Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XIV Thường Niên A

Tin mừng Mt 11: 25-30 Đức Giêsu không phân tích khuynh hướng tâm lý và đức hạnh của những người bé mọn và nghèo khó...
CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN NĂM A


Mt 11: 25-30



Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

 
TIN MỪNG MẶC KHẢI CHO NGƯỜI HÈN MỌN (Mt 11: 25- 30)

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Làm sao đặt đoạn văn này vào trong toàn bộ chương 11? Nó có tiếp nối chủ đề trung tâm của các chương 11- 13 không?

2. Thành ngữ "thuở ấy" có giá trị gì đặc biệt?

3. Tại sao Chúa Giêsu đội ơn Cha Người vì đã gặp thất bại nơi các kẻ "khôn ngoan và thông thái"?

4. Hãy đọc kỹ các chú thích của BJ.

5. Đâu là ý nghĩa của chữ "biết" theo Kinh Thánh?

6. Hãy đối chiếu đoạn văn này với Hc 6, 25- 30; 24, 19 và 51, 1- 30; có tương đồng về ngữ vựng, cơ cấu không?

7. "Ach" của Chúa Giêsu dịu dàng hơn ách Biệt phái theo nghĩa nào? Phải chăng Người đòi hỏi ít hơn họ?

1. Trong thần học của các giáo sĩ Do thái, việc gán tính cách lịch sử cho hành động của Thiên Chúa đã dẫn đến hậu quả này là làm cho thời hiện tại mất đi mọi giá trị đối với việc cứu rỗi. Hành động cứu rỗi của Thiên Chúa không còn được đặt trong lương quan trực tiếp với hiện tại nữa; việc cứu độ của Ngài có thể bảo là đã bị giản lược thành một âm vang, được nhiều tiếng nói trung gian truyền đạt. Và chỉ nhờ các tiếng nói này, là những loại âm vang gián tiếp, mà Thiên Chúa ngỏ lời với mỗi cá nhân. Ngài đã bộc lộ thánh ý Ngài xưa kia, và mọi suy tư thần học của các giáo sĩ đều tham chiếu về chính cái "xư'a kia" của Sinai ấy. Dĩ nhiên, người ta cũng hy vọng đợi chờ ngày cánh chung lúc Thiên Chúa sẽ tái can thiệp một cách mạnh mẽ và dứt khoát để diễn lại các kỳ công xa xưa của Ngài. Nhưng thời hiện tại, cái thời gian kỷ niệm quá khứ và hy vọng sự hoàn thành ơn rỗi trong tương lai, đối với nền thần học đương thời Chúa Giêsu chỉ là một giây phút trống rỗng, mà dấu hiệu là sự bất an của tâm hồn đạo đức. Rồi phải thêm rằng ý muốn sống động của Thiên Chúa được đồng hóa với Lề luật (Tora). Vì thế, phương diện hiện sinh của tri thức về Thiên Chúa, nghĩa là sự kiện mỗi cá nhân hiện sống được hiệp thông với Ngài nhờ ân sủng, và do thấy yếu tố hữu ngã của sự sống Ngài trong lịch sử cứu rỗi đều bị giảm thiểu để nhường chỗ cho một yếu tố thuần lý là sự cần thiết phải học hỏi thánh ý Ngài trong Lề luật để trở thành người đạo đức. Do đó mà trong Do thái giáo của các giáo sĩ, hình ảnh Thiên Chúa đã bị trừu tượng hóa một cách lạ lùng. Trái lại Chúa Giêsu, qua nhiều lời tuyên bố mình hiện sống thân mật với Thiên Chúa một cách hiện sinh, đã tỏ ra khác biệt hoàn toàn với các thần học gia đương thời.

2. Nhưng còn một điều mới mẻ căn bản hơn nữa. Đó là Chúa Giêsu tuyên bố rằng, qua sự hiện diện của Người, sự hiện của Ngôi Con, Thiên Chúa đã dấn thân vào một công cuộc quyết liệt và dứt khoát, rằng người lớn hơn một ngôn sứ hay hơn.Vị Ngôn sứ mà Đnl 18, 15 đã loan báo ngày xưa. Các tác giả Tin Mừng quá hiểu điều vừa nói, bằng chứng là Mt và Lc đặt trước bài hoan ca hôm nay (đoạn văn chúng ta) lời Người khiển trách các thành mà, mặc dầu thấy bao phép lạ làm trước mắt, vẫn không chịu nhận rằng qua các công việc đó Người muốn tỏ mình như là yêu sách tối hậu của Thiên Chúa. Tính cách dứt khoát của yêu sách này tạo thêm một tiêu chuẩn phán xét họ. Tội lỗi của họ, Khoradin và Betsaiđa, quả kinh khủng hơn là tội của Sôđôm, là tấm gương xưa nay về sự bất chính.

3. Toàn thể các chương 11, 12 và 1 3 rất ăn khớp với nhau trên phương diện thần học? vì cùng bị chi phối bởi chủ đề về cái được "dấu kín"; thành thử các câu 25- 30 thật là nằm gọn hoàn toàn trong cơ cấu chung. Chúng rõ ràng có một giọng điệu của Gioan, về hành văn cũng như về tư tưởng, nhất là câu 27 (x. Ga 3, 35; 17, 2; 7, 29; 10, 14- 15). Đàng khác nên lưu ý rằng, trong văn mạch này, đoạn văn không đặt trọng tâm trên Chúa Con xét như là Con cho bằng là trên cái Người mặc khải cho nhân loại. Xét trong toàn bộ, các câu 25- 27 chẳng những nói rằng Thiên Chúa thường mặc khải cho những kẻ bé mọn" điều Ngài dấu với hạng thông thái khôn ngoan, nhưng còn bảo đó chính là cách thức riêng biệt mà Ngài dùng để tự mặc khải qua sứ vụ Chúa Giê-su.

4. Nhịp điệu của lời Chúa Giêsu cầu nguyện trong đoạn văn này khá gần với nhịp điệu nằm suốt bài ca tạ ơn mà Bensi ra đã dùng đề kết thúc cuốn sách của ông (Hc 51,1- 30); bài ca ấy cũng mở đầu bằng một lời "tuyên xưng" (examologoumai soi, cùng thành ngữ như trong Mt 11: 25), rồi khai triển chủ đề đi tìm sự Khôn ngoan Thiên Chúa đã ban tặng, và kết thúc với một lời kêu gọi hãy học với nó, hãy nhận lấy "ách" và "gánh" của nó, để tìm được sự "nghỉ ngơi" (Xem thêm Hc 6, 25- 30 và 24, 19, nơi gặp lại cùng những thành ngữ này).

Một nhịp điệu tương tự cũng gặp thấy trong sách khôn ngoan (Kn 6- 9) là sách tán dương sự cao cả của đức khôn ngoan và kêu mời độc giả hãy đến làm môn đồ của nó đặc biệt xem Kn 8, 9; 9, 1. 4. 9). Tuy nhiên bản văn Mt đi xa hơn nhiều, vì đánh dấu việc hoàn thành của chính sự Khôn ngoan thần linh trong Chúa Giêsu, và bối cảnh cánh chung của chương cho phép hiểu, dưới ánh sáng của Đn 7, 13- 14, rằng Chúa Giêsu thật là Con Người đã được loan báo (11, 19), đã được ban cho quyền năng trên mọi dân nước trần gian. Việc hoàn thành ấy nằm trong sự kiện là Chúa Giêsu, người đầu tiên, tự trở nên "bé mọn", hay nói cách khác, nên "hiền lành và khiêm nhượng trong lòng" (11, 29). Như vậy là tử hệ của Chúa Giêsu, người Tôi tớ, đã được mặc khải ra.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

"Thuở ấy". Chi tiết xác định này có một giá trị thần học hơn là thời gian; nó nối kết câu 25 với cc. 20- 24: dù quê hương của Chúa Giêsu (Capharnaum, c. 23) có từ khước Người chăng nữa, thì những kẻ bé mọn vẫn hiệp lòng với lương dân (Tyr, Siđon c. 21) để đón tiếp Người. Các thành, trung tâm của các trường giáo sĩ và của văn hóa tôn giáo đã chẳng biết Đấng mà những kẻ "đơn hèn" nhận ra vậy.

"Con xin ngợi khen Cha": Chúa Giêsu đội ơn hay xưng tụng Cha Người vì đã gặp thất bại nơi những kẻ khôn ngoan thông. thái; không phải Người ưa thích đám hèn dân hơn hạng ưu tú vì tính khí hay là vì thiện cảm tự nhiên đâu; song Người nhận ra rằng thất bại ấy, và sự thành công đi kèm theo, đều tương ứng với chính bản chất của công cuộc Người thực hiện để phục vụ nhân loại là cứu kẻ nghèo, hạng người bị giới quyền cao khinh bỏ.

"Lạy Cha"; Ở đây, Mt dùng hô cách (vocatif) pator là hình thức đúng của tiếng kêu. Nhưng trong câu tiếp, cũng tiếng kêu ấy của Chúa Giêsu (Lạy Cha!) lại được diễn tả bằng chủ cách (nominatif) (ho patôr) là hình thức sai trong hy ngữ. Việc chuyển từ hô cách sang chủ cách cho thấy từ ngữ Aram Chúa Giê-su dùng hẳn là Abba, tiếng mà vào thời Người, thường được sử dụng khi gọi (hô cách) cũng như khi nói về người cha (Hy ngữ ho patôr). Điều này thánh Phaolô đã xác nhận lúc bảo Ki-tô hữu cầu khẩn Thiên Chúa bằng mấy tiếng "Abba, ho patôr" (Rm 8,15 và Gl 4, 6). Thế mà, chữ Abba là một tiếng kêu thân mật dành cho việc xưng hô trong gia đình. Không bao giờ một người Do thái dám gọi Thiên Chúa bằng Abba tương đương với chữ ba ơi trong việt ngữ, papa trong Pháp ngữ. Người ta chẳng tìm thấy một lời khẩn cầu nào với Thiên Chúa bằng chữ Abba trong mọi kinh nguyện Do thái của 10 thế kỷ đầu trước Chúa Kitô, cũng như trong các kinh nguyện phụng vụ hoặc kinh nguyện riêng tư cả. Thành ra ngôn ngữ của Chúa Giêsu ở đây có một cái gì đó mới mẻ, độc đáo, lạ lùng: Người dám nói với Thiên Chúa như một đứa bé nói với cha nó cách đơn sơ, nhân tình, không chút sợ hãi. Tiếng này mặc khải chính nền tảng của mối thông hiệp giữa Chúa Giêsu với Thiên Chúa vậy.

"Chúa trời đất": Đây là nơi duy nhất trong Tin Mừng mà chúng ta gặp tiếng xưng hô long trọng này. Công thức thật đặc biệt quan trọng ở đây vì cho phép ta thực sự lượng giá được tầm mức và ý nghĩa của những lời sắp nói.

"Đã che dấu ": Cặp động từ "che dấu-mặc khải " nổi bật lên trên toàn bộ các chương 11- 13 và là chìa khóa giúp hiểu được chúng. Không phải loài người, cũng chẳng phải Chúa Giêsu, song chính Thiên Chúa là chủ từ của động từ ấy; câu 26 sẽ nhấn mạnh điều đó; sự cứng lòng và niềm tin mà Chúa Giêsu gặp không phải là những tai nạn, cũng chẳng phải là những kết quả tích cực hay tiêu cực, của các nguồn lực riêng của Người đâu; chính quyền bính và ý muốn Thiên Chúa điều khiển tất cả hoạt động của Người.

"Điều ấy": Không phải là những phương diện riêng biệt đặc biệt cao sâu của sứ vụ Chúa Giêsu, song là ý nghĩa tổng quát của toàn thể công trình mặc khải của Người. Các tiếng "Khôn ngoan" và "thông thái" cùng chỉ hạng học thức, chuyên môn, có thẩm quyền trong lãnh vực tôn giáo (x. Is 29, 14 và 1Cr 1, 19); trong lúc tiếng bé mọn" chỉ những "người nghèo trong tinh thần" của Bát phúc (Tv 19, 8; 116, 6), chỉ đám cùng dân là những người "tội lỗi" mà Biệt phái bao giờ cũng khinh bỉ; lý tưởng của những kẻ sau này ngày càng thoái hóa sự hiểu biết có tính cách vật chất và thuần lý về Lề Luật các truyền thống giáo sĩ. Như vậy ở đây Chúa Giêsu vừa đối lập với ngộ đạo kiểu quý phái của Qumrân vừa sung khắc với các tôn giáo huyền bí của các nhóm người Hy Lạp.

"Không ai biết được Cha trừ ra Con": Đối lại với tri thức thuần lý của các giáo sĩ, Chúa Giêsu đưa ra một tri thức diện hiện sinh, làm bằng sự thân mật và tình yêu. Ý chí, tình yêu, cảm giác, nghĩa là tất cả mọi hình thức của trí tuệ mến yêu (inteuigence aimnte) đều tham dự vào tri thức đó. Đàng khác, Kinh Thánh đã chẳng gọi cuộc gặp gỡ sâu xa nhất giữa hai vợ chồng trong tình yêu là sự "hiểu biết" đó sao (St 17, 25...)? Ở đây biết và yêu chỉ là một chuyện. Đây cũng là nơi duy nhất trong các trình thuật Nhất lãm phát biểu một cách rõ ràng và không chối cãi được mối tử hệ thần linh của Đấng Mê-si-a.

"Hết thảy những kẻ lao đao và vác nặng". Cũng một tiếng Hy lạp có nghĩa "gánh nặng được dùng chỗ này và Mt 23, 4 nơi Chúa Giêsu quớ trách Biệt phái đã đặt những "gánh nặng nề" lên vai người khác. Như vậy ở đây Chúa Giêsu chẳng nghe lời các thử thách và khó khăn của đời sống, sức nặng của tội lỗi v v nhưng đến gánh nặng không thể nào chịu đựng của tinh thần vụ luật giáo sĩ. Điều này được xác nhận trong các câu tiếp theo: "mang lấy ách" là một thành ngữ thông thường các giáo sĩ dùng để chỉ ách của nước Thiên Chúa, của Lề luật, của trời, của các huấn lệnh v.v... xem chú thích BJ). "Ta sẽ nâng đỡ các con": Hy ngữ: anapausô - dịch sát chữ là: "Ta sẽ cho nghỉ ngơi lại sức".

"Hãy mang lấy ách của Ta"; Chúa Giêsu không đến để miễn cho con người mọi bó buộc luân lý; Người thay thế các yêu sách Lề luật Do thái bằng những đòi hỏi của Người là những đòi hỏi, như đã thấy trong Diễn từ trên núi, cũng có tính cách nghiêm chỉnh, và còn triệt để hơn các đòi hỏi của luật Môisen. Chỉ có điều là vị Tôn sư đề nghị ra chúng thì hiền lành và khiêm nhượng trong lòng, khác xa với các giáo sĩ. Và chẳng những Người ban cho môn đồ sức mạnh để mang ách đó trong vui tươi song còn làm gương cho họ bằng cách sống điều mình đòi hỏi: "Lịnh truyền của Người không nặng nề" (1Ga 5, 3) và "chỉ tóm lại nơi một lời này: Ngươi hãy yêu mến đồng loại như chính mình ngươi" (Rm 13, 9).

"Ta hiền lành": Nơi đây Mt dùng chữ praus (hiền lành) như ơ chân phúc thứ hai. Chúa Giêsu là kiểu mẫu của môn đồ vậy.
"Ách Ta thì êm ái và gánh Ta lại nhẹ nhàng": Điều này chẳng có nghĩa là Chúa Giêsu đòi hỏi ít thua các giáo sĩ đâu. Người đòi hỏi nhiều hơn nhưng cách khác. Tình yêu làm mọi gánh hoá ra nhẹ nhàng. "Nơi nào có tình yêu, nơi ấy chẳng có gian khổ" thánh Augustin đã nói như thế.

KẾT LUẬN

Học theo đức 'Khôn ngoan chân thật của Nước Trời là nên nghèo hèn với Chúa Giêsu. Cái thường gây vấp phạm, là cách thức Chúa mặc khải chính mình Người: quyền này tỏ trong sự yếu đuối!

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Giống hạng người "khôn ngoan, thông thái" mà Chúa Giêsu nhắm đến là những kẻ dùng trí tuệ riêng để xây cho mình một Thượng đế quan, một vũ trụ quan hoàn toàn đóng kín, cùng nhất định không muốn thay đổi chúng để học thêm điều gì mới lạ. Họ tưởng mình đã biết hết về Thiên Chúa, đã nắm trọn học thuyết đích thật về Ngài. Nhưng người ta có bao giờ mà nắm được chân lý, chính Chân lý luôn nắm chúng ta, và chỉ cần chúng ta để cho Ngài nắm lấy. Cơn cám dỗ ngàn đời của tâm trí con người, khởi từ câu chuyện biểu tượng của Adam và Eva, bao giờ cũng vẫn là một: Đó là tin rằng "mắt chúng ta sẽ mở ra" và "chúng ta sẽ nên giống Thiên Chúa" bằng cách ăn trái cây hiểu biết, bằng cách vận dụng trí tuệ của mình, thay vì chấp nhận rằng chính trong khi tự biến đi trong tình yêu Thiên Chúa mà chúng ta trở nên giống Ngài nhờ ân sủng.

2. Đức tin chúng ta đừng bao giờ biến thành một gánh nặng không thể vác nổi, một gánh nặng làm tróc thịt trầy da. Nếu nó trở thành một gánh nặng, hãy tin chắc rằng nó không chính thực đâu. Tình yêu chỉ biết mang lại tự do, ánh sáng và sự nâng đỡ cho những tâm hồn gặp gỡ được nó.

3. Trong đoạn này, Chúa Giêsu cho chúng ta một tấm gương cầu nguyện. Lời cầu nguyện ấy bắt đầu bằng một lời tạ ơn nói lên lòng chấp nhận thánh ý Chúa Cha và biết ơn Ngài vì đã cho gặp thử thách của thất bại. Nó tiếp tục bằng cách đi lên đến tận nguồn của lịch sử cứu rỗi, tức là mầu nhiệm Thiên Chúa trong chính mình Ngài. Sau cùng nó kết thúc bằng cách hứa ban cho ta ơn cứu rỗi ấy một cách cụ thể nếu chúng ta chấp nhận trở nên khó nghèo.

4. Ngày nay những kẻ "bé mọn" là ai? Phải chăng là một giai cấp xã hội? Có tương quan nào giữa lời nhận xét của Chúa Giêsu cách đây 2000 năm và cái chúng ta có thể nhận xét hôrn nay các tin hữu không? đâu là những kẻ khôn ngoan và thông thái của thời đại này? Phải hiểu thông thái và khôn ngoan theo nghĩa trần tục hay nghĩa tôn giáo? Ta có được đi đến chỗ bảo rằng các tín hữu tưởng mình biết mọi sự về Thiên Chúa những kẻ khôn ngoan và thông thái hiện thời mà ơn cứu rỗi bị che dấu đi không?

5. "Ach dịu dàng của Chúa Giêsu chỉ các đòi hỏi của đức tin Ki-tô giáo, chỉ bổn phận Kitô hữu: giữ mười giới răn, chống lại tính xấu thực hành luân lý Tin Mừng của Diễn từ trên núi, tuân phục các quyết nghị của Giáo Hội, chấp nhận bệnh tật, già nua, cái chết. Gánh này, thay vì đè nặng chúng ta, lại ban cho đời chúng ta một ý nghĩa. Như đôi cần chim, nó mang chúng ta lên trong lúc chúng ta tưởng phải mang nó.

6. Chúng ta sẽ học ở trường nào nếu không phải là trường của Chúa Giê-su Kitô? Xa Người, chúng ta chỉ có thể học đòi theo những thúc đẩy mù quáng và mâu thuẫn của đam mê, những cái nhìn thiển cận và tầm thường của tinh thần thế tục, học đòi …theo sự khôn ngoan nhân loại, thứ khôn ngoan tự biết mình không thể ban một ý nghĩa cho cuộc đời. Còn nơi trường Chúa Ki-tô, chúng ta học biết rằng mình là con cái được yêu đang tiến về Chúa Cha, dưới sự dẫn dắt của Chúa Con hiền lành và khiêm nhượng trong lòng.

 
Noel Quession - Chú Giải

CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN

Mt 11: 25-30

Vào lúc ấy, Đức Giêsu cất tiếng nói…

Thành ngữ. "vào lúc ấy" thường là công thức về văn phong mà các sách Kinh dùng làm lễ đã thêm vào để bắt đầu một đoạn Tin Mừng một cách tự nhiên hơn. Nhưng ở đây là môt ngoại lệ, nó có trong bản văn của Mát-thêu. Vậy trong bối cảnh nào mà lời cầu nguyện chúng ta sắp đọc được đưa vào?

"Lúc ấy" là một thời điểm bi đát. Đức Giêsu sống trong một bầu khí căng thẳng và thất bại. Ở chương 11 thánh Mát-thêu vừa mô tả sự "hoài nghi" của Gioan Tẩy trong nhà tù; "Thầy có đúng là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác? "Đức Giêsu kế đó đã thuật lại cách thức mà những kẻ đồng thời với Người đã từ chối ông Gioan vị ẩn sĩ khổ hạnh và cả Đức Giêsu Đấng Hằng Sống nhân từ (11,16-19). Rồi Đức Giêsu lên án nghiêm khắc những thành phố bên bờ hồ Ti-bê-ri-a đã không đón nhận sứ điệp và các phép lạ của Người. Nhiều người trong hoàn cảnh thất bại này hẳn sẽ rơi vào sự thất vọng và chán nản. Vả lại, đây là một "bài ca vui mừng" trào dâng từ đôi môi Người. Vậy tâm tình thầm kín của Đức Giêsu là gì?

Lạy Cha là Chúa Tể trời đất...

Trong một vài dòng, chúng ta nghe Đức Giêsu gọi Thiên Chúa là "Cha" năm lần. Chúng ta đã quá quen nên không nhận thấy rằng cách gọi Thiên Chúa này mở ra một cuộc cách mạng tôn giáo thật sự. Những nhà chú giải đã tìm trong toàn bộ Kinh Thánh và tất cả văn chương Do Thái trước Đức Giêsu chưa bao giờ từ ngữ ấy, "Cha" được dùng một cách tuyệt đối và dùng để cầu khẩn trực tiếp Thiên Chúa. Không một Thánh Vịnh nào dám gọi Thiên Chúa một cách thân mật.

Như thế. Những người Do Thái, ngày nay cũng thế, bởi lòng tôn kính, không dám phát âm cái tên khôn tả của Thiên Chúa nhưng dùng mọi cách nói tránh, ví dụ như; "Đấng Hằng Hữu, xin chúc tụng..." Dường như các tông đồ không thể nghĩ ra một từ ngữ như thế, bởi họ cũng là người Do Thái, nếu như họ đã không nghe thấy trên đôi môi Đức Giêsu đang cầu nguyện. Và đàng sau từ ngữ ấy, ngày hôm nay đã trở thành thông thường, chúng ta nhận ra tiếng "Abba!" trong ngôn ngữ A-ra-men. Đây là một từ âu yếm của các con nhỏ dùng nói với cha chúng, tương đương với chữ Ba (Bố) của chúng ta..

Cha! Ba, Chúa của trời đất!

Sự đối chiếu của hai khía cạnh ấy của Thiên Chúa thật cảm động. Đây là Thiên Chúa cao cả, Tạo Hóa của toàn thể vũ trụ! Lạy Chúa, xin ban cho chúng con theo gương Chúa có đủ hai thái độ cầu nguyện ấy; sự đơn sơ của tình cảm…sự tôn thờ chân chính...

Con xin ngợi khen Cha...

Động từ Hy Lạp dùng ở đây là "exomologeisthai" có nghĩa là "xưng thú", "tuyên xưng công khai đức tin" "dâng lời ngợi khen", "cảm tạ".. Như thế, giữa những thất bại trong việc rao giảng, đây là một lời cầu nguyện ngợi khen tràn ngập linh hồn... một thứ thánh thể ".

Và chúng ta không thể không ngạc nhiên bởi sự giống nhau đáng ngạc nhiên giữa lời Đức Giêsu cầu nguyện với bài ca ngợi khen (Magnifcat) của Mẹ Người. "Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng... ". Cả hai bài kinh này đều được cấu kết bằng những ẩn dụ trong Kinh Thánh (Châm ngôn 8,9; Xi-ra-cít 51,1-30; Khôn ngoan 6,9; Đa-ni-en 7,13-l4). Và cả hai ca hát niềm vui của những người nghèo khó mà Thiên Chúa ưa thích.

Vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng mạc khải cho người bé mọn.

Đức Giêsu cầu nguyện và đi từ đời sống cụ thể của Người. Người đi từ sự thất bại mà các kinh sư và các Thầy dạy Luật đã gây ra cho Người... từ sự tiếp đón mà Người đã nhận từ những người khiêm nhượng và nghèo khó. Còn tôi thì sao? Tôi có cầu nguyện từ' đời sống và những lo lắng của tôi? Tôi có dám thử tìm ra "lời để ngợi khen" giữa những hoàn cảnh bất lợi đang làm tổn thương tôi? Khi đọc lời kinh này của Đức Giêsu người ta có thể bị đụng chạm bởi cảm tưởng Thiên Chúa "giấu giếm" một điều gì đó cho một số người Và mạc khải điều đó cho những người khác! Trong toàn bộ Cựu ước, chúng ta tìm thấy ngôn ngữ Sê-mít này rất mạnh xem ra bất chấp tự do của con người. Ví dụ như, chính Thiên Chúa làm cho "lòng vua Pha-ra-on thành ra chai cứng" (Xuất hành 9,12). Công thức này muốn diễn tả tất cả không ngoại trừ, hoàn toàn tất cả đều phụ thuộc vào Thiên Chúa, nhưng đúng là con người phải chịu trách nhiệm về những sự khước từ của mình, mà không phải là Thiên Chúa. Chính vì thế người ta tìm thấy công thức rõ ràng là trái ngược; "Vua Pha-ra-on làm cho lòng mình ra chai cứng (Xuất hành 8,11). Dĩ nhiên ở đây vấn đề không phải là Đức Giêsu cám ơn Cha Người về việc truyền giảng thất bại và Người cũng không đổ cho Thiên Chúa sự thất bại ấy... Nhưng với sức mạnh trong ngôn ngữ mà chúng ta không còn sử dụng nhưng đã được điển hình hóa về mặt văn hóa, Người cám ơn Cha Người vì đám đông không học vấn đã tiếp đón Lời trong khi những người trí thức, than ôi lại tha hồ bị kẹt cứng trên sự chắc chắn của họ.. Chúng ta còn nhận thấy rằng đây không phải là một thứ kết án trí tuệ. Nhưng Đức Giêsu thừa nhận rằng thông thường trí tuệ quý báu của con người thực ra sẽ dẫn tới chỗ kiêu ngạo mù quáng vì tự phụ. Lý trí con người là khả năng phi thường để con người hiểu biết những sự vật của thế giới này và thiết lập những quy luật khoa học... nhưng lý trí bị giới hạn trong thế giới, và không thể nhận ra Nước Thiên Chúa bởi chỉ ánh sáng duy lý. Thánh Phaolô sẽ nói về đức tin như một thứ điên rồ"; "Tôi đã không dùng lời lẽ hùng hồn hoặc triết lý cao siêu mà loan báo mầu nhiệm của Thiên Chúa" (1. Cô-rin-tô 2,1). "Lời rao giảng về thập giá là một sự điên rồ,. nhưng cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người... " ( 1 Cô-rin-tô 1,18-30).

Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.

Để giải thích sự tiếp nhận của những người bé mọn và nghèo khó, đối diện với sự khước từ của các người thông thái và tự mãn, Đức Giêsu không phân tích khuynh hướng tâm lý và đức hạnh của họ. Người lập tức cho rằng đặc quyền của- những kẻ bé mọn là "lòng nhân từ của Thiên Chúa ". Họ không tốt hơn những người khác nhưng vì họ chịu thua thiệt, họ đặc biệt lôi kéo "lòng nhân hậu của Chúa Cha. Đó là một tư tưởng bền bỉ của Đức Giêsu; bạn là kẻ tội lỗi... bạn bị coi chẳng ra gì... bạn bị khinh bỉ bạn, bị đè bẹp... Cha của Đức Giêsu nhìn bạn với một tình yêu thương đặc biệt.

Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mạc khải cho.

Một lần nữa, phải nhận thức về lòng tự hào không chịu nổi của ông Giêsu người Na-da-rét. Người khẳng định có mối liên hệ đặc biệt với Thiên Chúa và chính Người là một người nghèo giữa những người nghèo. Vả lại, Người dám nói rằng không một ai biết Người. Không một ai có thể thâm nhập vào căn tính sâu xa của Đức Giêsu trừ Chúa Cha! Và, ngược lại Đức Giêsu thực sự cho rằng chỉ có Người biết được Thiên Chúa!

Trong những công thức ấy, người ta nhận ra những tư tưởng thường được Thánh Gioan hòa điệu; "Không ai đến Chúa Cha mà không qua Thầy" (Gioan 14,6). Khi các Công đồng của thế kỷ thứ IV và thứ V định nghĩa Đức Giêsu như Thiên Chúa thật, và người thật", khi các Công đồng ấy định nghĩa Ba Ngôi với sự bằng nhau về bản tính của Chúa Cha, Chúa Con và. Chúa Thánh Thần, thì các Công đồng ấy chỉ nói lại bằng những từ ngữ chính xác hơn điều mà các sách Tin Mừng và giáo lý tiên khởi đều đã khẳng định. Một bản văn nhân bản văn này, trong số nhiều bản văn khác, chứng tỏ rằng những giáo huấn về Chúa Giêsu đã đồng hóa "con người này" với "Đức Chúa Giavê. Phải, những người Do Thái đã gán cho con người Giêsu những câu nói chỉ thuộc về một mình Thiên Chúa; "Không ai biết Tôi ngoài Thiên Chúa... và không ai biết Thiên Chúa ngoài Tôi... "Vả lại, giả thuyết những người Do Thái "thần linh hóa" một người Do Thái quả là một điều không có thật.

Trong các tôn giáo khác của Đế quốc La Mã, có thể nghĩ đến những con người, ví dụ như những Hoàng đế đã được thần linh hóa. Nhưng điều này không thể nghĩ ra được trong môi trường Do Thái; họ thờ phượng một Thiên Chúa độc nhất siêu việt không thể diễn tả, mà người ta không bao giờ đám gọi tên! Kết hợp Đức Chúa Giavê với một con người, dù người này là ai là một sự phạm thánh ghê tởm.

Để đi đến điều đó, cần phải có những sự bó buộc mạnh mẽ trên bình diện các "sự kiện" và những "lời" của Đức Giêsu; tác động đến những người đã là các chứng nhân.

Phần chúng ta, sau 2000 năm, chúng ta chiêm niệm mầu nhiệm kỳ diệu ấy với nhiều sự đơn sơ và tôn thờ? Con người mà người ta thấy ăn bánh và quả ô-liu là người nông dân bé mọn ở Na-da-rét đã từng đốt lửa trên bờ hồ, là người mà người ta đã thấy lúc khóc và lúc cười, lúc tức giận và lúc đói khát... Một con người mà ban đêm người ta nghe thấy tiếng ngáy trong những lúc cắm trại ở giữa cảnh trời sao diễm ảo.. người ta đã nghe Người trong lúc cầu nguyện, đã gọi Thiên Chúa "'Abba? ". Và, với một vẻ bề ngoài tầm thường nhất, người khẳng định; "Không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con... và kẻ mà Người Con muốn mạc khải cho!". Mạc khải? Thật vậy, người ta chỉ biết Thiên Chúa qua điều mà Đức Giêsu mạc khải cho chúng ta!

Mạc khải. Một cách hiểu biết khác với sự nhận thức duy lý Thiên Chúa không được chinh phục sau một quá trình suy luận thông thái. Thiên Chúa được tiếp đón trong một tấm lòng nghèo khó; "Thầy sẽ chỉ cho con bí mật của Thầy nếu con yêu mến Thầy Điều đã bị giấu đối với các bậc khôn ngoan và thông thái được mạc khải cho người bé mọn! Người ta không đổ đầy một cái chén đã đầy rồi phải có một tấm lòng trống trải để Thiên Chúa tìm được chỗ cho Người. Phải có một trí tuệ khiêm tốn để Thiên Chúa bày tỏ Người ra. Lạy Chúa, xin tạo ra trong chúng con sự sẵn sàng để đón nhận mạc khải.

Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi,.vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.

Đức Giêsu khẳng định rằng "ách tôi êm ái và gánh tôi nhẹ nhàng. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng Tin Mừng có những yêu sách rất mạnh mẽ. Điều quan trọng là không nên giản lược những yêu sách ấy. Nhưng Đức Giêsu tự giới thiệu như đầy sự hiền hậu và khiêm nhường"; Người là lòng nhân hậu của Thiên Chúa nhập thể. Lúc đó có thể nói sự hoàn thành những yêu sách ấy xuất phát tự bản chất của hữu thể. Rõ ràng Người đến đề nghị một cách sống mới cho những người không thể mạng gánh nặng của Luật pháp" tức những người nghèo và những người tội lỗi.

Các ngôn sứ đã loan báo rằng Thiên Chúa từ chối viết Luật trên các bảng đá, theo cách ở bên ngoài của con người, nhưng Người sẽ viết Luật trên lòng người; đó là sự loan báo của Tân ước (Giê-rê-mi-a 32,31-34). Chúng ta nhận thấy sự nhất quán của tư tưởng ấy. Luôn luôn là vấn đề những người "nhỏ 'bé", hèn mọn. Đức Giêsu, chính là Thiên Chúa cao cả, Con của Đức Chúa trời đất, đến chia sẻ sự đau khổ của những người nghèo, để giải thoát họ khỏi những đau khổ ấy. Người đề nghị làm nhẹ bớt những gánh nặng của chúng ta. Phải luôn suy niệm thấu đáo hình ảnh này; người nào mang gánh nặng nề... dừng lại một giây lát để đặt gánh xuống! Và đây là điều Đức Giêsu đề nghị chúng ta; "Thầy sẽ cho anh em nghỉ ngơi bồi dưỡng!".

 
Lm Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc - Bài Giảng Lễ

Chúa Nhật 14 thường niên

Gió và mặt trời

 
Dcr 9,9-10; Rm 8,9.11-13; Mt 11: 25-30

Trong tập "Những ngụ ngôn của Ê-xốp" có một câu chuyện ngụ ngôn kể về cuộc tranh cãi giữa Mặt trời và Gió. Hai nguồn năng lực này cãi nhau xem ai mạnh hơn ai.

Ngày nọ, một cơ hội xảy đến giúp cả hai dàn xếp được cuộc tranh cãi. Hôm đó, có một người mặc áo choàng đang đi trên một con đường quê hoang vắng. Mặt trời liền thách thức với Gió; "Ai làm cho người ấy cởi bỏ chiếc áo choàng ra mau hơn thì người ấy là người thắng cuộc". Gió ta chẳng những đồng ý mà còn quyết định ra tay trước. Chàng Gió bèn thổi tới tấp, nhưng càng thổi thì người kia càng giữ chặt lấy chiếc áo choàng, sợ nó tung bay mất. Cuối cùng, kiệt sức, Gió ta đành phải chịu thua. Lúc đó Mặt trời mới ra tay. Ông Mặt trời chiếu tỏa hết vinh quang của mình ra. Chỉ trong mấy phút, người nọ nóng quá phải cởi bỏ chiếc áo choàng ra.

Cuối câu chuyện ngụ ngôn, Ê-xốp bàn luận; "Bạn có thể thành công nhờ sự dịu hiền dễ thương hơn là nhờ bạo lực".

Anh chị em thân mến,

Trong một thế giới mà những qui luật "mạnh được yếu thua", "lý của kẻ mạnh bao giờ cũng thắng", hoặc "được làm vua thua làm giặc", gần như là tất yếu và phổ biến, thì lời giảng dạy của Chúa Giêsu về đức hiền lành và khiêm nhường, quả thực rất khó được chấp nhận và xác tín, nếu không muốn nói là chướng tay và ngược đời.

Hôm nay, Lời Chúa vẫn tiếp tục mời gọi chúng ta; "Hãy học cùng Thầy vì Thầy có lòng hiền hậu và khiêm nhường". Hiền lành và khiêm nhường là hai đức tính đặc biệt nhất ở nơi Chúa Giêsu. Thánh Phaolô đã nói; "Đức Giêsu Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Ngài lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự" (Pl 2,6-8). Phải chăng đó là một sự khiêm nhường tột cùng của một Thiên Chúa làm người; hạ mình xuống rốt chót mọi người, lãnh nhận cái chết của tên nô lệ bị đóng đinh thập giá.

Trong Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu còn cho biết; những người có tâm hồn bé nhỏ, khiêm nhường là những người được Chúa yêu thương đặc biệt và được Chúa tỏ ra cho biết những Mầu nhiệm Nước Trời. Vì chỉ những ai có tâm hồn bé nhỏ mới có tinh thần và trái tim rộng mở đón nhận Lời Chúa. Trong lời cảm tạ Chúa Cha, Chúa Giêsu đã nói; "Lạy Cha, Con ngợi khen Cha vì đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết Mầu nhiệm Nước Trời, mà lại mạc khải cho người bé mọn".

Nhưng ai là những kẻ bé mọn?

Theo Tin Mừng Thánh Matthêu, những kẻ bé mọn là những người nghèo khổ, những người yếu thế, những kẻ đang vất vả và phải mang gánh nặng. Trong Do Thái giáo, cái ách hay là gánh nặng thuờng là hình ảnh của những luật lệ. Các thầy thông luật tự cho mình là khôn ngoan thông thái, thường hay bày vẽ ra đủ thứ luật lệ mà những kẻ đơn sơ, bé mọn dù cố gắng đến đâu cũng chẳng thể nào tuân giữ trọn vẹn được. Làm sao đầu óc đơn sơ chất phác của họ phân biệt nỗi cái gì chính yếu, cái gì thứ yếu trong những luật lệ chi li lắt léo mà đầu óc mấy ông Pharisêu, những kẻ có tinh thần nệ luật, chỉ biết sống nô lệ, như cái máy, đã chỉ có khả năng là giăng lưới gài bẫy, khiến những kẻ đơn sơ chất phác không thể nào lọt vào được bên trong cái thế giới thánh thiêng cao cả mà họ đã dựng lên. Chúa Giêsu không thể chấp nhận một thứ vương quốc của Thiên Chúa chỉ dành riêng cho những kẻ khôn ngoan thông thái và những kẻ đạo đức giả chỉ biết cậy vào thành tích giữ luật của mình. Ngài đã đến như một người nghèo sống giữa người nghèo và loan Tin Mừng cho người nghèo. Nước Trời mà Ngài loan báo là một vương quốc mở ra cho những người bé mọn, nghèo hèn, nghèo về vật chất đã đành, nhưng cũng nghèo về tinh thần nữa, nghĩa là những người tội lỗi.

Nhưng Chúa Giêsu không phải là người chủ trương vô luật lệ. Ngài cũng có những đòi hỏi của Ngài. Nhưng luật lệ của Ngài là "cái ách êm ái", "cái gánh nhẹ nhàng". Vì ách đó, gánh đó chính là lòng yêu thương. Lòng yêu thương này Ngài mời gọi chúng ta cùng chia sẻ với Ngài. Nhưng để có thể yêu thương, con người phải biết sống hiền từ và khiêm tốn. Bởi vì kẻ kiêu ngạo không thể biết yêu thương; họ chỉ biết chiếm đoạt và thống trị. Họ cũng không thể hiền từ với tha nhân, trái lại, luôn luôn là những kẻ độc ác.

Thưa anh chị em,

Cuộc đời của Chúa Giêsu thật đơn sơ giản dị. Ngài sống giữa loài người như một người anh em nhỏ bé nghèo hèn, không thích giàu sang, chẳng muốn dùng quyền để thống trị và cũng chẳng tỏ ra khinh khi chê ghét một người nào, cho dù là kẻ tội lỗi. Trái lại Ngài đã đặc biệt ưu ái những người này, tới mức bị thiên hạ dị nghị, coi Ngài là bạn thân của những người tội lỗi. Sở dĩ như thế là vì chân lý Ngài mặc khải không phải là thứ chân lý trừu tượng cao siêu mà những bậc khôn ngoan thông thái của trần gian ưa suy luận, nhưng chân lý của Chúa là chân lý của tình thương mà tình thương là ngôn ngữ mà cả trẻ thơ măng sữa cũng hiểu được.

Nhân loại chúng ta có quá nhiều những nhà bác học, những nhà hiền triết thông hiểu những điều cao siêu huyền bí. Và trong Giáo Hội chúng ta cũng không thiếu những bậc khôn ngoan thông thái, nhưng có lẽ chúng ta hơn bao giờ hết lại cần đến thứ ngôn ngữ giản dị nhất, đó là tình thương, một thứ ngôn ngữ có khả năng tuyệt vời để mặc khải chân lý của Chúa, bởi vì Thiên Chúa là Tình Thương và chỉ có ai yêu thương mới biết Thiên Chúa, còn ai không yêu thương thì không biết Ngài. Mà đã không biết Thiên Chúa thì làm thế nào có thể rao giảng hay làm chứng về Ngài được?

Là con cái của Chúa và là anh chị em của nhau, chúng ta hãy lấy tình thương, lòng hiền hòa mà đối xử với nhau, thay vì tàn nhẫn, xâu xé lẫn nhau. Hãy khiêm tốn phục vụ nhau, thay vì tự tôn, tự phụ mà đè đầu cỡi cổ người khác. Chính tình yêu làm cho con người trở nên đơn sơ, hiền hòa và khiêm tốn. Cũng chính tình yêu làm cho con người sẳn sàng nâng đỡ gánh nặng cho người khác, hơn là làm khổ cho người mình yêu. Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu, Đấng là hiện thân của Chân Lý Tình Thương lại sống đơn sơ, hiền từ, khiêm tốn và đã mời gọi chúng ta hãy đến học với Ngài.

Là kitô hữu, chúng ta tin rằng sự dịu hiền của Chúa Kitô và tình yêu của Ngài cuối cùng sẽ thắng được bạo lực và áp bức.

 
Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng - Bài Giảng Lễ

SỰ HIỀN LÀNH VÀ KHIÊM NHƯỜNG CỦA ĐỨC KITÔ
Đ
ức Kitô tự giới thiệu về mình như một vị Thầy về sự hiền lành và khiêm nhường trong lòng để chúng ta noi theo bắt chước. Chắc chắn không dễ dàng để nói về sự khiêm hạ trong thế giới chúng ta, một thế giới trở nên kiêu ngạo vì sức mạnh của khoa học, của lề luật và của đồng tiền. Tuy nhiên, vẫn thật cần thiết đối với Kitô hữu, những người bước theo Đức Kitô. Đức Kitô đã đến chia sẻ kiếp người với chúng ta, chia sẻ nỗi khốn cùng khó nghèo nhất của nhân loại.

Kiên nhẫn, khó nghèo, khiêm hạ, hiền lành đó là các nhân đức mà mỗi Kitô hữu phải nỗ lực thực hiện để làm sáng lên nơi mỗi người chân dung của môn đệ Đức Kitô.

I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

1. Bài đọc I: Dcr 9,9-10

Đấng Messia, vị Vua Thái Bình

Tiên tri Giêrêmia mời gọi Giêrusalem hãy vui mừng lên vì vị Vua Thiên Sai mà họ đang chờ đợi sẽ đến với họ, để thiết lập một vương quốc hòa bình và công lý bằng vũ khí duy nhất là sự khiêm hạ và tình yêu.

a. Cuộc chinh phạt của Alexandre Đại Đế đã làm sụp đổ đế chế Ba Tư đang đô hộ Palestine. Lúc này lòng chờ mong Đấng Messia nơi dân Israel lại dâng cao mạnh mẽ.

b. Tiên tri Giêrêmia thức tỉnh đồng bào của mình; Người thiết lập nền hòa bình ở giữa họ để qui tụ muôn dân nước, sẽ là một vị vua thái bình, thống trị bằng công lý và sự thiện hảo.

c. Đức Kitô chính là vị Vua được loan báo. Người đến và thực hiện trọn vẹn những gì mà các tiên tri đã nói. Ngày lễ Lá, Người tiến vào Giêrusalem với tất cả sự khiêm nhu nhưng lại đầy vinh quang. Và trên thập giá, Người đã thiết lập nền hòa bình viên mãn, thiết lập vương quốc bằng chính tình yêu hy sinh của mình.

2. Bài đọc II: Rm 8,11-13

Sống trong và nhờ Thần Khí của Đức Kitô

Thánh Phaolô nhắc nhở rằng; được thanh tẩy để trở nên môn đệ đích thực của Đức Kitô và phục sinh với Người, Kitô hữu phải sống bởi Thần Khí của Người, không chạy theo lối sống vật chất, không lấy những đòi hỏi của xác thịt làm lề luật.

a. Trong ngôn ngữ của Thánh Phaolô, từ ngữ; "Xác thịt (chair)" không có nghĩa là thân xác thể lý nhưng đó là toàn bộ những khuynh hướng xấu mang trong mỗi con người.

b. Buông thả theo những khuynh hướng xấu là lối sống theo xác thịt và cùng lúc đó là làm giảm giá trị nhân cách con người, đi tới bị suy sụp hoàn toàn và phải mang án tử.

c. "Sống theo Thần Khí", đó là lối sống chống lại cách sống theo xác thịt, rập khuôn đời mình theo Đức Kitô. Sống như Người, cùng Người và trong Người để tôn vinh Thiên Chúa Cha và phục vụ anh chị em với lòng yêu mến.

3. Tin mừng Mt 11: 25-30

Chúa Giêsu Đấng hiền lành và khiêm nhường trong lòng

Chúa Giêsu tạ ơn Chúa Cha về những ưu đãi mà Ngài dành cho những người bé nhỏ và khiêm nhường; Thiên Chúa đã mạc khải cho họ những điều kín nhiệm của Thiên Chúa trong khi đó lại che giấu không cho người thông thái và lãnh đạo biết. Nơi Chúa Giêsu, một con người tầm thường, nhỏ bé lại là một vị Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ.

a. Những nhà hiền triết, ký lục, các luật sĩ đúng ra phải là những người đầu tiên nhận ra Chúa Giêsu chính là Đấng được Thiên Chúa Cha sai đến. Thế nhưng, sự hiểu biết về Kinh thánh của họ đã thổi phồng lên tính kiêu ngạo nơi họ và trở thành tấm màn che chắn khiến họ không còn nhận ra sự thật nơi Chúa Giêsu.

b. Được giải thoát khỏi tính tự phụ, người có tinh thần khiêm nhu sẽ dễ dàng khám phá mầu nhiệm Thiên Chúa. Họ có khả năng tự nhiên để nhận ra sứ điệp của Thiên Chúa và lắng nghe lời Chúa.

c. Mọi người được mời gọi đến cùng Chúa Giêsu để học hỏi nơi Người sự hiền lành và khiêm nhường, đồng thời, cùng với Người mang lấy ách êm ái và gánh nhẹ nhàng của Người. Đó là cái ách và cái gánh tình yêu. Tình yêu sẽ làm cho mọi ách khó khăn trở nên êm ái, mọi gánh nặng trở nên nhẹ nhàng.

II. GỢI Ý BÀI GIẢNG

1. Hiền lành và khiêm nhường, con đường để khám phá mầu nhiệm Thiên Chúa:

Chúa Giêsu đã dâng lời chúc tụng tạ ơn Chúa Cha vì Ngài đã mạc khải chân lý đức tin cho những người bé nhỏ mọn hèn. Trong nhãn giới của Chúa Giêsu, không có sự phân biệt đối xử giữa hai hạng người thông thái khôn ngoan và bé nhỏ hèn mọn. Nhưng Chúa Giêsu tạ ơn bởi vì quyền năng Thiên Chúa được thể hiện. Ngài dùng những con người yếu đuối để thể hiện sức mạnh của Thiên Chúa; dùng những con người hèn mọn để bày tỏ một tình yêu vĩ đại; dùng những con người dốt nát để công bố sự khôn ngoan. Nơi Chúa Giêsu đã cho thấy rõ đường lối ấy của Thiên Chúa, Người đã trở nên bé mọn, hay nói cách khác, nên hiền lành và khiêm nhường trong lòng, để mạc khải tất cả vinh quang, danh dự và uy quyền của một vị Thiên Chúa Tình Yêu.

Do đó, hiền lành và khiêm nhường chính là con đường để khám phá mầu nhiệm Thiên Chúa. Những ai khiêm nhường chân nhận sự yếu kém của mình mới có khả năng đón nhận sứ điệp lời Chúa. Còn nếu tự phụ, tự mãn về khả năng tri thức hiểu biết của mình thì sẽ vô hình chung đóng cửa tâm hồn mình lại để rồi không đón nhận được Tin mừng của Chúa.

2. Hiền lành và khiêm nhường, nếp sống của môn đệ Đức Kitô:

Chúa Giêsu mời gọi mọi người "hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng". Học với Người không phải là học hỏi tìm kiếm tri thức mà học với Người chính là theo Người, sống như Người. Một vị Thiên Chúa mà hạ mình xuống làm người hèn mọn thì con người là thụ tạo làm sao có thể sống tự cao, tự phụ? Một người Thầy mà lại hạ mình xuống rửa chân cho các môn đệ, thì làm sao môn đệ có thể có lối sống hưởng thụ, quyền lực được? Một vị Mục tử đã chấp nhận sống hiền lành, hy sinh chịu đựng mọi sự sỉ nhục và yêu thương cả kẻ thù, thì làm sao chiên của Người lại có thể buông theo lối sống íck kỷ, không vị tha và hận thù được? Tất cả phải mô phỏng nếp sống hiền lành và khiêm nhường của Chúa Giêsu, vị Thầy chí thánh. Đó là cung cách, là cuộc sống của Kitô hữu.

Ngày nay sự hiền lành và khiêm nhường xem ra khó có thể thực hiện. Tâm lý tự nhiên ai cũng cho mình là người có khả năng, muốn khẳng định mình, muốn người khác tùng phục mình. Cho nên, sống như Chúa Giêsu quả là điều khó khăn. Cho dẫu khó khăn nhưng Kitô hữu vẫn phải sống và thực hiện, không có một nếp sống nào khác cả. Ơn Chúa đủ cho chúng ta như Chúa đã nói; "Hãy đến cùng Ta, Ta sẽ nâng đỡ và bổ sức cho".

3. Hiền lành và khiêm nhường, bài học nơi Đức Kitô:

"Hãy học cùng Ta". Chúa Giêsu mời gọi mọi người đi vào trường học của Người. Nơi Người, chúng ta được học hỏi mọi sự khôn ngoan từ Thiên Chúa. Chỉ có nơi trường học của Chúa Giêsu, con người mới học biết về Thiên Chúa vì chỉ có Người, Đấng từ Trời xuống mới có thể nói cho con người biết về những sự trên trời. Cũng chỉ có Người mới mạc khải cho biết Thiên Chúa là Cha. "Không ai biết Cha trừ ra Con và những người Con muốn mạc khải cho". Đây không phải là một lời của kẻ tự phụ, nhưng là sự thật. Có ai biết được Chúa Cha cho bằng Chúa Con. Nhờ khám phá về Thiên Chúa, nơi Chúa Giêsu, con người cũng khám phá ra chính huyền nhiệm cuộc đời mình để từ đó làm cho cuộc đời trở nên ý nghĩa hơn. Con người được Thiên Chúa yêu thương cứu độ, trong Chúa Giêsu Kitô, mọi người được trở nên nghĩa tử của Thiên Chúa, được cùng với Chúa Giêsu, Đấng hiền lành và khiêm nhường gọi Thiên Chúa là Cha.

Ngoài trường học Giêsu Kitô, con người chỉ có thể học được sự khôn ngoan và tri thức của thế gian, thứ khôn ngoan không mang lại ơn cứu độ và ý nghĩa đích thực cho cuộc đời. Rời xa Chúa Giêsu, không học với Người, Kitô hữu chúng ta dễ dàng học đòi theo những thói xấu của thế gian, chạy theo những thúc đẩy mù quáng của đam mê để rồi trở nên vong thân.

4. Dẫn vào Phụng vụ Thánh thể:

Nơi Bí tích Thánh thể, Chúa Giêsu thể hiện trọn vẹn và sinh động bài học hiền lành và khiêm nhường. Người không ngừng hiến thân làm của ăn, của uống trường sinh cho nhân loại. Đón nhận Người, sẽ giúp cho mỗi Kitô hữu có khả năng để sống như Người. Nói theo Thánh Phaolô là "Tôi sống nhưng không phải là tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi". Người sống trong chúng ta sẽ làm cho chúng ta trở nên hiền lành và khiêm nhường.

III. LỜI NGUYỆN TÍN HỮU

Mở đầu: Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy đến với Người, Người sẽ nâng đỡ và bổ sức cho. Tin tưởng vào lời Chúa, chúng ta cùng dâng lời cầu xin.

1. Chúng ta cùng cầu nguyện cho các vị mục tử trong Giáo hội biết học sống đúng tinh thần hiền lành và khiêm nhường của Chúa Giêsu, để qua đời sống các ngài, mọi người nhận ra sự hiện diện đầy yêu thương của Chúa Giêsu trong lòng Giáo hội.

2. Chúng ta cùng cầu nguyện cho các nhà giáo, các nền giáo dục và các nhà lãnh đạo quốc gia biết thành tâm xây dựng một nền giáo dục lấy nhân nghĩa, lấy nhân đức làm nền tảng.

3. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta, đặc biệt cho thanh thiếu niên biết nỗ lực học hỏi và sống theo gương Chúa Giêsu, để trở nên những con người hiền lành và khiêm nhường xứng đáng là môn đệ của Chúa.

Lời kết: Lạy Chúa Giêsu, Thầy Chí Thánh, chúng con cảm tạ Chúa đã yêu thương chọn gọi chúng con làm môn đệ Chúa. Xin ban ơn giúp sức để chúng con biết học đòi sống theo gương lành của Chúa, đặc biệt là sống hiền lành và khiêm nhường. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.


Hành Trang Mục Vụ - Khoá 10 ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn