Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XV Thường Niên C

Tin Mừng Lc 10: 25-37 Giáo Hội muốn nhắc lại cho chúng ta về điều kiện để được sống đời đời là mến Chúa và yêu người. Đồng thời cũng dạy cho chúng ta về cách thế yêu người là yêu tha nhân như chính mình.

CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN C

NGÀY 14/07/2019



Đnl 30,10-40 ; Cl 1,15-20 ; Lc 10,25-37

Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải


GIỚI LUẬT TRỌNG NHẤT. NGƯỜI SAMARITANÔ NHÂN LÀNH (Lc 10,25-37)

1. Để trả lời câu CGS hỏi: "trong lề luật đã chép như thế nào ?", người luật sĩ trích dẫn đoạn đầu kinh Shéma hay lời tuyên xưng đức tin mà người Do thái mỗi ngày phải đọc hai lần: "Ngươi hãy yêu mến Chúa là TC ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức, và hết trí khôn ngươi" (Đnl 6,5). Và ông thêm: "và yêu thương cận nhân như chính mình" (Lv 19,18), là câu không có trong kinh Shéma cổ truyền. Cách chú giải này chắc chắn không có trái với lề luật, vì CƯ đã minh nhiên dạy phải yêu thương tha nhân, dù họ không phải là người Do thái (Lv 19,34; Đnl 10,9). Tuy nhiên, các thày Rabbi không theo lối chú giải đó, vì họ chỉ thương yêu anh em đồng chủng thôi. Thực ra, trong CƯ không có liên kết hai giới luật này, như người luật sĩ đã làm, và đây là một trong những nét đặc sắc của CGS, người đầu tiên đã liên kết hai giới đó, bằng cách đơn giản hóa khoản luật của CƯ. Vậy phải chăng nhà luật sĩ chất vấn CGS là một trong những người Do thái đạo đức đã trung thành sống tinh thần lề luật, thay vì sống theo lối ích kỷ hạn hẹp của các thày rabbi ? Điều này không chắc vì nhà luât sĩ tra vấn CGS để "thử" Ngài (c.25) và tranh luận với Ngài. Có lẽ nên coi nhà luật sĩ là người đã nhiều lần nghe CGS dạy về tính cách bác ái huynh đệ, nên bây giờ khi trả lời CGS ông đã tạm thời nói theo quan điểm của Ngài. Và khi thấy câu trả lời của mình chấp nhận, ông đã muốn chất vấn và làm CGS lúng túng khi xin Ngài định nghĩa tha nhân là ai. Quả thực, câu hỏi này đã gây nhiều khó khăn và tranh luận trong giới rabbi.

2. Nhiều giáo phụ và các tác giả hiện đại đã hiểu dụ ngôn người Samaritano nhân lành theo hai cách khác nhau. Các giáo phụ xem đây là một dụ ngôn biểu trưng, nghĩa là một mạc khải các bí nhiệm của Nước Trời. Theo lối chú giải này, người Samaritano là hình ảnh Đức Kitô , người bị kẻ cướp bóc lột là biểu trưng cho giáo hội. Đối lại, tất cả các nhà chú giải hiện đại (trừ Hoskyns, Van den Eynde và có lẽ cả Daniélou nữa) đã hiểu dụ ngôn này theo nghĩa tự nguyện, như là một ví dụ cụ thể để giúp hiểu một chân lý tổng quát. Chúng ta đứng trước hai lối chú giải khác nhau, một có tính cách thần bí, một có tính cách luân lý.

Vì thời gian và khuôn khổ hạn hẹp, chúng tôi không thể dứt khoát phê bình 2 lối chú giải này, vì lối nào cũng có nhiều đặc điểm độc đáo riêng. Tuy nhiên chúng tôi theo lối chú giải hiện đại vì hai lý do. Trước hết, theo giáo huấn giáo hội thường dạy, kể từ thông điệp Divine Afflante Spiritu của Đức giáo hoàng Piô XII, các nhà chú giải trước hết phải cố công khám phá và xác định... Nghĩa tự nguyện (le sens littéral) (Ds 2293) của Thánh kinh. Trong trường hợp chúng ta đang gặp, dựa theo mạch văn của dụ ngôn, chắc chắn nghĩa tự nguyện là nghĩa luân lý mà khoa chú giải hiện đại đã khám phá. Thứ hai, dụ ngôn không có nghĩa thần bí, ít nhất là trong nghĩa nguyên thủy của nó. Thực vậy, dụ ngôn không đưa ra một chi tiết nào trích từ CƯ nói lên ý nghĩa biểu trưng cả. Bằng chứng là các giáo phụ đã chú giải rất khác nhau khía cạnh ẩn dụ của dụ ngôn. Tuy nhiên chớ kết luận là khi giảng dạy ta không thỉnh thoảng ẩn dụ hóa dụ ngôn trong một giới hạn nào đó. Nhưng giảng thuyết là một chuyện, chú giải là một chuyện khác: nếu khoa chú giải là cơ sở của giảng thuyết, thì giảng thuyết cũng có thể vượt lên trên khoa chú giải tùy trường hợp đặc biệt, cụ thể của phụng vụ. Mutatis mutandis, những nhận xét vừa nói có thể áp dụng cách tổng quát cho nhiều trang phúc âm, mà không cần xác định từng trường hợp một đâu là mối liên hệ giữa khoa chú giải hiện đại và lối chú giải của các giáo phụ.

3. Dụ ngôn có nhiều điểm đơn giản. Trên đường vắng vẻ, một người vô danh, không ai biết chức vụ địa vị, chủng tộc, quốc tịch, tôn giáo của y, bị rơi vào tay bọn cướp bóc lột và gây trọng thương. Thày tư tế và trợ tế Lêvi lần lượt đi qua nhưng đã không thèm ngó ngàng gì đến y. Tình cờ người Samaritanô đến, trông thấy y và động lòng thương săn sóc giúp đỡ y. CGS kết luận: "Theo ông nghĩ ai trong ba người đó là cận nhân của người bị rơi vào tay bọn cướp ? " (c.36)

Thoạt nhìn, câu hỏi của CGS không đáp ứng câu người luật sĩ hỏi: "Ai là cận nhân của tôi ?". Qua đó ông muốn hiểu: "Ai là đối tượng của đức ái mà luật dạy: người đồng hương, đồng đạo, người lương dân, người ngoại kiều cư ngụ tại Israel ? Tôi phải yêu ai mới gọi là giữ lề luật ?" Dù CGS trả lời cách nào, người luật sĩ cũng có thể hoặc nhân danh lề luật hoặc một truyền thống đã có, bắt bẻ Ngài, vì người ta không thể lưu tâm hay giúp đỡ một người ô uế, thờ ngẫu tượng. Phần CGS không những không định nghĩa cận nhân là gì, nhưng dụ ngôn và câu hỏi cuối cùng đưa ra một vấn nạn mới: phải cư xử thế nào mới gọi là cư xử trong tình anh em ? Ai trong ba người bộ hành đã xự thế trong tình anh em, ai đã thành người cận nhân (gegonenai) của kẻ vô danh.

Nhiều nhà phê bình cho rằng cuộc đối thoại với nhà luật sĩ (cc.25-28) và dụ ngôn (cc.30-37) ngay từ đầu là 2 tài liệu độc lập. Có lẽ Lc đã dùng cuộc đối thoại với nhà luật sĩ như là lời dẫn nhập vào dụ ngôn, nối kết bằng câu 29 "ai là cận nhân của tôi" Nhiều nhà phê bình khác trả lời rằng dụ ngôn đã trả lời câu hỏi cách trung thực: cận nhân là mọi người đang trong cảnh túng thiếu. Nói như thế là đúng nhưng không phải là nghĩa câu hỏi cuối cùng của CGS: ai trong ba người bộ hành đã tỏ ra mình là cận nhân của người xấu số ?

Hình như điều mâu thuẫn ngoại tại này sẽ biến mất, nếu một đàng ta chú ý đến thực tại sống động hơn là mặt chữ, và đàng khác nếu ta bỏ qua lối lý luận khô khan của người Hy lạp và phương tây để hiểu não trạng tình tiết phương đông đầy bí ngữ, dụ ngôn và ngạn ngữ. Do đó, đừng quá chú ý đến ý nghĩa của một chữ hay một câu mà phải nhận ra điều hình ảnh gợi lên, và đoán ngay ra tư tưởng thầm kín của người đối thoại.

Trước tiên cần ưu ý điểm này: "dụ ngôn" người Samatritanô không phải là một so sánh, một lý chứng nhằm giúp xác tín, nhưng là một ví dụ, nghĩa là một trường hợp cụ thể, cá biệt nhằm làm sáng tỏ học thuyết là ví dụ đưa ra làm kiểu mẫu cho đời sống tôn giáo hay luân lý ta phải bắt chước noi theo.

Đúng ra, nhà luật sĩ, với thiện ý hay ác ý - đã đến hỏi điều các ông phải làm để sống đời đời. Mất mặt vì chính ông phải trả lời câu hỏi mình nêu lên, ông muốn tranh luận về lý thuyết, nhưng CGS đã lèo lái câu chuyện theo ý Ngài. Ngài đã chú ý đến câu hỏi của nhà luật sĩ, vì Ngài luôn quan tâm đến việc cứu rỗi các linh hồn. Giống như trường hợp tha tội cho người đàn bà tội lỗi, Ngài đã tìm cách đánh thức tâm hồn ông Simon trước giá trị của lòng biết ơn (7,36-50); ở đây cũng vậy, Ngài ban cho nhà luật sĩ ánh sáng sự sống, chứ không phải một câu định nghĩa chuyên môn. Vì điều cốt yếu không phải là biết ai là cận nhân, nhưng là bác ái hành động giúp kẻ khác, dù họ là ai mặc lòng (2 câu 37 và 36 đều nói đến động từ làm, hành động (pôieô). Vì thế, dụ ngôn và câu hỏi cuối cùng của CGS thực sự đã trả lời câu hỏi đầu tiên của nhà luật sĩ: "Tôi phải làm gì để sống đời đời ?"

Cũng không chắc câu hỏi tis estis mou plêsion (c.29) có nghĩa: "Ai là cận nhân của tôi ?". Vì plêsion là một trạng từ và không có mạo từ đi trước như ở câu 27. Sự khác biệt về hình thức tạo nên sự khác biệt về ý nghĩa. Nếu hiểu là "Ai là cận nhân của tôi" hoặc "đối với tôi cụ thể mà nói, ai là một cận nhân ?", phải thú nhận rằng dụ ngôn đã trả lời vấn nạn luân lý trên bình diện thực tiễn: người Samaritanô là người duy nhất đã cảm thấy và tỏ ra mình là cận nhân của kẻ xấu số; do đó, chính tình yêu làm ta thành cận nhân; nhờ tình yêu ta thành anh em của mọi người, dù họ gần hay xa ta, về phương diện máu mủ, quốc tịch, tôn giáo... CGS "không trả lời", nhưng đã "lèo lái" cuộc đối thoại, theo ý hướng ban đầu: để sự sống đời đời, phải... yêu tha nhân như chính mình (c.27). Trong lúc nhà luật sĩ muốn hiểu rõ từ ngữ "tha nhân", CGS xác định từ ngữ "yêu", như Ngài đã làm trong dụ ngôn ở đồng bằng (chương 6). Là tiên tri của giao ước mới, Ngài xác định ý nghĩa âgâpê (tình yêu) mà TC đòi buộc. Chứng cớ cho thấy đó là thực tại đề cập đến, và tha nhân định nghĩa bằng các phạm trù pháp lý, chứng cớ ấy là: nhà luật sĩ đã chấp nhận giáo huấn của CGS (c.37), khi mà ông có thể bắt bẻ Ngài đã không trả lời đúng câu hỏi.

Do đó, phải công nhân không những trình thuật này đồng nhất mà còn là một trong các giáo huấn cô đọng nhất của phúc âm về tình bác ái CGS mời ta suy nghĩ: "Theo ông, ai trong ba người đó là anh em của người bị rơi vào tay bọn cướp ?" (c.36). Thực ra trong ba người, chỉ có người Samaritanô là có liên hệ. Thày tư tế và thày trợ tế Lêvi, đại diện hàng giáo phẩm Do thái, nhắc đến để nói lên sự đối nghịch giữa óc vị luật của CƯ với tinh thần của TƯ. Họ có lý do tránh né người bị thương tích và biện minh việc họ từ chối giúp đỡ người vô danh đang gặp hiểm nguy. Là nạn nhân của bọn cướp, người này có thể bị TC phạt, nên phải vui lòng cam chịu (Giop 6,14.21; 7,8; 16,11); đến gần người đó có thể mắc tội ô uế theo lề luật và do đó không thể cử hành các nghi lễ tế tự (x.Ds 19,11.14). Dĩ nhiên, thái độ của hai nhà tư tế là một thái độ hờ hững, nhưng thật ngạc nhiên không thấy CGS chê trách phàn nàn họ gì cả. Chính CGS đã chấp hành tốt luật bác ái trước khi giảng về bác ái.

4. Thật có ý nghĩa, khi CGS chọn người Samaritanô trong dụ ngôn nói về tình bác ái huynh đệ. Dù là người lạc giáo, người ngoại quốc không biết gì về lề luật như nhà luật sĩ, không có phẩm cách tế tự như thày tư tế và trợ tế Lêvi, ông đã tỏ ra là người thật nhân bản và đạo đức. Đã chấp hành tốt hai giới luật lớn của CƯ và của TC sau này nói về tình bác ái. Trong ba khách bộ hành ông là khuôn mặt người Do thái đích thật. Hơn nữa, trong bài giảng ở đồng bằng, CGS đã đòi các môn đệ Ngài đừng hạn hẹp tình yêu của họ trong phạm vi bà con quen biết. Nhưng nhờ yêu thương tất cả mọi người, mà người Kitô hữu khác với "người tội lỗi" (Lc 6,32-34) và trở thành (hay tỏ ra) là Con Đấng tối cao. Và này, người Samaritanô khi giúp một kẻ vô danh trở thành kiểu mẫu của tình bác ái đích thực. Phải chăng ngoài tôn giáo chính thức, cũng có thể có người con đích thực của TC, mà Chúa Cứu thế đến tập họp lại (Gio 11,52) ? Chính với một người nữ xứ Samaria, mà CGS đã mạc khải việc tế tự trong tinh thần và chân lý, gạt bỏ mọi phân biệt chủng tộc và nghi lễ (Gio 4,23-24). Phải chăng tình bác ái đã tạo nên việc thờ phượng đẹp lòng chúa Cha ? Quả thực, văn mạch dụ ngôn dạy rằng chính bác ái mới chiếm hữu sự sống vĩnh cửu (cc.25.28.37), và đó cũng là học thuyết mà thánh Phaolô và thánh Gioan hết sức nhấn mạnh.

KẾT LUẬN

Để thay thế một vấn nạn có thể gây ra nhiều tranh luận về các loại cận nhân khác nhau, CGS đã chất vấn về các thực tại sống động. Nhà luật sĩ không thể chạy trốn bài học trước mắt: ai lâm cảnh thiếu thốn đều có quyền đòi yêu thương, thể hiện bằng hành động. Họ là cận nhân của ta, và ngược lại ta là cận nhân của họ. Cũng như người Samaritanô nhân hậu đã cảm thông yêu thương người không thân thích, không có người đồng bào, đồng đạo; không gì có thể ngăn cản tình yêu của ông đối với tha nhân.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Cách cư xử của người Samaritanô nói lên một đức ái hoàn hảo bộc phát và nhanh nhẹn. Dù đã biết luật bác ái huynh đệ, người ký lục cũng hỏi CGS về trương độ của tình yêu. Ông chỉ yêu và vì trong giới hạn luật buộc. Còn người Samaritanô yêu, dù không biết khoản luật đó, cũng như không biết đối tượng tình yêu của mình.

2. Trong bài giảng trên núi, CGS đòi người ta đừng chỉ yêu vì đã yêu. Người Samaritanô, không là người đầu tiên yêu thương mà tình yêu của ông còn là một tình yêu vô vị lợi, một tình yêu hiến dâng trọn vẹn... Cho nên đừng phân biệt trong nhân loại ai là người ta có thể yêu mến, nhưng hãy bắt đầu yêu, với tình yêu phổ quát.

3. Đối nghịch với sự từ chối dấn thân của người đi trước lòng bác ái của người Samaritanô có tính cách cá vị, tích cực và thiết thực. Ông đã bỏ dở cuộc hành trình, để băng bó người bị thương và trang trải mọi phí tổn. Không những ông đã quảng đại đem tiền bạc ra giúp đỡ, mà chính ông đã dấn thân phục vụ người anh em.

4. Dụ ngôn còn nói lên điều này: đức ái bao hàm lòng cảm thông và thương xót. Người Samaritanô có thể đoán kẻ bị thương trên đường Giêrusalem về Giêricô là một người Do thái, nghĩa là một kẻ thù không đội trời chung. Thế mà này không ông đã giúp đỡ, mà còn cảm động khi thấy anh ta bị ngược đãi như vậy ! Đó là điểm CGS nhấn mạnh hơn cả: liền sau khi thấy người bị thương, ông đã động lòng thương. Đây là tình cảm tinh tuyền, chân thật khiến ông đã "đối xử đẹp", khác với thày tư tế và trợ tế Lêvi.

5. Yêu mến TC trong nhà thờ chưa đủ (thày tư tế và thày Lêvi trong dụ ngôn vừa rồi rời Giêrusalem, là nơi họ đã chu toàn bổn phận tế tự trong đền thờ, nhưng hình như họ chưa sống đạo), nếu không yêu mến Ngài trên đường đi và trong người anh em (thày tư tế, thày Lêvi, người công giáo ngoan đạo ngày hôm nay, đã làm ngơ tránh xa, trong khi người Samaritanô - người tin lành hay Phật tử - dừng lại chăm sóc người khốn khổ). Tế tự, mà không yêu tha nhân, đối với TC là một điều ghê tởm đáng ghét, như các tiên tri đã dạy.

6. Đức Kitô đã là người Samaritanô tốt lành đối với chúng ta. Ngài đã rời bỏ Giêrusalem thiên quốc để đến băng bó và chữa lành các vết thương mà tội lỗi và sự chết gây ra cho nhân loại. Đoạn Ngài ra đi, để nhân loại trong quán trọ là giáo hội Ngài. Bây giờ đến lượt chúng ta phải tiếp tục nhiệm vụ người Samaritanô nhân lành bên cạnh tất cả ai chúng ta gặp và chân tình giúp đỡ băng bó các vết thương của họ (nghèo nàn, chết chóc, đau yếu, cô đơn...) chính với chúng ta mà CGS ban huấn lệnh cấp bách này: "hãy đi và làm như thế". Nếu luôn nghe tiếng Ngài, chúng ta "sẽ sự sống đời đời" (c. 25)


 

Noel Quession - Chú Giải


Và này có người thông luật kia đứng lên hỏi Đức Giêsu để thử Người rằng : "Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp ?"

Vào thời Đức Giêsu, câu hỏi này tất nhiên không phải mọi người Do Thái đều đạt ra. Những người Pha-ri-sêu tin có đời sau và sự sống lại của người chết. Nhưng những người Sa-đu-xê-ô không tin chuyện đó. 


Ngày nay, những người ở xung quanh chúng ta tiếp tục có những ý kiến trái ngược về vấn đề đó. Vậy, điều này không có gì là mới cả. Dù câu trả lời là khẳng định hay phủ định thì vấn đề đời sống vĩnh cửu là một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất mà con người có thể tự đặt ra, một vấn đề nghiêm túc nhất, mà sự được thua, rất là mạo hiểm. Pascal đã thử đem lại một câu trả lời nổi tiếng cho vấn đề đó với "sự đánh cuộc của Pascal" (Tư tưởg 343) : "Thiên Chúa hiện hữu hoặc không hiện hữu. Nhưng chúng ta nghiêng về phía nào ? Phải đánh cuộc thôi. Điều này không cố ý bạn đã bị lôi kéo vào rồi. Khi chọn "Thiên Chúa hiện hữu", nếu bạn thắng, bạn được tất cả ; nếu bạn thua, bạn không mất gì cả. Vậy bạn hãy đánh cuộc Người hiện hữu không chút ngần ngại... ở đây bạn được một cuộc sống vô cùng với hạnh phúc vô tận, một khả năng được cuộc đổi lại một con số hữu hạn những khả năng mất mát, và điều bạn dùng đạt cuộc cũng hữu hạn. Điều này loại bỏ hết mọi do dự . . . "

Thực vậy, hai giả thuyết (Thiên Chúa hiện hữu...Thiên Chúa không hiện hữu) không có cùng một trọng lượng. Nếu chúng ta muốn đánh cuộc trên vấn đề này, vậy có một sự chọn lựa giữa "mặt sấp" và "mặt ngửa" : một cơ may trên một con số giới hạn các ngẫu nhiên. Nhưng nếu chúng ta nhận định về cái được có thể xảy ra (tất cả . . . hoặc không gì cả), lúc đó, theo Pascal, không người đánh cuộc nào mà không ngần ngại chọn lựa, "Điều xấu nào xảy đến với bạn khi thực hiện sự chọn lựa ấy ? bạn sẽ sống trung tín, khiêm nhường, biết ơn, từ thiện, là một người bạn chân thành, trung thực.

Thực ra, bạn sẽ không sống trong những lạc thú bại hoại, trong vinh quang, trong các thú vui ; nhưng bạn sẽ không có những điều vui mừng khác đó sao ? Tôi nói với bạn rằng bạn sẽ thu được những điều đó ngay trong cuộc đời này ; và ở mỗi bước chân bạn thực hiện trên con đường ấy bạn sẽ thấy rõ sự chắc chắn của sự thắng cuộc và sự hư vô của điều mà bạn dùng để đặt cuộc, rồi bạn sẽ biết rằng bạn đã đánh cuộc cho một điều chắc chắn, vô cùng, mà bạn đã không cho gì cho sự đánh cuộc ấy".

Mọi thời đại và trong mọi nền văn minh, con người đều hy vọng vào "một đời sau". Đức Giêsu thường nói về nó. Người cũng nói rằng "đời sống vĩnh cửu" ấy đã được bắt đầu. Đối với những ai tin, nó đã có mặt nó đã được sống, dù rằng chưa hoàn thành, dĩ nhiên rồi. Nhưng sự sống ấy chủ yếu là gì ? Và phải làm gì để có nó ? Đó là câu hỏi của người thông luật. Cũng là câu hỏi của chúng ta.

Người đáp : "Trong Luật đã viết gì ? ông đọc thế nào ? Ong ấy thưa : "Ngươi hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn người và người thân cận như chính mình" Đức Giêsu bảo ông ta : "ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống". 

Trước hết, người thông Luật đọc lại kinh cầu hằng ngày của những người Do Thái, Kinh Shéma, trích ra từ sách Đệ Nhị Luật 6,5. Đức Giêsu cũng thường đọc kinh ấy mỗi ngày nhiều lần. Nhưng Người thêm vào một đoạn rút ra từ sách Lê vi 19,18.

Để được sự sống đời đời, phải yêu thương ! Yêu thương ! Câu hỏi và câu trả lời ấy cũng được tìm thấy trong hai Tin Mừng nhất lãm khác (Mát thêu 22, 34-40 ; Máccô 12, 28-31). Nhưng chính Lu ca không còn phân biệt một giới răn "thứ nhất" và một giới răn "thứ hai" lòng yêu mến Thiên Chúa và lòng yêu thương người thân cận không thể tách rời nhau. Còn trong cuộc đời tôi, có được như thế không ?

Nhưng ông ấy muốn chứng tỏ là mình có lý, nên mới thưa cùng Đức Giêsu rằng : "Nhưng ai là người nhân cận của tôi?"

Cho tới lúc này, chúng ta chưa thấy có gì độc đáo.

Giáo huấn của Đức Giêsu không khác Luật của Cựu Ước... và luật của mọi tôn giáo lớn. Sứ điệp của Đức Giêsu nhân bản một cách sâu xa. Yêu thương là luật nền tảng của con người.

Nhưng câu trả lời của Đức Giêsu cho câu hỏi : "Ai là người thân của của tôi ?" sẽ hướng chúng ta về cái mới mẻ thật sự có tính cách mạng của Tin Mừng. Đây là một tình yêu phổ quát, yêu thương cả "kẻ thù" mình. 

Đức Giêsu đáp : "Một người kia từ Giê-ru-sa-lem xuống Giê-ri-khô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống, nửa chết. Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi. Rồi cũng thế, một thầy Lê vi đi tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi...

Một "thầy tư tế", một "thầy Lê vi" ! Đức Giêsu dùng cách nói mạnh. Hai chuyên viên về sự thờ phụng, hai nhà phụng vụ của Đền thờ, lo lắng tuân giữ tỉ mỉ Luật và các nghi thức. Đức Giêsu lấy hai hạng người ấy để cho chúng ta ví dụ về việc không nên làm ! Hai người này, luôn chăm lo phục vụ Thiên Chúa nhưng có một thái độ hoàn toàn ghê tởm đối với con người . Ngày nay, các tòa án dù không phải của Kitô giáo hẳn phải buộc họ vào tội danh "không giúp đỡ người đang gặp nguy hiểm". Tuy nhiên, từ quan điểm riêng, họ có lý : trong tâm thức và Luật Do Thái, họ nghĩ rằng bổn phận của họ là không được "sờ vào máu" để được ở trong tình trạng thanh khiết về nghi thức và để bảo đảm việc phụng vụ tại Đền thờ. Như thế, trong đời sống của chúng ta, một đôi khi chúng ta cáo từ không muốn giúp đỡ bằng cách viện ra những lý do tất cả thiện ý.

Bằng việc cố ý chọn lựa hai ví dụ đó, Đức Giêsu nhắc lại cho chúng ta một chân lý quan trọng của Kinh Thánh (Ô-sê 6,6) mà Người đã dùng hai lần để bào chữa việc Người không tôn trọng Luật phụng tự, vì lợi ích cho một luật khác quan trọng hơn về tình yêu thương huynh đệ (Mát-thêu 9,13- 12,7 ; 23,23). Sự lặp lại này, sự nhấn mạnh này rất có ý nghĩa. Thiên Chúa gắn cho sự "thực hành" bác ái và phục vụ tha nhân trong đời sống hằng ngày tầm quan trọng to lớn hơn việc thực hành phụng tự và cầu nguyện của chúng ta. Người ta không phục vụ Thiên Chúa trong Đền thờ nếu trước tiên người ta không phục vụ Thiên Chúa trong đường phố !

Tôi có là một Người "hành đạo" chân chính không ? Tôi cho từ hành đạo ấy một ý nghĩa nào ?

Tôi có "thực hành" bác ái, có quan tâm đến tha nhân, và phục vụ người khác không ?

Nhưng một người Sa-ma-ri kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy và chạnh lòng thương ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói : "Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác ?

Luca là thánh sử duy nhất thuật lại cho chúng ta dụ ngôn kỳ diệu này. Luca là thánh sử của lòng nhân hậu, thương xót, của sự truyền giáo cho dân ngoại và của sự nghèo khó.

Các bạn hãy đọc lại sáu hành động của lòng tốt được mô tả tỉ mỉ ở đây : đây là Triều đại của Thiên Chúa, đây sự thờ phụng mới chân thật, đây là sự trỗi dậy của nhân ái mới sẽ biến đổi lịch sử cho phù hợp với thánh ý của Thiên Chúa.

Và đó là một "Người Sa-ma-ri" ! Một kẻ dị giáo, một người ly giáo, một kẻ thù của những Người Do Thái trung kiên, một người anh em giả hiệu, một người đáng ghét không chịu "thực hành" tôn giáo chân chính, một người ô uế không bao giờ đặt chân vào Đền thánh, một người mà việc mới cùng bàn bị ngăn cấm, một vài ngày, Giacôbê và Gioan muốn làm lửa từ trời trút xuống họ (Lc 9,52-55). Và Đức Giêsu lại lấy một người như thế để làm gương !

"Ông chạnh lòng thương xót. . . " "esplanchnisthè" Động từ tiếng Hy-lạp này chứa đựng một hình ảnh : "Splanchna" chính là "ruột gan, bộ lòng". Vậy phải dịch là : "ông xúc động đến ruột gan". Và từ ấy trong tiếng Do Thái hay tiếng A-ra-mê-en mà Đức Giêsu đã sử dụng xem ra cũng mang cùng một ý nghĩa : "Rahamim" cũng chỉ "ruột gan", "lòng mẹ", "tấm lòng", "sự dịu dàng", "lòng tốt", "lòng trắc ẩn sâu

xa" . Vả lại, trong toàn bộ Tân Ước, từ "chạnh lòng thương" chỉ được dùng để chỉ tình cảm của Đức Giêsu trước những đám đông khốn khó, những người bệnh tật, những người sầu khổ đủ loại (Mt 9,36 ; 14,14 ; 15,32 ; 20,34 ; Mc 6,34 ; 8,2 ; 9,22 ; Lc. 7,13 ; 15,20) .

Các Giáo phụ, vốn gắn với những phương thức suy nghĩ cổ xưa, hầu như đều nhất trí chú giải dụ ngôn này bằng cách áp dụng vào Đức Giêsu Kitô. Cả Tin Mừng, và trang này cũng thế, trước tiên không phải là một sách bàn về đạo đức những là sự "công bố", sự "mạc khải" về tình yêu thương của Thiên Chúa : người Sa-ma-ri tốt lành, trước hết chính là Đức Giêsu... người đi đường bị thương gần chết, chính là nhân loại bị sự ác quất ngã... quán trọ, chính là Giáo Hội nơi Đức Giêsu đưa con người đến cứu chữa. Nếu chúng ta chỉ biến trang Tin Mừng tuyệt diệu này thành một bài học đạo đức thì quả là tai hại vì trang Tin Mừng này nói với chúng ta "Thiên Chúa làm điều gì cho con người". Người không ngừng "sinh ra" con người trong cung lòng Người. Đức Giêsu đã là "hình ảnh của Thiên Chúa vô hình", thể hiện lòng trắc ẩn như mẹ hiền của Thiên Chúa, và chúng ta, đối với người "thân cận" của mình chúng ta phải chia sẻ lòng trắc ẩn đến từ Thiên Chúa ! Nếu Tin Mừng trước tiên không phải là một "khoa đạo đức" điều đó không có nghĩa là Tin Mừng không chứa đựng những yêu sách đạo đức... vô cùng sâu xa và mạnh mẽ hơn mọi nguyên tắc.

Hãy yêu thương ! phải, bạn hãy yêu thương ! Bạn hãy đoàn kết, phải ! Đó chính là "sự thờ phụng" thật. Tại sao ? Bởi vì điều đó chính là Thiên Chúa. "Thiên Chúa là tình yêu, và ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa !" (1 Gioan 4,8). Hỡi thầy tư tế hoặc thầy Lê vi, coi chừng việc thờ phụng của thầy. Thiên Chúa không thích lễ lạy của Thầy. Người chờ đợi thầy bên ngoài, lúc thầy sẽ gặp mặt Người thân cận, lúc thầy sẽ ra khỏi ndi làm lễ tế. "Bạn có yêu không ? Bạn có yêu thương tôi không ?" Và không chỉ bằng lời chứ ?

Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay lũ cướp ?" Người thông luật trả lời : "Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy" Đức Giêsu bảo ông ta : "ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy".

Đức Giêsu lật ngược hoàn toàn ý niệm về người thân cận. Người thông luật đã hỏi : "Ai là người thân cận của tôi ? (theo nghĩa thụ động) . . . trong ý nghĩa này, chính " những người khác" là Người thân cận của tôi. Đức Giêsu trả lời ông : "Bạn tỏ ra mình là người thân cận của ai ?" ( theo nghĩa chủ động) . . . trong nghĩa này, chính chúng ta phải là người thân cận" của những người khác, hoặc là không. Người , "thân cận", nghịch lý siêu phàm của Đức Giêsu, lại chính là "tôi" khi tôi đến gần những người khác với lòng yêu thương Người tạ không c.ăn tự hỏi "ai" là người thân cận của tôi... nhưng "tôi" sẽ là người thân cận của mọi người, không phân biệt như thế nào ? ..ôi, sự mạc khải này là của Thiên Chúa !


 

Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

"Ai là anh em của tôi?"


I. Ý CHÍNH:

Cuộc đối thoại giữa người luật sĩ và Chúa Giê-su về đức bác ái và về thực hành bác ái.

II. SUY NIỆM:

1. "Có một người luật sĩ đứng dậy hỏi thử Chúa":

Những người luật sĩ và biệt phái vẫn ác cảm và thù ghét Chúa Giê-su vì Người rất có ảnh hưởng trên dân chúng, vì thế họ lợi dụng mọi cơ hội để bắt bẻ Chúa, cốt làm cho Người giảm uy tín. Vì thế luật sĩ vấn nạn về điều kiện để được sống đời đời với thâm ý thử thách Chúa :

- "Thưa Thầy tôi phải làm gì để được sống đời đời" : Đặt vấn nạn này người luật sĩ có ý thử xem Chúa có thông thạo luật không, vì theo quan niệm của họ thì những người thông thạo luật mới là người đạo đức thật.

2. "Trong lề luật đã chép như thế nào?":

Đặt câu hỏi này Chúa muốn Người dựa vào lề luật để giải thích cho luật sĩ về điều kiện để được sự sống đời đời.

- "Ông đọc thấy gì trong đó ?" : Đặt câu hỏi này Chúa muốn thử nghiệm xem luật sĩ này có nhận thức đúng về lề luật không ?

3. "Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi":

Về luật mến Chúa, luật sĩ đã trích dẫn trong sách Thứ luật. Luật này trở thành đầu kinh Sema mà mỗi ngày người Do Thái phải đọc hai lần. Câu luật này muốn nói lên rằng điều kiện cốt yếu nhất để cứu rỗi là yêu mến Thiên Chúa, là cùng đích và là sự thiện tối hậu của loài người.

Kiểu nói "hết lòng, hết linh hồn, hết sức và hết trí khôn" là cách diễn tả tính cách của tình yêu, nghĩa là yêu Chúa không có mức độ nào cả.

- "Và hãy thương yêu anh em như chính mình" : Câu này không có trong kinh Sema, nhưng lấy ở trong sách Lêvi (19,18). Theo câu trả lời này, chứng tỏ luật sĩ là người đã nhiều lần nghe Chúa Giê-su giảng dạy về tính cách bác ái huynh đệ, nên khi trả lời cho Chúa về luật yêu thương, ông đã tạm thời nói theo quan niệm của Chúa Giê-su.

4. "Ông đã trả lời đúng, hãy làm như vậy…":

Chúa thấy ông thưa đúng với giáo huấn của Chúa : Mến Chúa yêu người là hai giới răn căn bản để được sự sống đời đời, nên Người đã chấp thuận và khuyến khích ông thực thi như vậy để được sự sống đời đời.

5. "Nhưng ai là anh em của tôi ?":

Khi thấy câu trả lời của mình được chấp nhận, người luật sĩ lại muốn chất vấn thêm, với mục đích làm cho Chúa Giê-su phải lúng túng khi xin Người định nghĩa "tha nhân" là ai ?

Quả thật câu trả lời này đã gây nhiều khó khăn và tranh luận trong giới vị vọng của dân Do Thái. Đối với họ, tha nhân có ý nghĩa như anh em là những người đồng hương, cùng tôn giáo con cháu Abraham, còn những người khác, người ta không đồng ý với nhau là anh em hay không.

6. "Chúa Giê-su nói tiếp…":

Thay vì trả lời bằng lý thuyết, Chúa Giê-su đã trả lời bằng dụ ngôn :

- Một người đi từ Giêrusalem đến Giêricô … : Đường đi từ Giêrusalem đến Giaricô chừng 27 kilômét, hiu quạnh, sỏi đá, xuyên qua nhiều khe núi, thung lũng hiểm trở. Xưa cũng như nay, vẫn còn nhiều vụ cướp giật. Ở đây không nói rõ quốc tịch của người lữ khách, nhưng có lẽ là người Do Thái. Người này bị cướp bóc lột và đánh đập đến nửa sống nửa chết. Nạn nhân đây là hình ảnh của những người cần được yêu thương giúp đỡ.

7. "Tình cờ một tư tế… cũng vậy một trợ tế…" :

Chúa Giê-su chọn hai nhân vật : Tư tế và Trợ tế mà vì chức thánh, vì địa vị ưu đãi, và vì tình trạng kinh tế khá dồi dào, phải sống nhân đạo và bác ái hơn những người khác. Thế nhưng cả hai đã không thực thi bác ái đối với người xấu số kia. Điều này muốn nói vì óc vị luật mà hai người này đã không thể là anh em với nạn nhân kia.

8. "Nhưng một người xứ Samari đi đường đến gần trông thấy và động lòng thương…":

Kiểu nói "động lòng thương" là kiểu nói thường áp dụng cho Chúa Giê-su. Nhưng ở đây Luca muốn dùng cho người Samari này là để chứng tỏ tình thương đích thực, tình thương dành cho người anh em mình thật sự.

- "Người đó lại gần, băng bó vết thương" : điều này muốn diễn tả tình thương đích thực vừa có tính cách vị tha, nghĩa là không tính toán, so đo mặc cả người mình đang giúp đỡ là ai : Thù hay bạn, đồng hương hay xa lạ … miễn sao cho người này được qua cơn khốn khó, vừa có tính cách vô vị lợi, nghĩa là sẵn sàng bỏ sức, bỏ thời giờ, bỏ của cải, bỏ chính mình để giúp đỡ nạn nhân mà không đòi cho mình một sự đáp trả nào.

- Xức dầu và rượu ! … : Y được thời đó dùng dầu xức để làm vết thương đỡ đau (Is 1,6) và lấy rượu để khử độc.

9. "Theo ông nghĩ ai trong ba người này là anh em":

Đặt câu hỏi này Chúa Giê-su muốn gợi lên cho luật sĩ ý thức về điều kiện để được sống đời đời là phải yêu mến Thiên Chúa và yêu anh em như chính mình.

10. "Kẻ đã tỏ lòng thương xót đối với người ấy" :

Luật sĩ có nhận thức đúng về bác ái vì ông cho rằng người Samari là người duy nhất đã cảm thông và tỏ ra mình là người anh em của kẻ xấu số.
Ở đây cho thấy tình yêu tạo cho ta thành "anh em" của mọi người mà không tùy thuộc vào sự xa hay gần về phương diện máu mũ, quốc tịch hay tôn giáo …

Vì vậy dụ ngôn này muốn làm nổi bậc khuôn mẫu về tình yêu thương tha nhân. Thực vậy, trong ba người chỉ có người Samari là khuôn mẫu đích thực về tình yêu thương anh em như chính mình.

Thầy tư tế và trợ tế, đại diện cho hàng giáo phẩm Do Thái, được nhắc đến để nói lên sự đối nghịch giữa óc vị luật của Cựu Ước với tinh thần của Tân Ước … Hai người có lý do tránh né nạn nhân và biện minh cho việc họ từ chối giúp đỡ người đó. Vì là nạn nhân của bọn cướp, người này có thể bị Thiên Chúa phạt, nên phải cam lòng vui chịu như vậy (G 6,14-21; 7,8; 16,11), đến gần người đó có thể mắc ô uế theo lề luật và do đó không thể cử hành các nghi lễ tế tự (Đs 19,11-14).

Nêu lên hai nhân vật này Chúa Giê-su có ý nói đến óc vị luật của người Do Thái khiến cho họ không thể thi hành luật yêu thương anh em một cách đích thực được. Vì thế không nên coi dụ ngôn này là việc bài bác hàng giáo sĩ. Điều này được xác quyết bởi sự kiện là nhân vật thứ ba không phải là giáo dân, nhưng là người Samari tức là người ngoại giáo. Vì vậy ở đây việc so sánh không phải là giáo sĩ với giáo dân mà là Do Thái với kẻ thù.
- Khi chọn người Samari trong dụ ngôn nói về tình bác ái huynh đệ, Chúa Giê-su muốn nói lên dù là người ngoại giáo không biết gì về lề luật như các luật sĩ, không có phẩm cách tế tự như các thầy tư tế, trợ tế, ông đã tỏ ra là người thật nhân bản vàđạo đức. Ong đã chấp hành hai giới luật lớn của Cựu Ước và của Tân Ước sau này nói về tình bác ái.

11. "Ông cũng hãy đi và làm như vậy …" : 

Khi giúp đỡ một kẻ vô danh như vậy, người Samari đã trở thành kiểu mẫu của tình bác ái đích thực. Và vì vậy Chúa Giê-su đã khuyên nhủ luật sĩ, hãy thực thi tinh thần bác ái theo kiểu mẫu đó thì sẽ được sự sống đời đời.

III. ÁP DỤNG:

A. Ap dụng theo tin mừng:

Giáo Hội muốn nhắc lại cho chúng ta về điều kiện để được sống đời đời là mến Chúa và yêu người. Đồng thời cũng dạy cho chúng ta về cách thế yêu người là yêu tha nhân như chính mình.

B. Ap dụng thực hành:

1. Nhìn vào Chúa Giê-su :

a) Xem việc Chúa làm :

- Chúa Giê-su đã có thái độ dịu dàng nhân từ trong việc xử tốt với người thông luật đã có ý xấu khi đến thử hỏi Chúa. Chúng ta cần có những thái độ bình tĩnh để cũng có những cử chỉ dịu dàng, nhân từ và xử đẹp đối với những người vì vô tình hay hữu ý, có những cử chỉ hành vi, lời nói và ý đồ xấu đối với mình.

- Chúa Giê-su đã dùng dụ ngôn thay cho lời nói suông để trả lời cho người thông luật. Để trả lời cho tha nhân khi họ có ý xấu đối với mình, chúng ta không nên dùng lời nói suông, nhưng cần được chứng minh bằng việc làm, bằng kinh nghiệm sống của bản thân, của tha nhân hay của xã hội …

b) Nghe lời Chúa nói :

- Trong lề luật đã cho phép thế nào ? Ông đọc thấy gì trong đó ? : Trong những lúc gặp khó khăn thắc mắc và không biết xử trí ra sao, Chúa muốn chúng ta hãy đọc lại luật Chúa, luật Tin-Mừng để nhận thức ra những cách xử trí, giải quyết vấn đề cho phù hợp với đường lối của Chúa.
- Ông trả lời đúng, hãy làm như vậy : Chúa nhắc bảo chúng ta một khi đã am hiểu lời Chúa thì phải đem ra thực hành mới mong đạt được sự sống đời đời.

- Chúa Giê-su đã lấy mẫu gương thương người của người xứ Samari để chỉ vẽ cho ta thực hành đức thương người. Chúng ta hãy noi gương người đó để thực hành đức yêu người.

2. Nhìn vào người thông luật :

Người thông luật này tuy không có ý ngay lành vì chỉ có ý hỏi thử Chúa, nhưng ông đã biết đặt vấn đề về sự hoàn thiện của đời sống. Chúng ta hãy noi theo cách thức ấy bằng cách đặt vấn đế cho sự hoàn thiện của mình trước mặt Chúa qua việc cầu nguyện, kiểmđiểm đời sống, tìm hiểu và bàn hỏi để hiểu biết cách sống hoàn thiện hơn.

3. Nhìn vào thầy tư tế và trợ tế trong dụ ngôn :

Mến Chúa yêu người là gồm tóm mọi lề luật. Vì thế rút kinh nghiệm thầy tư tế và trợ tế trong dụ ngôn, chúng ta đừng để những hình thức lề luật ngăn cản ta thực thi đức mến Chúa yêu người.

4. Nhìn vào người Samari trong dụ ngôn :

Nhìn vào kiểu mẫu thương người của người Samari ta nhận ra rằng tình thương yêu bác ái sẽ biến ta thành anh em với mọi người./.

HTMV Khóa 10 - Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sài Gòn.