Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XIX Thường Niên B

Tin Mừng Ga 6: 41-51: Qua bài Tin Mừng hôm nay Giáo Hội muốn dạy chúng ta về giá trị cao cả của sự sống bí tích Thánh Thể mà Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta để nhờ đó chúng ta biết đem lòng kính trọng, thờ lạy, cảm mến và tha thiết với bí tích Thánh Thể trong đời sống hằng ngày .

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT 19 MÙA THƯỜNG NIÊN NĂM B




(Ga 6, 41- 51)
 
Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải

CHÚA GIÊSU LÀ BÁNH HẰNG SỐNG

XUỐNG TỪ TRỜI (Ga 6, 41- 51)


CÂU HỎI GỢI Ý

1. Phải biểu những "lời kêu ca" của người Do thái (cc. 41-43) ra sao?

2. Đâu là ý nghĩa của việc Chúa Cha "lôi kéo" các tín hữu cách mầu nhiệm (c.44) ? Làm thế nào để dung hòa với sự tự do của con người ?

3. Công thức "bánh hằng sống" (phin vivant) (c.51) và "bánh sự sống" (paùl de vie) (c.48) có hoàn toàn tương đương với nhau không? "Sự sống" mà Chúa Giêsu nói đến là gì? .

4. Chúa Giêsu nhấn mạnh: manna đã không làm cho các tố phụ nên bất tử, trong lúc "bánh từ trời xuống" thì khác hẳn và giữ gìn cho khỏi chết. Những lời này có đi ngược lại sự kiệt các tín hữu cũng chết như các tổ phụ trong sa mạc không?

5. Tại sao Chúa Giêsu quả quyết là sẽ ban "thịt" (sarx) Người hơn là "thân xác" (sôma) Người ?

1.Trong sa mạc Sinai, suốt cuộc Xuất hành, dân Hy bá đã bày tỏ lòng nghi ngờ của họ đối với Môisen qua nhiều lời kêu ca than vãn, đã từ chối không tin nào sứ mệnh thần linh của ông và việc ông có khả năng bảo đảm cho họ bánh cùng nước trong sa mạc ấy (Xh 10, 2-3; 17,3). Nhtr tổ tiên mình. Người Do thái hôm nay, qua những lời phàn nàn kêu ca, cũng bày tỏ một sự bất tín như thế đối với nguồn gốc thần linh của Chúa Giêsu.

Người Do thái tóm lược hai xác quyết của Chúa Giêsu (c 41): Người là bánh, Người từ trời xuống, và họ đặc biệt phản kháng xác quyết thứ hai (c.42). Họ không chấp nhận việc ăn người này (houtos), với một ít khinh bỉ: 6,52; 7, 15 ; 3,36) mà họ biết rõ lai lịch, tự cho mình có một vai trò và một nguồn gốc thần linh. Luận cứ được lấy lại rõ ràng ở 7,27: "ông ấy, chúng ta biết tự đâu ra; còn Chúa Kitô, khi Người đến, thì nào ai biết được do lời của Người !". Thật vậy, theo niềm tin Do thái bình dân, Đấng Kitô sẽ xuất hiện thình lình, và thiên hạ không biết Người từ đâu đến. Chẳng phải là người ta không biết nguồn gốc Đavít của Người (Tv Salomon 17,21 ) hay nơi Người phải sinh ra đâu (Mt 2, 5; Ga 7,42). Nhưng, theo quan niệm bình dân được Tryphon chứng thực (Justin, Đối thoại với Tryphon, ch. 8), Người sẽ xuất hiện thình lình, sau một cuộc sống tuyệt đối mai ẩn (Strack Billerbeck, t.2, tr.448tt). Thành ra dựa trên niềm tin bình dân này, những kẻ đối thoại với Chúa Giêsu trong mình có lý khi bác bỏ những cao vọng của Chúa Giêsu: Người, thiên hạ biết rõ quá nên không thể là Đấng Messia mai ẩn được.

2. Vai trò thiết yếu của Chúa Cha trong việc tiến dẫn đến đức tin được nhắc lại, như ở c.37, nhưng với những lời lẽ mạnh mẽ hơn: "Không ai có thể đến với Ta, nếu Cha, Đấng đã sai Ta, không lôi kéo nó" (c.44). Động từ helkuein có nghĩa "kéo lôi với ít nhiều sức mạnh" để dời đi một vật nặng như xe, tàu. Nếu nói đến hoạt động với các tâm hồn, thì vật nặng và sự lôi kéo phải được hiểu theo nghĩa loại suy. Mỗi một hữu thể đều được kéo lôi tùy theo bản tính. Đó là điều thánh Augustiô đã nói trong một bản văn thời danh: "Đừng nghĩ rằng bạn được lôi kéo bất đắc dĩ : ngay cả trí khôn cũng được lôi kéo bằng tình yêu ... Bởi vì nếu thi nhân đã có thể nói: "Sự khoái lạc lôi cuốn mỗi người" (Virgile, Ecl. II,65), nghĩa là không phải chăng bách mà là khoái lạc, không phải bắt buộc mà là thích thú ; thì chúng ta càng phải nói một cách mạnh mẽ hơn rằng con người được lôi kéo đến với Chúa Kitô vì tìm thấy khoái lạc nơi chân lý, nơi toàn phúc, nơi công chính, nơi sự sống vĩnh cửu là chính Chúa Kitô. Các bạn hãy xem Chúa Cha lôi kéo cách nào: Ngài hấp dẫn bằng cách giáo huấn chứ không phải bằng cách ép buộc. Ngài lôi kéo như thế đó!" (PL 35, 1608).

Để đến cùng Chúa Con, việc lôi kéo của Chúa Cha thật là cần. Nghe vậy, ta có thể bị cám dỗ kết luận: người Do thái không thể tin vào Chúa Giêsu, là vì thiếu sự lôi kéo ấy. nhưng như thế là phủ nhận giáo thuyết công giáo về túc sủng. Câu 45 sửa sai cảm tưởng này khi nhắc lại một bản văn Isaia (44,13) trong đó xác quyết rõ rệt Thiên Chúa giáo huấn từ trong nội tâm cho bất cứ ai. Nhưng giáo huấn này cần phải

được chấp nhận. Có ích gì việc Thiên Chúa phán dạy nếu người ta không chịu để Ngài giáo huấn bằng cách trở nên môn đồ Ngài (mathôn)? Thành thử phải có ít nhiều thiện chí. Thiện chí này cần tới mức dộ nào và tương quan ra sao với sự "lôi kéo" thần linh? Điều ấy không được nói đến. Chỉ cần ý chí tự do nhảy vô là sự mù quáng của người Do thái trở thành tội phạm. Tuy nhiên chớ lẫn lộn việc nghe Chúa Cha và để Ngài giáo huấn. Vì chăng phải là chuyện giảng dạy bên ngoài nhờ tiếng nói, nên không cần phải thấy Chúa Cha. Trong trường hợp này, chẳng ai đã nghe được Ngài nếu không phải là Đấng từ Ngài mà đến. Nhưng giáo huấn nội tâm này chẳng phải là một kinh nghiệm thần bí và trực tiếp về Thiên Chúa (c.46) như kinh nghiệm của Chúa Giêsu đâu. Nó thuộc trật tự ân sủng thông thường và đủ để đưa đến đức tin.

3. Từ ngữ "bánh hằng sống" tự nó quả kỳ dị, vì bánh không bao giờ sống, ngoại trừ khi ám chỉ cách tỉ dụ, như trong trường hợp đây, một con người sống. Chúa Giêsu là bánh hằng sống, bởi vì Người là Thiên Chúa hằng sống (Mt 16,16; 26,63), là Đấng phục sinh, luôn sống mãi (Dt 7,25; Rm 6,9-10). Vì thế, Người tín hữu được lôi kéo đến cùng Người, để ngay từ bây giờ thông phần vào mầu nhiệm của Người và cuối cùng được dẫn đến sự phục sinh vinh quang (cc.39,40.44).

Chúa Giêsu là bánh sự sống, vì Người giữ cho sống những ai ăn lấy Người. Ta ăn lấy Chúa Giêsu bằng đức tin mà ta tuyên xưng và giữ mãi đối với con người và sứ mệnh Người (cc.35-36.40.47); ta cũng ăn Người qua Thánh Thể (c.51). Nhưng đức tin là một hồng ân của Chúa Cha, Đấng giao kẻ tin cho Chúa Giêsu để Người cứu vớt và phục sinh trong ngày cùng tận (cc. 37-40.47). Thật ra, ai ăn lấy Chúa Giêsu thì không hề chết (cc.50-51), vì việc đi từ cái mà chúng ta gọi là ân sủng sang vinh quang không tạo nên một đứt đoạn, nhưng là một nối tiếp. Đối với thánh Gioan, tất cả những cái này (ân sủng và vinh quang) gọi là sự sống vĩnh cửu.

Đối với Gioan, sự sống vĩnh cửu là sự sống tràn đầy và trọn vẹn của toàn thể con người, một sự sống có tính cách vĩnh cửu vì không chết và được kéo dài, trong trường hợp chết thể xác bằng niềm hy vọng sống lại. Nó là sự sống thần linh, vì sự sống luôn luôn là một đặc điểm của thần tính, và không những là sống thiêng liêng mà còn là sống thể xác nữa. Sự sống vĩnh cửu là sự sống muôn đời, và hơn nữa là sự sống đáng sống, sự sống hạnh phúc. Thánh Inhaxiô thành Antiôkia đã hiểu điều đó khi viết về Thánh Thể: "... Bánh này là linh dược ban bất tử tính, một thuốc giải độc để khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời trong Chúa Giêsu-Kitô" (Eph. 20,2).

4. Chúa Giêsu còn mặc khải sâu hơn khi minh xác chính Người ban sự sống thần linh cho các kẻ tin bằng nhân tính Người, nhân tính mà Người sẽ hy sinh để bảo đảm sự sống đó cho tất cả nhân loại tội lỗi.

Người trở lại với lời tuyên bố ở c.34: đối với mọi tín hữu, Người là bánh sự sống, vượt hẳn manna; vì manna quả có tăng bổ sinh lực thể lý, nhưng không đem vào trong thân xác mần mống sự bất tử: tự nó, nó đã chẳng ban cho quyền phục sinh, hơn nữa đã không thể tác sinh các linh hồn, đến nỗi người Do thái trong sa mạc đã chết vì tội lỗi của họ. Ngược lại, khi đến và cư ngụ trong kẻ tin như lương thực thiêng liêng, Chúa Kitô bồi bổ và không ngừng phát triển bên trong họ sinh lực thiêng liêng vốn giúp họ tránh được sự chết của tội lỗi là là mầm mống sự bất tử cho thân n xác họ.

5. Chúa Giêsu sẽ trở nên "bánh hằng sống" khi ban thịt mình để nuôi sống thế gian. Thì hiện tại ("Ta là") được thay thế bằng thì tương lai để nói lên ý hướng muốn nhấn mạnh cái lúc Chúa Giêsu trở nên nguồn sinh lực. Vả lại Tin mừng thứ tư có thói quen vượt quá thực tại hiện thời để ám chỉ sự hiển thánh của cuộc sống Chúa Giêsu và nhất là lúc tận cùng của đời Người (1,51; 3,12-15; 6,62 ...). Vì thế không cần phải nhìn thấy trong những lời của Chúa Giêsu đây một ám chỉ trực tiếp về phép Thánh Thể. Đúng hơn, nục đích đầu tiên của lời này là nhấn mạnh đến giá trị sống (valeur de vie) của cái chết Chúa Giêsu trên thập giá. Vì với tư cách là Con người là Chúa Giêsu trao ban sự sống vĩnh cửu cùng trở nêu Con Người chính lóc cuối đời mình, khi Giờ đến. Giờ này là thời gian bất khả phân đi tắt cái chết cho đến lúc Thần Khí được tuôn đổ. Vì ở đây Gioan quan tâm đến các giá trị sự sống và giá trị cứu chuộc, nên người ta có thể nghĩ đến cái chết trên thập giá nhiều hơn (Ga 3,15-17; 4,38; 6,51-57; 10,10-11.15; 12,24.34). Giá trị cứu chuộc của chính Giờ này, thường được liên kết với việc Lên Trời, sẽ được bàn ở 6,26.

Để tiếp tục ám chỉ cái chết trên thập giá, Gioan cũng dùng chữ "thịt" (sarx). Thật đáng ngạc nhiên khi ông không dùng hạn từ "thân xác" (sôma), trong lúc chữ này, dưới ảnh hưởng của thói quen dùng nó trong ngôn ngữ Hy lạp, đã trở thành hạn từ cổ điển chỉ phép Thánh Thể trong văn chương Tân tước (Mc 14,22; Mt 26,26; Lc 22,19; 1Cr 11,24). Vẫn biết là trong bữa tiệc cuối cùng, Chúa Giêsu đã dùng hạn từ Aram besar (Hy bá: bâsâr), và tiếng này, ngay cả khi chỉ thân xác, cũng thường được bản Hy lạp 70 thích dịch ra là sarx, thịt. Nhưng thông thường, Gioan không bén nhạy với sự chính xác của tiếng Hy lạp như thế cũng như chẳng mấy quan tâm đến sự tương đương ngôn ngữ học của tiếng Chúa Giêsu dùng. Chắc phải có một cái gì khác.

Sarx quả là tiếng dịch từ chữ besar. Nhưng chữ besar này không chỉ có nghĩa thịt (bắp thịt vv...), mà còn có thể chỉ toàn thể thân xác và ngay cả con người xét như con người ấy liên lạc với thế giới chung quanh (x. 1,14). Ngôn ngữ Hy lạp bén nhạy, tế nhị hơn ngôn ngữ Aram trong việc diễn tả các tiểu dị này, và trong Do thái giáo về sau, người ta thích dịch bâsar xác ra sôma, mặc dầu trong Tân ước đôi lúc người ta cũng dùng cả hai hạn từ (sôma và sarx). Nhưng đối với phép Thánh Thể, sôma (xác, thân xác) đã thành cổ diễn, ngoại trừ trong một vài văn tập hậu sứ đồ mà vì chịu ảnh hưởng của Ga 6 nên có dùng hạn từ sarx (Inhatiô, Thư gửi giáo hữu thành Smyrno 6,2; 7,1 ; thành Rôma 7,3 ; thành Philip 4, 1; 11,2; Justin, biện hộ 1,66). Trong sách chú giải của ông, thánh Gioan Kim Khẩu cũng đi từ sarx sang soma và như thế cho thấy ông cũng gặp khó khăn về ngôn ngữ học với từ ngữ sarx-thịt.

Vậy thì tại sao Gioan vẫn giữ từ ngữ thịt"' mặc dầu đã có một thuật ngữ Thánh Thể chính xác lý do đơn giản là vì "thịt" trong tiếng Aram có một nghĩa rộng hơn sôma-xác; hạn nữa, nơi Gioan, sôma chỉ xác chết, thây ma. Và làm sao một thây ma có thể ban sự sống "Thịt", trái lại, chỉ con người toàn diện cũng như thân xác, và ý nghĩa kép này thật là lý tưởng để trói lên cùng một lúc cái chết trên thập giá và Thánh Thể.

Vì ý nghĩa căn bản và đầu tiên của thịt mà con Người sẽ ban chẳng phải là Thánh Thể, nhưng là sự tự hiến chính mình trong cái chết trên thập giá. Vậy khi ở Capharnaum. Chúa Giêsu nói đến thịt nuôi sống thế gian, là Người muốn nói đến "con người (bị sát tế) vì sự sống thế gian" của Người. Việc dùng phụ ngữ huper (vì, cho) gợi lên cái chết trên thập giá. Trước Gioan, các văn tập của Tân ước hầu như dùng cách máy móc phụ ngữ này để chỉ giá trị cứu chuộc của cái chết Chúa Giêsu (Mc 14,24; Lc 22,19; Rm 5,6; 1Cr 11,24; 15,3; 2Cr 5,21; Gl 1,4; 2,20; 3,13). Gioan cũng vậy. Chúa Giêsu hiến mạng sống vì chiên (10,11.15), vì dân mới của Thiên Chúa (11, 50-52; 18,14), vì môn đồ Người (17,19). Với một sự mỉa mai có chủ ý, thánh sử đã cho Phêrô quả quyết mình sẵn sàng hiến mạng sống vì (huper) Chúa Giêsu (13,37-38). Để bắt chước Chúa Giêsu, các môn đồ phải thí mạng sống cho nhau thật sự (15,13). Trong các bản văn kể trên, động từ được dùng không phải là "hiến, ban cho" mà là "thí mạng mình" (timêthi: 10,11,15; 13,37-38; 15,13), nó nhấn mạnh đến tính cách tự nguyện của cái chết Chúa Giêsu; chỗ khác, người ta sẽ dùng chữ "chết thay" (spo(hanein: 11,50-51 ; 18, 14) và "hiến thánh" (hagiazein: 17,19). Ở đây, động từ "ban cho" không được gợi lên nhờ xác quyết của người Do thái (6,31 .34) hay nhờ lời hứa trước đó của Chúa Giêsu (6,27.32), cho bằng vì muốn thích nghi với cái chết trên thập giá (Mt 20,28; Gl 1,4) cũng như với Thánh Thể (6,52-59).

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

"Làm sao bấy giờ ông ấy dám bảo: Ta đã từ trời mà xuống?": Điều Chúa Giêsu vừa nói về nguồn gốc thiên giới của Người xem ra quá phóng đại. Làm sao một kẻ mà thiên hạ biết rõ họ hàng lại dám gán cho mình một nguồn gốc thiên giới. Những ý nghĩ này giúp chúng ta biết các dư luận phổ biến lúc ấy về Chúa Giêsu. Dĩ nhiên đây không phải là quan niệm của thánh sử và người ta cũng chẳng lấy được gì từ đó để chống lại tín điều về sự sinh hạ đồng trinh của Chúa Giêsu. Và cũng không có gì cho phép giả thiết là thánh Giuse lúc đó còn sống. Gioan chẳng nói đến điều đó bao giờ. Có lẽ là thánh Giuse đã chết trước khi Chúa Giêsu bắt đầu cuộc đời công khai.

"Các ngươi đừng kêu ca với nhau tranh luận chỉ tổ vô ích; chỉ có hoạt động của Chúa Cha mới hướng dẫn những kẻ tin Ngài đến với Đấng có mặc khải viên mãn (3,21). "Đấng ấy đã thấy Chúa Cha" : Xem 1,18. Với câu này, Gioan loại trừ mọi lối giải thích sai lạc có thể có về câu trích dẫn (16,45 chết thảy chúng sẽ là môn sinh của Thiên Chúa), chính nhờ Chúa Giêsu, Đấng duy nhất biết Chúa Cha cách trực tiếp và hoàn toàn, mà lời hứa trên sẽ được thực hiện.

KẾT LUẬN

Khi nói về thịt (sarx) Người sẽ bị nộp để ban sự sống cho thế gian, rồi xa hơn về máu người, Chúa Giêsu mặc nhiên loan báo Người sắp thị sát tế thành hy lễ, và các tín hữu của Người sẽ có thể tham dự vào hy tế ấy bằng cách ăn thịt của Tế vật, hầu nhờ đó lãnh nhận sự sống thần linh. Việc thịt Người sẽ trở nên phong phú sự sống và việc Chúa Giêsu sẽ đích thân trao ban nó, rõ rệt bao hàm điều này là: qua cái chết hy tế, Người sẽ tìm lại sự sống bằng sự Phục sinh. Khi để thịt Người, thân xác Người (và đồng thời cả bản thân vinh hiển Người) dưới hình thức bánh để các kẻ tin Người ăn uống, Chúa Giêsu một ngày nào đó sẽ cho thấy rõ ràng Người thật là bánh bởi trời, của ăn thiêng liêng cho nhân loại.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Trong Tin Mừng Gioan, Chúa Giêsu nhiều lần nói "Ta là": "Ta là" ánh sáng, mục tử tốt lành, cửa chiên, sự sống lại và sự sống, đường, sự thật và sự sống, cây nho thật. Dưới mắt người Do thái, các danh xưng này có giá trị như những hồng ân của Thiên Chúa. Chúa Giêsu quả quyết Người chính là ân huệ thực sự và chung quyết của Thiên Chúa hôm nay.

2. Khất bảo: "Bánh sự sống chính là Ta", Chúa Giêsu biết rằng Người sẽ gây ra thắc mắc, sự cứng tin và cả thái độ công phẫn. Thật vậy, cách nói "Ta là" lúc bàn về sự sống, ánh sáng ... gợi lên trong não trạng của các thính giả Người một ý niệm về tuyệt đối. Tuy Thiên Chúa mới có quyền bảo "Ta là Con người chỉ có thể nói: Tôi là kẻ này người nọ, nhưng không được bảo: Ta là bánh, là ánh sáng, là chân lý, là sự sống. Thế mà Chúa Giêsu đã làm vậy. Một xác quyết ntlư thế gây nên sự công phẫn hay đức tin. Chúng ta may mắn thuộc về những kẻ đáp lại bằng đức tin.

3. Diễn từ bánh sự sống thu hút chúng ta nhờ những lời quả quyết mạnh mẽ và đồng thời để chúng ta phân vân trước nỗi cô đơn mà Chúa Giêsu tạo ra quanh người qua những xác quyết đó. Ta tự hỏi tính cách đích thực của cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu với người Do thái đã là gì. Một điều chắc chắn là người Do thái không thể nâng mình lên bình diện mà Chúa Giêsu đang ở và từ đó Người đang nói. Chúa Giêsu đã làm phép lạ hóa bánh ra nhiều. Người Do thái lưu ý tới Người lập tức, nhưng không phải để theo vị sứ giả của Thiên Chúa, mà là để hắt lây Người hầu thỏa mãn những khát vọng trần tục của họ. Khuynh hướng sâu xa của họ ngược lại với khuynh hướng Chúa Giêsu. Họ muốn kéo Chúa Giêsu vào trong lãnh vực thế trần với họ; còn Chúa Giêsu. Người cố gắng đỡ nâng họ lên bình diện của Thiên Chúa. Trong vấn đề này, Chúa Kitô không có ngoại giao. Người xác quyết mình là ai, cho dù người Do thái chỉ muốn thấy trong người kẻ mà họ biết rõ cả cha lẫn mẹ.

4. Như tổ tiên của họ ngày xưa trong sa mạc, người Do thái kêu ca phàn nàn. Đây là một thái độ phức tạp, nhưng chủ yếu phát xuất từ một sự từ chối không tin, một sự bất lực đương đầu với số mệnh, và từ một nhu cầu muốn an thân này đó. Đấy là phản ứng hết sức nhân loại. Chúng ta chấp nhận đi theo Thiên Chúa bao lâu Ngài còn phục vụ hạnh phúc chúng ta, còn phục vụ quan niệm hạnh phúc của chúng ta; nhưng khi Ngài hay Giêsu, Đấng Ngài sai đến, muốn cắt đứt chúng ta khỏi những cái hiển nhiên thường nhật, khỏi lòng ham muốn tiện nghi và thỏa mãn của chúng ta, thì chúng ta chống chọi, phản kháng. Bấy giờ các "dấu chỉ" Thiên Chúa đã thực hiện trong đời chúng ta không còn giá trị gì nữa; chúng ta làm như chẳng có gì đã xảy ra; chúng ta dấy nẩy và trở lại dùng ân huệ của Thiên Chúa để chống lại Ngài (x. Ds 11,4-6), chúng ta gây gổ với Ngài và bịa ra nhiều cớ để khỏi tin; chúng ta quả là những người có tà ý.

5. "Không ai có thể đến với Ta, nếu Cha, Đấng đã sai Ta, không lôi kéo nó". Phải hiểu cho đúng lời này của Chúa Giêsu. Nó chẳng có nghĩa là Thiên Chúa chỉ lôi kéo một số người và bỏ rơi những kẻ khác. Thiên Chúa muốn cứu rỗi tất cả mọi người. Ngài không chọn lựa cách tiên thiên, ngay từ đầu, một phần nhân loại để cứu rỗi và bỏ rơi phần khác. Ngài đặt trong lòng mỗi con người một bản năng quy hướng họ về định mệnh hạnh phúc mà vì đó họ được tạo ra. Bản năng thiêng liêng này có nhiều hình thái và chỉ mình Thiên Chúa biết lúc nào nó thức dậy trong tâm thức mỗi người. Hãy nhớ rằng mỗi một con người, cho dù chỉ hiện hữu trong chốc lát thôi, cũng được kêu gọi để trở thành con Thiên Chúa.

6."Phàm ai nghe và học nơi Cha thì sẽ đến với Ta". Hãy lưu ý: Chúa Giêsu không nói ở thì quá khứ mà là hiện tại. Không phải đã nghe lời giáo huấn của Cha, đã được Ngài giảng dạy và đã đến với Chúa Giêsu, thì sau đó đạt mục đích. Đây là một thực tại hiện tại mà ta phải củng cố gia tăng thêm không ngừng. Mỗi ngày cần phải đặt mình vào tình trạng lắng nghe giáo huấn của Chúa Cha, học hỏi Ngài và đến với Chúa Giêsu. việc Chúa Giêsu đến trong cuộc sống của chúng ta là một thực tại luôn luôn tác động bên trong chúng ta không ngừng không dứt. Cũng vậy, việc chúng ta tiến về Chúa Giêsu việc chúng ta tin vào Người và gắn bó với Người, cũng là một sự tiến triển sống động ngày càng hơn. Tìmm đâu năng lực nội tại để luôn tiến về Chúa Giêsu Kitô như thế ? Tìm trong bánh sự sống, Thánh Thể.


Noel Quession - Chú Giải

 
Ga 6,41-51

Bánh Hằng Sống (2)

 
Người Do Thái liền xầm xì phản đối, bởi vì Đức Giêsu đã nói : "Tôi là bánh từ trời xuống".

Họ nói : "ông này chẳng phải là ông Giêsu, con ông Giuse đó sao ? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả sao bây giờ ông ta lại nói : "Tôi từ trời xuống ?"

Theo truyền thống thiêng liêng qua mọi thời đại, chúng ta có thể nghĩ rằng không có một chi tiết nào trong Thánh kinh là vô ích hay tầm thường. Nếu những "thính giả đầu tiên" của Đức Giêsu đã "phản đối" khi họ nghe nói về "Thánh Lễ" chắc điều này phải có ý nghĩa. Không phải chỉ có ngày nay con người mới khước từ Mầu nhiệm Trung tâm của đức tin. Sự khước từ hiện nay của nhiều người trẻ cũng như người trưởng thành không phải là một chuyện mới mẻ : việc này đã bắt đầu từ thời Đức Giêsu, khi chính Người đã giảng giải và dạy giáo lý ! Trước hết chúng ta hãy khiêm tốn nhận biết lời xác quyết của Đức Giêsu thật to lớn. Chúng ta nên nhìn nhận rằng người, không tin không phải là một kẻ bất bình thường. Họ sống theo "lý trí" của con người một cách hoàn toàn tự nhiên. Điều này càng nhấn mạnh đến tính cách đặc biệt của đức tin ; đức tin không chỉ giới hạn vào những quan điểm hợp lý mà thôi. "Ta là bánh hằng sống từ trời xuống". Đây là cao vọng chưa từng thấy của một người thợ mộc thấp bé ở làng bên cạnh, mà người ta biết rõ cha mẹ . Đức Gỉêsu đã phản ứng thế nào, hôm đó (và hôm nay) trước sự khước từ "bánh bởi trời" ?

Đức Giêsu bảo họ : "Các ông đừng có xầm xì với nhau ! Chẳng ai đến với Tôi được, nếu Chúa Cha, là Đấng đã sai Tôi, không lôi kéo người ấy. và Tôi, Tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết. Xưa có lời chép trong sách các ngôn sứ : Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ".

Ngay từ đầu, Đức Giêsu đã đứng trên một bình diện khác với lý trí của con người. Đó là điều mà chúng ta thường gọi là "ân sủng" hay nồi cách' khác, đó là sáng kiến của Thiên Chúa. Đức Giêsu nói, cần phải có sự soi sáng bên trong của Thiên Chúa là đức tin, để thấu 'hiểu được những việc của Thiên Chúa, để "đến với Đức Gíêsu". Chỉ có Chúa mới có thể nói về Chúa. Đấng siêu việt không phải là một thực tại nhỏ bé nằm trong tầm hiểu của bộ óc con người hay của máy móc khoa học : Thiên Chúa là Đấng hoàn toàn khác, vượt cao hơn tất cả. Hãy để cho Chúa dạy bảo chúng ta. Phải đón nhận "Lời Chúa", lời từ một nơi khác đến với chúng ta.

Có lẽ chúng ta chưa nghe Đức Giêsu nói cách đầy đủ. Hỡi bạn trẻ, bạn cho rằng Thánh lễ "chẳng có gì hấp dẫn", bạn hãy ra khỏi chân trời nhỏ bé của bạn, hãy bước vào cuộc phiêu lưu. Trước tiên, Thánh lễ không bao giờ là một hiện tượng văn hóa, xã hội hay mỹ thuật. Thánh lễ là mầu nhiệm của "sự hiện diện", tiếng Hêbrơ gọi là "Shekinnar" có nghĩa là "sự cư ngụ thực sự" của Thiên Chúa siêu việt trên địa cầu của chúng ta.

Bạn tìm cái gì khi bạn đi dự lễ ? Nhạc "bình ca" hay nhạc "tân thời'? ? Chỗ nương tựa để bạn bảo thủ cường vị của mình cách an toàn, hay hứng khởi giúp bạn dấn thân đổi mới ? Những bầu khí đó không phải là vô ích. Nhưng Đức Giêsu nói với chúng ta rằng Chúa là Đấng chúng ta phải tìm kiếm. Đến với Đức Giêsu là một "hồng phúc của Thiên Chúa". Một thứ ân sủng : "Bạn hãy đưa tay ra, hỡi người anh em, hãy mở rộng bàn tay hãy đón nhận Man-na, đón nhận lời Chúa".

Vậy phàm ai nghe và đón nhận giáo huấn của Cha, thì sẽ đến với Tôi.

Đức Giàu có một tư tưởng rất tinh tế. Không, lao vào một cuộc tranh cãi thần học nào, không bút chiến. Người khẳng định :

- Vai trò ưu tiên của "ân sủng", một sáng kiến của Chúa mà chúng ta phải nhận lãnh.

Vai trò cốt yếu của tự do, đặc chất của con người, luôn đòi hỏi một nỗ lực. Chính Chúa Cha "lôi kéo", "dạy bảo" và "đề nghị". Nhưng con người có thể "lắng nghe" và đáp lại hay bịt kín lỗ tai và từ chối.

Chỉ có những kẻ nào ưng thuận "lắng nghe lời dạy của Chúa Cha" mới có thể bước vào mầu nhiệm "Bánh hằng sống". Nhưng ta sẽ sai lầm nếu chỉ hiểu câu nói của Đức Giêsu theo nghĩa hẹp. Vì thế Đức Giêsu đã nói : "Có một số người được Chúa Cha lôi kéo đến đón nhận ân sủng". Người vừa nhấn mạnh : "Tất cả họ đều được Thiên Chúa dạy dỗ". Do đó sự khác biệt trong thái độ, chính là sự khác biệt trong cách lắng nghe. Về phía Chúa, ân sủng được ban cho tất cả mọi người. Nhưng về phía con người tự do, họ có thể chối từ Thiên Chúa. "Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón tiếp" (Ga 1,11). Lạy Chúa chúng con đang chờ đón Chúa. Này, đây đôi tay chúng con đang giang rộng. . . .

Không phải là đã có ai thấy Chúa Cha đâu, nhưng chỉ có Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến chính Đấng ấy đã thấy Chúa Cha.

Một cách rõ ràng, Đức Giêsu muốn mang đến cho chúng ta một cái gì khác hơn là một ý thức hệ, một thứ luân lý, mỹ thuật hay chính, trị. "Ngôi vị Thiên Chúa" đã đột nhập trong lịch sử nhân loại : Người khẳng định, Người từ Thiên Chúa mà đến, và là "Đấng duy nhất" biết rõ về Thiên Chúa. Người là sự hiện diện đích thực của Thiên Chúa trong thế giới chúng ta. Vậy chúng ta chớ ngạc nhiên khi thấy Thánh lễ thật kỳ diệu lạ lùng. Đó là nơi gặp gỡ của Đấng vô hình, của Đấng tuyệt đối, của Thiên Chúa. Đó là cuộc phiêu lưu tuyệt vời đòi phải vượt qua những quan điểm thông thường nhân loại, Thánh lễ là một "lỗ hổng" . . . một sự mở rộng nhiệm mầu u nới bức tường lý trí hay lý luận của chúng ta : Thánh lễ có thể đưa chúng ta vào lãnh vực rất bí ẩn của Thiên Chúa.

Không ai đã thấy Thiên Chúa bao giờ.

Đức Giêsu không dè giữ lời nói. Người đặt hàng rào chắn rất cao... Vượt qua được khó khăn đó, để gặp gỡ Chúa, thành tích của ta thật là hiển hách. Văn sĩ Peguy nói : Bí tích Thánh Thể, Bánh hằng sống, không phải là những chuyện tầm thường ngang tầm tay chúng ta. Phải tìm kiếm vượt trên những gì hữu hình. Không ai đã thầy bao giờ. Vậy để thấy rõ hơn có lẽ chúng ta sẽ nhắm hẳn mắt lại , tránh mọi sự chia trí trong thế giới hữu hình, để tập trung vào cái vô hình".

Ai tin thì được sự sống đời đời. Tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết.

Đây là những lời nói lạ kỳ, hầu như không chấp nhận được khi ta biết rằng những lời này đã được một người có vẻ như mọi người" nói lên vào một ngày kia, bên bờ một hồ nhỏ tại Ca-phác-na-um trên hành tinh chúng ta. Sự việc Thiên Chúa đột nhập trong con người, đã gây ra ngạc nhiên biết bao... Ngạc nhiên như việc "sáng tạo đầu tiên "từ hư không".

Chúng ta hãy để ý thì hiện tại : "Họ có sự sống đời đời" và thì tương lai : "Tôi sẽ cho người ấy sống lại".

Tôi là bánh trường sinh.

Ở đây chúng ta gặp lại sự khẳng định mạnh mẽ của Thánh kinh, định nghĩa Thiên Chúa như là "Đấng hiện hữu YAHVEH". Đó là 4' chữ không xóa nhòa được, chỉ có 4 phụ âm (vì tiếng Hêbrơ chỉ viết có phụ âm) mà không một người Do Thái nào dám đọc 4 chữ này, người Do Thái thay thế 4 chữ này bằng Adonai, (Đức Chúa). Còn Chúa Giêsu thì dám nói : "Tôi hiện hữu', "Tôi là Bánh hằng sống".

Tổ tiên các ông đã ăn man-na trong sa mạc, nhưng đã chết.. Còn bánh này là bánh từ trời xuống để ai ăn thì khỏi phải chết. Tôi là Bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời.

Ở đây chỉ đặt vấn đề "sự sống". Sau khi đã nói về "Bánh ban sự sống" (o artos tès zoès) bây giờ Đức Giêsu nói về "Bánh hằng sống" (o artos ozôn). Cuốn sách đầu tiên của Bộ Kinh thánh (sáng Thế 3,22) khẳng định con người (Ađam" trong tiếng Hêbrơ) đã đttợe tạo nên để sống vĩnh cửu do "cây hằng sống" mà con người có thể ăn những trái thần thiêng của cây này. Và cuốn sách mạc khải cuối cùng (Khải Huyền 2,7-7) khẳng định khi việc sáng tạo chấm dứt, sẽ không có sự chết nữa. "Ta sẽ cho kẻ chiến thắng ăn cây hằng sống trong vượn của Thiên Chúa". Đó là sự lặp lại và là sự thành công trong chướng trình ban đầu của Thiên Chúa.

Do đó Chúa Giêsu đã khẳng định với những nông dân Galilê thời xưa, cũng như với chúng ta ngày nay rằng, sự "bất tử", sự sống không chết "này nhờ đức tin" đã được ban cho những người, không còn phải ăn "cây hằng sống", nữa mà là "bánh hằng sống" : Là chính Đức Giêsu. Ta có thể thắc mắc, những kẻ rước Mình Thánh Đức Giêsu cũng đã chết như mọi người ? Nhưng rõ ràng ta không còn ở trong phạm vi nhân loại nữa nghĩa là trong lãnh vực các sự vật "hữu hình" : Không ai đã thấy cái "vô hình" không ai có thể chứng minh là không có một "sự sống" vô hình. Điều đó không thuộc lãnh vực "lý trí". Nhưng tại sao chúng ta không để cho "Chúa Cha dạy bảo" ? Tại sao chúng ta lại không tin Người ?

Từ chối sự "dâng hiến" siêu việt này, là đánh mất ngay từ bây giờ sự sống vô hình, là tự phó mình cho hư không, cho tính hữu hạn thuộc bản chất tự nhiên của con người : "Cái gì bởi xác thịt mà sinh ra thì là xác thịt" (Ga 3,6). Tại sao Thiên Chúa lại không can thiệp để "ban cho" chúng ta sự sống, tuyệt đối vĩnh cửu của Người ? Lạy Chúa này đây tay chúng con đang giơ cao để đón nhận hồng ân đó.

Và bánh Tôi sẽ ban tặng chính là thịt Tôi để cho thế gian được sống.

An sủng của Thiên Chúa, tự nó là vô hình, nhưng đã trở nên hữu hình trong Chúa Giêsu Kitô. Tinh yêu của Thiên Chúa, phi thường, nhưng ẩn dấu, đã tự tỏ lộ ra và trở nên "cảm thấy được" ; đó là Chúa Giêsu bị đóng đinh, là Thịt và Máu của Người đã được hiến tế. Ngôi Lời Thiên Chúa đã không chỉ nói với chúng ta bằng lời mà còn bằng hành động : "Trao hiến thịt mình, phó nộp thân mình... đó là dấu chỉ tình yêu trọn vẹn .

Chúng ta hãy đón nhận Ngôi Lời Thiên Chúa đang ban Thịt Máu Người cho chúng ta và trở nên sự sống cho chúng ta.




Giáo phận Nha Trang - Chú Giải


 
" Ta là Bánh Hằng Sống từ trời xuống " :

TIN MỪNG : Ga 6, 41 - 52

I. Ý CHÍNH : 

Bài Tin Mừng hôm nay tiếp nối bài Tin Mừng Chúa nhật trước và là phần thứ hai của bài giảng về Bánh Hằng Sống . Trong phần này Chúa Giêsu nói đến việc Người ban Mình làm Bánh Hằng Sống và kêu gọi người ta ăn Bánh đó .

II. SUY NIỆM : 

1/ " Những người Do thái kêu trách Chúa Giêsu " : 

Người Do thái kêu trách Chúa Giêsu vì Người tự xưng " là Bánh Hằng Sống bởi trời mà xuống" đang khi họ biết rõ tông tích, quê quán Người và biết cả cha mẹ Người nữa . Vì thế họ cho điều Người nói là khó tin .

Trong sa mạc Sinai, suốt cuộc xuất hành, dân Do thái đã bày tỏ nghi ngờ đối với Môisen qua nhiều lời kêu ca than vãn, đã từ chối không tin vào sứ mệnh thần linh của ông và việc ông có khả năng đảm bảo cho họ bánh cùng nước trong sa mạc ( Xh 16, 2 - 3 ; 17 - 3 ) . Như tổ tiên mình, người Do thái hôm nay qua những lời kêu trách, cũng đã bày tỏ sự bất tín như thế đối với nguồn gốc thần linh của Chúa Giêsu .

2 / " Cá ngươi chớ thì thầm với nhau " : 

Chúa Giêsu biết dân chúng đang bàn tán về lời Người nói chỉ vì họ đang gò bó trong quan niệm họ hỏi về Người, nên Người muốn hướng tâm trí họ về những điều kiện phải có để đến cùng Người .

3 / " Không ai đến được với Ta nếu Cha là Đấng sai Ta không lôi kéo kẻ ấy "

Ở đây Chúa Giêsu muốn tuyên bố một nguyên tắc :

Sự tín nhiệm Chúa Kitô là một ơn do Thiên Chúa ban .

* " Ta sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết " : chính Người sẽ bảo đảm cho xác nhũng kẻ tin nhận Người được sống lại trong ngày cánh chung .

4 / " Mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy bảo " : 

Chúa Giêsu trích dẫn lời tiên tri Isaia ( 54, 15 ) và Giêrêmia ( 31, 33 - 34 ) để tránh sự hiểu lầm ý Người và cho rằng người Do thái bị loại, đồng thời đã nhấn mạnh " Mọi người" có nghĩa là cả người Do thái nữa, đều được Thiên Chúa dạy bảo . Sở dĩ người Do thái không tin Người, chỉ vì họ không nghe thôi . Điều này có ý nói : trong việc cứu rỗi linh hồn, không nguyên chỉ có ơn Chúa, nhưng còn phải có sự cộng tác của con người nữa mới thành công . Thật đúng như lời thánh Augustinô : " Dựng nên con, Chúa không cần đến con . Nhưng muốn cứu rỗi con, Chúa cần đến con " .

5 / " Ai nghe giáo hóa của Cha thì đến với Ta " : 

Điều này có ý nhấn mạnh đến vai trò cộng tác với ơn Chúa bằng sự vâng phục của người muốn đón nhận Chúa Giêsu .

Tuy mọi người đều được Chúa kêu gọi, xong để có hiệu quả, lời kêu gọi này phải được nhận lãnh, vì nếu Chúa kêu gọi mà con người từ chối thì sự kêu gọi đó cũng trở lên vô ích . Vì thế mỗi người phải có thiện trí tối thiểu để đón nhận giáo huấn của Chúa Cha .

6 / " Không ai đã xem thấy Cha trừ Đấng bởi Thiên Chúa mà ra " : 

Ở đây muốn nói : xem thấy Chúa Cha thực sự chỉ có Đấng từ Cha mà đến . Đấng ấy chính là Chúa Giêsu vì Người được Chúa Cha sai đến ... vì vậy " Việc nghe lời giáo huấn của Cha " không phải nghe bằng tai hay xem bằng mắt vì chẳng ai xem thấy Cha hay nói cách khác Cha không giáo huấn bên ngoài bằng tiếng nói, nhưng bằng sự thúc đẩy trong lòng trong tâm hồn, nghĩa là bằng ơn thuần tuý nội tâm . Vì vậy tuy không được xem thấy Cha, nhưng cũng nghe được giáo huấn của Cha trong nội tâm .

Ở đây cũng diễn tả Chúa Giêsu bộc lộ nguồn gốc thần linh của Người cách kín đáo vì Người từ Cha mà ra .

7 / " Ai tin vào Ta thì có sự sống đời đời " : 

Ai tin Chúa Giêsu do ơn thúc đẩy của Chúa Cha trong tâm hồn, thì kể như đã thuộc về Chúa Giêsu rồi, chính Người sẽ ban cho họ sự sống đời đời . Đây là trường hợp của những người tuy chưa được rửa tội bằng nước nhưng đã được rửa tội bằng lửa và bằng lòng muốn rồi .

8 / " Ta là bánh ban sự sống " : 

Chúa Giêsu tự xưng là bánh ban sự sống vì Người giữ cho sống những ai ăn lấy Người . Ta ăn lấy Chúa Giêsu bằng tin vào Người ( Ga 6, 35, 36, 40, 47 ) và ta cũng ăn Người qua Thánh Thể ( Ga 6, 51 ) .

Thánh Inhaxiô đã hiểu lời này khi ngài viết về Thánh Thể : " Bánh này là một linh dược ban bất tử tính, một thuốc giải độc để khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời trong Đức Kitô" ( Ep 20, 2 ) .

9 / " Cha ông các ngươi đã ăn Manna trong sa mạc và đã chết " : 

Chính Chúa Giêsu tự xưng là bánh ban sự sống, khác hẳn với Manna, vì Manna có tăng bổ sinh lực thể lý, nhưng không đem vào trong thân xác mầm sống bất tử : vì tự nó đã chẳng ban cho quyền phục sinh, nên người Do thái trong sa mạc đã chết vì tội lỗi của họ .

10 / " Đây là bánh bởi trời xuống để ai ăn bánh thì khỏi chết " : 

Ngược lại, khi đến và cư ngụ trong kẻ tin như lương thực thiêng liêng, Chúa Giêsu bồi bổ và không ngừng phát triển trong người ấy sinh lực thiêng liêng vốn giúp họ tránh được sự chết do tội lỗi và làm mầm mống bất tử cho thân xác họ ( Vì xác loài người ngày sau sẽ sống lại ) .

11 / " Ta là Bánh Hằng Sống từ trời xuống, ai ăn bánh này sẽ sống đời đời " : 

Bánh Hằng Sống : Đây là cách ám chỉ một con người sống, vì bánh tự nó không bao giờ có sự sống . Chúa Giêsu tự xưng là Bánh Hằng Sống vì Người là Thiên Chúa hằng sống ( Mt 16, 16 ; 26, 63 ) . Là Đấng phục sinh luôn sống mãi ( Dt 7, 23 ; Rm 6, 9 - 10 ) vì thế chúng ta được lôi kéo đến cùng Người thì được thông phần vào Mầu nhiệm của Người và cuối cùng được dẫn đến sự sống phục sinh vinh quang ( Ga 6, 39 ; 40, 44 ) .

12 / " Bánh Ta sẽ ban chính là Thịt Ta, để cho thế gian được sống " : 

đến đây Chúa Giêsu tự mạc khải Người sẽ tự trở nên Bánh Hằng Sống khi ban Thịt mình để nuôi thế gian . Ở đây Chúa Giêsu có ý muốn hướng đến giá trị sự sống qua cái chết của Người trên thánh giá . Vì ở đây thánh Gioan dùng danh từ " Thịt " để ám chỉ một con người đang sống, có nghĩa là cái chết của Chúa Kitô trên thánh giá vì Thánh Thể thực sự là của nuôi phát sinh sự sống đời đời .

III. ÁP DỤNG : 

A / Áp dụng theo Tin Mừng : 

Qua bài Tin Mừng hôm nay Giáo Hội muốn dạy chúng ta về giá trị cao cả của sự sống bí tích Thánh Thể mà Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta để nhờ đó chúng ta biết đem lòng kính trọng, thờ lạy, cảm mến và tha thiết với bí tích Thánh Thể trong đời sống hằng ngày .

B / Áp dụng thực hành : 

1 / Nhìn vào Chúa Giêsu : 

a) Xem việc Người làm : 

+ Các ngươi chớ thì thầm với nhau : Chúa Giêsu đã tỏ ra bình tĩnh, Người thông cảm và khoan dung đối với thái độ kêu trách của đám dân chúng . Người đã hướng họ đến một giá trị cao hơn việc họ đang làm, tức là hướng họ tìm đến với Người . Chúng ta noi gương Chúa Giêsu biết giữ bình tĩnh trong sự thông cảm và quảng đại đối với những thái độ kêu trách, chống đối của người chung quanh khi họ chưa hiểu việc ta làm . Khi đó ta lấy tình huynh đệ để hướng họ đến một giá trị cao hơn việc họ đang làm, tức là hướng họ đến sự thật của sự việc để giải thoát họ khỏi tình trạng chống đối đó .

+ Chúa đã hiến ban Thịt mình cho thế gian được sống . Chúng ta hãy quảng đại hiến ban chính cuộc sống cũng như tài năng, sức khoẻ, bổn phận, vật chất ... để tạo nên sự nhẹ nhàng, thoải mái, niềm vui và hạnh phúc ... cho những người chung quanh .

b / Nghe lời Người nói : 

+ Không ai đến được với Ta nếu Cha là Đấng sai Ta không lôi kéo kẻ ấy : lời này giúp chúng ta thực hành :

* Muốn trở lại với Chúa cần phải có ơn Chúa vì thế việc tông đồ cần kèm theo việc cầu nguyện hy sinh và hãm mình đón nhận ơn Chúa .

* Không một ai có quyền tự phụ vì đã làm cho một người trở lại . Việc trở lại hoàn toàn trong quyền của Chúa . Nếu ta có góp phần vào việc trở lại thì cũng phải thưa với Chúa " Tôi là đầy tớ vô dụng " .

* Trong việc tông đồ truyền giáo, những phương tiện tự nhiên có giá trị tác dụng : khơi dạy mời gọi, chứ không phải là động lực chính để làm cho người ta trở lại . Động lực chính là ơn Chúa vì thế cần thiết của việc tông đồ là việc siêu nhiên như cầu nguyện, hy sinh hãm mình hơn là những phương tiện tự nhiên bên ngoài .

+ Ta là Bánh Hằng Sống từ trời xuống : xác quyết này đã gây ra sự kêu trách của đám dân chúng vì họ không tin vào Chúa Giêsu . Chúng ta đã tin vào Chúa Giêsu nhưng đức tin của chúng ta có sự sống khi chúng ta có thái độ thờ ơ nguội lạnh với phép Thánh Thể, nhưng là sốt sắng, yêu mến và tha thiết vì tin phép Thánh Thể là nguồn ban sinh lực sự sống đời đời cho ta .

2 / Nhìn vào đám dân chúng : 


Người Do thái kêu trách Chúa Giêsu họ kêu trách vì họ không tin vào Chúa, vào nguồn gốc thần linh của Chúa . Chúng ta tỏ ra khô khan nguội lạnh, không tha thiết với Chúa chỉ vì chúng ta đã không nuôi dưỡng đức tin bằng sự cầu nguyện, và bằng đời sống chứng nhân gương mẫu .


Lm Giuse Maria Lê Quốc Thăng - Bài Giảng Lễ

 
Tôi là bánh ban sự sống

Cũng như trong việc chữa lành người bất toại ở chương 5 của Tin mừng Gioan, sang chương 6, Đức Giêsu lấy sáng kiến nuôi đám đông (6,4-13). Và đám đông nhìn nhận việc nhân bánh ra lạ lùng là dấu chứng tỏ Đức Giêsu là vị ngôn sứ và vua của thời cánh chung mà dân con Israen hằng mong đợi (6,14-15). Kế đó, việc Đức Giêsu trên mặt biển sôi sục (6,16-19) và lời "Thầy đây" để trấn an nhưng mang tính mạc khải cho các môn đệ đang sợ hãi (6,20 ; x. Xh 3,14) cho thấy thần tính của Người. Bài diễn từ kế đó cũng tập trung vào bản thân Đức Kitô (6,22-59). Đức Giêsu tỏ ra chính Người là "bánh ban sự sống" (6,35.48), là mạc khải của Thiên Chúa nhằm ban sự sống cho loài người, là bánh ban sự sống do Thiên Chúa Cha ban từ trời cho họ (6,32-33). Để được thứ bánh ban sự sống vĩnh cửu này, người ta phải tin vào Đức Giêsu, là Đấng Chúa Cha sai phái (6,29.35.40.47), và ăn thịt cùng uống máu Người (6,53.54.57.58).

I. Khám phá sứ điệp Tin Mừng : Ga 6,41-51

1. Người Do Thái xầm xì (41-42)


Trong sa mạc Sinai, con cái Israen đã xầm xì để bày tỏ sự ngờ vực đối với Môsê : họ không tin vào sứ mạng của ông là do Thiên Chúa trao và khả năng của ông là cung cấp bánh và nước cho họ (Xh 16,2-3 ; 17,3). Vẫn đi theo chiều hướng của tổ tiên, người Do Thái hôm nay xầm xì để nói lên sự hoài nghi của họ về tư cách và khả năng của Đức Giêsu. 

Họ nhắc lại hai khẳng định của Đức Giêsu (c. 41) : Người là bánh và Người từ trời xuống ; đặc biệt họ nhấn mạnh tới điểm thứ hai. "Cái ông này" (giọng khinh thường), ta biết rõ gốc gác, thế mà ông ta lại cho rằng mình có một sứ mạng và một xuất xứ thần linh (x. 7,27) ! Quả thật, theo niềm tin dân gian Do Thái, Đấng Mêsia phải xuất hiện thình lình, mà không ai biết Người từ đâu đến. Dựa trên niềm tin này, người Do Thái nghĩ rằng họ hoàn toàn có cơ sở để bác bỏ các khẳng định của Đức Giêsu.

2. Đức Giêsu kêu gọi tin vào Người (43-47)

Đức Giêsu liền can thiệp, nhưng Người không bao giờ trả lời câu hỏi về nguồn gốc của Người trên bình diện nhân loại. Đứng tại quan điểm thần học, Người cho biết "Chẳng ai đến với Tôi được, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai Tôi, không lôi kéo người ấy" (c. 44). Người được Thiên Chúa sai đến (c. 44) và Người đến từ Thiên Chúa (c. 46), do đó Người có thể cho rằng Người từ trời xuống. Nếu người Do Thái thôi xầm xì, và để cho lòng họ mở ra với hoạt động của Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lôi kéo họ đến với Đức Giêsu. Đây chính là lúc lời ngôn sứ Isaia (54,13) được thể hiện : "Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ". Việc dạy dỗ này có một phương diện bề ngoài, theo nghĩa là nó được cụ-thể-hóa bởi chính Đức Giêsu đang đi lại giữa họ, và có một phương diện bên trong, theo nghĩa là Thiên Chúa hành động trong tim họ. Điều này cũng ứng nghiệm lời ngôn sứ Giêrêmia (31,33). Sự thôi thúc bên trong này do bởi Chúa Cha sẽ làm cho họ có khả năng tin vào Người Con và như thế có sự sống đời đời.

3. Đức Giêsu mời gọi đón nhận Người là bánh trường sinh (48-50)

Các câu 48-50 là một đoạn theo cách hành văn đóng khung, vì các câu này nhắc lại phần mở của Bài diễn từ : c. 48 cùng với c. 35 làm thành một câu đóng khung ; cc. 49-50 nhắc lại các đề tài của cc. 31-33. Đám đông đã nêu ra cho Đức Giêsu gương của các tổ tiên họ đã ăn manna trong sa mạc, nhưng Đức Giêsu cho thấy rằng việc này đã không cứu được các tổ tiên họ khỏi chết. Kế đó, Người lại nhắc lại ý câu trích Kinh thánh ở c. 31 ("Người đã cho họ ăn bánh bởi Trời"), Người nói rằng bánh đến thật sự từ trời là một thứ bánh không để cho người ta phải chết.

4. Bánh trường sinh chính là thịt Đức Giêsu (51) 

Sau đó Đức Giêsu chuyển sang một đề tài mới : bây giờ vấn đề không còn phải là tin vào Người để được sống đời đời nữa, mà là ăn thịt và uống máu Người (cc. 51.54). Lâu nay các học giả vẫn coi đây là một gợi ý về Bí tích Thánh thể, nhưng ta có thể thấy nghĩa gần là Đức Giêsu nêu bật giá trị của cái chết của Người trên thập giá. Bởi vì chính là trong tư cách Con Người mà Đức Giêsu ban sự sống đời đời và Người lại trở thành Con Người đúng vào lúc cuối đời, vào Giờ của Người. Chính vì nhắm nối dài gợi ý về cái chết trên thập giá, tác giả dùng từ "thịt" (sarx), thay vì dùng từ "thân thể" (sôma). Bởi vì ý nghĩa căn bản và cũng là từ gốc của "thịt" mà Con Người sẽ ban không phải là Bí tích Thánh thể mà là ân ban "chính mình" trong cái chết trên thập giá. Vậy tại Caphácnaum, khi nói đến "thịt để cho thế gian được sống", là Đức Giêsu muốn nói là "bản thân Người (chịu sát tế) để cho thế gian được sống".

II. Chiêm ngắm Chúa Giêsu :

Điều mà không một thứ bánh nào có thể cung cấp và không một lời hứa nào của con người có thể đạt tới, cho dù có xác tín đến đâu, Đức Giêsu có thể ban tặng. Người mạnh hơn cái chết và Người muốn đưa chúng ta đi qua bên kia cái chết. Phần chúng ta, điều này có nghĩa là chúng ta phải chạy đến với Người để có sự sống đời đời, cũng như chúng ta vẫn chạy đến với bánh trần thế, để có sự sống trần thế. Nhưng điều này cũng có nghĩa là các biên giới của cái chết đã bị đánh đổ. Cũng như trong bánh, chúng ta tìm được phương thế để tránh thoát cái chết và tiếp tục ở lại trong sự sống trần thế, thì cũng thế Đức Giêsu giúp chúng ta thắng vượt sự chết và đi vào sự sống vĩnh cửu. Vì bánh giữ cho tôi sống, tôi phải ăn bánh, chứ không chỉ nói suông về bánh ; vì Đức Giêsu là bánh ban sự sống vĩnh cửu, tôi phải đón nhận Người, tin vào Người và "ăn thịt" của Người, chứ không chỉ bằng lòng với việc biết điều gì đó về Người hoặc nói về Người, dù sâu sắc.

III. Gợi ý bài giảng :

1. Đức Giêsu là bánh trường sinh. 

Đức Giêsu đã thật sự cho đám đông được ăn no ; nhưng biến cố này không có ý nghĩa tự nó, nó quy về một thực tại khác. Sự kiện Đức Giêsu có thể ban bánh và cho no thỏa về phương diện trần thế phải chứng minh rằng Người chính là bánh ban sự sống đời đời. Ở bên Người, chúng ta không được tìm cơm bánh vật chất ; trái lại chúng ta phải nhận biết Người có thể và Người muốn ban cho chúng ta điều vô cùng to lớn hơn. Điều mà chúng ta đang tìm kiếm nơi Đức Giêsu và chúng ta phải nhận được từ nơi Người, có thể được tóm trong câu này : "Chính Tôi là bánh trường sinh. Ai đến với Tôi, không hề phải đói ; ai tin vào Tôi, chẳng khát bao giờ" (Ga 6,35 ; x. 6,48.51). Chúng ta lệ thuộc cơm bánh, để đảm bảo được sự sống của chúng ta. Không có sức lực đến từ cơm bánh, chúng ta không thể sống và làm được gì. Điều này không tùy thuộc ý chí chúng ta ; nó là như thế. Do bản tính tự nhiên, chúng ta phải nhờ cơm bánh. Có cơm bánh, cũng có khả năng của cơm bánh là duy trì sự sống cho chúng ta. Nhưng đây chỉ là một khả năng giới hạn, vì cuối cùng chúng ta vẫn phải chết. Với công thức "Tôi là bánh hằng sống", Đức Giêsu khẳng định rằng tương quan giữa bản thân Người với loài người cũng cùng một kiểu như tương quan giữa bánh và chúng ta. Đích thân Người, với tất cả những gì thuộc về Người, có thể ban cho chúng ta những gì bánh đưa lại cho chúng ta, nhưng không chỉ nhằm sự sống giới hạn, mà là sự sống vĩnh cửu vô biên.

2. Đức Giêsu là hiện thân của Thiên Chúa. 

Đức Giêsu đã ra sức soi sáng chúng ta và quy hướng sự chú ý của chúng ta vào ân ban cốt yếu của Người. Lương thực ban cho đám đông chỉ là một dấu chỉ. Chúng ta coi thường dấu chỉ này, nếu chúng ta dừng lại với các mối quan tâm tức thời và chờ đợi Người ban cho cơm bánh và sức khỏe ; thật ra Người muốn ban nhiều hơn thế nữa. Khi nói "Tôi là bánh hằng sống", Đức Giêsu đặt mình vào trong mạc khải của Thiên Chúa mà Môsê đã được thông dự vào khi được Thiên Chúa kêu gọi. Vào dịp đó, Thiên Chúa đã mạc khải tên của Ngài : "Ta là Đấng Ta là" (Xh 3,14). Thiên Chúa được xác định chủ yếu bằng sự kiện là Ngài hiện diện vì dân Ngài. Khi tự giới thiệu mình như thế, Đức Giêsu nói rằng Thiên Chúa đang hiện diện nơi Người vì loài người và quan tâm đến chúng ta, đến đời sống chúng ta. Đức Giêsu hiện thân là hình thái mới và vĩnh viễn của sự hiện diện đầy uy lực và năng động của Thiên Chúa, không chỉ nhắm ban sự che chở và hướng dẫn, mà còn nhắm có sự hiệp thông riêng tư về sự sống. Đức Giêsu không chỉ muốn ban bánh, mà còn ban sự hiệp thông vĩnh cửu riêng tư về sự sống với Thiên Chúa. 

3. Đức Giêsu là Đấng tôi tin thờ.

Dây liên kết duy nhất đích thật với Đức Kitô là tin vào Người. Tôi tin vào Người khi tôi ký thác tất cả lòng trí tôi nơi Người, xác tín vào lời Người nói, xây dựng mọi sự dựa trên Người, nhắm mọi sự theo Người, liên kết đời tôi vào Người. Đức tin không phải là một xác tín về trí thức và một đoan chắc rằng một lời khẳng định hay một sự kiện nào đó là thật ; đức tin là một thái độ chắc chắn và tin tưởng tỏ ra với Đức Giêsu, với ý thức trọn vẹn rằng Người là ai và với sự nhận biết đầy đủ về chân tính của Người. Đức tin là tương quan và dây liên kết người với người. Niềm tin vào Đức Giêsu đưa lại sự sống đời đời (6,47). 

IV. Lời cầu chung : 

Mở đầu : Anh chị em thân mến, Đức Giêsu đã đến với chúng ta như là bánh ban sự sống, để cứu độ chúng ta và tất cả mọi người. Chúng ta hãy tin tưởng vào Người và dâng lời cầu nguyện.

1. "Ai tin thì được sự sống đời đời". Chúng ta cùng cầu nguyện, để Chúa Giêsu gia tăng đức tin cho chúng ta và giúp chúng ta trung thành với ý muốn của Người.

2. "Đừng bao giờ chua cay gắt gỏng, nóng nảy giận hờn". Chúng ta cùng cầu nguyện để mỗi Kitô hữu được giải thoát khỏi tính ích kỷ và học biết hiến mình cho kẻ khác, nhờ đó diễn lại hình ảnh của Chúa Kitô.

3. "Phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau". Chúng ta cùng cầu nguyện cho Họi thánh toàn cầu và cộng đoàn chúng ta, để tất cả mọi người biết thắng vượt các khoảnh khắc nản lòng thất vọng và các khó khăn hằng ngày, và kiên trì trong sứ mạng canh tân thế giới với một tình yêu quảng đại và vô vị lợi.

Lời kết : Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con biết đón nhận chính Chúa vào lòng, để khi đã có Chúa làm lương thực và Đấng dẫn đường, chúng con có thể vững vàng tiến đi theo thánh ý của Chúa Cha, là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen. 


HTMV Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn