Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XIX Thường Niên C

Tin mừng Lc 12: 35-40 Để đón chủ về có cần đem tất cả gia nhân ra đón không? Chủ nhân phải chăng là một nhân vật quan trọng?
CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN C

 
Kn 18,6-9; Dt 11,1-19; Lc 12: 32-46
 
Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải
 
BÁN HẾT CỦA CẢI VÀ LÀM PHÚC BỐ THÍ
 
SẴN SÀNG ĐỢI CHỦ VỀ (Lc 12: 32-48)

 
1. Trong dụ ngôn người đày tớ tỉnh thức, nếu để sang một bên c.37b người ta sẽ có một câu chuyện thuần nhất. Quá nửa đêm chủ trở về nhà. Nhưng ở đây, không phải chỉ mình ông gác cổng thức nhưng mọi đầy tớ đều đợi chủ mình. Họ đứng trong sân, giữa cửa lớn bên ngoài nhà. Họ phải vén áo lên để mở cửa cho nhanh khi chũ gõ và còn cầm đèn để dọi lối đi cho chủ. Chắc chắn chủ không đòi hỏi, nhưng những điều ấy nói lên sự kính trọng và lòng tận tụy yêu mến. Và chủ nhận biết lòng trung thành và sẽ tưởng thưởng.
 
Nhưng một chi tiết của dụ ngôn đã làm người ta chú ý và quay về lối chú giải ẩn dụ (interprétation). Để đón chủ về có cần đem tất cả gia nhân ra đón không? Chủ nhân phải chăng là một nhân vật quan trọng? Dù là một nhân vật lớn, chỉ cần một vài tha nhân phục vụ không đủ sao? Người ta sẽ nghĩ gì về ông chủ đòi một toán đầy tớ phải có mặt ở đó, áo quần chỉnh tề, khi ông về chỉ để mở cửa cho ông? (dụ ngôn tương tự với Mc 13,33-37 nhưng chỉ có một người gác cổng thôi).
 
Chỉ có một giải pháp cho vấn nạn ấy: dụ ngôn đi quá thực tại. Bức tranh mà dụ ngôn đưa ra không phải là một trang sử, đó chỉ là một ẩn dụ một cảnh trong thế giới bên kia. Mọi tôi tớ đều phải có mặt lúc chủ về, vì mọi Kitô hữu, mọi người, đều được triệu tập một cách công khai khi Con Người quang lâm.
 
Nhưng câu 37b còn đi xa hơn: "Quả thật, tôi nói cho các ông, chủ sẽ thắt lưng, đặt họ ngồi bàn tiệc và đi lại hầu hạ họ". Câu này không phải là một diễn từ bằng ngụ ngôn, không dựa trên một sự kiện có thực, nhưng trên sự kiện có thể xảy ra. Đàng khác CGS mô tả ông chủ, dù là người công bình, đã cư xử thế nào với tôi tớ mình trong cuộc sống thường ngày: "Ai trong các anh, có tên đày tớ cày ruộng về mà nói với nó rằng: mau lại đây ngồi xuống dùng bữa đi?" (Lc 17,7-8). Ở đây ông chủ làm trái lại: mời các gia nhân ngồi bàn và chính ông phục dịch họ. Hình ảnh thật là mâu thuẫn, nó phát sinh từ một văn mạch riêng và không ăn khớp gì với dụ ngôn cả. Nó là một câu trong phần tuyển tập các lời CGS nói để mạc khải mầu nhiệm đời Ngài, mầu nhiệm sẽ được biểu lộ trong cái chết của Ngài.
 
Lc đã đặt câu sau đây trong khung cảnh bữa tiệc ly để soi sáng ý nghĩa bữa tiệc ly: "Ai là người lớn nhất: người ngồi bàn hay kẻ hầu hạ? Phải chăng là người ngồi bàn? Nhưng tôi, tôi ở giữa các anh như là người hầu hạ" (Lc 22,27). Trong những câu CGS nói mà Lc đã ghi lại, câu CGS nói hầu hạ các tông đồ, đi trước câu Ngài đi hứa cho các môn đệ được ăn uống nơi bàn tiệc Ngài, khi Nước TC đến và vương quốc thiên sai được thành lập (22,30; 22,18). Đó là cách trình bày bữa tiệc cánh chung (Mt 8,11) được cụ thể hóa trong bàn tiệc mà Chúa vinh hiển sẽ cùng ăn với các gia nhân Ngài.
 
Từ những yếu tố đó, hình thức và ý nghĩa lời nói trong dụ ngôn sẽ dễ hiểu hơn. Ông chủ trở về nhà, cho các gia nhân ngồi bàn và sẽ phục vụ họ. Dĩ nhiên, diễn tiến câu chuyện lại trục trặc vì câu ấy. Chủ nhà đã ăn tiệc; lại tổ chức một bữa tiệc khác vào nửa đêm, như vậy thật là thiếu mạch lạc. Nhưng những điều đó không trở ngại gì, vì câu chuyện đã trong hiểu theo lối ẩn dụ; và hướng đến các giá trị thiêng liêng.
 
2. Các nhà chú giải hơi lúng túng, khi cắt nghĩa chi tiết dụ ngôn người ăn trộm (c.39-40). Một vài tác giả (Jéremias, Dodd, BJ) có một vài vụ trộm cắp xảy ra mới đây mà cả làng còn nói đến, và CGS dùng biến cố hấp dẫn ấy để dạy cử tọa về tai họa ghê gớm (quang lâm) sắp đến. Lối chú giải ấy dựa trên một động từ ở thì conditionnelle irréelle. Ý nghĩa dụ ngôn bấy giờ sẽ là: nếu chủ nhà biết..., ông đã không để trộm vào nhà. Điều kiện không thực ấy (cette condition irréelle) giả thiết rằng, chủ nhà thực sự không biết nhà mình sẽ bị trộm và như thế ông không phòng gì cả. Nhưng cách chú giải ấy liền vấp phải câu kết sau: "Các anh cũng vậy, các anh hãy sẵn sàng..." Người ta không hiểu tại sao câu hết này áp dụng cho dụ ngôn vì câu này giả thiết chủ nhà đã không tỉnh thức.
 
Một lối chú giải khác cho rằng dụ ngôn cũng như lời tuyên bố một luật chung nào đó, bao trùm cả hiện tại lẫn tương lai. Nếu chủ nhà biết...ông sẽ tỉnh thức. Nhưng kiểu chú giải kia vẫn làm cho dụ ngôn không thể tránh khỏi khó khăn mà câu kết nêu lên. Cả các môn đệ, họ cũng không biết khi nào Con Người đến. Nhưng trái với chủ nhà là không tỉnh thức, vì ông biết giờ nào kẻ trộm có thể đến, còn các môn đệ lại phải tỉnh thức. Đây là điểm gợi ý để giải đáp các khó khăn trên: không những chủ nhà không biết giờ nào kẻ trộm có thể đến, nhưng ông cũng không biết kẻ trộm có đến không? Chính vì điều đó mà lập trường các môn đệ khác nhau. Nếu họ không biết thời gian đích xác Con Người đến, thì ít nhất là ngay bây giờ họ xác tín là Ngài sẽ đến. Vì các môn đệ biết, nên phải tỉnh thức (hình như đó là ý nghĩa của "cả cho các anh nữa" cũng như ông chủ nhà sẽ thức, nếu ông biết, thì các anh, các anh phải tỉnh thức, vì các anh đã biết). Nhưng phải thú nhận rằng lối chú giải này gây phiền phức cho bản văn lắm, bản văn nhấn mạnh lúc kẻ trộm đến (hay là quang lâm) hơn là sự bất ngờ. Vì chưa có một lối chú giải nào hay hơn, nên tạm thời tôi chấp nhận lối chú giải này.
 
Nhưng có một điều chắc chắn là khi nghe dụ ngôn, đừng ẩn dụ hóa câu chuyện. Tên trộm là lối ẩn dụ không mấy xứng hợp với TC. Vì thế dụ ngôn không ví TC như là người ăn trộm, nhưng so sánh sự xuất hiện ấy đều bất ngờ, đó là điểm tương tự duy nhất giữa hai người.
 
Dụ ngôn thứ 3 là dụ ngôn về người quản lý trung thành và người quản lý bất trung (c.42-48), dĩ nhiên trong thực tế, người đày tớ ấy không thể vừa trung thành, nhận phần thưởng làm quản lý tất cả tài sản của chủ, rồi liền sau đó được coi như một đày tớ bất trung và chịu hình phạt. Vậy có hai bức tranh khác nhau, nhưng liên hệ với nhau rất đậm đà nên nhà dụ ngôn chỉ nói đến một tên đầy tớ thôi.
 
Trong trường hợp thứ nhất, những hình ảnh không đi ra ngoài bình diện tự nhiên. Người đầy tớ trung toàn bổn phận mình đối với đồng bạn và nhận nơi chủ một chức vụ cao cả hơn ở trần gian này.
 
Trường hợp thứ hai, nhà dụ ngôn đem chúng ta đi quá bình diện tự nhiên. Tên đầy tớ thất thường bị truất phế và bị xếp hàng "bất trung" "không tin".
 
Chúng ta đang đứng trước một dụ ngôn giải ca (casuistique) trình bày một nhân vật tưởng tượng, có thể đặt trong trường hợp này hoặc trường hợp kia và có thể gánh lấy họa phúc này hay họa phúc kia.
 
Dụ ngôn dạy ta một bài học rõ ràng; do vấn nạn CGS đặt ra (c.41), dĩ nhiên mọi dụ ngôn đều có tính cách ẩn dụ (allégorique), và áp dụng cách chính xác cho các vị thủ lãnh cộng đoàn Kitô hữu. Môn đệ coi sóc các linh hồn và TC thình lình đến mà thấy ông kiện toàn bổn phận của mình, thì sẽ được trọng thưởng. Kẻ nào có nhiệm vụ chăm sóc các linh hồn, mà lợi dụng quyền thế và trác táng, quên mất sự phán xét của TC có thể đến cách bất chợt, sẽ bị bắt quả tang và đày xuống hỏa ngục.
 
KẾT LUẬN
 
Thái độ căn bản của người Kitô hữu khi đợi TC đến vào giờ cuối cùng (thời cuối cùng có thể đến thình lình vào bất cứ giờ nào trong ngày hay đêm) là phải tỉnh thức và trung thành. Người mà TC thấy trong thái độ ấy sẽ được trọng thưởng, bằng không sẽ bị phạt. Số phận đời đời của ta đã định sẵn do quyết định của ta rồi: chúng ta là những người đày tớ biết tỉnh thức hay là những tên quản lý trung thành?
 
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
 
1. Con tim của con người thường gắn liền với những cái họ liều lĩnh. Ai sống cho TC thì gắn liền với TC; ai từ chối nhiều sự vì Nước TC thì sẽ được nước ấy. Kẻ nào có kho tàng và của cải trên trời, thì con tim và mọi ước muốn đều hướng về trời. Kẻ nào tạo dựng kho tàng trên trời bằng cách bố thí, Nước TC sẽ ở trong cuộc đời của họ.
 
2. Nghi thức cột áo của người Do thái trong lễ vượt qua (Xac 12,11), phù hợp với quan niệm Thánh kinh nói về sự cứu rỗi mà TC đã thực hiện: TC khởi xướng công cuộc cứu độ, nhưng luôn đòi con người tiếp tục, vì sự cứu độ là làm con người trở nên khác và sống điều TC dạy. CGS cũng lưu tâm đến trực giác căn bản này: Ngài bảo ban đêm cũng phải bận y phục như ban ngày, nghĩa là tươm tất, sẵn sàng hoạt động, đèn thắp sáng để thấy rõ. Bóng tối bao trùm các người khác và họ ngủ mê. Còn chúng ta là môn đệ Ngài, phải luôn tỉnh thức. Ánh sáng đã được thắp lên, chúng ta phải giữ nó để sống trong những giờ đen tối nhất của cuộc đời chúng ta.
 
3. Thi hành xong sứ mệnh, CGS ra đi, để chúng ta sống tự do. Ngài từ chối đánh thức ta dậy, Ngài để chúng ta lãnh lấy trách nhiệm. Ngài gây niềm tin cho ta. Chúng ta không được ngã lòng, không được ngã lòng, không được đánh lừa chính mình. Vì Ngài sẽ đến, nên chúng ta phải luôn sẵn sàng mở cửa khi Ngài gõ.
 
4. Dĩ nhiên việc Đức Kitô trở lại phù hợp với việc phán xét cuối cùng của chúng ta và của toàn thể nhân loại, nhưng cũng phù hợp với mỗi một giây phút của cuộc sống chúng ta, cuộc sống ấy sẽ cho thấy chúng ta trung thành hay bất tín, trưởng thành hay còn ấu trĩ đối với TC cũng như đối với chính mình. Thánh Phaolô mô tả ở thì hiện tại: "người ta gieo gì thì gặt nấy" (Gal 6,7), và CGS còn khẳng định ở chỗ khác: "Mọi cây tốt thì sinh trái tốt, còn cây xấu thì sinh trái xấu" (Mt 7,17-18). Khi Đức Kitô trở lại là để mỗi người chúng ta cụ thể hóa chân lý đó. Hãy hiểu rằng chúng ta không bao giờ biết giờ Ngài trở lại: chính chúng ta không được quyền xét xử chúng ta, việc tốt cũng như việc xấu (1Cor 4,3-5) và chỉ mình TC mới có quyền phán xét. Chúng ta chỉ có thể làm việc này là trung thành vô điều kiện trong việc tỉnh thức, chu toàn những trách nhiệm của người đày tớ.
 
5. Nếu Đức Kitô cho chúng ta dấn thân trong việc phục vụ Ngài, không phải là biến chúng ta trở nên những tên nô lệ. Trái lại khi đảo lộn các mưu đồ và giai cấp của chúng ta, Ngài đã trở nên người đầu tiên phục vụ chúng ta. "Tôi ở giữa các anh như là người phục dịch" (Lc 22,27). Sau khi mạc khải sự cao cả hay hạnh phúc của việc phục vụ, người ta không ngạc nhiên vào giờ Ngài trở lại, vì Ngài thật là Chúa và Chủ (Gio 13,14), Ngài thắt lưng và phục dịch chúng ta như đã làm trước khi thụ nạn (Gio 13,4-5). Đã phục vụ, đã được phục vụ và yêu nhau theo gương Ngài, chúng ta đạt tới phẩm giá và hạnh phúc của Ngài. Khoảng cách trước đây giữa chủ và đày tớ giờ đây đã xóa tan, vì chính Ngài đã quyết như thế: "Các anh là bạn hữu, nếu các anh đã làm những gì tôi đòi hỏi các anh. Tôi không gọi các anh là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ mình làm; tôi gọi các anh là bạn hữu, vì tất cả những gì tôi đã học biết nơi Cha tôi, tôi đã dạy lại cho các anh" (Gio 15,14-15). Thật là hạnh phúc cho chúng ta khi việc chúng ta phục vụ đưa đến tình bạn, và tình bạn đưa đến vâng lời, và vâng lời là mối thông giao trực tiếp với TC.  
 
Noel Quession - Chú Giải
 
Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng: "Hỡi đoàn chiên nhỏ bé, đừng sợ, vì Cha anh em đã vui lòng ban Nước của Người cho anh em".
 
Luca đã cân nhắc khi đặt những lời này của Đức Giêsu trong cuộc hành trình dài lên Giêrusalem mà chúng ta cùng đi theo: từ mấy Chúa nhật qua. Đức Giêsu tiến lên cái chết của Người, sự "xuất phát" của Người (Lc 9,51). Không cần phải là một thầy bói để đoán trước tương lai. Trong một số trường hợp, người ta biết rất rõ điều gì sẽ xảy ra. Đối với Đức Giêsu và các bạn hữu Người, trong những tuần lễ cuối cùng trước lễ Vượt qua, điều đó rõ ràng và đáng ngại: Người sắp đối đầu với sự thù nghịch cứng rắn và không nao núng của những vị đứng đầu tôn giáo. . .giữa sự ác cảm của quần chúng không còn chút quan tâm đến con người đã từ khước trở thành Đấng Mêsia "của họ", Đấng Mêsia công thành danh toại và chiến thắng tất cả. Cứ bề ngoài mà xét, thất bại chung cuộc đang đến gần: Một dự án thất bại, một cuộc đời thất bại.
 
Vả lại chính trong bối cảnh đó mà Đức Giêsu nói: "Hỡi đoàn chiên bé nhỏ, đừng sợ! " . Thật vậy, nhóm các môn đệ ít ỏi ấy nhỏ bé và mong manh làm sao! Đức Giêsu cố động viên họ khi gọi họ bằng từ thân ái ấy: "Đoàn chiên bé nhỏ ".
 
Nhưng từ ngữ ấy cũng là một cách diễn tả của Thánh Kinh mang một ý nghĩa thần học. "Đoàn chiên" có "chủ chiên" dẫn dắt, hình ảnh này muốn nói rằng Thiên Chúa yêu mến và bảo vệ dân được chọn của Người (St 48,15; Giêrêmia 31,10; Êdêkien 34; Isai 40 , 1 1 -49 ,9-10; Hôsê 4,16). Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tươi , Người cho tôi nằm nghỉ" (Tv22).
 
Thế là một lần nữa, chính miệng con người Giêsu Nadarét đưa ra một khẳng định đầy táo bạo: Nhóm nhỏ này, yếu ớt và nghèo khổ, không quyền thế, không văn hóa, không chỗ dựa, không có lòng can đảm là "ít-ra-en mới", dân mới của Thiên Chúa. Hỡi đoàn chiên bé nhỏ, đừng sợ!
 
Ngày nay, Đức Giêsu nói với tôi cũng lời đó, trong những lúc tôi gặp thử thách...
 
Ngày nay, Đức Giêsu nói lại điều đó với Giáo Hội hiện nay, trong những lúc Giáo Hội gặp khủng hoảng...
 
Tôi lắng nghe. Tôi lắng nghe.
 
Theo Đức Giêsu vì sao chúng ta phải xua tan sự sợ hãi? "Bởi vì Cha anh em coi việc ban cho anh em Nước của Người là điều tốt lành". Đời sống anh em có một ý nghĩa trong Thiên Chúa, cho dù vì lý do này hay lý do khác, đời sống ấy có một bề ngoài thất bại, cho dù bạn bè bỏ rơi anh em, kẻ thù đè bẹp anh em, mọi người không hiểu anh em, cho dù anh em đến phải nói rằng: Lạy Chúa con, lạy Chúa con, tại sao Chúa lại bỏ con?" Toàn bộ cuộc đời Đức Giêsu công bố rằng Thiên Chúa ban Nước của Người cho những "người nghèo khó", cho những người khốn khổ, sa cơ thất thế. Cả người làm kinh doanh đã phá sản, cả người chồng bị ly dị hoặc bị tổn thương trong tình yêu, cả gái giang hồ đã tàn phai hương sắc, cả phạm nhân bị kết án tử hình, cả người tội lỗi đã chối bỏ thầy mình, cả nhưng Người đã bỏ rơi thầy vì một lý do nào đó. . . Tất cả đều có thể vượt qua nỗi tuyệt vọng trong Đức Giêsu. Nước của Thiên Chúa không phải là một cuộc chinh phục đang thắng lợi nhưng là một ơn của Chúa Cha. Khi đổ đầy ơn ấy cho anh em Chúa Cha thấy điều đó là tốt lành.
 
"Hãy bán của cải mình đi mà bố thí. Hãy sắm lấy những túi tiền chẳng bao giờ cũ rách, một kho tàng chẳng thế hao hụt ở trên trời, nơi trộm cắp không bén mảng, mối mọt cũng không đục phá. Vì kho tàng của anh em ở đâu thì lòng anh em cũng ở đó".
 
Đây là kết luận đơn giản của tất cả những gì chúng ta vừa nghe. Chúng ta hãy nhớ lại câu chuyện ông, phú hộ mà chúng ta đã nghe Chúa nhật vừa qua. Đối với người đã đặt mọi sự an toàn trong Thiên Chúa, các "của cải trần gian" không quan trọng gì. mấy! Vậy thì, chúng ta hãy chia sẻ, hãy cho và hãy yêu thương... không đòi đáp lại, dù chịu thiệt. Bạn hãy bố thí bằng tấm lòng thời gian và tài sản của bạn. Tất cả đều là hư vô, không có gì thật trừ tình yêu?
 
Trái tim của bạn ở đâu? Bạn có yêu không? .
 
"Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn. Hãy làm như những người đợi chủ đi ăn cưới về để khi chủ vừa về tới và gõ cửa là mở ngay".
 
Tách rời khỏi những giá trị và những thành công ảo tưởng, lòng chúng ta có thể tìm thấy kho tàng của nó, xua đuổi mọi sợ hãi, trở thành sung sướng Vậy bí quyết của sự triển nở đích thực ấy là gì dù trong những hoàn cảnh bất lợi nhất? Đức Giêsu gợi ý để chúng ta quan niệm cuộc đời mình như một cuộc hẹn gặp của tình yêu: Hãy chuẩn bị lòng mình cho một Người đang đến. Thiên Chúa "đến"... Người tới gần . . . Người ở đây rồi. . .
 
Đức Giêsu đã loan báo Người sẽ trở lại vào thời sau rốt, trong ngày Quang Lâm. "Marana tha?" "Xin Chúa hãy đến? " Đối với mỗi người , cái chết không thể tránh khỏi có thể được xem như cuộc gặp gỡ mặt đối mắt" với Đấng Chí ái: "Chính vì thế mà thánh nữ Têrêxà Avila nghĩ đến giây phút cuối cùng của đời bà như lúc mà "dải lụa của cuộc gặp gỡ êm dịu ấy được tháo tung". Nhưng Thiên Chúa, dưới dải lụa: "trong bóng đêm" ẩn giấu, không ngừng đi đến . Vậy, trang Tin Mừng này nói về vô số lần Thiên Chúa đến mà chúng ta thường lỡ hẹn... bởi vì chúng ta ở chỗ khác và chúng ta không "tỉnh thức".
 
"Khi chủ về mà thấy những đầy tớ ấy đang tỉnh thức, thì thật là phúc cho họ. Thầy bảo thật anh em: Chủ sẽ thắt lưng, đưa họ vào bàn ăn, và đến bên từng người mà phục vụ. Nếu canh hai hoặc canh ba ông chủ mới về, mà còn thấy họ tỉnh thức như vậy thì thật là phúc cho họ!"
 
Thêm một mối phúc thật nữa: "Phúc cho những ai tỉnh thức" "Thật là phúc cho họ!"
 
Trái tim của chúng ta được tạo ra là vì Chúa. Làm sao chúng ta lại ngạc nhiên nếu chỉ mình Chúa, sau cùng mới có thể làm cho tim ta no thỏa? Trái tim này rất lớn! Bạn không thể chỉ làm đầy nó bằng các tình yêu trần thế. Chỗ trũng ước vọng của bạn lớn như Thiên Chúa. Hãy yêu thương! Hãy yêu thương? Bạn chớ bao giờ ngừng yêu thương? Bạn sẽ không bao giờ hết yêu thương bởi vì thanh Thiên Chúa muốn đổ đầy cho bạn. Dĩ nhiên, bạn phải sống những yêu thương nơi gian trần với sự mạnh "mẽ như' một biểu tượng và sự thực hiện ban đầu của tình yêu cao cả".
 
"Người làm chồng, hãy yêu thương vợ mình, và người làm vợ, hãy yêu thương chồng mình... Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội thánh" (Ephêsô 5,32). Hôn nhân là một "bí tích", một "dấu chỉ": Thiên Chúa đã cưới nhân loại trong Đức Giêsu Kitô. Nếu bạn có may mắn yêu thương và được yêu thương, bạn hãy sung sướng và không ngừng sống tình yêu thương của bạn "trong Chúa". Nhưng cả khi bạn có cảm tưởng làm hỏng tình yêu thương ấy; Bạn hãy đặt tình yêu thương ấy "trong Chúa". Bạn được "mời gọi đến bàn ăn của Thiên Chúa". Chính Người muốn phục vụ bạn? làm cho bạn no thỏa.. "Này đây, Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và: mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta (Khải Huyền 3,20). Có người gõ cửa! Chúng ta hãy ra mở nhanh lên, chính là Người.
 
Anh em hãy biết điều này: Nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm đến, hẳn ông đã không để nó khoét vách nhà mình đâu. Anh em cũng vậy hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến.
 
Hình ảnh mới lạ này, hình ảnh kẻ trộm rất táo bạo và đúng kiểu của Đức Giêsu. Giờ đây khi nói về: giờ kẻ trộm đến, Đức Giêsu nhấn mạnh đến khía cạnh hoàn toàn bất ngờ, làm hoang mang, thoạt đầu không thể hiểu được... của nhiều lần Người đến. Đức Giêsu cũng gợi ý rằng chúng ta thật sự "lâm nguy", nếu chúng ta không tỉnh thức: Phải lay động sự đờ đẫn, sự ngủ thiếp của chúng ta. Lúc đang chờ đợi lâu dài, trong đêm tối, ngọn gió gay gắt của buồn chán như muốn dập tắt ngọn lửa trong lòng chúng ta. Tôi đang "ngủ quên" hoặc đang "tỉnh thức".
 
Bấy giờ ông Phêrô hỏi: "Lạy Chúa, Chúa nói dụ ngôn này cho chúng con hay cho tất cả mọi người?". Chúa đáp: "Vậy thì ai là người quản gia trung tín, khôn ngoan, mà ông chủ sẽ đặt lên coi sóc kẻ ăn người ở, để cấp phát phần thóc gạo đúng giờ, đúng lúc? Khi chủ, về mà thấy đầy tớ ấy đang làm như vậy, thì thật là phúc cho anh ta. Thầy bảo thật anh em, ông sẽ đặt anh ta lên coi sóc tất cả tài sản của mình".
 
Vậy là ở đây trên cùng một chủ đề về sự tỉnh thức là một dụ ngôn mới, lần này gởi cho những nglí.đi có trách nhiệm về các cộng đoàn Kitô hữu; họ là những người "quản lý" họ không phải là những "ông chủ" . . . họ phải có hai đức tính: Sự trung tín và tương tri! Họ chỉ có một vai trò duy nhất: nuôi sống mỗi người! Tôi muốn cầu nguyện cho họ, xuất phát từ đoạn Tin Mừng này. Tôi cũng có thể nhìn thấy ở đấy một định nghĩa tốt về mọi người "có trách nhiệm" trong tất cả các lãnh vực.
 
Nhưng nếu người đầy tớ ấy nghĩ bụng: "Chủ ta còn lâu mới về", và bắt đầu đánh đập tôi trai tớ gái và chè chén say sưa, chủ của tên đây tớ ấy sẽ đến vào ngày hắn không ngờ, vào giờ hắn không biết, và ông sẽ loại hắn ra, bắt hắn phải chung số phận với những tên thất tín".
 
Như trong ba dụ ngôn khác nói về sự mong đợi, Đức Giêsu nêu lên sự chậm trễ và sự bất ngờ. Ong chủ lâu về quá ông trễ nải. Có lẽ ông ấy sẽ không bao giờ về? Có lẽ việc Thiên Chúa đến là một ảo tưởng? Thế thì, chúng ta cứ ăn, cứ uống, cứ vui chơi... cho dù điều đó có dẫn chúng ta đến chỗ đàn áp, thống trị và đánh đập ngược đãi những người khác.
 
Cơn cám dỗ ấy của "người có trách nhiệm", chúng ta hãy ghi nhận điều này, có thể: là của Phêrô và các Tông đồ. Chúng ta đã được cảnh báo rõ ràng. Các nghệ sĩ thời Trung cổ không ngần ngại chạm hình các giám mục và các Giáo hoàng xếp hàng cùng với đoàn người bị kết án trong ngày phán xét trên mặt dựng của các nhà thờ. Và sau này, các họa sĩ cũng làm như thế trong các bục họa. Điệu nhảy tư thần. Lời lảnh báo đáng sợ cho tất cả mọi người: Không ai có đặc quyền trước mặt Thiên Chúa.
 
"Đầy tớ nào đã biết ý chủ mà không chuẩn bị sẵn sàng hoặc không làm theo ý chủ, thì sẽ bị đòn nhiều. Còn kẻ không biết ý chủ mà làm những chuyện đáng phạt, thì sẽ bị đòn ít. Hễ ai đã được cho nhiều thì sẽ bị đòi nhiều, và ai được giao phó nhiều thì sẽ bị đòi hỏi nhiều hơn".
 
Luôn luôn là chủ đề về trách nhiệm. Sự phán xét tùy thuộc vào mức độ ý thức và hiểu biết mà người ta có. Trách nhiệm của chúng ta có thể chỉ là một phần. Đức Giêsu đã nói như thế với biết bao tinh tế! Khi áp dụng nguyên tắc này chúng ta thường phải phán xét người khác với lòng khoan dung..... và phán xét chính mình với sự thật. 
 
Giáo phận Nha Trang - Chú Giải
 
"Con hãy sẵn sàng" (Lc 12: 32-48)
 
I. Ý CHÍNH:
 
Thánh sử Luca ghi lại những dụ ngôn mà Chúa Giêsu đã dùng để dạy các môn đệ về sự tỉnh thức dọn mình, và trung thành với bổn phận trong khi chờ đợi giờ chết đến bất ngờ.
 
II. SUY NIỆM:
 
1. "Hỡi đoàn bé nhỏ các con đừng sợ …":
 
"Đoàn bé nhỏ" là kiểu nói mà Cựu Ước thường dùng để chỉ dân Thiên Chúa (Structure 48,15; Ds 4,16; 13,4-6; Ed 34; Is 40,11; 49,3-10). Chúa Giêsu áp dụng kiểu nói này cho Israel (Mt 9,36; Mc 6,34) cho người Do Thái tội lỗi (Mt 10,6; 15,24; Lc 15,4-6; 19,10) và ở đây cho các môn đệ (Mt 26,31; Mc 14,27; Ga 10,1-16; 21,15-17). Chúa Giêsu gọi các môn đệ là đoàn bé nhỏ vì các ông chỉ là số ít, lại không có địa vị trong xã hội và sống khó nghèo, đang khi những kẻ chống đối vừa đông lại vừa mạnh. Các môn đệ khác nào như chiên ở giữa rừng sói. Nhưng Chúa Giêsu bảo các ông đừng vì thế mà sợ, vì các ông đã được Thiên Chúa ban cho một của cải thiêng liêng không một tạo vật nào có thể cất đi được. Đó là phần thưởng Nước Trời.
 
2. "Các con hãy bán những của cải các con có mà bố thí":
 
Nhưng để bảo đảm những của cải thiêng liêng đó, Chúa Giêsu khuyên các môn đệ phải có tinh thần từ bỏ, bằng cách biết dùng những gì mình có, để phục vụ tha nhân trong tinh thần bác ái thương người.
 
3. "Hãy sắm cho các con những túi không hư nát":
 
Chúa Giêsu muốn nói đến sự cần thiết, tích trữ của cải trên trời. Những của cải này được sắm bằng những việc lành, những việc từ thiện bố thí những gì mình có.
 
4. "Vì kho tàng của các con có đâu thì lòng các con ở đó":
 
Chúa khuyên nhủ phải dồn mọi nổ lực của cuộc sống về lý tưởng Nước Trời tức là sự hoàn thiện đời sống, vì của ở đâu thì lòng ở đó.
 
5. "Các con hãy thắt lưng …":
 
Để diễn tả sự gắn bó của Nước Trời, Chúa Giêsu đã lần lượt diễn tả những dụ ngôn bằng sự tỉnh thức dọn mình chết lành. Về hai dụ ngôn này, Matthêu chỉ kể lại dụ ngôn: Ông chủ tỉnh thức (Mt 24,43-44). Maccô chỉ kể lại dụ ngôn người đầy tớ tỉnh thức (Mc 13,33-35) còn ở đây Luca kể cả hai:
 
- Kiểu nói: "Hãy thắt lưng", "Hãy cầm đèn sáng trong tay" được dùng để diễn tả một tư thế đang làm việc, đang tỉnh thức. Ở đây diễn tả hành vi sẵn sàng, trong tư thế dọn mình để chờ đợi Chúa đến dọn mình trong giờ chết.
 
- "Hãy làm như người đợi ông chủ đi ăn cưới về":
 
* Ông chủ ở đây chỉ Chúa Giêsu.
 
* Ông chủ đi ăn cưới là thời gian Chúa Giêsu vắng bóng trước ngày cánh chung.
 
* Kiểu nói chủ về gõ cửa là lúc Chúa đến trong giờ chết của mỗi người hoặc trong giờ cánh chung.
 
* Mở ngay cho chủ là tư thế sẵn sàng của mỗi người trong giờ chết đến.
 
* "Phúc cho đầy tớ nào khi chủ về còn thấy tỉnh thức": Phúc ở đây là phần thưởng Chúa ban cho những ai biết dọn mình chết lành. Phần thưởng này là được dự tiệc cưới trên Nước Trời.
 
* "Chủ sẽ thắt lưng, đặt chúng vào bàn ăn …": Theo lẽ tự nhiên thì việc này thường tình ở đời không thể xảy ra. Nhưng kiểu nói này có ý diễn tả thực tại siêu nhiên khác với thực tại tự nhiên, đồng thời cũng nói lên phần thưởng siêu nhiên to tác quá ước vọng của con người.
 
* "Nếu canh hai hoặc canh ba …": Theo tập tục Do Thái người ta chia thời gian ban đêm bằng bốn canh (Mc 13,35. Mt 14,25).
 
Nói đến canh hai và canh ba, để nhấn mạnh đến lòng nhiệt thành của các đầy tớ vì phải thức khuya để đợi chủ về.
 
6. "Các con hãy biết điều này là nếu chủ nhà …":
 
Đây là dụ ngôn nói về ông chủ nhà tỉnh thức. Trong dụ ngôn nhấn mạnh khía cạnh giờ chết của mỗi người. Ở đây không có ý so sánh Chúa Giêsu với kẻ trộm, nhưng có ý nhấn mạnh việc kẻ trộm đến bất ngờ trong giờ chết của con người. Chính vì tính cách bất ngờ như vậy, nên cần phải tỉnh thức dọn mình sẵn sàng cho giờ chết của mình. "Vì giờ nào các con không ngờ thì Con Người sẽ đến".
 
7. "Phê-rô thưa Người: Lạy Thầy, Thầy nói dụ ngôn …":
 
Chúa Giêsu dựa vào câu hỏi này của Phê-rô như là một cơ hội như người nói về dụ ngôn người quản lý. Trong dụ ngôn này Chúa có ý nhấn mạnh cho các Tông đồ, là những người có trách nhiệm đối với dân Chúa như người quản lý đối với gia nhân trong nhà, phải tỉnh thức sẵn sàng bằng cách chu toàn bổn phận đã được giao phó, để chờ đợi Chúa đến. Ai trung tín sẽ được thưởng, nếu bất trung sẽ bị phạt.
 
Bài học này cũng có ý áp dụng trước nhất cho các Tông đồ. Các ngài coi sóc các linh hồn. Thiên Chúa thình lình đến mà các ngài chu toàn bổn phận của mình thì sẽ được thưởng. Nhưng nếu các ngài lợi dụng quyền thế, hành hạ những người thừa hành, biếng trễ việc bổn phận, quên mất việc phán xét của Thiên Chúa có thể đến bất ngờ, sẽ bị bắt quả tang và sẽ bị trừng phạt. Bài học này cũng có ý áp dụng cho mọi tín hữu, Chúa đã trao phó cho mỗi người một sứ mệnh trong đời sống, Người sẽ đến bất thần trong giờ chết, họ sẽ phải trả lẽ về mọi việc họ đã làm. Việc thưởng phạt tùy theo mỗi người có chu toàn sứ mệnh của mình hay không.
 
Dụ ngôn này đòi hỏi: Ai nấy phải khôn ngoan và trung thành với phận sự, đừng liều lĩnh biếng trễ hay ăn ở ngang tàn mà bị khổ đời đời.
 
8. "Nhưng đầy tớ nào biết ý chủ mình …":
 
Ở đây có ý nói đến mức độ của việc thưởng phạt. Người đầy tớ nào biết rõ ý chủ mà không thi hành, hơn nữa còn đi ngược lại thì phải bị phạt nặng hơn, còn kẻ nào không biết ý chủ mà đi ngược lại thì sẽ bị phạt nhẹ hơn.
 
9. "Người ta đã ban cho ai nhiều …":
 
Sau khi đã trình bày mất dụ ngôn trên đây có ý dạy về bài học tỉnh thức và trung thành với phận sự, Chúa Giêsu đã nói lên lời kết thúc bằng một câu châm ngôn: "Vì người ta đã ban cho ai nhiều thì sẽ đòi kẻ ấy nhiều …".
 
"Người ta" theo Cựu Ước, thường được dùng để chỉ về Thiên Chúa mà không nêu tên Người. Vì vậy ở đây có ý nói rằng: Thiên Chúa đòi hỏi mỗi người phải trả lẽ về những ân tứ Chúa ban và trách nhiệm Chúa đã trao phó.
 
III. ÁP DỤNG:
 
Áp dụng theo Tin Mừng:
 
Nhìn vào Chúa Giêsu:
 
a) Xem việc Chúa làm:
 
* Chúa Giêsu dùng những dụ ngôn lấy từ những phong tục tập quán trong đời sống hàng ngày, để dạy các môn đệ bài học tỉnh thức và trung thành. Muốn truyền bá một chân lý nào đó, nhất là giáo lý của Chúa, Người hướng dẫn cũng nên dựa vào những phong tục tập quán hàng ngày để trình bày những bài học cụ thể cho người nghe dễ tiếp thu.
 
b) Nghe lời Chúa nói:
 
* "Hỡi đoàn bé nhỏ các con đừng sợ": Đây là lời Chúa khích lệ mỗi khi chúng ta cảm thấy thua kém trước mặt người đời, vì sức mạnh của ta là ở nơi quyền năng của Chúa và cùng đích của ta là Nước Trời.
 
* "Kho tàng các con ở đâu, lòng các con ở đó". Chúa muốn chúng ta hướng lòng về Nước Trời để mọi hoạt động của ta cũng theo đó mà thực hiện.
 
* Qua dụ ngôn người đầy tớ tỉnh thức, Chúa nhắn nhủ chúng ta luôn luôn ở trong tư thế sẵn sàng và tỉnh thức để đón Chúa đến trong giờ chết.
 
* Qua dụ ngôn ông chủ tỉnh thức, Chúa muốn chúng ta phải nhận thức về yếu tố bất ngờ của giờ chết, để luôn luôn đề phòng và chuẩn bị cho giờ chết của mình.
 
* Qua dụ ngôn người quản lý trung tín và khôn ngoan, Chúa dạy chúng ta phải biết chu toàn bổn phận của mình và biết dùng những ơn phần hồn phần xác Chúa ban để mưu ích cho phần rỗi của bản thân và tha nhân. Vì ngày phán xét, mỗi người sẽ phải trả lẽ trước mặt Chúa về công việc làm của mình./.
 
Hành Trang Mục Vụ Khoá 10