Clock-Time

Chú Giải Tin Mừng - Chúa Nhật XVI Thường Niên C

Tin mừng Lc 10: 38-42: Thánh sử Luca thuật lại câu chuyện hai chị em Matta và Maria đón tiếp Chúa để nói lên ý nghĩa đích thực của người môn đệ Chúa Giê-su.
CHÚ GIẢI TIN MỪNG

CHÚA NHẬT XVI – MÙA THƯỜNG NIÊN - NĂM C


St 18,1-10a ; Cl 1,24-28 ; Lc 10:38-42 


Học viện Piô Giáo hoàng - Chú Giải
MATTA VÀ MARIA (Lc 10:38-42)

1. Qua lịch sử của khoa chú giải, giai thoại này đã giải thích nhiều cách khác nhau. Chúng ta sẽ trình bày một vài cách giải thích theo thứ tự thời gian. Sau đó, cố gắng nắm vững ý nghĩa mà Lc muốn trình bày qua câu chuyện này. Cuối cùng sẽ đưa ra một vài kết luận.

2. Các cách chú giải trong truyền thống. Truyền thống không luôn cho chúng ta lối chú giải tổng quát, vì các tác giả đôi khi chỉ chú ý đến khía cạnh này hay khía cạnh kia của câu chuyện mà không nhìn đến toàn bộ của nó.

a/ Đây là một trường hợp điển hình của các cách xử dụng hạn chế câu chuyện như thế mà người ta hiểu phần đầu câu 42 như sau: "chỉ cần ít điều thôi". "Matta lo lắng xôn xao nhiều chuyên quá": bà bận rộn lo phục dịch nhiều thứ. CGS trách bà điều đó, Ngài cần ít điều thôi. Đó là bài học dạy đơn giản và thanh đạm rất phù hợp với thói quen nghèo khó của CGS. Nhưng chắc hắn bài học của câu chuyện còn sâu xa hơn, vì sau khi phê bình Matta như thế, CGS còn nêu Maria như là mẫu gương phải noi theo.

b/ Cách chú giải của Origène đã có ảnh hưởng lớn trên truyền thống tu đức Hy lạp và latin.

"Người ta có thể chấp nhận là Matta tượng trưng cho đời hành động và Maria cho đời chiệm niệm. Mầu nhiệm tình yêu không còn đời sống hoạt động nữa, nếu lời dạy và huấn đức không đưa tới việc chiêm niệm: vì hoạt động và chiêm niệm không thể tách rời nhau".

Ở đây, đối với Origène, hai chị em tượng trưng cho hai thái độ đạo đức mà một môn đệ trọn lành không thể tách rời: họ phải vừa là con người hoạt động vừa là con người chiêm niệm; nhưng hoạt động của họ phải qui hướng về chiêm niệm.

c/ Thánh Ambrosiô trình bày một lối chú giải tương tự, nhưng sát nghĩa hơn:

"Qua mẫu gương của Matta và Maria, nơi đây công việc của bà này ta thấy một sự tận tâm hoạt động, nơi kia một tâm hồn đạo đức biết lắng nghe lời Chúa; nếu phù hợp với đức tin thì thái độ có giá trị hơn các việc làm, như đã chép: "Maria đã chọn phần tốt hơn, sẽ không bị giật mất" - Vì thế chúng ta hãy chuyên lo chiếm hữu điều không ai có thể cất khỏi chúng ta được... Như Maria, anh chị em hãy hăng say khao khát sự khôn ngoan: đó là việc quan trọng và trọn hảo hơn. Chớ gì mối quan tâm mục vụ không làm cản trở việc tìm hiểu lời thần linh... Tuy vậy, người ta không chỉ trích Matta vì công việc tốt lành của bà; nhưng dù sao Maria được ưu đãi hơn vì đã biết chọn cho mình phần tuyệt hảo hơn".

Như thế, đối với Ambrôsiô cũng như đối với Origène, hai chị em tượng trưng cho hai cách hoạt động phải luôn cùng hiện diện nơi người tín hữu.

d/ Thánh Augustino lưu tâm đến hình ảnh giáo hội hơn là giáo huấn tu đức:

"Matta tiếp đón Chúa trong nhà mình, ám chỉ giáo hội hiện nay đón Chúa trong lòng mình. Maria, em bà ngồi dưới chân của Chúa và nghe lời Ngài, ám chỉ cùng một giáo hội đó, nhưng trong một thế giới sắp đến, khi mà giáo hội hết phục vụ kẻ bần cùng mà chỉ vui hưởng sự khôn ngoan thôi. Thế nên Matta bận rộn lo phục vụ nhiều điều, vì giáo hội bây giờ đang thi hành các công việc ấy. Nếu bà than phiền vì em bà không chịu phụ giúp bà, thì ấy là cơ hội để lời Chúa chỉ cho thấy giáo hội này còn quá bận tâm lo lắng đến nhiều chuyện quá, trong lúc đó chỉ có một điều cần thôi mà người ta đạt được nhờ việc làm công phúc của giáo hội. Nhưng Chúa nói Maria đã chọn phần tốt hơn sẽ không bị mất: phần đó tốt vì nhờ nó mà người ta đạt đến mục đích và vì nó không bị lấy mất đi. Nhưng phần của việc làm, cho dù tốt, cũng sẽ bị mất đi, khi không còn sự bần cùng mà giáo hội từ trước đến nay đã phục vụ".

Với thánh Audustinô, hai chị em biểu hiện hai giai đoạn nối tiếp nhau của giáo hội: chiến đấu và khải hoàn. Theo cách chú giải này thì câu chuyện Matta và Maria không còn mang tính cách huấn đức như với Origène và Ambrosiô nữa, nhưng là một lời hứa nhằm mục đích khơi dậy niềm hy vọng nơi các tín hữu.

c/ Thánh Cyrille thành Alexandtia đã nói nhiều lần về giai thoại này. Đôi khi Ngài theo cách chú giải của Origène mà chúng ta đã trích dẫn ở trên. Nhưng trong các bài giảng khác, Ngài đã rút ra từ câu chuyện này một bài học về cách thế tiếp đón những người mang lời Chúa đến. Với những ai tiếp đón họ, Ngài dặn dò (theo bản văn Syriaque trích trong các bài giảng của Ngài):

"Đừng bận tâm phục dịch nhiều quá, đừng kiếm gì hơn cái đang có, bàn ăn phải giản dị và nhiệm nhặt, thức ăn đơn giản và không thừa thãi".

Đối với kẻ được mời, hãy trả lại những của cao quí:

"Đáp lại tặng phẩm vật chất, thì hãy đem lại tặng phẩm vĩnh cửu, đem tặng phẩm trên trời đáp đền tặng phẩm trần thế, đem của lâu bền mà trả những của chóng qua".

Những lời huấn dụ này có thể đã được phát xuất do hoàn cảnh của tín hữu của thánh Cyrille; và nhất là bởi những sự lạm dụng của các thà tu lưu động. Ta không thể cho đó là tất cả tư tưởng của Cyrille về câu chuyện Matta và Maria được.

Trong mức độ nào các lối giải thích trên hợp với tư tưởng của phúc âm ?

3. Tư tưởng của Lc

Để nhận rõ tư tưởng của Lc, trong sẵn có nhiều dữ kiện: văn mạch của câu chuyện, loại văn và cách xây dựng câu chuyện, những nét đặc điểm của nó, sau hết là những điểm giống với toàn bộ tác phẩm của Lc.

a/ Dữ kiện đầu tiên có thể soi sáng ý nghĩa Lc gán cho câu chuyên này là văn mạch. Vì không thể luôn luôn xác định được văn mạch, nên ông thường chỉ theo cách xếp đặt của các tài liệu mà ông thâu lượm được trong truyền thống; nhưng một đôi khi ông đã thay đổi cách sắp xếp để thực hiện một tác phẩm văn chương có thứ tự như nguyện vọng và quyết tâm của ông (Lc 1,3). Và đây là một trường hợp điển hình.

Trong phần kể lại việc CGS khởi sự lên Giêrusalem, mà ông muốn trình bày như là phần chính của sách phúc âm (9,51-19.28), trước hết Lc đã thu thập nhiều khía cạnh khác nhau về sứ mạng của các môn đệ (9,51-10,20) mà người ta thấy rải rác trong phúc âm Mt. Sau đó, ông trình bày cả một tuyển tập gồm các giáo huấn cho môn đệ nói về các đặc ân và những đòi hỏi trong bậc sống của họ (10,21-11,13): sự mạc khải của Chúa Con ban cho họ (10,21-24, những yếu tố này cũng có trong Mt 11,25-27 và 13,16-17); luật bác ái được giải thích qua dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu (10,25-37; mà phần đầu được xếp nơi Mt 22,34-40 và Mc 12,28-31); câu chuyện Matta và Maria chúng ta đang học đây (10,38-42); sau cùng, là một tuyển tập về các yếu tố liên quan đến việc cầu nguyện (11,1-13, tương ứng với hai đoạn song song ở Mt 6,9-13 và 7,7-11).

Nằm giữa toàn bộ các bài học tu đức căn bản đó, vị trí câu chuyện Matta và Maria gợi cho chúng ta biết Lc nhìn thấy nơi câu chuyện này một bài học quan trọng bậc nhất cho các môn đệ (một vài tác giả giả thiết cho rằng Lc đặt câu chuyện ở đây là để chuẩn bị cho giáo huấn của CGS về sự cầu nguyên). Nhưng nếu thế, sao ông còn viết câu nhập đề ở 11,1 làm gì ? và nhất là câu chuyện Matta vả Maria không nói đến việc cầu nguyện.

b/ Để làm sáng tỏ ý nghĩa bài học, ta phải đi từ bản văn: trước tiên hãy nghiên cứu loại văn và cách xây dựng câu chuyện. Dù 5 câu này làm nên một câu chuyện, Lc cũng không bận tâm như một sử gia hiện đại: ông không nói rõ nơi chốn, ngày tháng của biến cố. Ông tỏ ra vô tư như Mt và Mc trong khi trình bày hoàn cảnh của câu chuyện: suốt cuộc hành trình của CGS, ông không cung cấp một niên hiệu nào, ông chỉ kể tên Giericô (18,35 như Mt 20,29 và Mc 10,46) và Giêrusalem (11 lần) vì thành này là đích điểm của cuộc hành trình và là nơi hoàn tất mầu nhiệm con người CGS. Lc chỉ lưu tâm đến hành động và giáo huấn của CGS, nên không mấy bận tâm về thời gian.

Điều đáng ngạc nhiên là ông ghi lại tên của Matta và Maria. Đây là sự kiện hiếm có nơi ông, vì cũng như Mt và Mc, ông không nói đến tên những người đối thoại với CGS, ngoài 12 tông đồ ra (trừ Giakeu ở 19,2 và Cléopas ở 2,18) cũng không kể tên những người được ơn lạ (ông kể tên Giairo ở 8,40 như Mc 5,22 nhưng không nói đến Bartimée ở 18,35, khác với Mc 40,46). việc đề cập đến tên của hai chị em gợi yđ cho biết là Lc quan tâm đến họ ít nhiều. Sự đề cập này rất ăn khớp với mối quan tâm của Lc muốn làm nổi bật vai trò các người đàn bà trong cuộc sống của CGS và của giáo hội sơ khai.

Nhìn tổng quát, thì câu chuyện muốn kể lại cách Matta và Maria tiếp đón Chúa. Lời cuối của Thày, đối chiếu hai thái độ của họ làm nên cái "móc" của câu chuyện, là kết luận và là bài học mà Lc dạy độc giả.

c/ Tất cả các đặc điểm của một câu chuyện cũng nhắm chuẩn bị cho kết luận này, trước hết là hình ảnh của hai chị em. Maria "ngồi dưới chân Chúa" (c.39). Khi tặng cho CGS tước hiệu "Chúa" trong phúc âm của mình, Lc muốn làm nổi bật uy thế của CGS, thái độ của Maria đúng là thái độ của các môn đệ đứng trước thày mình (8,35; Cvsđ 22,3; Lc 7,38; 8,41; 17,16); bà lắng nghe lời chúa: đối với Lc đó là bổn phận đầu tiên của người môn đệ đích thật (6,47; 8,13; 15,21; 11,21). Ngược lại, Matta lăng xăng lo tiếp đón: là chủ nhà (c.38) bà nhất quyết lo bảo toàn cho CGS được phục dịch tối đa mà người nghèo nhất của xứ Palestine cũng phải lo cho khách trọ của họ (c.40). Trước bao việc phải làm đó, Matta lo lắng và bối rối nhiều (c.41). Lòng nhiệt thành này bày tỏ lòng kính trọng của bà đối với CGS (c.40), cũng như nguyện vọng muốpn dành cho Ngài một sự tiếp đón xứng đáng. Nhưng bà không hiểu được thái độ vô vi của em bà, không chịu góp phần vào công việc của bà: bà muốn lôi em mình ra khỏi thái độ lắng nghe CGS, để buộc em chuẩn bị nhà cửa và bữa ăn. Bà quá chắc chắn về phán đoán của mình đến nỗi với một thái độ trách móc, bà mời CGS cũng chia sẻ quan điểm: "Lạy Chúa, em con để con phục dịch một mình mà Chúa không để ý gì sao ? Vậy xin Chúa bảo nó giúp con với" (c.40). Như thế, hai chị em xuất hiện như hai môn đệ vội vã đón tiếp thày mình, nhưng Maria chỉ lo nghe lời Thày, còn Matta lo dành cho Thày một sự tiếp đãi nồng hậu.

Câu trả lời của CGS là một lời phê phán về thái độ của Matta và Maria (41-42); Và Lc, khi gọi Ngài là "Chúa", có ý làm nổi bật uy thế của Lời Ngài. Lời phê phán Matta đặt thành một vấn nạn cổ điển cho việc phân tích bản văn. Phần đầu ("con lo lắng xôn xao về nhiều chuyện") có trong tất cả các thủ bản Hy lạp; nhưng trong nhiều thủ bản Latin và Syriaque thì không có. Phần hai (c.42a) cũng không có trong bản dịch, cách chung người ta nhất trí cho rằng hai phần bị bỏ sót này, làm cho bản văn nặng nề cứng nhắc và mất đi nét tương phản giữa hai chị em là do việc tu sửa bản văn và yếu tố lưu truyền. Trong các bản văn chép tay (Hylạp), phần thứ hai này mang nhiều dạng thức khác biệt trong nhiều bản văn. Có hai dạng thức ngắn: "Chỉ cần ít điều thôi" (nơi một số bản văn) và "chỉ cần một điều thôi" (nơi đa số, mà phần đông là có giá trị). Người ta cũng gặp thấy một công thức dài hơn gồm tóm hai dạng thức trên: "chỉ cần ít điều, hay chỉ một điều thôi" - Dạng thức dài này được xác nhận do nhiều chứng nhân ưu tú, nhất là các người Alexandrie - dạng thức này được nhiều nhà phê bình xuất bản TƯ cũng như nhiều nhà chú giải nổi tiếng chấp thuận (đó là dạng thức mà BJ giữ lại). Ngược lại lời phê phán này, người ta có thể ủng hộ cho dạng thức ngắn thứ hai ("chỉ cần một điều thôi") được đa số chấp nhận cũng cần phải thêm rằng dạng thức này làm nổi bật nét tương phản (nhiều - một thôi) và dạng thức dài hình như là do sự dung hòa hai dạng thức ngắn. Vì thế chúng ta sẽ chấp nhận với các nhà chú giải nổi tiếng (như Merk, Aland, Zahn, Loisy, Schlatter, Schmid, Ellis...)rằng nguyên bản của phúc âm là :"Chỉ cần một điều thôi".

Khi quở trách Matta lo lắng xôn xao "nhiều chuyện", CGS lấy lại một đề tài đã được trình bày nhiều lần trong các lời giảng huấn của Ngài về sự lo lắng: khi kêu mời các vị truyền giáo chớ lo bênh vực mình trước tòa án của những người bắt bớ (12,11; Mt 10,19), môn đệ đừng quá lo lắng về thức ăn áo mặc (12,22-26; Mt 6,25-34). Khi đề cao cảnh giác tín đồ chống lại những mối lo âu của cuộc sống làm chết ngạt hạt giống Lời Chúa (8,14; Mt 13,22; Mc 4,19) và lòng trí nặng nề (21,34). Trong mỗi đoạn, sự lo lắng bị lên án vì làm người tín hữu quên mất điều chính yếu: là tuyên xưng đức tin vào Con Người, trong Lc 12,7-9 (Mt0,31-33, tìm kiếm Nước TC trong Lc 12,31 (Mt,33); đón nhận Lời, trong Lc 8,11-15 (Mt 13,18-23; Mc 4,13-20), trông đợi ngày của Con Người, trong Lc 21,34-36. Trong trường hợp của Matta, sự lo lắng bị lên án vì làm quên điều "cần thiết độc nhất".

"Nhiều điều" mà Matta lo lắng, theo văn mạch là săn sóc tiếp khách, phục dịch vật chất cho CGS. Còn "điều cần thiết độc nhất" được minh định bởi thái độ của Maria là bỏ tất cả để nghe lời CGS, tượng trưng qua hai chị em: bà thì lo những việc vật chất để tiếp đón, bà kia lo lắng nghe lời Chúa. CGS nhận sự tiếp đón của Matta với lòng biết ơn, như Ngài nhận sự tiếp đón của các người biệt phái (7,36tt; 11,37; 14,1) hoặc xin Giakêu tiếp đón mình (19,5); Ngài còn coi việc nhận sự tiếp đón như một luật cho các kẻ được sai đi (9,4; 10,5-9); nên Ngài không thể lên án Matta vì sự tiếp đón nồng hậu của bà.

Nhưng với CGS, có một nấc thang giá trị; Ngài kết thúc câu chuyện bằng một lời ngợi khen và một lời hứa cho Maria: "cô đã chọn phần tốt nhất sẽ không bị ai giật mất". Vì tiếng Hy lạp meris có nghĩa là "phần" được dùng nhiều lần trong bản LXX để chỉ một phần ăn trong bữa tiệc (Stk 43,34; 1S 1,4-5; 9,23; Ne 8,10.12; Est 9,19.22), nên người ta đã thấy ở đây một sự ám chỉ đến bữa ăn mà Matta lăng xăng chuẩn bị; nhưng ý nghĩa này không hợp chút nào với hoàn cảnh, nếu không nói là đảo ngược lại. Phần Maria đã chọn là lắng nghe lời Chúa; và tiếng meris ở đây có nghĩa thường thấy trong sách thánh kinh Hy lạp: "số phận", "phần gia nghiệp" (Giop 20,29; 27,13; Hđ 2,10; 3,22; 5,17; 9,9; Km 2,9; Si 14,9; Is 17,14; 57,5; Giêr 13,25...). kiểu nói của CGS ở đây gợi lại lời xác quyết của nhà thánh vịnh: "Lạy Chúa phần con, con đã nói, là tuân giữ lời Chúa" (Tv 119,57). Thày Giêsu kết thúc bằng cách hứa với Maria là sự chọn lựa của bà sẽ không bị thất vọng: ai ưa thích Lời Chúa, sẽ không bao giờ bị tước đoạt. Đó chính là bài học của câu chuyện: người môn đệ phải lắng nghe lời thày; Lời đó không bao giờ thiếu cho họ.

d/ Có nhiều nét đặc điểm xác nhận tầm quan trọng mà Lc gán cho bài học này, trước hết là địa vị mà ông dành cho việc nghe lời Chúa trong toàn bộ tác phẩm của ông. Mt và Mc trình bày cùng một tư tưởng ấy trong lời giải thích dụ ngôn hạt giống (Mt 13,19-23; Mc 4,14-20; Lc 8,11.15; Mt 7,14-26), nhưng Lc là người duy nhất xác định rõ việc tiếp đón lời Chúa Giêsu như là lắng nghe Lời của TC vậy (5,1; 8,11.21; 11,28); và sách Cvsđ của ông cũng hoàn toàn qui hướng về lời ấy ("lời" 10lần; "lời TC" ít nhất 10 lần; "lời của Chúa" ít nhất là 7 lần...). Đối với thánh sử đã từng chia sẻ sứ mạng của Phaolô, việc nghe lời Chúa là điều cần thiết độc nhất.

Câu chuyện thiết lập 7 phó tế trong Cvsđ 6,1-6 đặt ra nhiều vấn đề lịch sử tế nhị: những người Hy hóa (Hellenistes) là ai ? Thực ra nhiệm vụ nguyên thủy của 7 vị đó là nhiệm vụ gì ? ...Nhưng dù sao thì tư tưởng của Lc đã quá rõ ràng và nhắc lại cho ta câu chuyện Matta và Maria. Vì trước những lời than phiền của người "Hy hóa", nhóm 12 tự thấy họ phải chọn lựa giữa việc rao giảng Lời của TC và việc phục vụ bàn ăn. Bấy giờ họ quyết định việc uỷ thác việc phục dịch này cho 7 người có tiếng tốt, đầy Thánh Thần và khôn ngoan. Còn họ chỉ chuyên tâm lo cầu nguyện và phục vụ Lời. Câu chuyện Matta và Maria xác nhận ưu thế của việc lắng nghe lời hơn việc phục vụ tiếp khách; câu chuyện trong Cvsđ cũng đặt việc phục vụ rao giảng việc phục vụ bàn ăn. Nhưng cả hai việc phục vụ này, đều được nhìn nhận và trong cả hai trường hợp, Lời được lắng nghe hay được rao giảng xuất hiện như giá trị tối cao. Rất có thể là Lc đã cảm thấy và muốn có một liên hệ giữa hai câu chuyện mà chỉ mình ông ghi lại.

c/ Sau khi đã nghiên cứu xong bản văn của Lc, chúng ta có thể rút tỉa một vài kết luận:

- Lc cố gắng trình bày một qui luật sống cho các môn đệ. Tính cách vô tư không quan tâm đến các dữ kiện "lịch sử" của câu chuyện nhất là về ngày tháng và nơi chốn, cũng như tính cách long trọng mà ông mặc cho Lời CGS ở phần cuối đã chứng minh điều đó.

- Qui luật này là phải dành ưu tiên tuyệt đối cho việc lắng nghe Lời Chúa trong đức tin. Điểm này nổi bật qua thái độ nghịch giữa hai chị em, qua lời khen ngợi bà Maria, qua tầm quan trọng dành cho Lời trong suốt tác phẩm của Lc.

- Matta không phải bị khiển trách vì thái độ hiếu khách là tiếp đón trong đức tin và đức mến và sẽ là một điều kiện thuận lợi cho việc rao giảng Tin mừng; nhưng vì đã quá băn khoăn lo lắng đến vật chất khiến bà quên mất điều cần thiết duy nhất.

Nếu so sánh các kết luận này với giải thích của các nhà chú giải xưa kể trên, ta thấy các kết luận này không khác mấy với bài chú giải của thánh Ambrôsiô. Cũng không đối nghịch với tư tưởng của Origène, khi ông nghĩ: hành động không được tách rời với chiêm niệm (nhưng phải mặc cho nó môt ý nghĩa đặc biệt Kitô giáo là thông hiểu trong đức tin để phục vụ Nước Chúa; chớ không giản lược nó vào cách suy gẫm thuần túy kiểu nhà tu). Kiểu ám dụ của Augustinô và nghĩa thực tiễn của Cyrille dĩ nhiên là đi quá xa tư tưởng của Lc; nhưng đó chỉ là những áp dụng cụ thể vào hoàn cảnh, nên thật là sai lầm và bất công khi cho đó là toàn bộ quan điểm của hai ngài; vì thật ra hai Ngài cũng nhấn mạnh nhiều đến việc tiếp đón lời Chúa.

KẾT LUẬN

Sau khi đã cố gắng theo dõi ý nghĩa mà truyền thống Kitô giáo đã gán cho câu chuyện Matta và Maria, ta không thể tự hào là đã giải quyết hết mọi vấn đề mà bản văn sâu sắc này đặt ra. Ít ra là suốt dòng lịch sử của khoa chú giải, câu chuyện hai chị em mời gọi các tín hữu suy nghĩ về cách tiếp đón CGS: một sự tiếp đón được diễn tả cho mọi lứa tuổi bằng việc tiếp đón đại lượng, nhưng chỉ thỏa mãn cho việc Chúa đến khi sự tiếp đón ấy hướng về Lời Ngài và sau cùng về mầu nhiệm của Ngài.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Hai chị em Matta và Maria đón tiếp CGS, nhưng mỗi người một cách Matta rối rít chuẩn bị bữa ăn, nhưng quá băn khoăn nên không thể chú ý tới CGS mà bà tiếp đón. Cách tiếp đãi của bà được CGS ưa thích, tuy vậy CGS thích thái độ của Maria hơn. Bà này tiếp đón Chúa bằng cách ngồi dưới chân CGS trong tư thế của người môn đệ đứng trước Thày mình; bà lắng nghe lời Ngài. Việc lắng nghe đó, được nhắc tới ở đây mà không được khai triển chút nào, giả thiết phải có một thái độ chú ý và sẵn sàng hoàn toàn đối với con người của Chúa đang nói: Maria học sống nơi Ngài. Nhanh hơn thiếu phụ xứ Samaria (Gio 4,10), bà nhận ra "hồng ân của TC" nơi người lữ khách qua đường và thông hiệp với Ngài. Đối với chúng ta cũng thế, đón tiếp ai đó: CGS hoặc người Chúa sai tới (Mt 10,40), là trước tiên để cho họ nói, là lãnh nhận nơi họ tất cả những gì họ ban cho chúng ta.

2. Matta vất vả nhiều, bà thấy bà có công trạng. Và muốn người ta chú ý tới bà nhiều hơn, để ca tụng, thương xót và giúp đỡ: "Lạy Chúa, em con để con phục dịch một mình mà Chúa không quan tâm sao ? Xin Chúa nói nó giúp con" (c.40). Một cách tài tình, Matta muốn CGS và em bà lệ thuộc vào sự tận tâm của bà. Lạy Chúa, Chúa không thấy, Chúa không thích những gì con làm cho Chúa sao ? Lẽ ra Chúa nên tỏ ra biết ơn những lao nhọc của con, đừng để con làm việc một mình chớ ! Dù sao cũng là việc phục vụ Chúa mà ? Cái phản ứng tự nhiên của Matta thường cũng là phản ứng của chúng ta. Chúng ta tìm cách làm tăng giá trị của mình trước mặt người khác bằng cách trưng bày những hoạt động của chúng ta. Như người biệt phái, chúng ta treo bảng công chính của chúng ta trước mặt mọi người để họ chú ý. Chúng ta đòi hỏi được trọng đãi như là món nợ người khác phải trả cho chúng ta. Chúng ta muốn lãnh ngay "phần thưởng của chúng ta" mà đánh mất phần thưởng mà Cha trên trời dành cho chúng ta (Mt 6,1-3). Việc chúng ta phục vụ người khác vẫn còn là cách để thống trị họ, để khoe khoang so sánh chúng ta với họ, và còn để cho họ mang tâm trạng tội lỗi. Đối với Maria, Maria tự đặt mình đúng như cách người biệt phái đối với người thu thuế (Lc 18,8-14): "tất cả những gì mà bà làm cho CGS đều cố ý làm nổi bật ưu thế của bà trên người em và bó buộc bà này phải bắt chước "gương tốt" của mình. Nhiều lần chúng ta cũng làm như vậy, nhất là khi tưởng rằng mình ra sức làm việc cho Chúa và ao ước Ngài cho mình phải lẽ hơn một Maria nào đó. Có lẽ cũng có một chút ghen tương trong thái độ cư xử của chúng ta: chúng ta đòi hỏi người khác phục vụ Chúa Kitô theo cách chúng ta, dưới sự điều khiển của chúng ta; chúng ta không chịu cho người khác làm cho Chúa quên để ý đến chúng ta hoặc được Chúa tiếp xúc thân mật. Một cách tự nhiên, chúng ta đem CGS về với chúng ta. Chúng ta sợ mất ân huệ của Ngài, mất tình thương riêng của Ngài nếu người khác cũng đến được với Ngài.

3. CGS kêu mời Matta và mỗi người chúng ta đang mang tâm trạng như là: "Chỉ một điều cần thôi": hãy cởi bỏ những băn khoăn lo lắng và cao vọng cho mình xứng đáng được hưởng thứ ân huệ của Ta, bắt Ta lệ thuộc vào việc thiện của con, con hãy đến trình diện Ta với đôi tay trống rỗng". Rồi "hãy chọn phần tốt hơn": là lời Ta mà con đang đói.

4. "Phần tốt hơn" mà Maria được hưởng "sẽ không bị lấy mất". Không phải vì bà có công trạng hay là thái độ "chiêm niệm" của bà trội hơn "hoạt động" của bà chị, theo như một vài trường phái tu đức giải thích; nhưng bà đã quay về với Lời của CGS, với sự hiện diện đầy ân sủng của Chúa.

Noel Quession - Chú Giải

Trong khi Thầy trò đi đường, Đức Giêsu vào làng kia. 

Chúng ta chớ quên đang cùng với Đức Giêsu trên "con đường" nào.

Vẫn luôn luôn là chính lộ lên Giêrusalem mà Luca dành nhiều chươg để thuật lại. Không dưới mười chương dài (Lc 9,51 đến 19,28). Như chúng ta đã thấy trong Chúa nhật thứ mườl ba thường niên, ngay sau khi Đức Giêsu được thật sự nhận biết là Đấng Mêsia, Người quyết tâm lên đường đến Giêrusalem (Lc 9,51). Kế đó, trong Chúa nhật thứ mười bốn, chúng ta chứng kiến sứ vụ của bảy mươi hai môn đệ (Lc 1ọ,l-20). Chúa nhật vừa qua, chúng ta đã ở trên con đường đến Giêrikhô, cách Giêrusalem ba mươi kilômét để lắng nghe dụ ngôn người Samari tốt lành (Lc 10,25-37). Hôm nay chúng ta dừng lại trong một ngôi làng không được nêu tên, nhưng đó là làng Bêtania, cách trung tâm thủ đô ba kilômét. Dọc đường, Luca cho chúng ta thấy Đức Giêsu nói chuyện với các bạn hữu của Người rất lâu, có lẽ để chuẩn bị họ vào thời điểm mà Người sẽ chỉ còn ở với họ không bao lâu nữa. Điều này nói lên sự quan trọng của các tình huống và lời nói cắm mốc trên con đường lên Giêrusalem đó.

Chúng ta sắp tham dự vào một cảnh thể hiện lòng , hiếu khách đầy sự dịu dàng.

Chúng ta còn nhớ Người ta không muốn tiếp đón Người, trong một ngôi làng ở Samari. Hôm nay, Đức Giêsu tìm được một gia đình hiếu khách. Chúng ta vui mừng vì biết rằng không phải lúc nào Đức Giêsu cũng bị xua đuổi, không phải lúc nào Người cũng đi lang thang không nới trú ẩn . . .và có lúc Người cũng dừng lại ở nhà các bạn hữu Người để nghỉ ngơi , để ngồi nói chuyện. . . để sử dụng thời gian . . .và thời gian của tình bằng hữu không phải là thời gian đánh mất !

Ở đầu dốc, bên cạnh con đường đầy bụi có ngôi nhà mà Người quen biết. Bên cạnh cửa sổ cồ đặt lưới sắt, một cây táo đầy hoa (bây giờ là mùa xuân và lễ Vượt qua gần đến) tỏa hương thơm ngát. Đức Giêsu gõ cửa. Cửa mở ra. "Chào ! ôi, vui biết mấy, nào mời Thầy vào !" 

Có một người phụ nữ tên là Mácta đón Người vào nhà. Cô có người em gái tên Maria.

Đó là hai chị em. Họ có một em trai là Ladarô.

Các sách Tin Mừng nói về họ ba lần, trong những cảnh ở đó tính khí của họ đã được điển hình hóa và giống nhau trong mỗi câu chuyện. Mácta, một người hoạt động. Maria, một người trầm lặng. Thánh Gioan trong một câu ngắn ngủi đã kể lại : "Đức Giêsu quý mến cô Mácta, cùng hai người em là cô Maria và anh Ladarô" (Ga 11,5). Và trong dịp gia đình họ có đám tang, Gioan- thuật lại cho chúng ta rằng Đức Giêsu đã khóc. Một lần khác, người ta thấy Mácta đang phục vụ một bữa ăn, còn cô Maria "cứ ngồi bên chân Chúa" (Ga 12,2-3). Như thế, Đức Giêsu đã có những người bạn gái Tuần lễ cuối cùng trước khi chết, chiều nào Người cũng trở về nhà họ (Mt 2 1 ,7 -26,2 ; Mc 11,11 ; Ga 11,1-18-12,1 ; Lc 19,29).

Vậy thì ít nhất đó là một nơi mà Đức Giàu có thể đề cao sự dịu dàng của tình bằng hữu.

Trong sách Khải Huyền, Gioan sẽ sử dụng hình ảnh ấy để nói về đời sống của Người Kitô hữu : "Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà Người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta" (Kh 3,20).

Cô này cứ ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người dạy... Còn cô Mácta thì tất bật lo việc phục vụ...

Oi ! Một bức tranh thánh kỳ diệu ! Phải ở yên thật lâu trong sự im lặng để nhìn ngắm cảnh tượng ấy, hình ảnh ấy. Ví dụ như, hãy thử tưởng tướng mình có mặt trong phòng tiệc ấy. Hãy thử hình dung lại các động tác, cử chỉ, âm thanh, mùi vị, màu sắc, những lúc im lặng, những khuôn mặt và những tấm lòng.

Đức Giêsu nói chuyện với cô Maria ngồi bên chân Chúa... cô lắng nghe. Hai người cùng nhau nói điều gì ? Giọng nói của Người như thế nào ? Người kể lại cho cô dụ ngôn người Sa man tốt lành chăng ? Người giải thích lại các mối phúc thật cho cô chăng ? Người là Đức Giêsu đã không mệt mỏi nói với cô Người quan niệm thế nào về các suối nguồn của hạnh phúc thật ? Bản thân tôi, tôi thích nghĩ rằng Đức Giêsu nói nhỏ với Maria những lời tâm sự về cái chết và sự sống lại của Người.

Người lên Giêrusalem là vì việc đó ! Nó chiếm trọn tâm hồn Người. Đã nhiều lần, Người thử chia sẻ sự lo lắng của Người với các môn đệ nhưng xem ra họ không hiểu. Với Maria, cô có hiểu không ? Về câu chuyện tâm sự đó, há chẳng có một sự đồng cảm mầu nhiệm và tuyệt vời của tình bạn cởi mở đó sao ." Dẫu sao, nhờ Máccô và Gioan, chúng ta biết rằng người phụ nữ trực cảm này đã hiểu rõ hơn những người khác mầu nhiệm cái chết, sự mai táng và sự sống lại của Đức Giêsu. Đức Giêsu sẽ trở lại Bêtania trong nhà cô những ngày trước lễ Vượt qua, và một cách dịu dàng, Maria sẽ thực hiện trước một cách ướp xác bằng dầu thơm cho Người.

Các phụ nữ sẽ không thể thực hiện việc ướp xác ấy khi họ muốn đến ngôi mộ "ngày đầu tiên trong tuần" để làm việc đó. . . bởi vì họ sẽ thấy ngôi mộ trống. . . Nhưng Maria đã làm việc đó rồi, với sự tinh tế tuyệt diệu của cô ! Và Đức Giêsu sẽ hiểu điều đó : "Điều gì làm được thì cô ấy đã làm : cô đã lấy dầu thơm ướp xác tôi, để chuẩn bị ngày mai táng (Mc 14,8) ... Cô ấy giữ lại dầu thơm này cho ngày mai táng Thầy... còn Thầy, anh em không có mãi đâu"(Ga 12,7-8).

Mácta tiến lại mà nói : "Thưa Thầy , em con để mình con phục vụ, mà Thầy không để ý tới sao ? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay !"

Sự can thiệp này của Mácta làm nổi bật sự khác nhau hoàn toàn của hai chị em. Trước khi nghe câu trả lời của Đức Giêsu, chúng ta phải thán phục Mácta không nên đánh giá thấp cô chị. Ở đây không có sự đối lập giữa Mácta và Maria. Mácta thì hữu ích. Sự phục vụ của cô là cần thiết. Đức Giêsu cũng được tôn vinh vì đã đem trọn tình yêu "phục vụ" những người khác. . . "Nào những kẻ Cha Ta phúc phúc hãy đến. Vì xưa Ta đói, các người đã cho ăn ; Ta khát, các ngươi đã cho uống" (Mt 25,34).

Lạy Chúa, con xin dâng cho Chúa những công việc nội trợ đa đoan rất khiêm hạ, đầy ắp yêu chuộng của vô số các phụ nữ trên toàn thế giới, trong mọi nền văn minh.

Chúa đáp...

Chúng ta không thể không nhận thấy sự trang trọng khi Luca dùng danh xưng "Đức Chúa" ba lần. "Đức Chúa" chỉ Đức Kitô trong vinh quang sau Phục sinh. Điều đó chỉ cho chúng ta thấy rằng cảnh tượng không chỉ nhằm kể lại một giai thoại lịch sử dù rất thú vị mà một lần nữa, chúng ta đứng trước một "mạc khải" . Đấng sắp nói chính là Đức Chúa Vinh hiển. Người sắp nói một điều quan trọng và phải được chúng ta tiếp nhận "trong đức tin". Vả lại, toàn bộ câu chuyện trên đây rất dung dị, nhưng lại dẫn đến lời tuyên bố sau đây :

"Mácta ! Mácta ơi ! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá !" 

Hẳn người ta có thể mong đợi Đức Giêsu kêu gọi Maria phải ngoan ngoãn như chị cô. Trong nhiều tình huống. Đức Giêsu đã yêu cầu chúng ta phải "phục vụ", phải yêu thương. Rõ ràng, câu trả lời của Người đã được đặt vào một bình diện khác.

Đức Giêsu nhận thấy rằng Mácta lo lắng và "giao động" quá nhiều. Đây là một đề tài được Người ưa thích. Người đã nói rằng "những lo lắng về đời sống ! có thể bóp nghẹt Lời Chúa đã được gieo vào lòng người (Lc 8, 14). Người sẽ yêu cầu các tông đồ không nên lo lắng về của ăn và của mặc (Lc 12,22-26). Người sẽ khuyến cáo các thừa sai chớ lo lắng phải biện hộ như thế nào khi họ bị kết tội trước các toà án (Lc 12,11). Người sẽ nói rằng chớ để "lòng mình ra nặng nề vì lo lắng sự đời" trong lúc chờ đợi Con Người lại đến" (Lc 21,34). Đức Giêsu nói : "Bạn ơi ! Chớ quên điều chủ yếu !"

Đức Giêsu không lên án Mácta vì công việc của cô cũng như nhiệt tình tiếp đón tích cực. . . nhưng vì sự căng thẳng, sự giao động thái quá mà dường như cô đặt vào công việc.. Rõ ràng là một sự bực bội nào đó làm cho chúng ta co quắp lại với chính mình.

Chúng ta hãy tiếp nhận lời lời gọi của Chúa cho chúng ta biết phải chậm lại đôi chút. Lúc nào chúng ta cũng chạy, phi nước đại, cũng bận trăm công nghìn việc. Thời gian nghỉ hè lẽ ra phải trở thành thời gian để tìm lại sự, quân bình của chúng ta hơn để "sống" thay vì để chạy ! Đức Giêsu nói : Bạn ơi ! Ta nói lại với bạn điều này, bạn chớ quên điều chính yếu.

"Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi".

Vậy "chuyện cần thiết duy nhất" ấy là gì ?

Đó là làm điều Maria đã làm "Ngồi bên chân Chúamà nghe lời Người dạy" . Khi khẳng định đó là điều cần thiết duy nhất của con người . Bằng một phương thế triệt để và mạnh mẽ, Đức Giêsu đã thực hiện một mạc khải. Vâng, Lời Chúa phải được ưu tiên hơn mọi lo lắng trần gian khác Đức Giêsu cũng đã đưa ra càng một yêu sách trong những dịp khác. "Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh" (Lc 4,4). "Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy" (Ga 4,34) Đức Giêsu nói : Bạn ơi ! Bạn chớ quên điều chính yếu.

Vậy quả thật Đức Giêsu không đánh giá thấp sự "phục vụ" mà Mácta đem lại khi bận rộn với việc "nội trợ và bếp núc". Nhưng để "đi theo Đức Giêsu" thì ngay cả những gì có giá trị nhân bản nhất cũng phải buông bỏ (Lc 5,11-18,22-9,61). Hãy lắng nghe Lời Chúa ! Đó là bổn phận đầu tiên của con người, của Kitô hữu. Đức Giêsu nói đó là sự cần thiết duy nhất, tuyệt đối, triệt để. Và đây không phải là lần đầu tiên cũng không phải là lần cuối cùng mà Đức Giêsu khẳng định điều đó. Không lắng nghe Lời chính là xây dựng nhà mình trên cát (Lc 6,47-49). Lắng nghe Lời chính là trở thành mảnh đất trổ sinh hoa trái (Lc 8,4-15). Hạnh phúc chân thật và duy nhất của Đức Maria, Mẹ Đức Giêsu không phải vì Mẹ là Mẹ Người, mà vì Mẹ đã "'lắng nghe Lời Thiên Chúa và đem ra thực hành" (Lc 1 1,27-28).

Vả lại khác với các Thánh sử khác, rõ ràng Luca đã đồng hóa lời của Đức Giêsu với "Lời của Thiên Chúa" (Lc 5,1-8-11-21-11,28).

Lòng chúng ta yêu thích lắng nghe Lời như thế nào ? Có phải đó là "phần tốt nhất" hàng ngày của chúng ta ? Chúng ta có những ưu tiên sao ? Điều nào là điều chính yếu ?


Giáo phận Nha Trang - Chú Giải

 
"Matta rước Người vào nhà mình,

Maria đã chọn phần tốt nhất". (Lc 10,38-42)

I. Ý CHÍNH :

Thánh sử Luca thuật lại câu chuyện hai chị em Matta và Maria đón tiếp Chúa để nói lên ý nghĩa đích thực của người môn đệ Chúa Giê-su.

II. SUY NIỆM :

1. "Chúa Giê-su vào một làng kia …" :

Ở đây không nói rõ tên làng nhưng người ta nhận ra làng này là Bêtalia vì là quê hương của ba chị em Matta, Maria và Lagiarô (Lc 10,38; Ga 11,1). Làng này cũng được nhắc đến trong cuộc Chúa Giê-su khải hoàn vào thành Giêrusalem (Lc 19,39; Mt 21,11; Mc 11,1-11) và trong câu chuyện Chúa lên trời (Lc 24,50). Khi về Giêrusalem, Chúa Giê-su thường đến nghĩ chân ở đó, Chúa đã đến làm cho người Lagiêrô sống lại (Ga 11,1-14). Người cũng đến dùng bữa tại nhà ông Simon tật phong ở làng này (Mt 26,6; Mc 14,3).

- "Có một phụ nữ tên Matta rước Người vào nhà" : Matta đón rước Chúa Giê-su vào nhà, chứng tỏ bà là chủ nhà, chưa lập gia đình, vì nếu có chồng thì chồng sẽ đón tiếp khách. Cáng đón tiếp của Matta đã chứng tỏ rằng gia đình này đã từng quen biết Chúa và đã có nhiều lần Chúa đến nhà như người quen biết thân mật (Ga 11,1-14).

2. "Bà có người em gái tên Maria ngồi bên chân Chúa" :

Ở đây khi gọi Chúa Giê-su tước hiệu là Chúa, Luca muốn làm nổi bậc uy thế của Chúa Giê-su trước mặt mọi người thuộc về Người, đồng thời thái độ của Maria "ngồi bên chân Chúa" là thaí độ của các môn đệ trước mặt Thầy mình (Lc 7,39; 8,35; 17,16; Cv 22,3) thái độ "lắng nghe lời Chúa" đối với Luca đó là bổn phận đầu tiên của người môn đệ đích thực (Lc 6,47; 8,13. 15,21). Ở đây muốn nêu cao giá trị đích thực của môn đệ Chúa Giê-su qua vai trò Maria ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người".

3. "Matta bận rộn với việc thết đãi khách" :

Với vai trò là chủ nhà, bà Matta lăng xăng lo lắng đón tiếp Chúa, một vị khách quý mà bà muốn bày tỏ hết lòng kính trọng.

4. "Lạy Thầy, em tôi để tôi hầu hạ một mình" :

Ở đây cho thấy Matta đã không nhận ra giá trị của việc Maria "ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người" mà bà chỉ thấy đó là thái độ không chịu góp phần vào công việc của bà, nên bà muốn lôi em ra khỏi việc "nghe lời Chúa". Bà quá chắc chắn về phán đoán của mình đến nỗi với một giọng điệu trách móc, bà mời Chúa Giê-su cùng chia sẽ quan niệm ấy với mình "Xin Thầy bảo em con giúp con với".

Như vậy Matta và Maria xuất hiện ở đây như hai môn đệ nhiệt thành đón Chúa Giê-su Thầy mình, nhưng Maria chỉ lắng nghe lời Thầy, còn Matta lo dành riêng cho Thầy một sự đón tiếp nồng hậu.

5. "Matta, Matta con lo lắng bối rối nhiều chuyện" :

Câu trả lời của Chúa Giê-su là một lời phê phán về thái độ của Matta và Maria.

"Con lo lắng bối rối nhiều chuyện" : Đây là đề tài mà Chúa Giê-su đã trình bày nhiều lần trong các bài giảng huấn của Người về sự lo lắng :

Người nhắc nhủ các vị truyền giáo chớ lo bênh vực mình trước tòa án của những người bắt bớ (Lc 12,11; Mt 10,19).

Môn đệ đừng quá lo lắng về thức ăn áo mặc (Lc 12,22-26; Mt 5,26-34).

Đề cao cảnh giác các tín đồ chống lại những mối lo âu củacuộc sống làm chết ngạt hạt giống lời Chúa (Lc 8,14; Mt 13,22; Mc 4,19)và lòng trí nặng nề (Lc 1,34).

Trong những lời giáo huấn này sự lo lắng bị lên án vì làm cho người tín hữu quên một điều chính yếu là :

III. ÁP DỤNG :

A. áp dụng theo Tin Mừng:

1. Nhìn vào Chúa Giêsu:


Xem việc chúa làm :

Chúa Giêsu vào một làng kia :

Chúa và các môn đệ sau những lúc họat động nhọc mệt, Chúa muốn cho các môn đệ tìm thời gian hồi tâm, bình lặng, nghỉ ngơi, kết hiệp với Chúa.những thời gian đó không hẳn là những buổi tĩnh tâm, nhưng ít ra là một lần gặp gỡ lời Chúa. một lúc kiểm điểm đời sống, một khoảnh khắc trở lại bên nhà chầu, những thời gian ấy là những trạm xăng thiêng liêng mà người chiến sĩ Chúa phải dừng lại cuộc hành trình, để tiếp lấy nhiên liệu cho con đường hoạt động tông đồ.

Nghe lời Chúa nói.

Matta, con lo lắng quá nhiều chuyện, chỉ có một sự cần mà thôi. hoạt động hăng say, hay lắm! Nhưng Chúa muốn nhắc nhở chúng ta đừng quá hoạt động mà quên đi hoặc gạt ra ngoài nếp sống, sự hồi tâm tĩnh thức và tận hiệp với Chúa. Chúa muốn hoạt động tông đồ của chúng ta phải bắt nguồn từ sự hồi tâm suy niệm, phải được hòa lẫn với cầu nguyện, phải được hòa nhịp trong tinh thần và ý định của Thiên Chúa.

Maria đã chọn phần tốt nhất: Ở đây Chúa muốn chúng ta khi hoạt động tông đồ, cần phải dành ưu tiên cho đời sống nội tâm là lắng nghe lời Chúa, vì lời Chúa là sự sống.

2. Nhìn vào Matta:

Matta rước Chúa vào nhà mình: Chúa Giê-su đã nhận sự tiếp đón của bà bằng cách vào nhà bà. nhưng sự tiếp đón này chưa trọn vẹn, chưa đẹp ý Chúa bằng sự tiếp đón của Maria ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người. Vai trò của Matta cũng là vai trò của chúng ta mỗi khi chúng ta hăng say hoạt động tông đồ, nhiệt thành tổ chúc những ngày lễ và lăng xăng lo lắng những việc phục vụ tha nhân… Những việc này chỉ được tron ý Chúa khi chúng được ohát xuất từ đời sống nội tâm dồi dào.

Matta trách móc Maria: Matta tự cho mình là có công trạng và bà muốn cho Chúa để ý tới bà nhiều hơn khi bà nói: "Lạy Thầy, em tôi để tôi hầu hạ một mình mà Thầy không quan tâm sao? Phản ứng của Matha cũng thường là phản ứng của chúng ta. chúng ta tìm cách làm tăng gía trị mình trước mặt người khác bằng cách trưng bày những hoạt động của chúng ta. đồng thời chúng ta đòi hỏi người khác phục vụ Chúa theo cách của chúng ta.

3. Nhìn vào Maria:

" Maria ngồi bên chân Chúa mà nghe Lời Người. Người tông đồ của Chúa phải là người hướng trọn về Chúa, trao về Chúa mọi lo lắng, quên đi mọi sự phụ thuộc, thậm chí quên đi bản thân mình bằng cách đặt mình trước cái nhìn của Chúa, lắng nghe lời Chúa nói và cởi mở tiếp nhận Chúa.

Hoạt động hăng say, quảng đại, tận tâm và liên ết với Chúa trong suy niệm, cầu nguyện, đó là tất cả những gì Chúa đòi hỏi nơi chúng ta.

HTMV Khóa 10 - ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn