Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XIV Thường Niên C

Tin Mừng Lc 10: 1-9 Giáo Hội muôn nhắc nhở chúng ta là những người làm tông đồ cho Chúa, về nội dung, mục đích, cách thế và phương tiện của việc rao giảng Tin-Mừng.

CHÚ GIẢI KINH THÁNH

CHÚA NHẬT XIV – MÙA THƯỜNG NIÊN - NĂM C



Is 66,10-14 ; Gl 6,14-18 ; Lc 10,1-12;17-20

Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải



72 MÔN ĐỆ LÊN ĐƯỜNG TRUYỀN GIÁO (Lc 10,1-12.17-20)

1. 12 môn đồ được sai đến cùng dân Israel; ngoài ra CGS còn sai thêm 72 môn đệ khác nữa. Đối với giáo hội sơ khai, thật là cực kỳ quan trọng khi thấy ngoài 12 tông đồ còn có một nhóm khác nữa cũng có trách vụ truyền giáo. Ngoài nhóm 12, còn có những người khác cũng được gọi là tông đồ, chu toàn sứ mệnh CGS.

Việc chọn con số 72 (hay 70) liên hệ với con số 72 (hay 70) dân tộc làm nên nhân loại theo bảng thống kê dân số của thánh kinh (Stk 10) CGS và sứ điệp Ngài nhắm đến toàn thể nhân loại. Các tiến sĩ luật nhắm đến toàn thể nhân loại. Các tiến sĩ luật xác tín rằng lề luật trước tiên được ban cho mọi dân, nhưng chỉ Israel chấp nhận lề luật đó. Thời thế mạt mới thực hiện tốt chương trình nguyên thủy của TC.

CGS chỉ định các sứ giả và qua đó cho họ một sứ mệnh chính thức; sứ mệnh đó có tính cách pháp lý. Ngài sai đi từng hai người, vì họ phải hành động với tư cách chứng nhân. Ở Israel khi hai nhân chứng cùng nhất trí một vấn đề, thì chứng tá của họ có giá trị và được chấp nhận về mặt pháp lý (Đnl 19,15; Mt 18,16). Nhưng ngoài quan niệm pháp lý đó, chắc hẳn việc sai từng hai người còn có lý do này nữa là việc truyền giáo không phải là việc của một cá nhân riêng rẽ, mà phải là việc của một tập thể, dù tập thể đó còn phôi thai. Một môn độ không thể tự hào đã quán triệt sứ điệp Kitô giáo và tự hào có thể phản ảnh trọn vẹn sự phong phú của nó. Việc rao giảng Tin mừng không thể là một độc quyền mà cần phải có sự cộng tác của anh em. Nhóm 12 rao giảng cùng một Đức Kitô. Phaolô lại đối nghịch với Phêrô; 4 tác giả là sứ giả Tin mừng bất khả phân ly.

Các môn đệ đi trước CGS (nghĩa tự nguyện: đi trước mặt Ngài), như là phát ngôn viên hoặc sứ giả có trách nhiệm chuẩn bị cho Ngài đến. Họ đến mỗi làng, xóm trớc Ngài. Họ chỉ hoạt động trong phạm vi xứ Palestine, dù đã vượt biên giới Galilea. Các ranh giới sẽ xóa đi, sau khi CGS về trời.

Lúa chín thì nhiều. Nhân loại được so sánh với mùa gặt cần được chất vào kho lẫm Nước TC. Cánh đồng truyền giáo đang trải dài trước mắt CGS ở Palestine chỉ là khởi đầu của một cánh đồng, của một mùa gặt còn vĩ đại hơn, bao gồm toàn thế giới. CGS biết số người sẵn sàng trở lại rất nhiều. Trước công việc lớn lao và cấp bách đó, chỉ mới có một ít thợ gặt. TC là chủ mùa gặt. Ngài có quyền quyết định những gì liên hệ đến vụ mùa. Việc thu nhận vào nước TC là công việc và ân huệ của Ngài. Chính Ngài kêu gọi các môn đệ. Vì thế CGS kêu mời mọi người cầu nguyện để TC khơi lên trong con người tinh thần làm môn đệ, để họ cộng tác giúp nhiều người được vào nước TC, bằng cách hiến thân hoàn toàn cho Người. TC muốn chúng ta xin Ngài ban ân sủng. Lời cầu xin gởi thêm thợ gặt duy trì trong các tông đồ và môn đệ ý thức này: là họ đã được TC gọi và sai đi. "Chính nhờ ân sủng của TC mà tôi được như bây giờ" (1Cor 15,10). "Cho nên kẻ trồng là gì, người tưới cũng chẳng là gì, chỉ Đấng làm cho mọc lên, là TC... vì chúng tôi chỉ là cộng sự viên của TC; anh em là thửa đất, là lâu đài của TC. Tôi đã đặt nền móng ...Chiếu theo ân sủng TC đã ban" (1Cor 3,7-10).

2. "Hãy đi" chữ này diễn tả việc sai phái, sứ mệnh, đồng nghĩa với xuất phát, lên đường và hành động. Cuộc chuẩn bị thật kỳ lạ, chỉ tóm lại trong tiếng "hãy đi". Đây là chữ cốt yếu, quan trọng nhất, vì là do chính CGS sai phái. Cái tôi của Ngài điều hành mệnh lệnh và sứ mạng Ngài uỷ thác. Quyền năng TC là cơ sở của cái tôi đó, đồng thời dõi theo và nâng đỡ các sứ giả.

Các môn đệ không được trang bị như người đời thường làm. Họ được sai đi như chiên con giữa sói rừng, không có vũ khí tự vệ, như người nghèo không nơi nương tựa. Họ nghèo khó thực sự vì không bao bị, túi tiền, giày dép. Mà sự khó nghèo là điều kiện để vào nước TC (6,20). Đó cũng là dấu hiệu giúp nhận ra các giảng viên nước Trời. Các môn đệ phải luôn nhìn đến sứ mệnh của mình. Không gì có thể làm họ xao lãng được.

Đừng chào ai dọc đường. Lời khuyên này không có ý biến các môn đệ thành con gấu thô lỗ, không biết một chút lịch sự tối thiểu trong việc giao tiếp với mọi người, nhưng nhằm đề phòng các môn đệ tránh xa những câu chuyện tầm phào vô bổ, thường thấy trong xã hội cận đông thời CGS. Việc tận hiến hoàn toàn cho sứ mệnh không thể nối kết với những lời chào hỏi dài dòng và phức tạp này. Trong Lc, tất cả các sứ giả đều vội vã: Maria, các mục đồng, Philipphê (Cvsđ 8,30).

Chính CGS và ba trình thuật ghi lại việc gọi các môn đệ, đã làm nổi bật các đức tính của người môn đệ: không tự vệ, dịu dàng khi gặp ác cảm, không nhà ở, nghèo khó, hiến thân hoàn toàn cho sứ mệnh rao giảng nước TC. Các nhân vật nòng cốt của việc rao giảng ơn cứu độ là CGS, nhóm 12 tông đồ và 72 môn đệ.

3. Phương pháp truyền giáo thật khiêm tốn và đơn giản. Giảng viên Tin Mừng đi vào từng nhà. Việc truyền giáo lan rộng trong thành phố bắt nguồn từ việc gặp gỡ tại gia. Bình an cho nhà này, là lời chào thăm và quà tặng. Lời rao giảng bắt đầu với đức tính nhã nhặn, lễ độ. Một lời khuyên của các thày Rabbi: "Bạn hãy là người đầu tiên chào hỏi mọi người". Bình an mà sứ giả ơn cứu độ đem đến không chỉ gồm sự thoải mái gói ghém trong lời chào hỏi thường nhật (tiếng hy bá là shalôm, hiện nay vẫn còn dùng ở Israel), nhưng al ơn cứuđ ộ vào thời gian sau hết. Các sứ giả thực hiện tốt sứ mệnh CGS, như đã chép: "TC đã sai lời Ngài đến bên con cái Israel loan báo Tin mừng bình an nhờ Đức Giêsu Kitô (Cvsđ 10,36).

Các lời chào hỏi ban tặng điều chúng ta biểu lộ, khi gặp người TC đặt để lãnh nhận ơn cứu độ, để làm con của sự bình an. CGS giáng trần đem hòa bình đến cho những người TC yêu. Bình an ngự trên Ngài và thuộc về riêng Ngài, vì Ngài là: "hoàng tử của bình an" (Is 9,5), là Đấng để lại bình an và ban bình an (Gio 14,27). Bình an và thánh linh là những ơn cứu rỗi lớn lao của thời sau hết. Dù không có ai mở rộng tâm hồn đón nhận ơn cứu rỗi hoặc tỏ ra xứng đáng, thì các lời chào đó sẽ vô hiệu: sự bình an sẽ trở về với những sứ giả. "Chính Ta đã tự thề hứa: ơn cứu rỗi phát xuất tự miệng Ta, chẳng bao giờ trở lại mà không sinh hiệu quả" (Is 45,23). Lời chào hỏi không phải là một kiểu nói đơn giản, mà là lời có sức mạnh tạo điều mà nó đã loan báo.

Món quà mà người giảng viên đem đến sẽ làm phát sinh nơi con cái của sự bình an, lòng hiếu khách. Nhà đầu tiên tiếp đón môn đệ sẽ là nơi cư ngụ của họ. Các con hãy ở lại nhà đó. Đừng đi nhà này sang nhà nọ. Công việc chính của sứ giả là rao giảng nước TC; còn sự thoải mái riêng tư, cách người ta đón tiếp, săn sóc không đáng quan tâm. Người hay thay đổi chỗ ở cho thấy: đối với họ, giá trị tối thượng không phải là lời Chúa, mà là sự tiện nghi, thoải mái của họ. Nếu thay đổi nơi ăn chốn ở, họ nghĩ sai và làm người ta nghĩ xấu về người đầu tiên đã tiếp đón họ.

Môn đệ hãy ăn uống các thứ người ta mang đến. Chớ lo nghĩ mình là gánh nặng của thân chủ. Đừng để những lo lắng trần tục ảnh hưởng hay làm cản trở sứ mệnh của mình. Điều môn đệ lãnh nhận, không phải là quà bố thí, do đức ái gây ra, nhưng là thứ lương bổng cân xứng với những gì to lớn quí giá mà người môn đệ đã đem đến. "Thợ thì đáng lãnh lương" (1Tm 5,18). "Một khi chúng tôi đã gieo vãi những của thiêng liêng cho anh em há lại là điều quá quắt lắm sao ?" (1Cor 9,11). Nhưng đồng thời môn đệ hãy vui lòng chấp nhận những gì người ta dâng, đừng bao giờ đòi hỏi chi hơn nữa.

4. Hoạt động của các môn đệ là truyền giáo trong các nhà và các thành. Thành nào tiếp đón họ chứng tỏ thành đó có dự kiến tối. Môn đệ phải thực thi điều mà vì đó họ được sai đi. Hãy ăn những gì người ta dọn cho. Đừng bận tâm suy nghĩ xem các thức ăn có tinh sạch xét theo lề luật hay không. Hình như Lc đã hiểu lời đó như thế, dù không được CGS nói theo nghĩa đó. Được tự do lương tâm như thế rất quan trọng trong việc truyền giáo cho dân ngoại. "Nếu có người ngoại nào mời anh em dự tiệc... anh em hãy ăn những gì người ta dọn, đừng có gạn hỏi vì cớ lương tâm" (1Cor 10,27).

Việc chữa lành các bệnh nhân chuẩn bị người ta đón nhận ơn cứu độ mà các môn đệ loan báo, phải xác quyết qua các phép lạ đó ơn Cứu độ đã bắt đầu. Đi đôi với việc làm là lời rao giảng: Nước TC gần đến. Việc CGS đến chứng tỏ Nước TC đang đến. Vì thế CGS nói: "Nếu Ta lấy tay TC mà trừ quỉ Nước TC đã ở giữa các ngươi" (11,20). Nước TC đang ở giữa các ngươi (17,21). CGS là Nước TC.

Việc gì sẽ xảy ra, nếu có thành không tiếp đón các môn đệ ? Họ phải công khai long trọng tuyên bố: đoạn tuyệt và bỏ rơi thành đó. Người Do thái phủi bụi chân khi từ một xứ ngoại đạo bước vào thánh địa Palestine. Điều đó cho thấy không có sự hiệp thông giữa Israel và dân ngoại. Thành nào không đón tiếp các sứ giả Đức Kitô gởi đến, thì không được hiệp thông với dân Chúa, không nhận ra giờ trọng đại vừa mới khai mào: các thành chống đối lời TC, phải biết rằng Nước TC đã đến gần và giờ phán xét đang đe dọa chúng. Các giảng viên chưa công bố Nước TC đã đến nhưng gần đến. Hãy lo hoán cải kẻo không kịp.

Ai từ chối đón nhận lời loan báo Nước TC và đóng kín lòng mình không tiếp nhận chính CGS, người đó tự chuốc cho mình án phạt. Kết quả đó còn kinh hoàng hơn án phạt đã giáng xuống thành Sođôma. Lỗi lầm của kẻ từ chối đón nhận CGS và các ơn huệ của Nước TC thì lớn hơn lỗi lầm của dân Sôđôma. Lời rao giảng của các sứ giả đem đến hồng ân cao cả nhất và tùy theo quyết định của lương tâm mỗi người mà đem đến ơn cứu độ hay án phạt.

5. Khi đi truyền bá phúc âm về, chỉ một điều được 72 môn đệ để ý trong suốt cuộc truyền giáo: uy quyền trên các quyền lực ma quỉ. Ngay cả ma quỉ cũng vâng phục họ. Không chỉ các bệnh tật bị chế ngự, không chỉ có con người ngoan ngoãn nghe lời Chúa. Điều quan trọng hơn hết là sự thần phục của các thần lực satan. Họ trở về lòng đầy vui sướng, vì đã cảm nghiệm Nước TC đã thực sự bắt đầu trong CGS. Họ coi Ngài như là Chúa; chính khi đọc tên Ngài mà họ chiến thắng ma quỉ, nhờ Chúa, sức mạnh các sứ giả đã chế ngự các quyền lực, thần lực đã từng hoành hành trong thế gian.

Việc Nước TC chiến thắng các quyền lực Satan được biểu lộ rõ rệt qua sự kiện các môn đệ có quyền trừ quỉ. Ta đã thấy Satan trời rơi xuống như chớp. Không chắc CGS nói đến một thị kiến Ngài đã có, vì không khi nào Ngài kể lại một kinh nghiệm như thế. Đứng hơn đây là một kiểu nói gợi hình (như ở 10,15) về việc các môn đệ trừ quỉ thành công. Dù sao, CGS như muốn xác quyết rằng việc chiến thắng satan là một sự kiện cảm kích. Cuộc chiến thắng này là kết quả tiền trưng của việc CGS chết trên thập giađ và sống lại vinh quang: "Chính bây giờ thế gian này bị phán xét. Chính bây giờ đầu mục thế gian này sẽ bị đuổi ra ngoài" (Gio 12,31).

6. Nhóm 72 môn đệ đã thông phần vào việc CGS chiến thắng Satan. Tuy nhiên điều đó có giá trị với nhóm 72 cũng có giá trị với những ai cộng tác với Ngài. Họ có quyền lực trên rắn rết và bò cạp. Kinh thánh xem các vật xảo quyệt này là khí cụ của quyền lực satan. Đấng Cứu thế thiên hạ trông đợi sẽ giải phóng khỏi sự kềm kẹp của: rắn rít, bò cạp và thần dữ. Nhờ các thiên thần TC che chở, Đấng Messia bước đi trên rắn rít, nghiền hát sư tử và khủng long (Tv 91,13). Khi sai phái nhóm 72 đi, CGS đã ban cho họ quyền lực đó. Họ không còn bị quyền lực satan khống chế, thống trị, nhưng được nước TC điều hành cai quản. Chính là nguồn gốc bài ca chiến thắng bài ca khải hoàn của Phaolô: "Nhưng trên hết mọi sự sống, chúng ta toàn thắng rực rỡ nhờ đấng đã yêu mến chúng ta; vì tôi thâm tín rằng dù là sự chết hay sự sống, dù là thiên thần hay thiên phủ, dù là hiện tại hay tương lai hay quyền năng, dù là thiên đỉnh hay cực lạc, không gì sẽ có thể tách chúng ta ra khỏi lòng yêu mến của TC trong Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta" (Rm 8,37-39).

Nhưng còn một lý do vui mừng nữa, khác với lý do quyền uy trên các thần dữ và việc sụp đổ ách thống trị Satan, đó là việc Nước TC đang bắt đầu. Nguyên nhân khiến các môn đệ vô cùng vui sướng, đó là việc họ được chọn lựa và tiền định sống đời sống vĩnh cửu. Các thành thời thượng cổ giữ lại sổ danh sách các công nhân của họ. Ai được ghi tên trong số đó, sẽ có quyền hưởng thụ mọi lợi lộc của thành. Trên trời cũng có các sổ như thế: những kẻ được TC chọn đều được ghi tên trong đó: chắc hẳn sổ đó là sách hằng sống (x. Tv 69,29; Xac 32,23-33; Is 4,3; 56,5; Đn 12,1; Kh 3,5; 13,8;...). Nguyên nhân vui mừng vượt trên mọi nguyên nhân chính là có thể tham dự vào Nước TC, có thể đón nhận cuộc sống vĩnh cửu và trở thành viên mãn trong cộng đoàn TC.

KẾT LUẬN

CGS đòi hỏi nhóm 72 những điều Ngài đã đòi hỏi ở nhóm 12 (9,1-6). Đó cũng là những yêu sách, đòi hỏi ở các nhà truyền giáo mọi thời đại rao giảng bình an của Đấng Messia, và loan báo Nước TC đang đến, trong tinh thần dịu hiền và nghèo khó, phục thiện, bất vụ lợi, chịu đựng mọi thiếu thốn bất an. Chính với giá đó mà Satan đã bại trận và các nhà truyền giáo thấy tên mình được ghi trên trời. Các điều kiện tông đồ truyền giáo này thuộc về chính bản chất của Kitô giáo, vì chúng phản ảnh chính con người và hành động của CGS.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Khi yêu cầu đừng mang bị, mang xách, giày dép, phúc âm nói cho chúng ta biết các điều kiện cốt yếu của việc truyền bá phúc âm. Hãy sống khó nghèo, khiêm tốn, hèn yếu. Chúng ta luôn bị cám dỗ công việc được thành công dễ dãi, ngay cả trong việc rao giảng lời chúa. Chúng ta thường khích lệ một CGS xuống khỏi thập giá. Một Đức kitô chiến thắng các lời châm biếm, nghi ngờ của thính giả hơn Đức Kitô chịu đóng đinh. Một Đức Kitô như thế không cần được rao giảng.

2. Một giáo hội giàu sang không còn là giáo hội rao giảng Đức Kitô nữa. Ngày xưa, vì chế nhạo, bộ đội đã mặc cho CGS áo cẩm bào và đội triều thiên vương giả. Phải chăng hôm nay chúng ta cũng cư xử như họ, khi chúng ta mặc cho Đức Kitô các tước hiệu sức mạnh, quyền năng ? Có lẽ qua đó chúng ta muốn tôn thờ Con TC: nhưng chúng ta đã lột mặt nạ này để thay một thứ mặt nạ khác.

3. "Ngài sai họ từng hai người". Bên cạnh tôi, đến lượt người anh em phải có thể loan báo Đức Kitô, theo cách của họ, khác với cách của tôi. Chính trong tinh thần đối thoại, trao đổi như thế mà tôi đề cập đến một vị TC, Đấng đã chấp nhận đối thoại với loài người đến độ đã biến thành một người trong nhân loại.

4. "Bình an cho nhà này". Đó phải là tiếng tập họp mọi tín hữu trong bất cứ nơi nào hơn ở hoặc họ đến, để công bố Nước TC đã đến gần. Người đọc câu đó biểu lộ sự kính trọng đối với chủ nhà, đối với những người tiếp đón mình. TC có nhiều "con cái bình an" ở khắp nơi. Những vạ tuyệt thông, những thập tự quân và các tư tưởng cố chấp giết chết các "con cái bình an" đó, thay vì mạc khải cho họ biết họ là con cái bình an, thay vì tập họp và giúp họ nhận biết nhau, biến đổi tình huynh đệ câm nín của họ thành một hy lễ tạ ơn (eucharistie). Bình an cho nhà này, cho ngôn ngữ, tập tục, văn minh, truyền thống, giá trị, nghi lễ, quá khứ và hoài bão của nhà đó. Bình an cho nhà này cho những ai mong chờ được phúc âm mạc khải.

5. 72 môn đệ đã chấp nhận sứ mệnh truyền giáo. Họ lên đường bất chấp mọi nguy hiểm, bất an. Và đã hân hoan trở về. Tất cả chúng ta dù đang ở địa vị nào trong giáo hội, đều sai phái như 72 môn đệ đó. Tất cả chúng ta, mỗi người mỗi cách, phải làm chứng về tình yêu của Chúa Cha đối với mọi người, tình yêu mà chúng ta đã cảm nghiệm nhờ trung gian của Đức Kitô, Đấng đã biến đổi đời sống chúng ta. Phải can đảm chấp nhận sứ mệnh truyền giáo của đời Kitô hữu, bất chấp mọi nguy hiểm, bất định, và phải rao giảng Đức Kitô bằng cuộc sống gương mẫu của chúng ta, bằng cách sống như những môn đệ trung thành của Đức Kitô.

6. Các người chung quanh chúng ta sẽ tin vào sứ điệp chúng ta trong mức độ chúng ta loan báo sứ điệp đó với tinh thần dịu hiền, vô vụ lợi, hoàn toàn phục vụ tha nhân, phó thác vào bàn tay quan phòng vủa TC. Họ sẽ tin vào giá trị chứng tá của chúng ta khi họ thấy chúng ta sống "từng hai người", nghĩa là khi chúng ta yêu thương nhau, cộng tác với nhau cách chân tình, không ganh tị và tiên kiến. Chính các Kitô hữu đầu tiên ở Antiokia đã sống như thế, và do đó đã gây một cảm tưởng tốt thật sâu xa nơi các người đồng hương, đến nỗi họ phải thán phục thốt lên: "Hãy xem họ yêu thương nhau chừng nào !"


 

Noel Quession - Chú Giải


Sau đó. Chúa chỉ định bảy mươi hai người khác và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến .

Là bạn đồng hành của Phaolô, tông đồ các dân ngoại Luca nhấn , mạnh đến điểm này của cuộc đời Đức Giêsu. Trong số bốn thánh sử, Ngài là người duy nhất thuật lại giai đoạn này. Trong lúc Luca viết ra, Ngài đã thấy các cộng đoàn Kitô hữu được khai sinh ở giữa các đô thị và vùng đất của dân ngoại. Một số các nhà thờ địa phương ấy được khai sinh không phải do hoạt động của các tông đồ được chính thức ủy nhiệm, nhưng do hoạt động tông đồ của giáo dân, của các ông, các bà phải di chuyển vì nghề nghiệp và họ đã loan báo Đức Giêsu (Rô-ma 16).

Luca nhấn mạnh rằng chính Đức Giêsu đã thiết lập việc tông đồ của các môn đệ. Đức Giêsu không chỉ sai Nhóm Mười Hai đi (Lc 9, l-6). Người cũng đã sai bảy mươi hai môn đệ,ra đi và hầu như trong cùng một thời gian (Lc 10, 1,20) để thực hiện cùng một sứ mạng... vả lại với nhiều tình huống hơn sứ mạng của hàng giáo phẩm. Người ta sẽ không bao giờ kể lại điều đó cho đầy đủ, Giáo Hội không chỉ và không trước tiên là Giáo Hoàng và các Giám Mục mà là "dân Thiên Chúa", là mỗi Kitô hữu.

Tôi có tin rằng Đức Giêsu sai tôi đi không ? Rằng tôi là "sứ giả" "Người được sai đi" của Chúa đến với người này, người nọ không ? Phải có cả các phụ nữ trong số những người được sai đi đó (Lc 8, 13)

Bảy mươi hai"... ám chỉ tính toàn cầu của các dân ngoại được kể ra trong sách Sáng Thế (St 10), một số thủ bản nói về con số bảy mươi. Dĩ nhiên, con số không hạn chế và cũng không phải là con số của số học. Tất cả mọi người ! Tất cả mọi dân tộc.

Cứ từng hai Người một"... Đây là con số mà Luật đòi hỏi để một chứng từ được nhận là có giá trị (đệ nhị luật 19,15). Đó cũng là tập quán của những Kitô hữu đầu tiên đi truyền giáo, không bao giờ họ đi một mình : Phaolô và Bác-na-bê . . . Bác-na-bê và Máccô. . . Phaolô và Si-la. . .

Đời sống hiện đại, công việc nghề : nghiệp, khoa học, học đường, văn hóa đã đề cao giá trị của việc kết hợp thành tổ nhóm. Có phải tôi đang là một ky sĩ độc hành không ?

"Đi trước. . . các nơi mà Người sẽ đến. . . " Công việc tông đồ lúc nào cũng phải khiêm tốn. Người ta chỉ có thể chuẩn bị mà thôi. Chính Đức Gỉêsu sẽ đến làm công việc thật sự. Chúng ta chỉ là những kẻ mở đường.

Người bảo các ông : "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về".

Trong viễn cảnh mà Đức Giêsu nhắm đến, rõ ràng là con số bảy mười hai người đầu tiên tuy khá lớn nhưng sẽ không đủ Những người thợ mới phải không ngừng bắt tay vào công việc. Đức Giêsu nhìn xa trông rộng ? "Mùa gặt" là một hình ảnh truyền thống trong Kinh thánh để nói về thời kỳ: sau hết, sự can thiệp của Thiên Chúa vào thời mạt thế (Gian 4,13 ; Mát-thêu 13,39 ; Khải Huyền 14, 15-16). Trong Đức Giêsu, thời kỳ sau hết này đã bắt đầu. Đức Giêsu nhìn thấy sự dồi dào của "mùa gặt thánh thiêng" ấy mà Thiên Chúa là chủ mùa gặt.

Tôi có thật sự tin chắc rằng nhiều người, đàn ông cũng như đàn bà sẵn sàng đi theo Tin Mừng ? Nhưng các thợ gặt đang thiếu, Đức Giêsu nói. Tức khắc, trước sự thiếu thợ gặt đó (do vậy không chỉ là một nhược điểm của thời đại chúng ta), Đức Giêsu đưa ra cho chúng ta một giải pháp duy nhất là sự cầu nguyện . Đối với Người, rõ ràng là việc tông đồ không phải là một công việc của con nguời như tuyên truyền hay quảng cáo, nhưng là một công việc của Thiên Chúa, một ân sủng. Tôi có cầu nguyện để có thêm nhiều thợ gặt không ? Trước hết là giáo dân. . . nhưng cả các linh mục, tu sĩ nam nữ. Phần tôi ? Tôi có phải là một người thợ gặt làm việc cho công cuộc cứu chuộc không ?

Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con di vào giữa bây sói.

Anh em hay ra đi ? Đây là một mệnh lệnh. "Thầy" sai anh em . . .

Đức Giêsu không che giấu sự khó khăn trong công việc Và chúng ta tiếp tục ngạc nhiên vì có nhiều người bỏ mất đức tin vì chưng thất bại to lớn trong việc truyền bá đức tin. Tuy nhiên chúng ta đã được cảnh báo rõ. Hình ảnh cũng làm ta kinh ngạc và khó chịu : tín hữu như một con chiên con bị một bầy sói tấn công. Chúng ta chớ gán cho hình ảnh những ý nghĩa mà nó không có. Mọi dân ngoại, mọi người vô ưu đều được Thiên Chúa yêu thương. Nhưng "đàn chiên bé nhỏ" rất cần có chủ chăn bảo vệ (Ga 15, 18 ; 10, 1.16). Đức Giêsu đã báo trước chó Giáo Hội của người : Giáo Hội thường xuyên ở trong tình trạng nguy hiểm ? Những thời kỳ yên tĩnh, bình an đúng ra phải làm chúng ta ngạc nhiêm. . . Vậy thì hãy có lòng trông cậy.

Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép...

Điều đáng lưu ý là Đức Giêsu sẽ không đưa ra một hướng dẫn nào về "học thuyết" ! Người không nói về nội dung của đttc tin. . . nhưng nói về các thái độ cụ thể của những người đi thuyết giảng ! Y phục, hành trang, cách giao tiếp. Các nhà truyền giáo trước hết loan báo Nước Thiên Chúa bằng cách sống của họ !

Trước tiên, Đức Giêsu đặt ra yêu sách sống nghèo khó Không nên ỷ vào các phương tiện của con người.. Đức Giêsu đã không sử dụng các vũ khí của quyền lực, của sự giàu sang của vẻ lộng lẫy, huy hoàng. . . Đức Giêsu không ra vẻ "trịnh trọng" ; Người "vốn giàu sang đã trở nên nghèo hèn". Yêu sách đầu tiên của Giáo Hội là theo hướng của thầy mình, là trở nên nghèo khó.

Đừng chào hỏi ai dọc đường... 

Đây không phải là một mệnh lệnh về sự vô lễ, nhưng về sự cấp bách ! Không nên mất thời gian vì những cử chỉ lễ phép quá, mức và dài dòng, vì những lề thói thế tục.

Trong Luca, điều gây ấn tượng mạnh là các sứ giả của Tin Mừng "chạy" khắp nơi : Đức Maria chạy, đi thăm viếng, các mục đồng chạy đến máng cỏ, Phi-líp-phê chạy để đuổi kịp chiếc xe của một người ê-thi-óp (Công vụ 8,30). Còn tôi thì sao ? Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói ! "Bình an cho nhà này !". Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ đậu trên người ấy ; bằng không thì bình an đó sẽ quay về với anh em. Giờ đây là một phong cách sống nào đó : sự bình an, niềm vui trong sáng. Một sự hiệp thông của bình an và mềm vui. Hãy có nơi chính mình một' sự bình an và chuyển sự bình an ấy cho người khác " "Bình an của anh em sẽ đậu trên người ấy. . . " Tin Mừng cũng chính là điều đó ? làm chuyển động một dòng chảy sung mãn hài hòa giữa các con người.

Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia. Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em. 

Những vấn đề về ăn uống này đối với chúng ta dường như rất ty tiện. Khi người ta biết những cấm đoán theo đúng nghi lễ của người Do Thái, những lời ấy của Đức Giêsu vang lên như một 'sự giải phóng phi thường : anh em hãy ăn mọi thứ thức ăn mà không cần bận tâm xem những thức ăn ấy tinh khiết hay ô uế. Ở đây, Đức Giêsu xuất hiện với chúng ta như một người thật sự đi trước thời đại của mình. Thật vậy; Người biện hộ cho một sự cởi mở phóng khoáng đối với tục lệ và tập quán của những người khác chấp nhận các tục lệ văn hóa của các dân tộc mà chúng ta muốn rao giảng Tin Mừng ! Điều đó đi rất xa.

Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ : "Triều đại Thiên Chúa đã đến gần các ông." 

Tin Mừng này trước tiên rất cụ thể; rất thực tiễn. Đó là một Tin Mừng, bằng hành động làm điều thiện, đẩy lui điều ác an ủi, cứu chữa...

Triều đại của Thiên Chúa. Kế hoạch của Thiên Chúa. Dự án của Thiên Chúa. Người ta chờ đợi Triều đại đó cho thời kỳ sau hết. Triều Đại ấy. có ở đó, Đức Giêsu nói. . . rất gần ? Rất gần anh em. Triều đại trong đời thường, thông thường nhất, của anh em, và anh em không biết khám phá sự gần gũi ấy. Triều đại của Thiên Chúa là gì ? Chính là Đức Giêsu. Đó là hạt giống mầu nhiệm của Thiên Chúa được đặt vào chính tấm lòng của con người. Với Đức Giêsu, Thiên Chúa hiển trị, Thiên Chúa ở đó, ngay từ bây giờ. Trong Đức Giêsu, sự hoàn thành của thế gian đã được lan rộng. Tin Mừng là một điều gì rất đơn giản : chính nghĩa của Thiên Chúa sẽ chiến thắng và chính nghĩa ấy là tương lai tuyệt đối của con người, và nó đã bắt đầu ! Thế gian sẽ không trường tồn mãi mãi, lịch sử của nhân loại sẽ có lúc kết thúc, nhưng sự chấm dứt này không phải là hư vô, mà chính là Thiên Chúa. Tin vào Thiên Chúa, chính là tham dự trước vào sự thành công ấy, chính là ngay từ bây giờ làm cho chính nghĩa của con người thành công vì chính nghĩa của con người chỉ là một với chính nghĩa cửa Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô. Một cách cụ thể, Triều đại của Thiên Chúa chính là "thực thi thánh ý của Thiên Chúa" : Nguyện "Nước Cha trị đến, ý cha thể hiện dưới đất ! Và thánh ý của Thiên Chúa, chính là điều tốt lành trọn vẹn của con người : sự chữa trị các bệnh tật thực sự hư hỏng tính toàn vẹn của con người) là một dấu chỉ của thánh ý ấy : "Anh em hãy cứu chữa con người ? " Triều đại của Thiên Chúa ở đó, rất gần !

Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón, thì anh em ra các quảng trường mà nói : "Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin gửi trả lại các ông. 'Tuy nhiên các ông phải biết điều này. Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. "Thầy nói cho anh em hay : trong ngày ấy thành Xơđom còn được xử khoan hồng hơn thành đó". 

Rõ ràng Đức Giêsu đắ đối diện với các thất bại, các sự khước từ không tin... Nhưng sự báo trước chính nghĩa của Thiên Chúa phải thành công (cũng là sự thành tựu của chính nghĩa con người ?) vẫn tồn tại ; dù các ông, có muốn hay không, một ngày kia, Thiên Chúa sẽ hiển trị, và đó là Ngày Phán Xét. . . dĩ nhiên, các ông là những người cố tình và ngoan cố chối từ, các ông sẽ ở lại bên ngoài sự thành công ấy mà lẽ ra làm sự thành công của các ông. 

Nhóm Bảy Mươi Hai trở về, hớn hở nói : "Thưa Thầy nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con". Đức Giêsu bảo các ông : "Thầy đã thấy Xatan như một tia chớp từ trời sa xuống. Đây, Thầy đã ban cho anh quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực kẻ thù mà chẳng có gì làm hại được anh em. Tuy nhiên anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời".

Nhóm Bảy Mươi Hai đầu tiên không chỉ có thất bại công việc tông đồ của họ đã thành công : những quyền lực của sự ác đã lùi ' bước. Đó là một nỗi vui mừng Đức Giêsu làm giảm nhẹ chủ nghĩa đắc thắng có hơi ngây thơ và rất tự nhiên của họ : anh em hãy thán phục, phải ! Nhưng nhất là hãy tạ ơn, hãy đi vào nội tâm ! Niềm vui chủ yếu là được tham dự vào Thiên quốc, và đã tham dự rồi.


 

Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

"Sự bằng an của các con sẽ đến trên người ấy"


BÀI TIN MỪNG : (Lc 10,1-12. 17-20)

I. Ý CHÍNH :

Chúa sai 72 môn đệ đi lo việc truyền giáo. Điều này cho thấy, ngoài nhóm 12 tông đồ còn có những người khác được gọi là môn đệ, cộng tác vào sứ mệnh cưú chuộc trần gian của Chúa Giê-su 

II. SUY NIỆM :

1. "Chúa chọn thêm 72 người nữa …" :

Con số 72 hay 70 ( tuỳ theo thủ bản Hy Lạp hay Hy Bá ) có liên hệ với con số 72 dân tộc làm nên nhân loại theo bản thống kê dân số của Thánh Kinh (st 10 ,10 ). Vì thế ở đây muốn ám chỉ đến toàn thể nhân loại mà Chúa Giê-su và các tông đồ là những người tiếp tục, có ý nhắm tới để trao giảng Tin-Mừng.

"Sai các ông cứ từng hai người đi nước ngoài":

Chúa Giê-su "cứ từng hai người" vì họ phải hoạt động với tư cách chứng nhân. Đối với người do thái bấy giờ, khi hay người đứng cùng nhất trí một vấn đề thì chứngtá của họ có giá trị và được chấp nhận về mặt pháp lý ( Mt 18, 16. Đnl 19,15).

Đồng thời đi từng hai người là để tương trợ lẫn nhau, vì việc Tông Đồ không phải là việc cá nhân riêng rẻ mà là việv của tập thể . 

Tập tục này đã được thực hiện trong Giáo Hội sơ khai ( phaolô đi với Bacnabê (Cv 13,2) Bacnabê với Maccô (Cv 15,39) phaolô đi với Sila(15,40) Silavới Timôtê(17,14). Các môn đệ đi trước Chúa Giê-su đến các thành các làng như là phát ngôn viên hoặc sứ giả có trách nhiệm chuẩn bị cho người. 

2. "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít …" :

Nhân loại được so sánh với mùa gặt cần được thu vào Nước Thiên Chúa. cánh đồng truyền giáo của Chúa Giê-su ở đất Palestin chỉ là khởi đầu của một cánh đồng, của một mùa gặt còn vĩ đại hơn, đó là bao gồm toàn thể thế giới. Chúa Giê-su biết trườc và nhận thấy rõ số người sẳn sàng trở lại rất nhiều. Trước công việc lớn lao và cấp bách đó, chỉ mới có một ích thợ gặt. Con số 12 Tông đồ và 72 môn đệ nữa cũng chẳng thấm vào đâu. Thiên Chúa là chủ mùa gặt, Người có quyền quyết định những gì có liên hệ đến mùa vụ. Việc thu nhập vào Nước Trời là công việc và ân huệ của Người. chính Người kêu gọi các môn đệ. Vì thế Chúa Giê-su kêu mời mọi người cầu nguyện để Thiên Chúa khơi lên trong con người tinh thần làm môn đệ của Chúa, để người cộng tác giúp nhiều người được vào Nước Thiên Chúa bằng cách hiến thân hoàn toàn cho Người.

Lời cầu xin gởi thêm thợ gặt duy trì trong các môn đệ và Tông đồ ý thức này là: Họ đã được Thiên Chúa gọi và sai đi (1Cr 3,7-10; 15,10)

3. "Các con hãy đi …" :

kiểu nói này diễn tả việc sai phái và đồng nghĩa với xuất phát lên đường và hành động. Ở đây cho thấy chính Chúa Giê-su sai phái, vì vậy Người điều hành và chủ động sứ mệnh Người ủy thác. Quyền năng của Thiên Chúa là động lực của sứ mệnh tông đồ và đồng thời dõi theo và nâng đỡ các xứ giả.

4. "Này Ta sai các con như con chiên giữa sói …" :

Chúa Giê-su nhắc đến những kho khăn mà các sứ giả sẽ gặp phải trên bước đường tông đồ. Sự khó khăn này do kẽ thù của Nước-Trời gây ra. Các ông bị bắt bớ bởi đó là số phận của những kẽ được mời gọi để rao giảng Nước Trời. đứng trước những khó khăn, các môn đệ như con chiên giữa sói rừng. Con chiên thì hiền lành, vì thế các môn đệ phải có lòng khoan dung, nhân hậu và yêu thương thù địch, chứ không được thù oán như thái độ của Giacôbê và Gioan (Lc 9,54).

5. "Các con đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép" :

Chúa Giê-su đòi hỏi các môn đệ phải sống khó nghèo thực sự, vì khó nghèo là điều kiện để được vào Nước-Trời (Lc 6,20) đồng htời đó cũng là dấu hiệu giúp nhận ra các giảng viên Nước-Trời.

- "Đừng chào hỏi ai dọc đường": lời khuyên này có ý nhắn đề phòng các môn đệ tránh xa những câu chuyện vô ích thường thấy trong xã hội Cận đông với Chúa Giê-su; người tông đồ đừng chia trí nhưng hãy dồn mọi nỗ lực vào việc rao giảng Nước-Trời là điều khẩn thiết. Điều này cho thấy sứ mệnh tông đồ có tính cách cấp thời, vội vã, như Maria vội vã lên miền núi, như các linh mục đồng đi báo tin… (Lc 1,39;2,16-18) hoặc như Philipphê thanh tẩy cho hoạn quan nước Tiểu Á (Cv 8,30)

6.Vào nhà nào trước tiên các con hãy nói "Bình an cho nhà này" :

Chúa Giê-su chỉ dạy phương pháp truyền giáo: Giảng viên Tin-Mừng đi vào từng nhà. Điều này có ý nói việc truyền giáo khởi đầu từ việc gặp gỡ tại gia rồi lan rộng ra dần dần khắp nơi.

-"Bình an cho nhà này": đây là một lời chào thăm và quà tặng. Bình an là ơn cứu độ của Chúa Giê-su mà các sứ giả có nhiệm vụ đem đến cho những ai muốn đón nhận. Nếu nhà nào không mở rộng nẻo đón nhận ơn cứu độ, thì các lời chào đó sẽ vô hiệu và sự bình an ấy sẽ trở về với các sứ giả của Tin-Mừng.

7. "Các con ở lại trong nhà đó …" :

Môn đệ đem sự bình an của Chúa Kitô đến cho nhà nào, thì làm phát sinh ở nhà đó lòng hiếu khách và sự bình an. Các môn đệ hãy ở lại nhà đó và đồng thời hãy ăn uống các thứ người ta có, nghĩa là hãy thích nghi với nơi mình đến. Điều môn đệ lãnh nhận không phải là quà tặng bố thí, do đức ái gây ra nhưng là thứ lương bổng ân xứng với những gì qúy giá người môn đệ đã đem đến (1Tm5,18; 1Cr 9,11)

8. "Các con đừng đi nhà này sang nhà nọ" :

thay đổi chỗ ở là thái độ của người bất mãn và đòi hỏi, như vậy sẽ bị người ta nghĩ xấu về vai trò của người tông đồ. Ở đây đòi hỏi các tông đồ phải thích nghi với môi trường sống.

9. "Các con hãy ăn những thức ăn người ta dọn cho …" :

Đừng bận tâm suy nghĩ xem các thức ăn người ta dọn cho có tinh sạch xét theo lề luật hay không. Họ dọn gì cứ ăn. Vì được tự do lương tâm như thế rất quan trọng trong việc truyền giáo cho dân ngoại. (1Cr 10,27)

10. "Hãy chữa các bệnh nhân trong thành và …" :

Việc chữalành các bệnh nhân là việc chuẩn bị cho người ta đón nhận ơn cứu độ mà các môn đệ có nhiệm vụ loan báo. Đi đôi với việc chữa bệnh là lời rao giảng: "Nước Thiên Chúa đã gần đến". việc Chúa Giê-su đến chứng tỏ Nước Thiên Chúa đang đến (Lc 11,20; 17,21). Chúa Giê-su là Nước Thiên Chúa vì Người đến để đem ơn cứu độ cho mọi người.

11. "Cả đến bụi đất … chúng tôi cũng xin phủi trả lại" :

kiểu nói "phủi bụi chân" là có ý nhắc lại sự bất hiệp thông của người Do Thái đối với dân ngoại. Vì thế thành nào không tiếp nhận sứ giả của Chúa Kitô gửi đến thì không được hiệp thông với Thiên Chúa và được coi như dân ngoại vậy. thành đó hãy biết rõ rằng Nước Thiên Chúa đã gần đến và giờ phán xét đang đe doạ chúng. Ở đây muốn nói không đón nhận Tin-Mừng thì không được cứu rỗi và số phận người đó sẽ được phân dịch trong ngày phán xét.

12. "Ta bảo các con, ngày ấy, thành Sôđôma …" :

Ai từ chối lời loan báo Nước Thiên Chúa và đóng kín lòng mình không tiếp nhận chính Chúa Kitô, thì người tự chuộc lấy cho mình án phạt. Kết quả án phạt đó còn kinh khủng hơn án phạt đã giáng xuống thành Sôđôna. Lỗi lầm của kẽ từ chối đón nhận Chúa Giê-su và các hồng ân của Nước Thiên Chúa lớn hơn lỗi lầm của dân thành Sôđôna! Điều này muốn nói lời rao giảng của các sứ giả của Chúa Kitô đem đến hồng ân cao cả nhất và tùy theo quyết định của mỗi người mà đem đến ơn cứu rỗi hay án phạt.

13. "72 ông trở về rất vui mừng …" :

Các môn đệ trở về lòng đầy vui mừng vì họ đã nghiệm được Nước Thiên Chúa đã thực sự bắt đầu nơi Chúa Giê-su. Vì chính khi họ nhân danh Người là họ chiến thắng được ma quỹ. Ở đây muốn nói: Nhờ Chúa Giê-su là nguồn sức mạnh mà các sứ giả đã chế ngự được các quyền lực Satan đang tung hoành trong thế gian.

14. "Ta đã thấy Satan từ trời sa xuống …" :

Đây là kiểu nói gợi hình như ở Lc10,15 về việc các môn đệ trừ quỹ thành công. Cuộc chiến thắng này là dấu chỉ của việc Chúa Giê-su chịu chết trên cây thập giá và sống lại vinh quang (Ga 12,31): "Chính bấy giờ đề mục thế gian đã bị đuổi ra ngoài".

15. "Này Ta ban cho các con quyền dầy đạp …" :

Kinh thánh xem các việc sảo quyệt như rắn rết, bọ cạp là khí cụ của quyền lực Satan. Đấng Cứu Thế là thiên hạ đợi trông sẽ giải thoát khỏi sự kìm kẹp của rắn rết, bọ cạp và thần dữ. Nhóm 72 môn đệ sẽ được thông phần vào việc Chúa Giê-su chiến thắng Satan. Họ có quyền lực trên rắn rết, bọ cạp và thần dữ (x. Tv 91,13; Rm8,37-39).

16. "Dù vậy, các con chớ vui mừng … nhưng hãy" :

Niềm vui có quyền trênh các quyền lực thần dữ không bằng iềm vui mà các môn đệ được chọn lựa vào đời sống vĩnh cữu.

Ở đây nêu rõ nguyên nhân vui mừng vượt trên mọi nguyên nhân khác, chính vì được tham dự vào Nước Thiên Chúa, được đón nhận đời sống vĩnh cữu và trở thành phần tử trong cộng đoàn dân Thiên Chúa.

Kiểu nói "được ghi trên trời" là âm hưởng các Thánh thời thượng cổ có thói quen ghi số danh sách các công nhân của họ. Ai được ghi tên trong sổ đó, sẽ có quyền hưởng thụ mọi lợi lộc cũa thành. Trên trời cũng có các sổ như thế: Những kẽ được Thiên Chúa chọn đều được ghi tên tron đó: chắc chắn sỗ đó là sách hằng sống. (Tv 69,1-29; Is 4,3; 56,5; Kh3,5-13,8).

III. ÁP DỤNG :

A. Ap dụng theo Tin-Mừng :

Giáo Hội muôn nhắc nhở chúng ta là những người làm tông đồ cho Chúa, về nội dung, mục đích, cách thế và phương tiện của việc rao giảng Tin-Mừng.

B. Ap dụng thực hành :

1. Nhìn vào Chúa Giê-su :

xem việc Người làm:

- Chúa chọn thêm 72 môn đệ nữa: Chúa chọn thêm người cộng tác để cho công việc được nhiều người đóng góp. Noi gương Chúa, chúng ta không nên độc quyền về người và về việc, nhưng phải biết phân quyền và chia việc để có nhiều người cộng tác.

- Chúa sai các môn đi đệ truyền giáo, Chúa ban quyền va chỉ vẻ cho các ông mọi điều. Noi gương Chúa mỗi khi chúng ta nhờ cậy ai việc gì và sai ai làm công tác gì, chúng ta cũng hãy trao phương tiện cần và đủ cho người ta, đồng thời phải phổ biến, chỉ vẻ cách thức thi hành để công việc được bảo đảm trôi chảy và thành công.

nghe lời Chúa nói:

-"Lúa chín đầy đồng…": Chúa ấy hình ảnh cánh đồng lúa chín để dạy các môn đệ nhận ra nhu cầu cấp bách của việc truyền giáo và ý thức về quyền thuê thêm thợ của ông chủ. Ở đây Chúa muốn dạy chúng ta, phải cầu xin cho ơn thiên triệu để có thêm người truyền giáo mở rộng Nước Thiên Chúa.

- "Các con hãy đi": Chúa dạy chúng ta phải ý thức người tông đồ phải lệ thuộc vào Chúa vì được Chúa sai đi, vì thế phải làm theo ý Chúa trong mọi hoạt động tông đồ.

- "Này ta sai các con như chiên ở sói rừng": Chúa đòi hỏi chúng ta phải khoan dung và hiền lành như con chiên khi gặp những kẻ chống đối, gây hại cho mình.

- "Các con đừng mang theo túi tiền": Chúa muốn chúng ta khi làm việc tông đồ phải có tinh thần siêu thoát, nhất là tránh những dính bén đế của cải vật chất.

- "Đừng chào hỏi ai dọc đường": Chúa dạy ta phải dồn mọi nỗ lực vào việc bổn phận tông đồ chứ đừng chia trí hoặc làm những công việc vô ích trong sứ mệnh tông đồ của mình.

- "Bình an cho nhà này": sự hiện diện của người Tông Đồ ở đâu phải tạo nên sự bình an thực sự ở đó. Sự bình an của người Tông Đồ đem đến là sự sống và tinh thần hoà bình của Chúa.

- "Hãy chữa lành các bệnh nhân": Những việc từ thiện, bác ái, xã hội phải là dấu chỉ để biểu lộ ơn cứu độ của Chúa.

- "Thành Sodoma sẽ được xử khoan dung hơn": Chúa cho ta biết tội từ chối Chúa qua việc từ chối các sứ giả của Chúa thì rất nặng và hậu quả bị phạt còn nặng hơn hình phạt giáng xuống dân thành Sôdôma.

2. Nhìn vào 72 môn đệ :

Các ông vui mừng vì khuất được ma quỷ nhưng Chúa bảo niềm vui sự sống đời đời thì quý hơn những thành công ở đời này. Chúng ta đừng tự mãn về những thành công Tông Đồ, nhưng vui vì được Nước Thiên Chúa.

HTMV Khóa 10 - Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sài Gòn