Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XV Thường Niên B

Tin Mừng Mc 6: 7-13: Bài Tin Mừng hôm nay kể lại câu chuyện Chúa Giêsu sai phái 12 tông đồ đi thực tập truyền giáo, đồng thời Người dặn bảo các ông về cách thức và mục đích của việc truyền giáo

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT 15 - MÙA THƯỜNG NIÊN - NĂM B



Mc 6,7-13

 

Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải
 
SỨ MỆNH CỦA NHÓM MƯỜI HAI TẠI GALILÊ
 
CÂU HỎI GỢI Ý

1. Đâu là văn mạch của trình thuật này?

2. Tìm những tương đồng và dị biệt giữa sứ mệnh Chúa Giêsu và sứ mệnh các sứ đồ dựa vào bản văn hôm nay và các bản văn khác trong Mátcô.

3. Hai nét nào nổi lên từ chân dung vị thừa sai được Chúa Kitô phác họa ở đây?

4. Tại sao trình thuật Mc không xác định không gian và thời gian của việc rao giảng Tin Mừng như Mt 10,5-6 và Lc 9,6;

5. Có nên cho rằng những điều nói ở c.13 chỉ là chuyện hoang đường không?

6. Việc truyền giáo của nhóm Mười hai tại Galilê có ý nghĩa gì đặc biệt?

Trình thuật về sứ mệnh của nhóm Mười hai mang một tầm quan trọng đặc biệt đối với Giáo Hội mọi thời: thay vì coi nó như một sự kiện lặt vặt, Giáo Hội không ngùng tham chiếu đoạn văn ấy để nhận ra thánh ý của Chúa Giêsu đối với mình.

Ngay từ sách Mátcô, cách biên soạn và định chỗ cho trình thuật đã phản ảnh một quan điểm và một sự lưu tâm mà ta cần phải cố gắng xác clịnh bằng cách khảo sát bản văn và văn mạch tổng quát của nó.

Bản văn

Trình thuật kể lại việc Chúa Giêsu triệu tập nhóm Mười hai, sai họ đi từng hai người một, ban cho quyền trên các thần ô uế (c.7). các huấn thị của Người, xoay quanh hai chủ đề: sự từ bỏ của những kẻ được sai và thái độ cần phải giữ tại những nơi đến, chiếm phần lớn bản văn (cc.8-11). Sau cùng câu kết luận nêu lên cách vắn tắt một vài khía cạnh của sứ mệnh như đã được thực hiện: kêu mời hối cải, trừ quỷ, xức dầu và chữa lành bệnh nhân (cc.12-13).

Tác giả ra tay đặc biệt trong việc trình tày các lời của Chúa Giêsu. Ông sử dụng liên tiếp ba cách thức để ghi lại chúng: hành văn gián tiếp, hành văn trực tiếp và trưng dẫn minh nhiên. Việc so sánh đoạn của ông với những mệnh lệnh truyền giáo, được Mt và Lc ghi lại, củng cố nhận xét này (x Mt 10,5-14; Lc 9,1-6; 10,4-12). Mátcô đúc kết một truyền thống rộng lớn hơn mà ông dùng với ít nhiều tự do phóng khoáng.

Ở đầu và cuối đoạn văn, người kể tự xóa mình trước các sự kiện. Tuy nhiên ta vẫn nhận ra ông qua một công thức nhiều lần được lặp lại trong sách: Chúa Giêsu "gọi" hay "mời đến" những kẻ Người muốn dành cho một lời tuyên bố long trọng (3,23; 7,14; 8,1.34; 10,42; 12,43) hay những kẻ làm đối tượng cho một quyết định đặc biệt của Người như ở đây hay Người thiết lập nhóm Mười hai (3,13) (Cũng nên lưu ý việc thi hành sứ mệnh trong 6,12-13 được kể lại với những lời lẽ phù hợp với 3,14-15 hơn là với 6,7).

Tin Mừng thứ hai trình bày giai thoại này như một sự kiện mới ("Người bắt đầu sai họ đi . . . " ), có tầm mức lớn lao, mà Chúa Giêsu có sáng kiến và hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Văn mạch .

Tuy nhiên sự lưu tâm của Mátcô đối với việc sai đi truyền giáo còn hiện rõ hơn nữa khi la xét đến chỗ đứng của trình thuật này trong Tin Mừng của ông.

Sứ mệnh của nhóm Mười hai, được loan báo nơi 3,14 như là một trong những mục đích của việc tuyển chọn và cắt đặt họ, đã xuất hiện ngay từ đầu sách, trong những lời hứa làm cơ sở cho việc kêu gọi Simon và Anrê: "Ta sẽ cho các ngươi nên ngư phủ bắt người" (1,17). Trong Tin Mừng Mátcô, hình ảnh chài lưới gợi lên việc chiêu tập được thực hiện do việc rao giảng "Tin Mừng của Thiên Chúa", do việc loan báo Tin Mừng về Vương quốc Thiên Chúa đang bắt đầu hoạt động và khai mạc giữa loài người (1,14-15). Chính vì việc tụ họp này mà Chúa Giêsu đã được sai đến (1,38); Người cho Nhóm Mười Hai tham dự vào công việc của Người như cộng tác viên. Ngay từ những chữ đầu tiên, Mátcô đã xác định tầm nhìn của cuốn sách ông: đó là lên đến "khởi nguyên Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô Con thiên Chúa", cái Tin mừng làm nền tảng và ý nghĩa cho đức tin Kitô hữu (1,1).

Như thế, việc kêu gọi, cắt đặt và sai các môn đồ bảo đảm sự liên tục của công cuộc Chúa Giêsu: Tin trong sẽ được truyền thông và sẽ có thể được loan báo trong toàn thế giới cho mọi dân tộc (13,10; 14,9) cho đến khi con người trở lại để thiết lập cách dứt khoát vương triều của Thiên Chúa (13,10 và 26-27). Ba cảnh kêu gọi 4 sứ đồ đầu tiên, rồi thiết lập và sai phái nhóm Mười Hai đánh dấu từng chặng phần đầu cuốn sách, và trước mỗi cảnh đều có một đoạn ngắn. Bởi lẽ tổng quát, nói đến hoạt động của chính Chúa Giêsu tại Galilê (1,14-15) để cứu giúp đoàn lũ đông đảo từ khắp nơi tuôn đến (3,7-12) hay ngang qua các làng mạc của một miền (6,6b). Người ta không thể xác định rõ hơn sứ mệnh của nhóm Mười hai trong bước tiến triển của một hoạt động của Thiên Chúa mà, nhờ sự thực hiện của Chúa Giêsu, có cơ được theo đuổi trong thế giới cho đến tận cùng.

NHỮNG KHÍA CẠNH CHÍNH YẾU CỦA SỨ MỆNH NHÓM MƯỜI HAI DƯỚI CÁI NHÌN CỦA MÁTCÔ

A. Các "sứ đồ" của Chúa Giêsu.

Trở về sau khi thi hành sứ mệnh, nhóm Mười hai sẽ được mang tên "sứ đồ" (6,30). Tước hiệu này thuộc về ngôn ngữ Kitô giáo sau Phục sinh. Có lẽ môi trường văn hóa trong đó Mátcô sống đã không dành tước hiệu đó cho họ [Người ta biết rằng theo truyền thống cổ xưa của 1Cr 15,5-7 và trong cách nói của Phaolô, "các sứ đồ" làm thành một nhóm khác biết với nhóm Mười hai. Việc đồng hóa nhóm Mười hai với các sứ đồ là một hiện tượng sau đó. Xem Le ministère et les ministères se lon le Nouveau Testament, chương "Diversité et unité des ministères dtaprès Le NT", tr. 288-292]; dầu sao, tước hiệu cũng chỉ những kẻ trong nhóm như là những sứ giả của Chúa Giêsu và họ hoàn thành cũng những công việc như Người. Như Chúa Giêsu, họ "loan báo" (3,14; 6,12; Chúa Giêsu: 1,15.38), hiểu ngầm: Tin Mừng về Vương triều sắp đến, cái tin thúc bách hối cải (1,15; 6,12). Như Chúa Giêsu, họ "giảng dạy" (6,30; Chúa Giêsu: 1,21; 4,1-2; 6,2.6). Như Người; họ trừ quỷ và chữa lành các bệnh nhân (so sánh 1,39 và 3,14-15 với 6,12-13).

Tuy nhiên có một khác biệt chủ yếu. Duy đối với Chúa Giêsu, người ta mới bảo là các thính giả kinh ngạc vì "Người dạy dỗ họ như Đấng có uy quyền chứ không phải như các ký lục (1, 22). Và chính Người là kẻ "mạnh hơn" Satan và có thể phá hủy vương quốc của nó (3,24-27; x. 1,7). Nhóm Mười hai loan báo và giảng dạy nhờ sự ủy nhiệm của người và nhận lãnh từ nơi Người quyền năng chống lại Satan và các bệnh tật. Sự kiện họ chữa lành bằng việc xức dầu (hợp với thói quen của một vài giáo đoàn Do thái-kitô giáo, x. Gc 5,11) trao cho độc giả của Mc biết là các sứ đồ hành động nhờ quyền lực của một người khác, Chúa Giêsu.

B. Kiểu mẫu thừa sai Kitô giáo.

Theo Mátcô, người đã kể tên các ông (3. 16-19), nhóm Mười hai hiển nhiên thuộc về quá khứ. Nhưng sự lưu tâm mà các ông là đối tượng vượt quá phạm vi lịch sử. Khuôn mặt của các ông cụ thể hóa một khía cạnh luôn luôn hiện thực của công cuộc và giáo huấn Chúa Giêsu. Bằng chứng điều này là cách thức ghi lại các huấn thị ban cho những người được sai phái.

Không thể thấy đây chỉ là phản ảnh của việc thực hành truyền giáo của các giáo đoàn sau phục sinh. Hình như không phải các sứ giả của những giáo đoàn này đã lên đường ít nhất trong những chuyến truyền giáo xa xôi - mà không đem theo lương thực và chỉ trang bị một cái gậy và một đôi dép. Những mệnh lệnh như thế xem ra cổ xưa và chỉ thích hợp với những chuyến truyền giáo từng hai người (Cv 8, 14; 13,2; 15,36-40; 1Cr 9,6). Các vị sứ giả phải tin tưởng vào lòng hiếu khách của dân chúng. Lời căn dặn nên ở lại nhà đầu tiên tiếp đón các vị thừa sai có thể đã nhắm mục đích chống lại cơn cám dổ muốn tìm chỗ tốt hơn hay muốn được săn đón (xem Didachê 11,4-5). Dầu sao người ta vẫn dễ dàng nhận ra trong những lời của Chúa Giêsu chân dung kiểu thức hóa của những người đã được sai đi loan báo Tin Mừng, mà ở đây thì được tiếp đón trong một gia đình sau đấy trở thành trung tâm hội họp của Giáo Hội sơ sinh, kia thì bị bạc đãi và phải đi nơi khác (x. Cv 9,43; 10,48; 13,50-51; 16,14-15.40; 17,5; 3Ga 5-8). Loại giảng thuyết gia lưu động này, mà người ta gọi là "sứ đồ", được nhắc đến trong các văn tập của Kitô giáo sơ khai Cv 14,4.14; Rm 10,7; 1Cr 9,5; Pl 2,25; 2Cr 8,23; Kh 2,2; Dachè 11,3).

hai nét hiện lên từ hình ảnh vị truyền giáo được phác họa qua các mệnh lệnh của Chúa Giêsu theo Mátcô như thế.

      1. Trong lúc Mt cũng lần lượt xét đến việc tiếp đón và từ chối các sứ giả (10,11-14) thì Mc nói đến việc từ chối với thiếu chi tiết hơn. Giai thoại đi trước soi rõ nét này: Chúa Giêsu đã gặp sự cứng lòng tin trong quê hương của Người là Nadarét và trong họ hàng thân thuộc. Rồi sau đây người ta sẽ liên kết số phận bi thảm của Con Người bị các thủ lãnh trong dân phế thải (8,31) với sự cần thiết phải liều thân để minh chứng cho Chúa Giêsu đối với những ai muốn theo Người (8,34-38). Chúa Giêsu đưa các sứ giả đi trên con đường Người đã đi: họ sẽ kinh nghiệm về sự chống đối trên con đường đó (so sánh với Ga 15-20).

      2. Đàng khác, nếu Người khuyên họ đừng đem hành lý theo để đi cho nhẹ nhàng, thì nét này cũng hòa hợp với sự từ bỏ mà mọi kẻ tin phải chấp nhận vì Chúa Giêsu và vì Tin mừng (10,29-30). Vì không chỉ thông truyền sứ điệp của Người và hành động với quyền năng của Người, vị sứ giả còn mang lấy những nét đặc biệt của người môn đồ sẵn sàng theo Chúa Giêsu trong sự từ bỏ hoàn toàn của cải, liên lạc gia đình và mạng sống bản thân. Trách vụ mang Tin mừng và trung thành với Tin Mừng được sống trong những điều kiện khó khăn, và đòi hỏi phải từ bỏ mọi bổn phận vô ích khác, vì thời giờ vắn vỏi. Chi tiết riêng của Mc về gậy và giày dép (mà Mt và Lc cấm hẳn) có lẽ là một sự thích nghi lời Chúa Giêsu với những điều kiện truyền giáo ngoài Palestin. Có thể nó cũng ám chỉ đến cách ăn mặc của người Hy bá xưa kia đã sẵn sàng xuất khỏi Ai cập để đi về đất hứa (Xh 12,11). Dầu sao chi tiết đây nói lên sự linh động và sẵn sàng cần có của những ngươi thợ Tin Mừng. Công việc của Thiên Chúa chi phối hết và không chờ đợi.

C. Trách vụ rao giảng Tin Mừng.

Qua hai nét vừa được nêu lên ở trên: từ bỏ và thích nghi với các điều kiện khó khăn của việc truyền giáo, chân dung các sứ đồ bắt gặp chân dung của "những ai" muốn theo Chúa Giêsu và có thể hy sinh tất cả cho Tin Mưng. Mátcô đã mô tả đường lối phải theo của Kitô hữu như thế. Thành thử mọi độc giả đều có thể áp dụng cho nình những gì đã nói với và về nhóm Mười hai.

Chúng ta đừng có thói quen xem Nhóm này như hạng đầu tiên của một lớp người mà, một khi kế vị họ, đã bảo đảm việc truyền thông sứ mệnh và "quyền năng" Chúa Giêsu đã ban cho họ. Vào thời Mátcô, vấn đề tiếp tục công cuộc của Chúa Giêsu không được đặt ra như thế. Chẳng nơi nào sách Mátcô để lộ một ưu tư hộ giáo muốn đặt nền tảng cho những đặc quyền của những kẻ kế tục nhóm Mười hai hay các sứ đồ. Mối bận tâm này chỉ xuất hiện về sau thôi. Nơi Mátcô, Kitô hữu đích thực được nhận biết qua việc trung thành với Tin Mừng và qua việc theo Chúa Giêsu. Và việc nhắc lại yêu sách này được loan báo cho toàn thể cộng đoàn.

Sứ mệnh được Đấng Phục sinh trao ban cho nhóm Mười một: "Hãy đi khắp thế gian và rao giảng tin Mừng cho mọi thụ tạo", chỉ đọc thấy trong đoạn kết chính lục của cuốn sách và không do ngòi bút của Mc (16,14-15). Sách của ông chấm dứt cách bất ngờ với việc loan báo một cuộc gặp gỡ ở Galilê, nơi Đấng Phục sinh phải đến trước Phêrô và các môn đồ (16,17; x. 14,28). Đối với Mátcô, Galilê tiêu biểu cho vùng hướng về đất lương dân, vì ở đó Chúa Giêsu đã dạy cho các môn đồ vượt qua biên giới của Do thái giáo và đã chuẩn bị họ rao giảng Tin Mừng cho mọi dân tộc (xem J.H.Van canh, La Galilée danh l'evangile de Marc, trong Revue Biblique 79, 1972, tr. 59-76; Đelorme, Lecture de lévangile se lon Saint Marc, Cahiers Evatlgile 1/2 (1972), tr. 14-15 và 66-69). Nhưng khi Chúa Giêsu loan báo cách rõ ràng việc rao giảng này thì thành ngữ "loan báo Tin Mừng" ở thể thụ động và bản văn không xác định ai phải (13,10) hay sẽ phải (14,9) hoàn thành công việc đó. Việc sai nhóm Mười hai ở Galilê tiên trưng việc truyền giáo không biên giới sau khi Chúa Giêsu sống lại. Nhưng bổn phận phải hoàn tất (13, 10: "phải") được nhắc lại cho mọi độc giả của Mátcô. Thành thử, mặc dù có nhiều người mang trách nhiệm đặc biệt về vấn đề đó, thì cũng không ai trong Giáo Hội có thể trút lên vai kẻ khác trách vụ loan truyền Tin mừng. Vả lại, theo 13,9-10, việc loan truyền nói đây được thực hiện qua việc làm chứng trước các tòa án trong trường hợp bị bắt bớ. Rõ ràng là điều bất trắc này liên hệ đến mọi tín hữu dã được ủy thác hay không được ủy thác một thừa tác vụ đặc biệt trong Giáo Hội.

Về phương diện này, việc truyền giáo của nhóm Mười hai ở Galilê có nghĩa là cái trách vụ vốn phải trở nên trách vụ Giáo Hội, tức là làm chứng cho Chúa Kitô, cho lời Người và cho Tin Mừng, đã bắt nguồn từ cuộc sống và ý muốn nhân loại của Chúa Kitô. Theo Mátcô, nhóm Mười hai là những người bảo đảm cho ý muốn đó. Và Chúa Giêsu đã thiết lập họ vì mục đích này. Đoạn Ngươi đã làm cho họ hiểu rằng Tin Mừng được dành cho tất cả nhân loại. Họ đã trở nên kiểu mẫu của các nhà truyền giáo tiếp tục việc rao giảng Tin Mừng sau phục sinh. Việc công bố này đặc trưng thời gian Giáo Hội (x. 4,21-22), Giáo Hội đã nhận ra, trong sứ mệnh của nhóm Mười hai ở Galilê, ý muốn rõ ràng của Chúa Giêsu đối với mình. Được phong phú nhờ gia tài của nhóm Mười hai, nghĩa là nhờ truyền thống những hành vi và lời nói Chúa Giêsu, Giáo Hội cần phải sống và làm chứng cho Người trong toàn thế giới, cho đến ngày người trở lại.

D. Tin Mừng và quyền năng Chúa Giêsu.

Để hoàn tất sứ mệnh của mình, nhóm mười hai đã lãnh nhận từ Chúa Giêsu "quyền năng trên các thần ô uế" và lời giảng của họ được việc trừ quỷ cùng chữa lành bệnh tật đi kèm theo (6,7. 12-13). Vì họ không chỉ nói hay giảng dạy, nhưng cũng còn "làm", như được xác định ở 6,30. Vương quyền của Thiên Chúa không chỉ đến bằng lời nói; các "dấu chỉ" về vương quyền ấy cũng được ban ra. Sự kiện này thường được thánh Phaolô xác nhận vì ông nhìn thấy đó là dấu hiệu không thể chối cãi về tư cách "sứ đồ" của Chúa Kitô (x. 1Tx 15; 1Cr 2,1-5; 2Cr 3,1-3; 12,12; Gl 3,2-5; Rm 15,18-19). Các Tin Mừng cũng đã luôn nối kết giáo huấn và hoạt động của Chúa Giêsu. Nơi Mátcô, hoạt động này diễn ra trong cuộc chiến thắng "các thần ô uế ". Ô uế vì chúng biểu lộ giữa loài người một sức mạnh chống đối với sự thánh thiện của Thiên Chúa và của dân Ngài. Bấy giờ, người ta chưa phân biệt giữa bệnh tật và ảnh hưởng của ma quỷ (Mt 8,16-17; Mc 1,34; 3,10-11; 9,17; Lc 4,39.41 ; 11, 14; 13, 11. 16; Cv 5,16; 8,7). Tân ước chỉ nói là ma quỷ mỗi khi có những hậu quả tàn khốc, nhất là trong lãnh vực sức khỏe con người. Và chính trong các việc chữa lành mà người ta thường nhận ra những dấu chỉ của vương triều Thiên Chúa đang đến để phục hồi con người và thế gian trong sự hòa hợp mà Tạo Hóa đã muốn. Vì thế hành vi công khai đầu tiên của Chúa Giêsu mà Mátcô nói đến là vừa "giảng dạy" với "uy quyền" vừa xua đuổi "một thần ô uế" (1,22.27). Cũng một cách thức tương tự, với sứ điệp đã giao cho các sứ giả, Chúa Giêsu cũng ban cho họ quyền trên các thần ô uế (3,14-15; 6,7).

Như trong sứ mệnh của họ, Giáo Hội nhận ra trách nhiệm của mình phải loan báo Tin Mừng cho mọi dân, thì cũng vậy, theo Mátcô, quyền năng trao ban cho nhóm mười hai không chỉ dành riêng cho các ông như một thứ độc quyền. Xa hơn, các môn đồ sẽ tỏ ra bất lực trong việc đuổi một thần ô uế và Chúa Giêsu sẽ nhắc lại là muốn đuổi thì cần phải có lời cầu nguyện và đức tin (9, 18-19.22-23.28-29; x. 11 ,22-24). Và giai thoại kẻ trừ quỷ nhân danh Chúa Giêsu cho thấy là quyền năng Chúa Giêsu trao cho các sứ đồ không giới hạn trong nhóm của họ (9,38-39). Trong "quyền năng" ban cho nhóm Mười hai, tất cả Giáo Hội được kêu mời nhận ra mãnh lực của Tin Mừng mà Giáo Hội phải đem đến cho loài người. Chính quyền năng Chúa Giêsu được trao lại cho đức tin và lời cầu nguyện của Giáo Hội, để cho thấy, trong những thành công rõ rệt, việc tái tạo con người đã được khai mào trong Chúa Kitô phục sinh.

Niềm xác tín này được diễn tả trong Mc một cách có lẽ như huyền thoại hoang đường. Về Satan và về các phép lạ, chúng ta phải vượt qua các hình ảnh của một thời kỳ tiền khoa học. Nhưng khoa học sẽ không thay thế Tin Mừng và không thể diễn tả trong ngôn ngữ của nó loại đời sống mà Tin Mừng đã đề xướng và làm cho con người đã canh tân trong đức tin có thể thực hiện được. Tính cách tả thực của Mátcô nhắc cho ta biết đây không phải chỉ là một cuộc canh tân hoàn toàn "'thiêng liêng" theo nghĩa hiện đại của từ ngữ: ít ra phải nói với Péguy là cái "thiêng liêng cũng có tính cách xác thể" khi nhớ lại rằng Thần khí trong Thánh Kinh đã đi vào trong cái cụ thể nhất của cuộc sống con người. Thật không đủ khi khuyến khích hay nuối tiếc cơn đói khát điều lạ và mong được thỏa mãn ngoài lề một việc loan báo hay một suy tư giáo thuyết đứng đắn nhưng không nhập thể. Cũng không đủ khi tin vào ý nghĩa của lịch sử hay tin vào một sức mạnh nội tại nào đó của sự phát triển để giải thoát con người. Đức tin, xét như là kinh nghiệm về một loại tương quan mới giữa loài người với Thiên Chúa, có những âm hưởng trên sự quân bình của con người cá nhân và xã hội. Và sức khỏe của các cá nhân cùng thể có thể luôn là mảnh đất của những dấu chỉ Tin Mừng của bản trắc nghiệm đức tin chúng ta.

KẾT LUẬN

Trong Mátcô, trình thuật về sứ mệnh của nhóm Mười hai tại Galilê đóng một vai trò vượt quá chủ đích lịch sử của nó. Nó đánh dấu một mốc quan trọng đầy ý nghĩa ở đầu nguồn gốc và trong bước tiến triển của một công việc được tiếp nối trong Giáo Hội và trong thế gian. Khi đọc nó, Giáo Hội được mời gọi nhận ra ơn gọi của mình. Ơn gọi này bao gồm một sứ mệnh cấm Giáo Hội không được biến mình thành một xã hội đóng kín hay thành một loại văn hóa xã hội học. Trong trình thuật Mátcô, việc sai phái nhóm Mười Hai không kèm theo một xác định địa lý giới hạn việc sai phái đó trong không gian (so sánh với Mt 10,5-6 và Lc 9,6; 10,1), nhưng được tiếp nối bằng một việc huấn luyện đầy khó khăn cho các môn đồ; trong thời gian huấn luyện này, Chúa Giêsu làm nhiều dấu chỉ và ra nhiều lời cảnh giác họ đề phòng thái độ khép mình trong ốc đảo của Do thái giáo (7-8; 13). Chẳng phải là một ngẫu nhiên nếu không có gì nhắc lại trong Mátcô ý nghĩa biểu tượng nguyên thủy của nhóm Mười hai, mà con số biểu thị việc tụ tập 12 chi họ Israel vào thời thiên sai (x. Mt 19,28; Lc 22,30). Dưới con mắt Giáo Hội, họ là những người bảo đảm trọng trách đã lọt về Giáo Hội là trình bày Tin Mừng cho mọi người.

Vì sứ mệnh này tiếp tục và biểu dương sứ mệnh Chúa Giêsu nên các nhà truyền giáo phải mang lấy những nét đặc biệt của người môn đồ như Chúa Giêsu đã muốn: tự do khỏi mọi ràng buộc, nhẹ gánh hành trang, sẵn sàng theo Chúa Giêsu trong nghịch cảnh cho đến hy sinh bản thân mình. Chân dung của sứ đồ và môn đồ giống nhau. Và sách Mc không muốn phân biệt, giữa các môn đồ, những kẻ chuyên nghề truyền giáo trong lúc sinh tiền của Chúa Giêsu, cũng như trong tương lai Giáo Hội (13,10; 14,9).

Do đó Mátcô gán cho sứ mệnh của nhóm Mười hai một tầm rộng lớn nhất: không đối chọi với sự kiện là một thời tác vụ có thể tìm thấy nền tảng trong đó, trình thuật của ông nhắc lại cho mọi tín hữu rằng họ thuộc về một Giáo Hội được sai đến với những kẻ khác, rằng họ được xem như là chứng nhân của Chúa Giêsu trước mặt mọi người.

Sau hết, quyền năng của Chúa Giêsu không được để tiêu tan và Tin Mừng không được giản lược thành một diễn từ nhân loại mải mê với những phương kế của khoa hùng biện hay những khoa học con người. Nói và làm phải đi đôi với nhau và chúng ta không thể làm nếu không có đức tin và cầu nguyện.

Jean Delorme, Assemblées du Seigneur 46, tr. 43-50

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Không phải các sứ đồ tự chọn sứ mệnh cho mình. Như Amos, Phaolô (bài đọc 1 và 2), họ đã được chọn: "Không phải các con đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con" (Ga 15,16). Vì họ rao giảng sứ điệp của Thiên Chúa chứ không phải sứ điệp của họ. Và sứ mệnh họ là Tin Mừng hóa thế gian, dù lúc thuận tiện hay bất thuận tiện, dù phải lưu đày hay phải chết.

2. Lệnh lên đường: không mang bánh, bao bị, tiền bạc, không mặc hai áo. Nghĩa là phải khẩn trương, vì thời gian cấp bách, phải nhẹ nhàng, vì phương tiện chính là phương tiện của Chúa. Bận bịu với của cải, lo cho đầy đủ phương tiện như ý mình thì khó mà cả bước lên đường truyền giáo! Có bao giờ ta cảm nghiệm được tính cách cấp bách này không? Để dứt khoát dấn thân, để khẩn trương hối cải, để chinh phục thế gian ngay trong thế hệ mình! "Hãy cắt đứt xích xiềng ràng buộc con, dù là xích vàng, để tiến tới. Cuối đường có Chúa đón chờ con" (ĐHV 179).

3. Chúa Giêsu sai đi từng hai người, là để trước hết họ cho một chứng tích sống động về điều họ rao giảng: cộng đoàn huynh đệ yêu thương. Người ta cứ dấu đó mà biết họ là môn đồ của Chúa. Sau là để nâng đỡ nhau. Người tông đồ nào không được nâng đỡ hay không tìm sự nâng đỡ, hiệp thông nơi các bạn đồng chí, thế nào cũng cằn cỗi trong công việc rồi xé lẻ tách rời.

4. Người ban cho các ông quyền trừ quỷ. Quỷ là tên chia rẽ, chia rẽ dưới mọi hình thức: chia rẽ trong chính con người, chia rẽ trong xã hội, chia rẽ giữa con người với Thiên Chúa. Chúa Giêsu là Đấng cứu độ, là thầy thuốc chữa lành, là Đấng tái tạo sự hiệp nhất trong con người, giữa con người, giữa con người với Thiên Chúa. Người tông đồ phải đặt lại vấn đề khi thấy công việc mình làm không đem lại sự hiệp nhất và bình an trong chính bản thân, trong môi trường hoạt động ...

5. Có nhiều hình thức làm tông đồ trong xã hội hôm nay: Tông đồ bằng đau khổ: không rao giảng, không hoạt động, nhưng thinh lặng tế lễ cứu bao linh hồn. Như Chúa Giêsu hấp hối trên thập giá, Đức Mẹ hấp hối trong tâm hồn dưới chân thập giá. Tông đồ bằng hy sinh và thinh lặng: như hạt lúa chôn vùi, thối nát để sinh muôn ngàn hạt khác nuôi nhân loại. Tông đồ bằng chứng tích: tang vật đáng tin hơn. Tông đồ bằng tiếp xúc: "Tâm hồn chúng ta chẳng nóng lên khi Người đi đường đàm đạo và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta đó sao?" (Lc 24,32). Tông đồ bằng tư tưởng: nâng đỡ người bạn đang lung lạc, ủi an kẻ sầu buồn ... Tông đồ bằng bữa ăn: ăn là chuyện thường tình. Nhưng Chúa Giêsu ăn ở nhà Mađalêna, ở nhà Simon, Giakêu khác xa chúng ta: "Hôm nay ơn cứu rỗi đã đến với nhà này" (Lc 19,9). Tông đồ bằng thư từ: Phaolô ngồi trong tù, không máy in, vẫn viết thư cho một giáo đoàn, giáo đoàn ấy chép lại rồi chuyển sang cho giáo đoàn khác. Cứ thế, Phaolô đã giữ vững và phát triển đức tin của Hội Thánh sơ khởi. Con hãy để tất cả lòng yêu thương con vào phong bì rồi dán lại , gởi đi.



Noel Quession - Chú Giải

 
CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN
Mc 6,7-13

Chúa gọi Nhóm Mười Hai lại, và sai đi từng hai người một.

Một trong những việc làm đầu tiên của Đức Giêsu, ngay từ bắt đầu cuộc sống công khai, là chọn những cộng tác viên (Mc I,16). Sau khi đã dần dần bổ sung nhóm môn đệ (Mc 2,14), cuối cùng Đllc Giêsu đã chọn 12 vị. Con số tượng trưng ám chỉ ý định của Người muốn thành lập một dân tộc Ít-ra-en mới, dựa theo mười hai Tổ phụ hay mười hai Chi tộc. Trong phần đầu của Tin Mừng, chúng ta thấy các Tông đồ đi theo Đức Giêsu và ở "với Người" (Mc 3,14).

Hôm nay, có thể nói, Đức Giêsu sắp ẩn mình đi và trao phó sứ vụ của Người trong tay các tông đồ. Lần đầu tiên các ông đi rao giảng một mình, không có Đức Giêsu. Đó là thời kỳ Giáo Hội đang bắt đầu. Trước tiên, chúng ta có thể cầu nguyện dựa trên thái độ này của Người : Thiên Chúa của chúng ta, Người trao cho chúng ta những trách vụ quan trọng: Người không điều khiển chúng ta như những con rối .Tôi có những trách nhiệm nào ? Lạy Chúa, Chúa chờ đợi gì nơi con ?

Chúa sai họ đi.

Trong năm chương đầu của trình thuật, Máccô đã nhấn mạnh cho chúng ta thấy "Đức Giêsu với các môn đệ", tạo thành một nhóm duy nhất và hợp nhất đối lại với đám đông, với các đối thủ. Vào lúc "kêu gọi" các ông (Mc 3,13-14), Mác-cô ghi nhận, Đức Giêsu đã "thiết lập Nhóm Mười Hai" để ở với Người và để Người "sai họ đi". Đó cũng chính là chuyển động của trái tim: Tâm trương… tâm thu... máu vào tim rồi chuyển đến các cơ quan. Hoạt động tông đồ thông thường cũng như thế : Sống kết hợp mật thiết với Chúa Kitô, mang Đức Kitô đến khắp nơi trên thế giới. Đó cũng là hoạt động của đời sống Kitô hữu : Tập họp quanh Chúa vào mỗi Chúa nhật, tản mác trong cuộc sống hằng ngày để nên nhân chứng sống động của Chúa.

"Anh hãy đi ! Anh em được sai đi" "Ite, Missa est" chữ Messe (thánh lễ) có nghĩa là "sự sai đi". Chính Chúa đã thiết lập nhịp sống đó. Tôi có sống như thế không ? Tôi có thường sống "với Chúa" trong suy niệm, trong nguyện cầu không ? Tôi có ý thức mình được Chúa "sai đi" vào đời sống thướng nhật để làm một việc gì đó, có liên quan đến Chúa không ?

Người sai đi từng hai người một.

Phải có hai người thì chứng tá mới có giá trị (Ds 17,6 -19,5). Dân gian đã khôn ngoan đặt ra nhiều câu ngạn ngữ để nói về điều này. "Hai người có giá trị hơn một..., nếu họ ngã, người này đỡ người kia dậy, nhưng khốn cho kẻ đi một mình" (Gv 4,9).

Quy tắc đầu tiên của việc tông đồ là tạo thành nhóm. Nếp sống huynh đệ là một bài giảng về tình yêu, trước khi bàn tới. "Các bạn hãy nhìn xem họ thương nhau biết bao !". Chứng tá Kitô hữu phải nhắm đến một hình thức cộng đoàn trong Giáo Hội. Đó là ý muốn rõ ràng của Đức Giêsu. Vậy tôi phải tự vấn về thái độ của tôi. Chủ nghĩa cá nhân có nhưng hình thức tinh vi và đáng sợ : Chúng ta không thích những người anh em khác kiểm tra thái độ sống của riêng mình . . . Tuy nhiên ?

Người chỉ thị cho các ông không được mang gì đi đường, trừ cây gậy ; không được mang lương thực, mang bao bị , mang tiền giắt lưng ; được đi dép, nhưng không được mặc hai áo.

Điều đáng lưu ý là chúng ta không thấy Đức Giêsu dặn dò các Tông đồ về nội dung giáo thuyết, "Sứ vụ" của các ông. Chúa không bảo các ông "phải giảng điều gì". Người chỉ nhắc nhở các ông những chi tiết "phải sống". Đối với Đức Giêsu, chứng tá bằng cuộc sống quan trọng hơn chúng tá bằng lời nói.

Thực tế lời khuyên duy nhất của Thầy liên quan đến đòi hỏi sống nghèo khó. Những người đại diện Chúa phải tỏ ra mình không cậy dựa vào sự giúp đỡ, vào uy tín nào của con người. Tất cả chỉ dựa vào niềm tin nơi Đấng đã sai họ. Thánh Phaolô sẽ khai triển đòi hỏi này khi khẳng định : "Vinh quang của Thiên Chúa rạng ngời lên gương mặt Đức Kitô, nhưng kho tàng ấy, chúng tôi lại chứa đựng trong bình đất, để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi" (2 Cr 4,6-7). Thánh Phaolô cũng khoe về sự nghèo khó của mình : "Khi tôi đến với anh em, tôi đã không dùng lời nói hùng hồn hoặc triết lý cao siêu. . . nhưng tôi thấy mình yếu kém, sợ sệt và run rẩy... có vậy đức tin của anh em mới không dựa vào lẽ khôn ngoan người phàm, nhưng dựa vào quyền năng Thiên Chúa" (l Cr 2,1-5).

Vâng, điều Đức Giêsu muốn, đó là những đoàn ngũ phải nhẹ nhàng, không có những hành trang cồng kềnh, luôn sẵn sàng đi nơi khác. . . Lữ khách, phải là người sẵn sàng. Có lẽ, Giáo Hội không ngừng tự "làm..nhẹ bớt" để sẵn sàng theo sự thúc đẩy của Thánh Thần.

Còn tôi ? Tôi sống thế nào trước đòi hỏi nghèo khó này ? Đức Giêsu đã nói rõ với các bạn hữu của Người, chỉ mang theo những vật hết sức cần thiết. Chiến thắng sự cám dỗ của tiền bạc là chiến thắng đầu tiên của Tin Mừng, là bài giảng đầu tiên rất cần thiết cho một thế giới tham lam, là trận chiến hàng đầu (nơi chính bản thân mình trước hết) chống lại một kẻ thù lớn của nhân loại : Sự chiếm hữu của cải ! Nguồn gốc của chia rẽ, tranh chấp và kiêu ngạo !

Lạy Chúa, xin giúp chúng con đến gần lý tưởng từ bỏ mà Chúa mong muốn.

Còn nơi nào người ta không đón tiếp và nghe lời anh em, thì khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi chân để tỏ ý phản đối họ.

Chúng ta ngạc nhiên vi tầm quan trọng của thái độ khước từ "tiếp nhận" trong diễn từ của Đức Giêsu. Nhưng môn đệ của Người có thành công lắm không ? Hình như không được khá lắm. Người ta dễ dàng đoán được những ý nghĩ : "Các ông muốn chúng tôi trở lại chăng ? Nhưng hiện nay chúng tôi rất tốt ! Chúng tôi là những người Do Thái tốt theo truyền thống. Tại sao phải thay đổi những thói quen của chúng tôi ? Xin các ông hãy đi giảng đạo nơi khác" Những khó khăn của Kitô hữu khi trình bày đức tin không phải chỉ ngày nay mới có, Đức Giêsu nói với chúng ta hôm nay : "Các con chớ có lo lắng. Đây là điều Thầy đã tiên liệu, Thầy đã báo trước cho các con". "Chúng ta chớ nên ảo tưởng".

Ngày nay cũng như thời Đức Giêsu sứ điệp đích thực của đức tin vẫn bị đa số khước từ, không đón nhận. Vì thế điều Đức Giêsu yêu cầu chúng ta là : Luôn đứng vững đừng ngã lòng : "Nếu người ta không tiếp nhận các con, các con hãy đi nơi khác". Chịu đựng thái độ không tin, lãnh đạm, chối bỏ,... điều đó xem ra hết sức bình thường đối với Đức Giêsu... "Sự thật là khó khăn. Đức Giêsu đã báo trước điều đó cho những người được sai đi rao giảng Tin Mừng.

Các ông đi rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối. Các ông trừ được nhiều quỷ, xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh.

Họ đã làm đúng những gì họ thấy Đức Giêsu làm khi họ "ở với Người". Nội dung của nỗ lực "truyền giáo" gồm 3 giai đoạn :

1. Rao giảng lời Chúa, đòi hỏi một sự thay đổi đời sống, một cuộc hoán cải...

2. Chiến đấu chống sự dữ, xua đuổi ma quỷ ra khỏi con người để giải thoát họ.

3. Hoạt động giúp người nghèo, cải thiện đời sống và chữa lành bệnh tật.

Hoán cải...

Đó là nội dung thứ nhất của việc rao giảng : Hãy thay đổi cách sống. Hãy hoán cải. Chúng ta hiểu vì sao các Tông đồ được ít người nghe theo và bị từ chối . Thông thường, con người không thích "thay đổi" cách sống : Hãy để cho chúng tôi yên ! Thế mà, Thiên Chúa lại hay gây phiền hà, Người yêu cầu chúng ta dấn thân vào một cuộc sống mới. Chữ Hy Lạp "mitanoa" dịch ra là "hoán cải", có nghĩa là "đổi ngược tinh thần" . Vậy là phải đổi hướng : Chúng ta đã đi theo một hướng, bây giờ phải quyết tâm đổi ngược lại. Đây không phải là điều dễ. Tin Mừng luôn mang tính ác liệt Chúng ta đã biến Tin Mừng trở nên loại gì ? Một thứ học thuyết thiếu năng động ? Một thứ thuốc ngủ ? Một thứ nâng đỡ cho trật tự hiện hành ? "Các Ngài đã kêu to" "ékèruxan" phải thay đổi cuộc sống "Metanoôsin".

Trừ quỷ...

Chắc hẳn Máccô đã dùng những cách mô tả theo tâm thức của những người đương thời , nhưng rõ ràng sứ vụ mang tính chất bi kịch. Đó là một cuộc chiến ! Một cuộc chiến chống lại quyền lực của sự dữ trên thế giới. Những "nhà truyền giáo" những người được Chúa "sai đi" không quảng cáo cho một sản phẩm để bán chạy. Các Ngài đã lên đường để đương đầu với một đối thủ ghê gớm. Sự chống đối mà các Ngài gặp không chỉ đến từ những người khước từ vì không hiểu. Có một lực lượng đối kháng. Một sự chống lại Tin Mừng đến từ xa hơn : Đó là những điều chúng ta gọi là 'Tội lỗi thế gian". Ngày nay. chúng ta có thể diễn tả thế nào về những thế lực xấu xa mà chúng ta phải chống lại để xua đuổi chúng.

Chữa lành...

Lôi kéo con người ra khỏi những thế lực xấu làm cho họ hư mất, đó cũng là giúp họ thăng hoa phẩm giá một cách tích cực, là chữa lành họ. Đây là một trong những đòi hỏi rõ ràng của Đức Giê sụ. Mệnh lệnh vẫn có giá trị, mặc dù trong bối cảnh văn minh hiện nay, nó mang một hình thức cụ thể khác.

Rao giảng Tin Mừng. Không phải chỉ là "giảng dạy" mà đặc biệt còn là "giải thoát". Ngày nay rao giảng Tin Mừng phải có những hình thức tân tiến và thích ứng thế nào để phù hợp với thời đại của chúng ta ? Chúng ta phải chiến đấu chống lại những sự dữ nào ? Xã hội chúng ta cần sự chữa lành nào?

Tin Mừng vẫn luôn mang tính thời sự, nhưng chính chúng ta không còn nghe được lời kêu gọi hoán cải của Tin Mừng nữa.



 
Giáo phận Nha Trang - Chú Giải
" Người bắt đầu sai các ông đi "

BÀI TIN MỪNG : Mc 6, 7 - 13

I. Ý CHÍNH :

Bài Tin Mừng hôm nay kể lại câu chuyện Chúa Giêsu sai phái 12 tông đồ đi thực tập truyền giáo, đồng thời Người dặn bảo các ông về cách thức và mục đích của việc truyền giáo . Sứ mệnh Chúa trao cho các tông đồ cũng là sứ mệnh của Giáo Hội và mỗi người chúng ta .

II. SUY NIỆM :

1 / " Chúa Giêsu gọi 12 tông đồ " :

Chúa Giêsu đã triệu tập 12 tông đồ để huyến luyện nay Người muốn cho các ông đi thực tập truyền giáo .

* Và sai từng hai người đi : Chúa sai từng hai người đi là để giúp đỡ nhau, biểu lộ tinh thần liên đới và hiệp nhất của người tông đồ đồng thời cũng để làm chứng tích sống động về điều họ rao giảng là cộng đoàn huynh đệ yêu thương . Người ta cứ dấu đó mà biết họ là môn đệ của Chúa Kitô .

* Người ban cho các ông quyền trên các thần ô uế . Để tạo uy thế cho việc rao giảng, Chúa Giêsu ban cho các ông " Có quyền trên thần ô uế " .

+ Quyền : ở đây là quyền trừ quỷ và chữa các bệnh tật ( Mt 10, 8 ; Lc 9, 1 ) . Quyền này thuộc về Thiên Chúa, nhưng các ông được ban cho là do lời cầu nguyện và đức tin ( Mc 9, 18 - 19 ; 22 - 23 ; 28 - 29 ; 11, 22 - 24 ) .

+ Thần ô uế là những sức mạnh chống lại Thiên Chúa, ô uế là vì chúng biểu lộ giữa loài người một sức mạnh chống đối với sự thánh thiện của Thiên Chúa và của dân Người ( Mt 8, 16 - 17 ; Mc 1, 34 ; 3, 10 - 11; Lc 4, 39 ) .

2 / " Và Người truyền cho các ông đi đường đừng mang gì " :

Đây là những lời dặn dò về cách thức khi đi truyền giáo .

+ Đừng mang gì : có nghĩa là từ bỏ mọi dính bén để hoàn toàn phó thác cho Chúa quan phòng .

+ Ngoài cây gậy : chi tiết này được kể lại cách khác nhau giữa Mc và Mt và Lc, là vì theo thói quen người Hy lạp và người Do thái . Đi đường mang theo gậy có hai ý nghĩa : Gậy là cái cần phải có để chống mà đi đường, những người nghèo thường dùng, thì được phép mang đi ( Mc hiểu theo nghĩa này ), Còn gậy là cái cầm tay để cho oai vệ, những người giầu có thường mang, là đồ vô ích nên không được mang đi ( Mt và Lc hiểu theo nghĩa này ) .

+ Không mang bị mang bánh, không mang tiền trong túi : Người tông đồ không chuẩn bị gì để lên đường dù là đồ vật hay là tiền bạc, để thực sự sống phó thác nơi Thiên Chúa quan phòng .

+ Nhưng chân đi dép : Mc cho đem dép ( Mc 6, 9 ) . Mt thì cấm ( Mt 9, 10 ) . Còn Lc 10, 9 thì không nói tới . Chi tiết này được các Thánh sử kể lại khác nhau cũng giống như ý nghĩa của việc mang gậy . Điều này chứng tỏ kiểu nói của Chúa ở đây không nên hiểu theo nghĩa hẹp hòi quá .

+ Đừng mặc hai áo : vì hai áo trái với đức khó nghèo tuyệt đối và trái với lòng tin phó thác . Những chi tiết trên đây nói lên tinh thần tông đồ sẵn sàng theo Đức Kitô trong sự từ bỏ hoàn toàn . Như vậy, trách vụ mang Tin Mừng và trung thành với Tin Mừng được sống trong điều kiện khó khăn và đòi hỏi phải từ bỏ mọi sự ràng buộc khác .

3 / " Đến đâu, các con vào nhà nào, thì ở lại đó cho đến khi ra đi " :

Theo phong tục Đông Phương, người ta rất hiếu khách, nên khi đã vào ở nhà nào rồi thì ở đó luôn cho đến khi ra đi . Vì thế khi tự ý thay đổi chỗ ở là làm mất uy tín đối với chủ nhà và có thể gây ra hiểu lầm rằng : cho mình là người hay thay đổi hoặc thích tiện nghi .

Ở đây đòi hỏi người tông đồ phải biết thích nghi với hoàn cảnh và môi trường truyền giáo .

4 / " Ai không đón tiếp các con, cũng không nghe lời các con, thì hãy ra khỏi đó, phủi bụi chân để làm chứng tố cáo họ ..." :

Trong trường hợp người ta từ chối không đón nhận thì người tông đồ không nên khư khư đòi ở lại, Chúa dặn phải " Phủi bụi chân " là vì theo phong tục người Do thái người ta quen giũ bụi chân mỗi khi họ từ đất dân ngoại về đất của mình . Cử chỉ này biểu lộ sự tuyệt giao vì họ không tiếp xúc với dân ngoại .

Nhưng ở đây Chúa muốn nhắc nhở rằng phủi bụi như vậy là để làm chứng sự tệ bạc ở nơi ấy không nhận ơn Chúa .

5 / " Các ông ra đi rao giảng sự thống hối " :

Lãnh chỉ thị của Thầy song, các tông đồ đi khắp xứ Galilê giảng sự thống hối .

Vì công việc cứu chuộc chưa hoàn tất nên Chúa không dậy tông đồ giảng về Người . Điều đó Người sẽ dậy các ông rao giảng sau này khi Người đã chịu chết và sống lại, để chứng tỏ Người là Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu Thế ( Rm 1, 3 - 4 ; 1Cr 1, 23 ) . Hiện nay Người muốn các ông rao giảng như Gioan tiền hô, là sự ăn năn sám hối và dậy người ta dọn lòng để xứng đáng lãnh ơn Cứu chuộc trong Nước Thiên Chúa .

6 / " Các ông trừ quỷ, sức dầu chữa lành nhiều bệnh nhân " :

Cũng như Thầy mình, các tông đồ chiến đấu với ma quỷ để chứng minh rõ ràng Nước Thiên Chúa là Nước thiên liêng, Nước mà các ông đang sửa soạn bằng lời giảng và việc xua đuổi ma quỷ .

Các ông cũng chữa khỏi bệnh tật cách khác thường . Nhưng cách chữa của các ông khácvới Chúa Giêsu ở chỗ : Chúa Giêsu chữa bệnh bằng một cử chỉ, lời nói ( Mc 5, 42 ) còn các ông dùng việc xức dầu .

Xức dầu để chữa bệnh là một việc quen làm ở bên Đông Phương vào thời Chúa Giêsu ( Lc 10, 34 ) . Nhưng ở đây các tông đồ không làm theo như một lương y mà theo như một phép lạ, vì xức dầu chỉ là một hình thức mà kết quả vượt quá sự tự nhiên đó .

Qua việc trừ quỷ và xức dầu cho bệnh nhân, Chúa Giêsu muốn gắn liền hiệu quả siêu nhiên cho xác và cho hồn vào với một nghi thức bề ngoài . Ở đây ám chỉ bí tích xức dầu thánh ( Ga 5, 14 - 15 ) .

III. ÁP DỤNG :

A / Áp dụng theo Tin Mừng :

Qua bài Tin Mừng hôm nay, phụng vụ muốn nhắc nhở cho mọi thành phần trong Giáo Hội phải ý thức cách tích cực hơn về sứ mệnh tông đồ truyền giáo của mình trong xã hội ngày nay .

Lời Chúa Giêsu dặn bảo các Tông đồ cũng là lời Chúa nhắn nhủ mỗi người tông đồ chúng ta hôm nay phải thực sự biết từ bỏ mọi dính bén làm cản trở việc tông đồ truyền giáo của mình .

Chúng ta có thể thi hành sứ mệnh tông đồ dưới nhiều hình thức :

* Tông đồ bằng đau khổ : không rao giảng, không hoạt động nhưng thinh lặng tế lễ cứu bao linh hồn như Chúa Giêsu hấp hối trên thánh giá, Đức Mẹ hấp hối trong tâm hồn dưới cây thánh giá .

* Tông đồ bằng những hy sinh : trong âm thầm như : hạt lúa chôn vùi mục nát đẻ sinh muôn ngàn hạt khác nuôi sống nhân loại .

* Tông đồ bằng chứng tích : đây là tang vật đáng tin .

* Tông đồ bằng tiếp xúc : tâm hồn chúng ta đã chẳng nóng bừng lên khi Người đi đường đàm đạo và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta đó sao ? ( Lc 24, 32 ) .

* Tông đồ bằng tư tưởng : cầu nguyện .

* Tông đồ bằng lời nói : nâng đỡ người bạn đang lung lạc, an ủi kẻ sầu buồn .

* Tông đồ bằng bữa ăn : ăn là chuyện thường tình nhưng Chúa Giêsu ăn ở nhà Martha, ở nhà Simon, Giakêu ... khác xa chúng ta . " Hôm nay ơn cứu rỗi đã đến nhà này " ( Lc 19, 9 ) .

* Tông đồ bằng thư từ : Phaolô ngồi trong tù vẫn viết thư cho các giáo đoàn, nhờ thế giữ vững và phát triển được đức tin của Giáo Hội sơ khai .

B / Áp dụng thực hành :

1 / Nhìn vào Chúa Giêsu :

Chúa Giêsu trao việc cho các Tông đồ và dặn dò kỹ lưỡng . Chúng ta trao hoặc nhờ ai việc gì cần phải tạo điều kiện và dặn dò kỹ lưỡng để công việc được thi hành kết quả .

Chúa sai từng hai Người đi đó là ý Chúa muốn cho người tông đồ phải biết giúp đỡ nhau, sống hợp nhất, huynh đệ .

Chúa dặn đừng mang gì : người tông đồ đừng quá lệ thuộc những gì bên ngoài, ngay cả những phương tiện cần dùng như cơm bánh, đồ dùng ...

2 / Nhìn vào các Tông Đồ :

Các ông rao giảng sự thống hối : chúng ta thăm viếng, tiếp xúc, để giúp đỡ người ta trở lại, giúp cho kẻ tội lỗi, người lầm lạc, kẻ hư nết ... được trở lại, cải thiện ...

Các ông trừ quỷ, xức dầu : chúng ta giúp cho người lương trở lại, dậy giáo lý tân tòng, uốn nắn người mê muộn, khuyên bảo kẻ xấu ...

IV. Lời Nguyện Chung

* Lời Mời Gọi : Anh chị em thân mến, mỗi người chúng ta ngày nay cũng đang được Chúa gọi và sai đi Loan báo Tin Mừng. Trong sự tín thác vào Chúa, chúng ta cùng dâng lời nguyện xin.

    1. Bản chất của Giáo Hội là loan báo Tin Mừng. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi thành phần trong Giáo Hội luôn ý thức chu toàn sứ mạng truyền giáo của mình, để Tin mừng của Chúa được vang lên trên khắp mọi nẻo đường dương thế.

     2. Chúa căn dặn các môn đệ sống tinh thần khó nghèo và tín thác vào Chúa. Chúng ta cùng cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo Quốc gia luôn biết sống vì lợi ích của dân nước, có một cuộc sống công chính liêm khiết và tích cực chống lại tệ nạn tham nhũng làm nghèo đất nước.

     3. Chúa sai các ông đi từng hai người một. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta luôn biết sống yêu thương hiệp nhất với nhau, qua đó, thực sự trở nên dấu chỉ của Tin mừng Nước Trời được loan báo.

* Kết Nguyện : Lạy Thiên Chúa là Cha nhân ái, qua Chúa Giêsu và Giáo Hội Chúa đã sai chúng con đi vào trong thế giới chúng con đang sống để loan báo Tin Mừng. Xin ban cho chúng con những ơn cần thiết để chúng con chu toàn trách nhiệm Chúa trao phó. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.

 


HTMV Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn