của TC. Vậy làm sao đoạn này có cung giọng đặc biệt cứng cỏi khắt khe đến thế ? Chính là vì ở đây Lc khơi mào một giai đoạn mới trong đời CGS, Ngài phải từ bỏ Galilê để "lên Giêrusalem". Đối với Chúa Kitô đây là một bước tiến dứt khoát, một quyết định trọng đại cho cả cuộc sống Ngài: vẫn ở lại Galilê là kéo dài cuộc sống dễ dãi với những thành công đầu tiên, là bị khuất phục bởi cơn cám dỗ trở nên Đấng Thiên Sai trần thế, thần tượng của dân chúng và "tự định đoạt cuộc đời". Cương quyết lên Giêrusalem chính là cụ thể chấp nhận ý muốn Chúa Cha: thí mạng sống Ngài; chính là cắt đứt với quá khứ để dấn thân vào một tương lai bấp bênh phù hợp với ý định Chúa Cha. Trong văn mạch này đừng có lấy làm ngạc nhiên vì Chúa đưa ra rõ ràng và có thể nói là nhẫn tâm, những đòi buộc khẩn thiết của Tin mừng đối với những ai muốn theo Ngài phục vụ Nước TC. Trong cuộc sống người Kitô hữu cũng như trong lịch sử của giáo hội, có những lúc cần phải từ bỏ sự an toàn xưa nay để trung thành với Chúa và với sứ mệnh.

2. Lúc con trẻ Giêsu được dâng trình tại đền thánh, bà ngôn sứ già Anna, sau khi đã thấy CGS, "mở miệng nói về con trẻ cho tất cả những ai mong chờ ơn công cuộc giải phóng Giêrusalem" (Lc 2,38). Chính lời này được thực hiện vào lúc CGS hoàn tất sứ mệnh. Vì CGS lên Giêrusalem là để "giải phóng Giêrusalem", để phá hủy Giêrusalem của CƯ, của nô lệ, và để mạc khải một Giêrusalem mới, Giêrusalem trên trời, Giêrusalem của TƯ. Với hoàn toàn tự do và tự nguyện, CGS dấn thân vào tiến trình giải phóng dân TC, một cuộc giải phóng chỉ được hoàn tất với cuộc khổ nạn, chết và phục sinh của Ngài theo ý định nhiệm mầu của Chúa Cha.

3. Giáo hội hôm nay, và trong giáo hội mỗi Kitô hữu đều được mời gọi "theo CGS", tiếp tục sứ mệnh cứu rỗi của Ngài, lên Giêrusalem với Ngài. Dù Chúng ta không luôn luôn thấy rõ những từ bỏ mà cuộc đăng trình này đòi buộc; dẫu vậy chúng ta được đảm bảo về cùng đích, về ý nghĩa tối hậu của sứ mệnh chúng ta: đó là chúng ta sẽ được "cất đi", "được siêu thăng", "được tôn vinh" với Chúa Kitô. Vì thế chúng ta vững chắc cậy trông và có thể thẳng thắn dứt khoát lên đường. Cho dù tương lai có thể khó khăn và đầy đau khổ, chúng ta vững tin vào tình yêu Chúa Cha, vào lời trung tín của Ngài, vào chiến thắng cuối cùng. Cho dù hoàn cảnh có nguy biến, niềm xác tín nội tâm vẫn kiên vững và việc dấn thân có thể không lung lay. Nếu mãi mãi do dự, trì hoãn quyết định lên đường đi Giêrusalem, thì đó là không sống phù hợp với thái độ của CGS. Sống như thế là không sống với Tin mừng, sống thiếu đức tin và đức cậy.

4. Giáo hội, kẻ có sứ mệnh mạc khải CGS và sứ điệp của Ngài, vẫn không được những người Samaria hiện tại đón tiếp và các sứ đồ hôm nay vẫn bị loài người tiếp tục chối từ. Ước gì các sứ đồ ấy không vấp phải cám dỗ như Giacôbê và Gioan dùng "biện pháp mạnh" để rao giảng Tin mừng, biến Tin mừng thành một loại tuyên truyền, một thứ tẩy não, thành những lời ngăm đe sát phạt hay hăm dọa tình cảm. Chỉ có một bạo lực CGS làm ngơ cho, đó là bạo lực của các đối thủ đóng đinh Ngài trên thập giá. Vì Tin mừng là Tin mừng giải phóng và phải được con người tự do đón nhận, cho dù sứ giả Tin mừng có phảo chịu bất cứ hậu quả nào.

 

Noel Quession - Chú Giải


Bài Tin Mùng cua Luca Chúa nhật này bắt đầu một giai đoạn mới trong đời sống của Đức Giêsu. Cho đến nay. Đức Giêsu chỉ thực thi tác vụ cua Người ở Ga-li-lê. Trong suốt mười chương bắt đầu từ đây. Chúng ta sẽ thấy Đức Giêsu "lên Giêrusalem ". Đây là một lộ trình về địa dư (Lc 9, 51 ; 13, 22, 22 ; 17, 11).

Khi đã tới ngày Đức Giêsu được rước lên trời...

Cách trình bày thật trang trọng. Bản văn sát nghĩa tiếng HyLạp cảm động hơn nhiều : "Vì những ngày Người được rước lên hoàn tất..."

Cái chết đang đến gần ấy không phải là một việc ngẫu nhiên, đó là một sự hoàn tất, một thành tựu, việc thực hiện sau cùng, việc làm tỉ mỉ sau cùng của một đời sống rất trọn vền.

Nhưng đó cũng là một sự "rước lên". Ở đây, Luca dùng cùng một từ để nói về sự Thăng Thiên : Đức Giêsu sẽ được rước lên" trời (Cv 1, 2-11-22)... như ngôn sứ Ê-li-a cũng đã được rước lên (2 V 2 , 8 -1 1 ) Điều "sắp tới " . . . đối với Đức Giêsu, cũng như đối với mỗi người chúng ta cùng với Người. do đó là một biến cố vừa đau thương, vừa hạnh phúc : Phục sinh, với hai mặt của nó, cái chết và đi vào sự sống của Chúa Cha.

Người nhất quyết đi lên Giê-ru-sa-lem.

Bản văn Hy-lạp của Luca chứa đựng một hình ảnh : "'người làm khuôn mặt chai cứng lại để đi hướng về Giêrusalem"… như ngày hôm nay, chúng ta thường nói : Người siết chặt hàm răng để cương quyết dấn thân về nơi mà Người biết rằng Người sắp chết. Các Tin Mừng hiếm khi nhấn mạnh những trạng thái tâm hồn của Đức Giêsu. Điều đáng lưu ý là ngày hôm đó Người phải vượt qua nỗi sợ hãi và lấy hết sự can đảm của một con người.

Mỗi người chúng ta phải dành thời gian cùng với Đức Giêsu gợi lại khó khăn hiện tại của mình, đối với một thanh niên có thể là thi rớt, một nỗi đau khổ vì tình cảm cô đơn, một sự xung đột trong đời sống lứa đôi, một sự bất ổn nghề nghiệp, một bế tắc xem ra không vượt qua nổi, một căn bệnh không chữa khỏi, một cái tang vừa phải chịu v .v . . .

Thay vì buông xuôi, tại sao chúng ta không cùng với Đức Giêsu làm cho khuôn mặt mình chai lại để giữ vững bằng bất cứ giá nào . . . theo gương người "tôi tớ của Thiên Chúa" đã nói : "Có Đức Chúa là Chúa thương phù trợ tôi, vì thế, tôi đã không hổ thẹn, vì thế, tôi trơ mặt chai ra như đá. Tôi biết mình sẽ không thẹn thùng"' (I-sai-a 50,7)

Giê-ru-sa-lem hỡi ! Nơi duy nhất trên cả hành tinh này : cái hố ấy nơi trồng cây thánh giá . . . cái ngôi mộ trong huyệt đá ấy nơi cái chết đã thất bại, nơi mà Thiên Chúa kêu khát và làm cho một suối nguồn sinh ra từ cạnh sườn Người. Mọi đời sống Kitô hữu là một con đường lên Giê-ru-sa-lem !

Người sai mấy sứ giả đi trước. Họ lên đường và vào một làng người Sa-ma-ri để chuẩn bị cho Người đến. Nhưng dân làng không đón tiếp Người vì Người đang đi về hướng Giê-ru-sa-lem.

Chúng ta luôn luôn có khuynh hướng giảm nhẹ Tin Mừng, như thể thời đại của chúng ta là thời đại đầu tiên chứng kiến những xung đột về chủng tộc, chính trị, tôn giáo xã hội.

Những người Sa-ma-n bị những người Do Thái giáo trung kiên coi như những kẻ ly giáo, từ khi họ đã xây dựng một ngôi đền thờ trên đỉnh núi Ga-ri-dim để cạnh tranh với đền thờ Giê-ru-sa-lem. Phải tránh tiếp xúc với những kẻ "lầm lạc" ấy (Gio-an 4, 9.20).

Bị những người Do Thái khinh bỉ, họ trả đũa lại và gây ra mọi thất phiền nhiễu cho các đoàn hành hương mượn con đường ngắn nhất để đi từ Ga-li-lê về ' "Giê-ru-sa-lem qua các mỏm núi miền Sa-ma-ri. Đức Giêsu không quay lưng lại mảnh đất bị sự phân biệt chủng tộc và sự khinh bỉ lẫn nhau tàn phá. Và hơn thế nữa, Người từ chối bước vào sự hẹp hòi bế tắc ấy của dư luận quần chúng. Trước hết Luca mô tả với chúng ta một Đức Giêsu hoàn toàn độc lập và làm nổi rõ đức bác ái trọn hành động của người Sa-ma-ri tốt lành (Lc 10, 30). Lòng biết ơn của người bệnh bằng được chữa lành (Lc 17,16) Đức Giêsu yêu thương tất cả mọi người kể cả những người bị cám dỗ nguyền rủa Người.

Thấy thế, hai môn đệ Người là ông Gia-cô-bê và ông Gioan nói rằng : "Thưa Thầy, Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu hủy chúng nó không ?

Đó là hành phạt mà Ê-li-a đã bắt các đối thủ của ông phải chịu (2 V 1,10). Hai người "con trai của Thiên Lôi" (Mc 3,17), Gia-cô-bê và Gioan muốn xứng đáng với biệt danh của mình ! Nhưng họ chưa hiểu gì về sứ điệp và công việc của Đức Giêsu. Và điều nghiêm trọng hơn là họ đã tạo ra cho mình một ý tưởng về Thiên Chúa hoàn toàn sai lầm : họ tưởng rằng mình là những người giải thích Thiên Chúa và họ chắc rằng mình sở' hữu chỉnh lý ! Thiên Chúa toàn năng có thể nào tha thứ việc Đấng Mêsia của Người bị con người khước từ' và đối xử tùy tiện ? NGÀY NAY cũng thế, chúng ta cũng muốn thực hiện các dự án của "con trai Thiên Lôi" : Thiên Chúa phải can thiệp để tiêu diệt những kẻ thù của Người !

Tuy nhiên, chúng ta biết rằng Đức Giêsu không đến để kết án những người tội lỗi nhưng để cứu họ (Lc 19,10) Thiên Chúa không trùng phạt, Người tha thứ (Lc 23,34).

Nhưng Đức Giêsu quay lại quở mắng các ông. Rồi Thầy trò đi sang làng khác.

Ở đây Đức Giêsu cho chúng ta một hình ảnh đích thực về Thiên Chúa, Người vốn là Đấng Toàn Năng nhưng không can thiệp như một ông vua chuyên chế để bắt các bề tôi và kẻ thù quỳ móp nhưng chúng ta có thể nói rằng một cách khiêm nhường và nghèo khó, Người chờ đợi sự hoán cải, như một người cha, như một người mẹ, đồng ý cho gia hạn và chờ đợi hành trình chậm rãi của chân lý trong lòng con người. Và Thầy trò đi sang làng khác như những người nghèo hèn ra đi khi người ta không chịu tiếp họ: Tôi nhìn ngắm Đức Giêsu ra đi sang làng khác... Và tôi tự hỏi về sự thiếu nhẫn nại của tôi... trước những tội lỗi của tôi, trước những tội lỗi hoặc sự khước từ của những người khác, trước sự chậm chạp hoặc nặng nề của Giáo Hội. ..Lạy Chúa xin ban cho con sự nhẫn nại Thánh thiêng của Người.

Thầy trò đang đi trên đường thi có kẻ thưa Người rằng : "Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo". Người trả lởi : "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu".

Đúng vào lúc người ta từ chối tiếp đến" Đức Giêsu đang trên đường Giêrusalem, thì có một người xin theo Người một cách quảng đại và có điều kiện. Hẳn người ta có thể mong Đức Giêsu chấp nhận ngay lập tức. Vả lại thay vì chiều theo nhiệt tình của ơn gọi này, Đức Giêsu đã đặt ra phía trước mọi khó khăn thái độ này hoàn toàn trái ngược với mọi cách quảng cáo của chúng ta khoe khoang các sản phẩm của mình đến độ che giấu đi các khuyết điểm. Đức Giêsu không tìm cách tuyển mộ với bất cứ giá nào. Trái lại, Người nhấn mạnh phải chấp nhận sự thiếu thốn, sự nghèo khó, sự bất trắc... để theo Người.

Điều đó làm nổi rõ điều mà Đức Giêsu đã ý thức khi lên Giê-ru-sa-lem. Người tiến về một số phận bi thảm. Ai muốn theo Người cũng phải sẵn sàng chịu ruồng bỏ. Theo sở thích tâm linh của chúng ta, chúng ta có thể suy niệm về cuộc sống lang thang và bấp bênh của Đức Giêsu, "kẻ lang thang không nơi trú ẩn" ấy ! Đọi với một con người, không có một mái nhà để trú ẩn và một cái giường để ngã lưng thì quả là khắc nghiệt. Vào những buổi chiều mệt mỏi, điều đó phải trĩu nặng trong lòng. Đức Giêsu. Người lưu ý chúng ta rằng ngay cả thú rừng còn có một nơi trú ẩn an toàn. Lạy Chúa, xin cho chúng con lòng can đảm trong những lúc mệt nhọc thể xác hoạt tinh thần.

"Thầy đi đâu tôi cũng xin đi theo !" kẻ nói câu đó có lẽ không biết rằng con đường của Đức Giêsu sẽ dẫn người lên Gôn-gô-tha. Nhưng chúng ta thì biết. Và chúng ta cũng biết rằng "Qua cuộc khổ nạn và Thập giá, chúng ta đi đến vinh quang của sự Sống lại" ánh sáng nhất định sẽ chiếu giải trên những thử thách' của chúng ta : Giê-ru-sa-lem !

Đức Giêsu nói với một người khác : "Anh hãy theo tôi !" Người ấy thưa : "Thưa Thầy, xin cho phép tôi về chọn cất cha tôi trước đã " Đức Giêsu bảo : "Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa".

Đây là một trong những lời nghiêm khắc nhất trong toàn bộ Phúc âm... một lời khiêu khích, nổi loạn. Sự mai táng những người thân của chúng ta là một bổn phận thiêng liêng, đặc biệt lành thánh vì dựa vào một điều răn rõ ràng của Thập giới : "người phải yêu mến cha mẹ người". Lời nói quá đáng của Đức Giêsu đặt chúng ta trước một song luận :

- hoặc là Đức Giêsu là một người điên không nhận thức điều mình đòi hỏi.

- hoặc là Đức Giêsu thuộc về một bình diện khác bình diện trần ri thế , bên trên con người . . .

Sự thật là Đức Giêsu đi đến chỗ cho rằng ai không tìm kiếm Triều Đại của Thiên Chúa là một "người chết". Bởi vì rõ ràng trong cùng một câu, từ "kẻ chết" không có cùng một ý nghĩa : trong một trường hợp, nó có nghĩa thông thường tức là "những người đã qua đời" nhưng trong trường hợp kia, nó có nghĩa là tất cả những người đã không gặp gỡ Đức Giêsu và Người dám nói rằng họ là "những người chết" ? Đối với Đức Giêsu người nào không lo lắng những sự việc của Thiên Chúa không sống theo nghĩa mạnh nhất của từ ấy. Phải, đó là lời khó nghe nhưng là mạc khải về sự sống chân thật và duy nhất sự sống của Thiên Chúa, của Triều Đại Thiên Chúa.

Một người khác nữa lại nói : "Thưa Thầy,tôi xin theo Thầy, nhưng xin cho phép tôi từ biệt gia đình trước đã". Đức Giêsu bảo : "Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với nước Thiên Chúa". Vậy, Đức Giêsu, Ngài là ai mà đòi hỏi chúng con sự từ bỏ ấy ? Tuy nhiên Ngài cũng đã đòi hỏi chúng con yêu mến cha mẹ mình và Ngài đã làm gương bằng một tình cảm gắn bó tinh tế với mẹ Ngài là Đức Maria khi trao phó bà cho người bạn tốt nhất của Ngài.

Nhưng sự phục vụ Triều Đại Thiên Chúa đòi hỏi tất cả và ngay lập tức. Thiên Chúa bác bỏ những ưu tiên của chúng ta : "Để tôi về chôn cất cha tôi trước đã . . . Để tôi từ biệt gia đình trước đã..." Đó là những yêu cầu rất chính đáng. Thật vậy đó là những Người rất nghiêm túc, đứng đắn, hiểu lý. Họ đã "lên kế hoạch" của họ trước tiên, những công việc : của cá nhân tôi, kế đó là những công việc của Thiên Chúa. Tôi vừa kết thúc năm học của tôi. Tôi dự trù lập kế hoạch cho kỳ nghỉ hè : khoảng giữa tháng chín tôi sẽ tìm lại Thiên Chúa... sau đó ! Mỗi chúa nhật, nghỉ ngơi trước đã, giải trí trước đã, dành thì giờ cho gia đình và bạn bè trước đã : sau đó . . . nếu còn thời gian hãy đi dự thánh lễ.

Trước ngưỡng của mùa hè đang bắt đầu, Đức Giêsu Kitô cảnh giác tôi về thời gian biểu của tôi ! Thang giá trị của con là gì' ? Những điều cấp thiết của con là thứ bậc nào . Con đi tắm biển trước đây phải không ? Sức khỏe của con trước đã phải không ? Hoặc là trước tiên là điều chủ yếu ?

Thánh Phaolô mời gọi chúng ta "hãy đứng vững, đừng mang lấy ách nô lệ một lần nữa" (Ga-lát 5, 1).


 

Giáo phận Nha Trang - Chú Giải


"Người cương quyết lên đường đi Giêrusalem,

Dù Thầy đi đâu, con cũng sẽ theo Thầy". (Lc 9,51-62)


I. Ý CHÍNH :

Bài Tin-Mừng hôm nay ghi lại hai sự kiện tuy khác nhau nhưng cùng chung một ý nghĩa là nói lên tinh thần của môn đệ Chúa Giê-su cần phải có :

Đối với việc Chúa Giê-su bị dân làng Samari từ chối, Chúa Giê-su đòi hỏi các môn đệ phải có tinh thần khoan dung.

Đối với việc những người xin đi theo Chúa, Chúa muốn nói lên những đòi hỏi sứ vụ của người Tông Đồ.

I. SUY NIỆM :

1. "Vì gần tới thời gian Chúa Giê-su phải cất khỏi" :

Thời gian mà Chúa Cha ban cho Chúa Giê-su để thực hiện công trình cứu chuộc trần gian sắp kết thúc, vậy việc Chúa Giê-su phải cất khỏi đời này "thì gần tới" (Mc 1,15. Gl 4,4).

"Người cương quyết lên đường đi Giêrusalem" :

Ơ đây Chúa Giê-su muốn nêu rõ một quyết tâm dùng can đảm để vượt qua mọi sợ hãi, vì Người ý thức rõ ràng : Người phải chịu đau khổ và chịu chết trong thành Thánh. Ý thức này được biểu lộ qua những lần Người loan báo về cuộc khổ nạn của Người (Lc 9,22 ; 9,44-45) như vậy cuộc hành trình của Chúa Giê-su lên Giêrusalem là khởi điểm công cuộc cứu chuộc của Người.

"Và sai những người đưa tin đi trước Người".

Luca muốn liên tưởng đến lời tiên tri Thiên Sai Malakia : "Này đây, Ta sẽ sai phái sứ giả của Ta, để người đi dọn sạch đường trước mặt Ta. Và vị Chúa mà các ngươi tìm kiếm sẽ bất ngờ đi vào thánh điện của Người" (ML 3,1). Ở đây muốn ám chỉ Chúa Giê-su là vị Chúa và các môn đệ là sứ giả.

2. "Những người này đi vào một làng Samari …" :

Giữa người Do Thái và người Samari, có sự xung khắc về quốc gia và tôn giáo. Vì thế khi người Samari nghe biết Chúa Giê-su lên Giêrusalem, họ tỏ vẻ chống đối ra mặt bằng cách từ chối đón tiếp Người.

3. "Lạy Thầy, Thầy muốn chúng con khiến lửa trời" :

Biết thái độ từ chối của dân làng Samari, hai ông Giacôbê và Gioan, một đàng nhớ lại việc tiên tri Elia đã xin lửa từ trời xuống thiêu đốt những kẻ nghịch (2V 1,10-12), đàng khác các ông nghĩ rằng dân làng Samari đã làm nhục Chúa nên các ông xin Chúa cho phép khiến lửa từ trời xuống thiêu hủy. Đây là thái độ còn nhiễm lây tinh thần Cựu Ước, tinh thần báo thù.

4. "Các con không biết thần trí nào xúi giục mình" :

Chúa Giê-su cho biết việc các môn đệ báo thù là việc của tà thần chứ không phải là việc của Chúa. Người xuống thế gian để hoàn thiện hóa tinh thần đạo cũ. Thiên-Chúa không phải là Thiên-Chúa báo oán, mà là Thiên-Chúa thương yêu. Tình yêu thương của Chúa Giê-su thay thế cho tinh thần báo oán của Elia. Và đó là tinh thần mới mà các môn đệ của Chúa Giê-su phải có.

5. "Các Ngài đi tới một làng khác …" :

Câu này diễn tả muốn nói Chúa Giê-su không mấy để ý đến việc người Samari từ chối đón tiếp Người. Vì thế, Người rẽ sang đường khác, vì có hai ngã lên Giêrusalem : Một qua Caphanaum đi theo thung lũng sông Giođan, đi qua Giêricô rồi lên Giêrusalem, một đi qua ngã làng Samari, ngã này dễ đi hơn.

6. "Đang khi đi đường có kẻ thưa Người rằng …" :

Luca ghi lại ở đây ba trường hợp về ơn kêu gọi theo Chúa, trong ba trường hợp này có ba trường hợp được Matthêu thuật xảy ra lúc bắt đầu cuộc giảng đạo ở Galilê (Mt 8,19-22) còn trường hợp thứ ba của Luca. Ghi lại ba trường hợp này, Luca muốn nêu lên những đòi hỏi dứt khoác đối với những người làm môn đệ của Chúa.

7. "Dù Thầy đi đâu, con cũng sẽ theo Thầy" :

Người này tự ý xin theo Chúa và xin đến bất cứ nơi nào.

- "Con chồn có hang, chim trời có tổ …" :

Nhưng Chúa Giê-su đã trả lời rằng Người không có nhà cửa ở đâu hết, cuộc sống của Người cũng chẳng an toàn bảo đảmbằng cuộc sống của những con thú rừng. Kiểu nói "không có chỗ dựa đầu" gợi lại việc ở Bêlem và cuộc sống bấp bênh nay đây mai đó của Chúa Giê-su khi còn ở tại thế này. Trường hợp thứ nhất này Chúa muốn đòi hỏi phải từ bỏ mọi an toàn, nhất là vật chất.

8. "Xin cho phép tôi đi chôn cha tôi trước đã" :

Người này không tự ý nhưng xin Chúa ra lệnh cho anh ta theo Chúa. Được lệnh Chúa truyền, người này tự biện giải bằng cách nói mình phải về chôn cất cha mình trước đã. Điều này không nhất thiết là cha anh ta vừa mới chết, vì tại Palestin, việc chôn cất một người chết phải thực hiện ngay trong ngày, nên khó nghĩ rằng Chúa Giê-su đã không đồng ý cho anh ta lưu lại vài giờ trong trường hợp ấy. Nhưng ở đây anh ta có ý thoái thác, muốn đợi cho cha mình chết rồi mới có thể theo Chúa Giê-su. Đó là cách trì hoãn mà Chúa Giê-su từ chối.

"Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết, phần con …".

Chúa muốn khẳng định rằng những bổn phận nhân loại là phụ tùng đối với những đòi hỏi của Nước-Trời. Người không cho rằng những bổn phận gia đình là không đáng kể (Xem Mt 15,5-9.1 Tm5,8) nhưng trong trường hợp phải lựa chọn, thì những đòi hỏi của Nước-Trời phải ưu tiên vượt trên tất cả. Trong trường hợp thứ II này Chúa Giê-su muốn đòi hỏi phải xem tất cả đều là phụ thuộc trước bổn phận cấp bách rao giảng Tin-Mừng.

9. "Lạy Thầy, tôi sẽ theo Thầy nhưng cho phép tôi …" :

Như người thứ nhất, người thứ ba này tự ý xin đi theo Chúa. Điều kiện tiên quyết anh ta đặt ra gần giống điều kiện của Elisê (lV 19,9-21) tức là xin về từ giã gia đình trước đã.

"Ai đã tra tay vào cày mà còn ngó lại sau lưng" :

Để vạch một đường cày cho đúng thì không được quay mặt lui. Ở đây muốn nói : Theo Chúa Giê-su thì phải dứt khoác với quá khứ, không những phải cắt đứt những ràng buộc cũ với gia đình mà còn phải từ bỏ nỗi lo lắng giữ lại tất cả gia sản những giá trị và kinh nghiệm luân lý mà quá khứ đã cho ta đạt được. Để trở nên thích hợp với Nước-Trời, phải từ bỏ tất cả quá khứ (1 Pr 5,8-9). Và trong cuộc sống mới thì phải có một con tim không chia sẻ, phải bước đi mắt nhìn thẳng về đằng trước (2 Pr 3,43) nghĩa là nhìn vào Đấng đi trước là Chúa Giê-su Ki-tô (DT 12,1-2).

Trường hợp thứ ba này, Chúa Giê-su muốn đòi hỏi phải quay lưng lại quá khứ và nhìn về đằng trước.

Ở đây cần ghi lại rằng Luca có liên tưởng đến tích truyện Elia gọi Elisê (lV 19,19-1) để so sánh Chúa Giê-su trỗi vượt hơn các tiên tri trong quá khứ : Chúa Giê-su khoan dung với địch thù hơn Elia, nhưng Người lại đòi hỏi các môn đệ cách gắt gao hơn ông.

II. ÁP DỤNG :

A. Ap dụng theo Tin-Mừng :

Giáo Hội muốn nhắc lại cho chúng ta về những đòi hỏi của sứ vụ Tông Đồ : phải khoan dung với địch thù, phải từ bỏ mọi đòi hỏi riêng tư, phải ưu tiên cho việc rao giảng Tin-Mừng, phải dứt khoác với quá khứ và nhìn thẳng về đằng trước của lý tưởng Tông Đồ.

B. Ap dụng thực hành :

1. Nhìn vào Chúa Giê-su :

Xem việc Người làm :

"Người cương quyết lên đường đi Giêrusalem. Noi gương Chúa, chúng ta cương quyết vượt mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ Tông Đồ và hoàn thiện đời sống.

"Sai những người đưa tin đi trước Người". Noi gương Chúa, trước khi thực hiện một công việc, một nhiệm vụ, chúng ta phải chuẩn bị sửa soạn để dọn đường sửa lối cho công việc được thực hiện hoàn hảo hơn.

Nghe lời Chúa nói :

"Con Người đến không phải để giết nhưng để cứu chữa người ta" : Người Tông Đồ đi đến đâu là để cứu giúp, phục vụ mưu ích lơị cho tha nhân, chứ không phải để kết án, để xét xử, để báo oán tha nhân.

"Con chồn có hang … Con Người không có nơi tựa đầu" : Theo Chúa thì không đòi hỏi được an toàn theo kiểu trần thế, nhưng chấp nhận thân phận như người lữ khách …

"Ai tra tay vào cày mà còn ngó lại sau lưng". Theo Chúa thì phải dứt khoác với mọi ràng buộc khác kể cả những ràng buộc gia đình.

2. Nhìn vào các Tông Đồ :

Giacôbê và Gioan còn sống theo tinh thần cũ là báo oán kẻ thù. Cũng vậy, theo Chúa mà đôi khi chúng ta còn sống theo kiểu thế gian là giận hờn, ghen ghét, ganh tỵ, thù oán cá nhân. Theo Chúa thì phải khoan dung với tha nhân …

"Các Tông Đồ được Chúa sai đi đưa tin trước Người". Chúa cũng sai mọi người chúng ta như sứ giả của Người đến những nơi mà chúng ta đang ở để chuẩn bị cho những người chúng ta đang cùng sống, đón nhận ơn Chúa, thấm nhuần tinh thần của Chúa.

3. Nhìn vào những người theo Chúa :

Người thứ nhất xin đi theo Chúa với óc vụ lợi để được an toàn cuộc sống trần gian này vì thấy Chúa làm nhiều phép lạ, có thể cứu giúp mình được nhiều phương diện … Nếu chúng ta theo Chúa mà còn óc vụ lợi, tìm an toàn cho mình ở trần gian này thì không thể làm Tông Đồ cho Chúa được, vì theo Chúa thì phải từ bỏ mọi an toàn và chấp nhận mọi thiếu thốn của đời sống …

Người thứ hai được Chúa đích danh gọi, nhưng họ còn ngập ngừng, vì chưa dứt khoác, vì chưa ưu tiên cho việc của Chúa. Chúng ta chưa chăm lo cách nhiệt tình đối với bổn phận Tông Đồ của mình vì còn phải lo những việc trần thế như việc gia đình chẳng hạn …

Người thứ ba tự ý xin đi theo Chúa nhưng còn luyến tiếc việc quá khứ, chưa dứt khoác với những gì đã từ bỏ … Chúng ta muốn hiến thân phụng sự Chúa, nhưng chưa dứt khoác với những gì đã từ bỏ, như lo lắng về những quan hệ trần thế, những lề lối sống theo kiểu trần thế … Sống như vậy thì không thể hoàn thành sứ mệnh Tông Đồ được vì cầm cày đừng ngoái cổ lại sau lưng.

HTMV Khóa 10 - Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sài Gòn